Đò Qua Vô Danh — Phần 1: Bến Không Có Người ĐợiCh.8 / 38
Chapter 8

Đất Hoang Còn Bếp Lạnh

Ranh giới giữa nền đường quan lộ lát đá thanh và bãi sình lầy hiện ra tựa một vết chém ngọt ngào, nơi vạt cỏ may cằn cỗi mọc lút đầu người vươn những ngọn gai nhọn hoắt chắn ngang lối mòn cũ.

Gió từ mạn thượng nguồn sông Dạ Thủy thổi ràn rạt qua bãi lau già xám xịt, mang theo thứ hơi ẩm mặn chát của bùn mục và mùi tanh nồng ngai ngái của rêu rác rữa nát lâu ngày dưới đáy nước phèn. Bốn bóng người lầm lũi rẽ qua những bụi sậy sắc cạnh. Trình Dạ đi ở mũi nhọn, chiếc đòn gánh bằng gỗ lim quen thuộc vác ngang trên bờ vai áo vải thô, đầu đòn bịt đồng đập nhịp đều đặn theo từng sải chân dứt khoát. Lâm Chiêu theo sát ngay sau lưng anh, bóng lưng nàng mảnh dẻ và thẳng tắp, tà áo xanh thẫm khẽ phần phật trong gió bấc, bàn tay thon dài có những vết chai mỏng nơi ngón trỏ chưa từng rời khỏi chuôi thanh đoản kiếm Chiếu Hồn. Bị kẹp chặt ở giữa là Khách Vô Danh—gã đàn ông không danh xưng bước đi liêu xiêu trong manh áo rách tả tơi chắp vá chằng chịt, bước chân kéo lê trên nền đất lở loét như kẻ mộng du bị xích sắt vô hình lôi đi. Bọc hậu ở phía cuối cùng là Phạm Lục; viên thư lại của Ty Danh Tịch dáng dấp thấp lùn, lưng còng rạp xuống, hai cánh tay gầy guộc ôm khư khư bọc vải dầu chứa tập bản thảo tính thuế áp sát vào ngực như thể ôm lấy cọng rơm cứu mạng duy nhất của đời mình, cặp mắt lồi đảo liên hồi qua từng gốc cây bụi cỏ, sợ hãi từng cơn gió quất vào gáy.

Vừa bước qua ranh giới vô hình nằm sát bên gốc đa cổ thụ rễ chằng chịt của ngôi miếu Thành Hoàng đã sụp đổ nửa phần mái ngói, không gian bỗng chốc rơi tõm vào một sự câm lặng quái đản.

Tiếng sột soạt quen thuộc của ngọn lau cứa vào thớ vải bố thô ráp lập tức biến mất. Tiếng gió bấc rít qua các kẽ đá hộc nơi bờ đê quai tắt phụt. Mọi dao động âm thanh của thế giới bên ngoài tựa hồ bị một bức màn vô hình chém đứt sạch sẽ. Trong cõi thinh lặng đặc quánh như nước đáy giếng ấy, chỉ còn lại tiếng nhịp tim dồn dập nện thình thịch vào màng nhĩ và hơi thở dốc nặng nhọc, đứt quãng của chính lồng ngực họ.

Trước mắt họ, Làng Sau Miếu dần dần hiện rõ dưới làn sương chiều bảng lảng như một bức họa thủy mặc bị thời gian và trời đất bỏ quên suốt mười hai năm ròng.

Đó hoàn toàn không phải là một bãi hoang vô chủ do nước lũ xói mòn như lời ghi chú ngắn ngủi, cẩu thả bằng mực đen trên tấm bản đồ địa bạ mục nát của Ty Danh Tịch Lạc Châu.

Dưới ánh hoàng hôn vàng vọt đang lịm dần sau dải đê cụt số chín, những bờ ruộng vuông vức đắp bằng đất sét pha sỏi xám chạy thẳng tắp như kẻ chỉ, chia cắt vùng bình địa rộng ba trăm mẫu thành từng ô bàn cờ ngay ngắn lạ thường. Từng rãnh mương dẫn nước nhỏ xíu ken dày như mạng nhện, bờ kè ghép bằng những khối đá xanh gọt giũa vuông thành sắc cạnh, vẫn giữ nguyên vẹn hình hài của một hệ sinh tưới tiêu vô cùng tinh vi và quy củ. Giữa ngã ba của lối đi lát đá cuội dẫn sâu vào xóm, một chiếc giếng nước tròn trịa xếp bằng đá ong màu gan gà sừng sững nhô lên khỏi mặt đất; thành giếng nhẵn thín, hằn sâu những vết rãnh mòn sắc ngọt sâu hoắm cả đốt ngón tay do dây thừng kéo gàu qua bao đời người ma sát mà tạo thành.

Dọc theo con đường đất nện trung tâm, mười bảy nếp nhà tranh—nhà năm gian, ba gian mái vẩy—đứng im lìm san sát nhau dưới bóng những gốc mít già cỗi thân sần sùi và rặng chuối hoang trổ hoa đỏ quạch như máu đọng. Mái rạ bên trên đã mục nát, chuyển sang màu xám tro vì dầm mưa dãi nắng qua hơn bốn nghìn ngày đêm trôi qua, rêu xanh phủ kín những bức vách đất trộn rơm rạ nứt nẻ, nhưng bộ khung chịu lực bằng gỗ xoan, cột lim và hàng ngưỡng cửa bằng gỗ nghiến vẫn đứng sừng sững, vững chãi, trơ gan cùng tuế nguyệt. Không có lấy một bóng người qua lại. Không một tiếng chó sủa ran đầu ngõ, không một tiếng gà quang quác tìm ổ, cũng chẳng có tiếng trẻ thơ khóc cười hay tiếng chày giã gạo nhịp nhàng. Toàn bộ ngôi làng như bị đóng băng cứng ngắc trong một khoảnh khắc tà dương vĩnh cửu, mục ruỗng dần từ bên trong mà không hề sụp đổ.

"Mười bảy nóc nhà..." Phạm Lục run rẩy thì thào, bờ môi gã tái nhợt như xác chết trôi khi dán mắt nhìn vào những hàng cọc rào bằng gỗ lim cắm sâu ba thước xuống đất bùn. "Mẹ kiếp... sổ hộ tịch của nha môn xóa sạch sành sanh không còn một nét mực, địa bạ do chính các quan tiền nhiệm khoanh vùng bảo rằng nơi này là đầm lầy ngập mặn hoang vu từ thời lập quốc... Thế mà những bờ ruộng này, rãnh nước bằng đá xanh này, cả cái giếng đá ong kia nữa... chúng từ dưới âm phủ chui lên sao? Chẳng lẽ đá ong tự gọt thành hình tròn, đất phù sa tự đắp thành bờ vùng bờ thửa ngay ngắn như thế này hay sao?"

"Thuật Đoạt Danh có thể bẻ gãy ký ức của con người và bôi xóa nét mực son trên thẻ tre, nhưng nó không thể nuốt chửng đất đá," Lâm Chiêu lạnh lùng cất tiếng, ánh mắt sắc như lưỡi dao quét qua từng nóc nhà câm lặng trải dài trước mặt. Chuôi kiếm Chiếu Hồn bên hông nàng khẽ phát ra ánh sáng xanh lam leo lét mờ ảo, cảnh báo luồng khí tức âm hàn đang lẩn khuất dưới từng lớp rạ mục và rễ cây. "Muốn dời non lấp biển, san phẳng ba trăm mẫu ruộng và mười bảy ngôi nhà thành một bãi sình lầy thực sự, kẻ thi triển cấm thuật phải trả giá bằng tính mạng của không dưới mười tu sĩ cảnh giới Thủ Giới. Bạch Huyền và những kẻ giấu mặt đứng sau lưng quan phủ không rỗi hơi hao tổn chân nguyên làm việc đó. Chúng chỉ cần thế gian này *quên* rằng nơi này từng có con người sinh sống."

Đúng lúc ấy, từ phía triền đê đất giáp ranh với cánh đồng trũng của làng bên, một bóng người lững thững xuất hiện qua màn sương chiều bảng lảng.

Đó là một lão nông mặc manh áo tơi chằm bằng lá cọ rách tơi tả, lưng đeo chiếc gùi tre đựng đầy cỏ năn lác ướt sũng nước phèn, tay cầm chiếc liềm cong rỉ sét đang chậm rãi men theo bờ mương cắt cỏ cho trâu. Lão bước đi rất sát mép ranh giới vô hình, chỉ cách bờ ruộng thẳng tắp ngoài cùng của Làng Sau Miếu chừng vài trượng, nhưng ánh mắt lão tuyệt nhiên không hề liếc nhìn về phía những nếp nhà tranh dù chỉ trong một cái chớp mắt. Lão bước đi bình thản, lưng còng rạp xuống, như thể bên cạnh mình chỉ là một khoảng không trống rỗng hun hút gió.

Phạm Lục như kẻ sắp chết đuối bất thần vớ được cọc rào, lập tức bước nhanh ra mé ranh giới, giơ hai tay lên cao cất giọng gọi với sang:

"Này! Lão trượng bên kia bờ mương! Làm ơn dừng bước cho hỏi thăm một chút!"

Tiếng gọi the thé của Phạm Lục vừa vượt qua ranh giới vô hình cạnh gốc đa thì âm thanh lập tức được khôi phục, tiếng vang dội vào vách đê ẩm ướt rền rĩ. Lão nông giật nảy mình dừng bước, ngẩng khuôn mặt nhăn nheo như quả táo tàu phơi khô lên nhìn bốn kẻ lạ mặt đang đứng bên bãi đất. Ánh mắt lão dừng lại trên bộ phẩm phục thư lại màu chàm sờn gấu của Phạm Lục rồi lộ rõ vẻ sợ sệt khúm núm, vội vã buông chiếc liềm cong xuống cỏ, hai tay chắp trước bụng khom lưng vái:

"Dạ... bẩm quan viên. Lão chỉ là kẻ cắt cỏ thuê bên làng Vạn Phúc bên kia bờ đê, chỉ kiếm nắm cỏ cho con trâu gầy, tuyệt đối không làm điều gì sai trái phép nước..."

Phạm Lục nuốt nước bọt ực một tiếng, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào dãy nhà tranh mái xám, chỉ vào bờ ruộng đắp thẳng tắp và chiếc giếng đá ong sừng sững cách mũi chân lão chưa đầy ba mươi bước:

"Ta không phải quan đi bắt bớ phu phen gì lão. Ta chỉ hỏi lão một việc: Khu đất bên này bờ mương... ngôi làng trước mặt này tên gọi là gì? Những người từng sống trong mười bảy căn nhà kia đã dời đi đâu hết rồi?"

Lão nông ngơ ngác nhìn theo hướng ngón tay run rẩy của Phạm Lục chỉ. Đôi mắt đục ngầu, màng mộng vàng ố của lão lướt qua những nóc nhà tranh lợp rạ xám, lướt qua cái giếng đá ong màu gan gà và những bờ thửa vuông vức như bàn cờ, nhưng trong đáy mắt của lão hoàn toàn không có lấy một tia phản chiếu của những công trình đồ sộ ấy. Ánh mắt lão trôi tuột đi, phẳng lặng và rỗng tuếch như thể đang nhìn vào một bãi tha ma trống hoác không một nấm mồ.

"Quan viên... ngài đang nói đùa với lão nông phu này sao?" Lão cười trừ, nụ cười méo mó gượng gạo để lộ hàm răng đen hạt huyền lung lay vài chiếc. "Nơi ngài đang đứng làm gì có ngôi làng nào? Làm gì có nhà cửa, nóc rạ nào ở đó bao giờ?"

Phạm Lục sững sờ, bước hẳn một chân qua ranh giới vô hình, thò tay túm chặt lấy vạt áo tơi lá cọ của lão nông, gằn từng tiếng qua kẽ răng:

"Lão mù hay lão giả điếc? Nhà tranh lợp rạ ba lớp kia! Cột lim to một vòng tay ôm kia! Bờ ruộng đắp bằng đất sét đỏ au ngay trước mũi giày của lão kia! Cả cái giếng đá ong to đùng đùng kia nữa, lão đứng cách đó mấy chục bước mà bảo không thấy sao?"

Lão nông co rúm người lại vì sợ hãi trước thái độ hung hãn của viên lại dịch, nhưng giọng nói của lão khi thốt ra lại kiên định và bình thản đến mức rợn người:

"Bẩm quan, lão sinh ra và lớn lên ở làng Vạn Phúc ngay bên kia chân đê quai này, năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi đầu rồi chứ có ít ỏi gì đâu. Từ đời ông nội lão, đời cha lão truyền miệng lại, dải đất nằm ngoài miếu Thành Hoàng này vốn dĩ là bãi bồi sình lầy hoang phế, quanh năm ngập nước phèn chua loét. Cỏ năn, cỏ lác còn chẳng buồn mọc cho tốt cọng thì nói gì đến chuyện cấy lúa hay dựng nhà dựng cửa! Chưa từng có ai ở đây cả. Làm sao có thể có làng xóm nào mọc lên được? Quan viên nhìn nhầm sương mù buổi chiều hôm ra bóng nhà bóng cửa đấy thôi!"

"Lão nói dối!" Phạm Lục nghiến răng ken két, trán túa đầy mồ hôi hột dù gió bấc đang tạt lạnh buốt. "Mười bảy cái nóc nhà sờ sờ ra đó, ngói rêu, cột lim, rãnh nước đắp bằng tay người rành rành ra đấy..."

"Không có. Thật sự không có mà quan viên!" Lão nông xua tay lia lịa, giọng run lẩy bẩy như sắp bật khóc vì bị oan ức. "Trời đất chứng giám cho lòng lão, nơi này từ xưa tới nay chỉ là đất chết, bãi hoang câm bặt không một bóng người. Quan làng trên xuống tuần tra mười năm trước cũng bảo đây là bãi bồi không tên, nghiêm cấm chúng lão không được bén mảng qua đây vì sình lầy dễ sụt lún chết người trôi thây..."

Trình Dạ tiến lên một bước dài, bàn tay chai sạn thô ráp đặt nhẹ lên bả vai đang run rẩy của Phạm Lục, khẽ lắc đầu:

"Đủ rồi, A Lục. Đừng ép lão nữa."

Lâm Chiêu cũng chậm rãi bước tới, đôi mắt nàng thẳm sâu một nỗi bi ai lạnh buốt như tuyết đầu mùa. Nàng bước đến sát bên cạnh người nông dân làng Vạn Phúc, chăm chú nhìn thẳng vào con ngươi mờ đục của lão. Đồng tử của lão hơi dãn rộng ra, đáy mắt phẳng lì không một gợn sóng ký ức, không có một chút bối rối hay dối trá nào của một kẻ đang cố tình che giấu bí mật.

"Tầng thứ hai đã khép lại hoàn toàn," Lâm Chiêu khẽ thở dài, thanh âm nàng nhỏ nhẹ như tiếng gió thoảng qua kẽ lá lau khô. "Thuật Đoạt Danh tác động lên ba tầng cấu trúc: ký ức tự thân của nạn nhân, nhân chứng xã hội xung quanh, và chứng tích văn bản gắn danh. Lão nông này không nói dối. Trong toàn bộ tâm trí của lão, trong ký ức của cha ông lão truyền lại qua lời kể bên bếp lửa, nơi này thực sự chỉ là một bãi bồi sình lầy hoang phế. Nhận thức của toàn bộ dân cư các làng xung quanh đã bị tầng ký ức thứ hai tẩy xóa sạch trơn. Khi đứng đối diện với những vật thể đã bị tước đoạt danh tính trong tâm trí, mắt họ nhìn thấy hình khối nhưng thức hải tự động phủ nhận, tự động lấp liếm sự mâu thuẫn vật lý hiển hiện bằng lời giải thích 'hoang vu từ ngàn xưa' mà cấm thuật đã gieo vào tâm thức."

Phạm Lục từ từ buông thõng vạt áo tơi của lão nông ra. Gã lùi lại hai bước, lưng áo chàm ướt đẫm mồ hôi lạnh ngắt, trân trối nhìn người nông dân chất phác đang vội vã quẩy chiếc gùi cỏ ướt sũng lủi nhanh về phía con đường đê quai như trốn chạy một loài tà ma ám ảnh.

Cái cảm giác đáng sợ nhất trên thế gian này không phải là đối mặt với một lưỡi kiếm sắc bén kề sát cổ họng, mà là nhận ra toàn bộ thế gian xung quanh đều đồng loạt tin vào một lời dối trá đã được cấy sâu vào tận cùng linh hồn. Một ngôi làng trù phú từng tồn tại hàng trăm năm bên dòng sông Dạ Thủy, từng có khói bếp lam chiều, từng thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và tiếng cười của bao thế hệ truyền đời, vậy mà trong mắt những người láng giềng sống cách đó chỉ vài chục trượng, nó chỉ là một bãi bùn lầy vô danh chưa từng in hằn dấu chân người sống.

"Đi thôi," Trình Dạ trầm giọng, kéo Khách Vô Danh đang đứng đờ đẫn giữa hai bờ cỏ sang bên cạnh mình. "Vào trong làng. Ký ức trong đầu con người có thể bị bẻ cong và xóa sạch, nhưng những thứ con người để lại trên mặt đất không biết nói dối."

Cả nhóm bước dọc theo con đường lát đá cuội dẫn sâu vào trung tâm Làng Sau Miếu.

Không gian câm lặng quái dị lại một lần nữa nuốt chửng lấy họ ngay khi bước chân họ lùi sâu vào sau bức màn vô hình của ngôi miếu cổ. Càng đi sâu vào trong, những vết tích của đời sống thường nhật trù phú năm xưa càng hiện lên rõ nét và nhức nhối đến xé lòng. Ở góc sân của một căn nhà ba gian vách đất, một chiếc cối đá xay ngô vẫn còn đọng lại một lớp bột mịn đã mốc đen quánh lại; bên cạnh cối đá là chiếc chổi rơm rạ đã mủn cán dựa nghiêng vào vách tường nứt nẻ. Trên giàn mướp đã sụp đổ một nửa, những quả mướp khô xác xơ treo lủng lẳng đung đưa rất nhẹ trong khoảng chân không không có lấy một ngọn gió lay động.

Họ dừng lại trước căn nhà lớn nhất nằm ở chính giữa làng.

Đây là một nếp nhà năm gian bề thế, xây trên nền đá hộc cao hơn mặt đất xung quanh chừng hai thước, cột gỗ lim to bằng một vòng tay người lớn ôm không xuể, mái lợp rạ dày ba lớp đã ngả sang màu xám chì ảm đạm. Ngưỡng cửa bằng gỗ nghiến bóng loáng những dấu chân qua lại của gia chủ suốt bao năm tháng.

Trình Dạ bước lên bậc tam cấp bằng đá xanh phủ đầy rêu trơn trượt, đưa bàn tay chai sần đẩy nhẹ cánh cửa gỗ bức bàn.

*Két...*

Tiếng bản lề gỗ rít lên khô khốc, xé toang sự tĩnh mịch ngột ngạt tích tụ suốt mười hai năm. Bụi bặm từ trên mép cửa rơi lả tả xuống mái tóc và vai áo thô của họ.

Mùi đầu tiên xộc thẳng vào cánh mũi họ không phải là mùi mục nát ẩm ướt của đất hoang, mà là mùi tro củi ẩm pha lẫn mùi tinh bột lên men đã khô kiệt từ thuở nào. Cả nhóm bước qua bậu cửa cao, tiến vào gian nhà chính tối om.

Cảnh tượng bày ra bên trong khiến bước chân của Phạm Lục khựng sững lại, hai tròng mắt gã trợn trừng kinh hãi.

Dưới góc trái gian chái nối liền với gian bếp, ba ông đầu rau bằng đất nung đỏ au vẫn chụm đầu vào nhau trên nền tro xám lạnh ngắt. Giữa lòng bếp, những thanh củi gáo to bằng bắp tay người lớn vẫn còn giữ nguyên hình thù của một đống lửa đang nhóm dở dang: lớp vỏ gỗ bên ngoài đã hóa thành than đen nhánh, nhưng thớ gỗ bên trong vẫn còn nguyên màu vàng nhạt chưa cháy hết, đầu củi cháy dở gác chéo lên nhau như thể người nhóm lửa vừa mới đứng dậy chạy vụt ra ngoài sân lấy thêm nắm rơm mồi rồi vĩnh viễn không bao giờ quay trở lại nữa. Trên mặt chiếc kiềng sắt ba chân han gỉ, chiếc ấm đồng nấu nước đóng cặn vôi trắng xóa bên trong miệng, nắp ấm vẫn đậy hờ một nửa, kênh chếch về một phía.

Ở gian bên phải, chiếc khung cửi bằng gỗ dâu rừng đứng lặng lẽ bên khung cửa sổ con tiện chấn song gỗ.

Trên khung dệt, một dải sợi tơ tằm màu mộc vẫn đang căng dở dang. Con thoi gỗ bóng loáng nằm kẹt cứng giữa hai hàng sợi dọc, mũi thoi đâm chếch một góc nghiêng nham nhở, cuộn chỉ bên trong bụng con thoi mới chỉ nhả ra được một nửa đường dệt. Trên dải vải dệt dở dài chừng ba thước buông thõng xuống đất, hoa văn hình sóng nước viền mây mới chỉ thành hình được một nửa; sợi tơ đã mục mủn vì thời gian nhưng từng đường kim mũi chỉ đan cài vẫn ngay ngắn, tinh xảo, chứng thực cho sự khéo léo và nhẫn nại của người phụ nữ từng ngồi sau khung cửi ấy.

"Bãi bồi sình lầy hoang phế..." Phạm Lục lẩm bẩm trong miệng, giọng gã nghẹn ứ lại nơi cuống họng, ngón tay run rẩy chỉ vào bếp lửa và khung cửi tơ tằm. "Đây là cái thứ bãi hoang câm bặt mà bọn quan thầy Ty Thủy Sứ và Ty Danh Tịch ký giấy đóng triện vào sổ sách địa bạ đấy ư? Bếp lửa đang nhóm dở, ấm nước đang đun nửa chừng, dải vải hoa văn sóng nước chưa kịp cắt! Mười hai năm trước... rốt cuộc chuyện quỷ quái gì đã ập xuống ngôi làng này? Bọn họ bị lôi đi ngay giữa ban ngày, ngay lúc đang nấu nước pha trà, đang đưa thoi dệt áo sao?"

Trình Dạ không đáp lời. Anh bước chậm rãi trên nền đất nện mấp mô, đôi mắt sâu thẳm dừng lại ở chiếc chõng tre kê ở gian giữa. Trên mặt chõng, một chiếc bát sành men da lươn sứt một mẩu miệng úp sấp trên chiếc đĩa gốm; bên cạnh là chiếc điếu bát bằng gốm Thổ Hà đóng cặn thuốc lào đã khô quắt thành một mảng đen giòn. Mọi thứ đều bất động, nguyên vẹn một cách tàn nhẫn và lạnh lẽo. Thuật Đoạt Danh đã cắt đứt dòng thời gian của ngôi làng này đúng vào khoảnh khắc tai ương ập xuống, biến toàn bộ không gian này thành một nấm mồ lộ thiên lưu giữ những mảnh vụn dang dở của sự sống.

Đột nhiên, một tiếng thở dốc nghẹn ngào, khò khè như tiếng bễ rèn rách vang lên từ phía sau lưng họ.

Khách Vô Danh loạng choạng bước qua bậu cửa gỗ nghiến. Đôi mắt trũng sâu hoắm của gã dại đi, nhìn trừng trừng vào khoảng không gian của gian nhà năm gian. Toàn thân gã run lên bần bật như người đang lên cơn sốt rét rừng, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng *cắc cắc* khô khốc trong cổ họng. Dưới ánh sáng hoàng hôn hắt qua ô cửa sổ con tiện, bóng của gã hoàn toàn biến mất trên nền đất nện mấp mô, chỉ có một vệt mờ nhờ nhợ, nhạt nhòa bao quanh gót chân gầy guộc đầy sẹo rỗ.

"Này, ngươi làm sao thế?" Phạm Lục giật mình quay phắt lại, toan đưa tay ra giữ lấy vai gã.

Nhưng Khách Vô Danh dường như không còn nghe thấy hay nhìn thấy bất cứ ai xung quanh. Gã gạt phắt bàn tay của Phạm Lục ra bằng một sức mạnh kỳ lạ bột phát từ tận sâu trong tiềm thức u tối. Đôi chân trần đầy sẹo của gã bước từng bước cứng đờ, vô hồn như một con rối gỗ bị giật dây, tiến thẳng về phía cây cột cái bằng gỗ mít già đứng ở gian giữa ngôi nhà.

Cây cột cái sừng sững, đường kính hơn một thước, vỏ gỗ đã lên nước nâu bóng sẫm màu thời gian và dầu tràm. Trên thân cột, ở khoảng cách từ ba thước đến năm thước tính từ mặt đất nện, chằng chịt những vết khắc rãnh mực đã mờ nhạt theo năm tháng.

Khách Vô Danh đứng chết lặng trước thân cột mít già. Đôi bàn tay gầy trơ xương với những vết sẹo xích sắt phù triện hằn sâu vào tận xương cổ tay từ từ giơ lên. Ngón tay gã run rẩy, run rẩy đến cùng cực, rồi nhẹ nhàng miết lên những đường rãnh mực ấy.

Đó là những rãnh mực được khắc bằng mũi dao trổ chuyên dụng của lại dịch công đường, độ nông sâu đều đặn chuẩn xác, bên cạnh mỗi rãnh khắc là một dấu chấm mực son đã phai màu thành sắc nâu gỉ sắt.

"Khoảng... khoảng cách hai phân rưỡi..." Khách Vô Danh mấp máy đôi môi khô nứt. Giọng gã khàn đặc, vỡ vụn, như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ xát vào nhau dưới đáy giếng cạn, nhưng từng âm tiết phát ra lại rõ ràng và rành mạch một cách kinh ngạc. "Đoạn một... lúa vụ chiêm nộp kho Lạc Châu, trừ hao ba phần mười ẩm mốc do vận chuyển đường sông... Đong bằng hộc chuẩn của Hộ Bộ, một hộc mười đấu..."

Lâm Chiêu giật mình, thanh kiếm Chiếu Hồn trong tay nàng hạ thấp xuống nửa tấc. Đôi lông mày thanh tú của nàng khẽ nhíu lại, ánh mắt sắc sảo găm chặt vào từng cử động của gã.

Ngón tay trỏ của Khách Vô Danh trượt xuống rãnh mực thứ hai trên thân gỗ. Động tác của gã nhanh hơn, thuần thục hơn, các ngón tay lướt đi mà không cần nhìn, như thể gã đã lặp đi lặp lại hành động này hàng vạn lần trong tiền kiếp:

"Vạch thứ hai... khấu trừ ba phần thuế đê điều nhánh sông Dạ Thủy. Mỗi mẫu ruộng hạn định nộp năm thăng thóc giống lưu kho dự phòng... Dấu triện phụ hình hạt lúa ba cạnh, kiểm kê vào ngày rằm tháng Mười âm lịch trước tiết Sương giáng..."

"Ngươi... ngươi đang nói cái quái gì thế?" Phạm Lục trố lồi hai mắt, cả người run bắn lên như bị điện giật. "Đó là... đó là quy chuẩn đong thóc thuế và tỷ lệ hao hụt dự phòng của Ty Danh Tịch Lạc Châu áp dụng từ mười hai năm trước! Ngay cả ta, một viên thư lại mài đũng quần ở nha môn suốt mấy năm trời mới học thuộc lòng nổi các cữ lường và quy chuẩn triện phụ ấy! Sao một kẻ điên mất trí như ngươi lại đọc vanh vách ra được?"

Khách Vô Danh hoàn toàn không để tai vào lời chất vấn của Phạm Lục. Gã như bị một luồng sức mạnh vô hình từ trong tủy sống điều khiển, các ngón tay lướt thoăn thoắt trên từng vết khắc của thân cột mít, miệng gã lẩm bẩm liền một mạch từng điều khoản hành chính khô khốc:

"Ruộng hạng nhất ba mươi mẫu, thuế bảy mươi hộc... Ruộng bãi bồi ven đê quai số chín, miễn sưu dịch ba năm đầu khai hoang mở đất... Mã số sổ bộ kiểm kê: Lạc Châu danh tịch, quyển thứ tư, hòm giáp mười bảy... Ký nhận... người kiểm tra kho..."

Đến ba chữ "người kiểm tra", giọng nói của gã đột ngột nghẹn ứ lại trong cổ họng.

Ngón tay gã khựng lại trên một rãnh khắc cụt ngủn ở cuối thân cột. Khách Vô Danh ôm chặt lấy đầu, thở dốc dữ dội, lồng ngực gầy trơ xương phập phồng như muốn nứt toác. Những móng tay cáu bẩn cào cấu điên cuồng vào da đầu bù xù, hai mắt gã long lên sòng sọc đầy đau đớn và hoảng loạn tột độ.

"Ta... ta là ai? Ai ký nhận? Ai đong thóc? Ai cầm dao trổ khắc những vạch này?" Khách Vô Danh gào lên một tiếng thảm thiết, thanh âm xé toạc sự tĩnh mịch của căn nhà hoang phế. Thân hình gã lảo đảo rồi ngã khuỵu xuống nền đất nện, trán đập mạnh vào chân cột gỗ mít phát ra một tiếng *cốp* nặng nề. "Ta không nhớ... ta không nhớ nổi tên ta là gì! Nhưng con số này... cái hòm giáp mười bảy này... quyển sổ bộ thứ tư này... là của ta... là do chính tay ta đo đạc từng mẫu đất..."

Lâm Chiêu bước nhanh tới, một tay giữ chặt lấy bả vai gầy guộc của gã, ngón tay trỏ điểm thẳng một đạo linh quang thanh khiết phát ra từ đầu ngón tay vào huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu gã để ổn định thức hải đang chấn động dữ dội. Nàng ngẩng khuôn mặt lạnh lùng lên nhìn Trình Dạ, giọng nói trầm hẳn xuống:

"Là phản xạ nghiệp vụ. Ký ức tự thân của gã về tên tuổi, nguồn gốc bản quán, cha mẹ vợ con đã bị cấm thuật tước đoạt triệt để, nhưng kỹ năng nhận dạng dấu niêm, cách tính toán sổ sách thu thuế và phản xạ cơ bắp của một viên giám sát kho đã ăn sâu vào tủy xương gã suốt mười mấy năm ròng rã làm việc cho quan nha. Gã từng đích thân đến ngôi làng này. Gã từng đứng ngay tại vị trí này, cầm thước đo và mực tàu của nha môn để kiểm kê từng hộc thóc thuế của dân Làng Sau Miếu trước khi biến cố tàn khốc xảy ra!"

Trình Dạ siết chặt bàn tay vào thân đòn gánh bằng gỗ lim. Anh đứng nhìn Khách Vô Danh đang quằn quại ôm đầu rên rỉ dưới chân cột mít, lồng ngực anh thắt lại vì một cơn giận dữ âm ỉ cháy bỏng. Mười hai năm trước, cha anh—người lái đò Trình Hoài—cũng đã từng chở những con người như thế này qua khúc sông Dạ Thủy cấm kỵ. Những con người bị tước đoạt sạch trơn tên tuổi và ký ức, biến thành những cái bóng rỗng tuếch không hồn, trôi dạt vô định giữa cõi nhân gian mà trong sâu thẳm thể xác vẫn bị những thói quen cũ cào xé từng ngày từng giờ.

"Hắn không chỉ đơn thuần là một nạn nhân vô tội bị liên lụy," Trình Dạ nói, ánh mắt rực lên trong bóng tối nhá nhem của gian nhà. "Hắn từng là một mắt xích bên trong cỗ máy tàn nhẫn ấy. Hắn nắm giữ chìa khóa của những vụ xé sổ bộ mười hai năm trước."

"Nhìn lên xà nhà đi," Lâm Chiêu đột ngột ngắt lời anh, giọng nàng sắc lẹm và lạnh băng.

Trình Dạ khựng lại, ngước mắt nhìn theo hướng mũi đoản kiếm Chiếu Hồn đang chĩa thẳng lên trần nhà.

Trên chiếc xà ngang bằng gỗ lim bắc ngang qua gian giữa, ngay phía trên bàn thờ gia tiên mục nát phủ đầy bụi bặm, một đoạn dây thừng bện bằng xơ dừa to bằng ngón chân cái đang buông thõng lơ lửng giữa không trung.

Đầu dây thừng bị chém đứt ngọt sớt bởi một nhát kiếm cực kỳ sắc bén. Vết cắt phẳng lỳ, thớ xơ dừa bên trong còn giữ màu vàng sẫm tươi mới hơn hẳn so với lớp bụi thời gian mười hai năm bám dày đặc trên mặt xà gỗ—vết cắt này chỉ chừng vài ba năm, hoặc thậm chí mới chỉ vài tháng trở lại đây.

Dưới nền đất nện, ngay phía dưới đoạn dây thừng bị chém đứt, bốn vết lõm hình vuông in sâu vào mặt đất, rìa vết lõm còn chưa bị bụi phủ kín, chứng minh nơi đó từng đặt một chiếc rương gỗ nặng nề vừa mới bị người ta khiêng đi cách đây không lâu.

"Hòm hộ tịch và gia phả của dòng họ trưởng thôn," Lâm Chiêu lạnh lùng phân tích, ánh mắt găm chặt vào vết cắt trên sợi dây xơ dừa. "Ở các làng mạc ven sông Dạ Thủy, các gia đình dòng tộc lớn thường dùng dây thừng treo hòm gia phả, bài vị tổ tiên và văn tự ruộng đất lên xà nhà gian giữa để tránh ẩm mốc mùa mưa và tránh nước lũ tràn vào khi sông mở nước. Kẻ nào đó đã quay lại đây sau khi dân làng biến mất, dùng kiếm phạt đứt dây treo và mang toàn bộ chiếc hòm đi mất."

"Kẻ gom chứng tích..." Trình Dạ lẩm bẩm, nhớ lại quy tắc nghiệt ngã của cấm thuật mà Lâm Chiêu từng giải thích cặn kẽ tại Bến Lau Tàn.

"Đúng vậy," Lâm Chiêu gật đầu xác nhận, hàm răng nàng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két nhỏ. "Muốn hoàn tất tầng thứ ba của thuật Đoạt Danh—cắt đứt vĩnh viễn mọi chứng tích vật chất có gắn danh tính của người sống—chúng không thể để lại gia phả dòng họ, bài vị tổ tiên hay bất kỳ văn tự nào có ghi chép tên tuổi của dân làng trên mặt đất. Chúng buộc phải tiếp xúc vật lý, gom sạch những thứ ấy mang về các lò phong ấn bí mật để nghiền nát thành tro bụi hoặc thiêu hủy triệt để. Dấu vết lục soát này chứng minh ngôi làng không hề tự nhiên biến mất theo lẽ trời. Đã có một cuộc càn quét có chủ đích, thô bạo và được tổ chức vô cùng bài bản diễn ra ngay tại mảnh đất này."

Trình Dạ bước chậm rãi về phía bàn thờ mục nát ở gian giữa. Mặt bàn thờ bằng gỗ mít đã bị mối mọt gặm nham nhở từng mảng lớn, chiếc bát hương sứt sẹo nằm chỏng chơ giữa lớp tàn nhang đã vón cục vì ẩm ướt. Anh cúi thấp người xuống, ánh mắt lướt qua gầm bàn thờ tối tăm ẩm thấp.

Dưới góc kẹt giữa chân bàn thờ và bức vách đất trộn rơm nứt nẻ, có một đống tro tàn xám xịt vun lại thành hình một chóp nhỏ.

Trình Dạ ngồi xổm xuống, dùng đầu bịt đồng của chiếc đòn gánh khẽ gạt nhẹ lớp tro mịn bên trên ra. Lớp tro đã nguội ngắt từ lâu năm, nhưng điều kỳ lạ là nó không tan thành bột mịn như tàn tro củi rơm rạ thông thường, mà vón cục lại thành từng mảng dai nhách như xơ vải bị lửa thiêu cháy dở.

Anh cẩn thận dùng hai ngón tay nhặt lên một mẩu giấy cháy dở nằm lẩn khuất dưới đáy sâu của đống tro tàn.

Đó là một mảnh giấy dày dặn, thô ráp, có màu xám chì đặc trưng của loại giấy lau ngâm nước âm chín năm—thứ giấy bản duy nhất có khả năng lưu giữ được nguyên vẹn khí tức phù triện qua các kỳ mở nước hung hiểm của sông Dạ Thủy, giống hệt chất liệu của tấm vé bảo danh bằng gỗ khắc mà Trình Dạ đang đeo trước ngực mình.

Và ở góc rìa ngoài cùng của mảnh giấy lau cháy dở ấy, một góc dấu triện đóng bằng mực chu sa pha mỡ cá trắm vẫn còn sót lại rõ mồn một, chưa bị ngọn lửa tà thuật thiêu rụi hoàn toàn.

Hình dấu triện đó là một đóa hoa sen thanh mảnh đang nâng đỡ ba ngọn lửa bập bùng vươn cao, bao quanh bên ngoài bởi những đường vân sóng nước uốn lượn hình xoắn ốc tinh xảo.

Trình Dạ quay phắt người lại, chìa mảnh giấy cháy dở ra trước tầm mắt của Lâm Chiêu:

"Lâm cô nương. Nàng nhìn kỹ cái này đi."

Lâm Chiêu nhìn chăm chú vào mảnh giấy trong tay Trình Dạ. Ngay khoảnh khắc nhìn thấy hoa văn đóa sen nâng ba ngọn lửa cùng những nét sóng nước xoắn ốc quen thuộc, đồng tử của nàng co rút lại dữ dội như bị mũi kim đâm trúng. Khuôn mặt thanh tú, cao ngạo của nữ tu Huyền Đăng Môn trong tích tắc trắng bệch ra, không còn lấy một giọt máu.

"Ấn ký... của Viện Nghiên Cứu Bảo Danh..." Bờ môi Lâm Chiêu run rẩy bần bật, giọng nàng lạc hẳn đi trong khoảng không câm lặng của ngôi nhà hoang. "Đó là triện của cơ sở nghiên cứu mật dưới quyền trực tiếp của sư phụ ta... Chân nhân Bạch Huyền."

Không gian trong căn nhà năm gian như đông cứng lại thành một khối băng lạnh buốt.

Phạm Lục đứng nép bên cạnh thân cột mít, vừa nghe thấy hai chữ "Bạch Huyền" thì hai đầu gối bủn rủn, cả người trượt dài xuống đất, phải bám chặt lấy chân cột để khỏi ngã quỵ. Bạch Huyền—vị Trưởng viện nghiên cứu tối cao của Huyền Đăng Môn, bậc chân nhân đức cao vọng trọng uy chấn cả vùng lưu vực Lạc Châu, người nắm trong tay quyền sinh sát, quyền cấp phát giấy thông hành và định đoạt ranh giới giữa cõi sống và cõi chết—lại chính là kẻ đứng sau những mảnh giấy lau ngâm nước âm dùng để thu gom và tiêu hủy chứng tích tại Làng Sau Miếu này.

Mảnh giấy lau cháy dở trong tay Trình Dạ chính là thứ dùng để niêm phong và bọc các bài vị, gia phả của làng trước khi đem đi tiêu hủy, tẩm dầu đốt để xóa sổ triệt để tầng danh tính cuối cùng của mười bảy nóc nhà. Nhưng vì một lý do nào đó của tạo hóa, ngọn lửa đã tắt trước khi kịp liếm hết góc triện ấn định mệnh này.

"Sư phụ ngươi..." Trình Dạ nhìn thẳng vào đôi mắt đang rung chuyển dữ dội của Lâm Chiêu, giọng nói trầm đục nhưng nặng nề như ngàn cân đá tảng đè nặng xuống không gian. "Mười hai năm trước, ông ta không chỉ bí mật giam giữ những người sống không tên này. Ông ta đã ra tay xóa sổ sạch trơn cả một ngôi làng ba trăm mẫu ruộng trù phú để phục vụ cho việc xây dựng Đập Khóa Mạch. Và cha ta... Trình Hoài... đã biến mất không một dấu vết vào đúng thời điểm kinh hoàng đó."

Lâm Chiêu cắn chặt môi dưới đến mức bật máu tươi. Vệt máu đỏ thắm rỉ ra nơi khóe môi nàng, nhức nhối và nổi bật trên làn da trắng ngắt không còn huyết sắc. Nàng không thể thốt ra một lời nào để phản bác hay biện hộ. Mảnh giấy lau mang triện hoa sen sóng nước kia là một chứng tích vật chất độc lập, trần trụi, lạnh lùng và không thể chối cãi. Thanh kiếm Chiếu Hồn bên hông nàng rung lên bần bật từng hồi, ánh sáng xanh lam ma quái phản chiếu trong đáy mắt nàng tựa một ngọn lửa u uất đang bùng cháy dữ dội.

"Ta sẽ không quay đầu," Lâm Chiêu ngước nhìn Trình Dạ, ánh mắt nàng kiên định đến mức tuyệt vọng. "Dù kẻ đứng sau chuyện này có là ai đi chăng nữa... dù đó có là sư phụ ta, người đã nuôi dưỡng và truyền thụ kiếm đạo cho ta, ta cũng sẽ tự tay lôi toàn bộ sự thật nhơ bẩn này ra ngoài ánh sáng."

Đúng lúc đó, từ phía sau gian nhà chính, nơi lối cửa ngách mở thông ra khoảnh sân sau nối liền với gò đất miếu Thành Hoàng cổ, một tiếng động lạ bỗng nhiên phá vỡ bầu không khí ngột ngạt.

*Két... rắc...*

Âm thanh ma quái phát ra từ sâu dưới lòng đất.

Đó tuyệt đối không phải là tiếng gió rít, cũng không phải tiếng nứt gãy của gỗ đá mục nát theo thời gian.

Từ dưới một chiếc nắp hầm miếu phủ đầy dây leo khô ráp và lá đa mục nằm lẩn khuất sau bức tường đá ong rêu phong phía sau nhà, một tiếng rên rỉ nghẹn ngào, yếu ớt của con người khẽ cất lên từng chập, kèm theo đó là những tia sáng màu tím mờ đục của phù chú trói hồn bắt đầu lóe rạng qua các khe đá nứt nẻ.

Chiếc đòn gánh trên vai Trình Dạ hạ xuống, đầu bịt đồng gõ nhẹ xuống nền đá xanh một tiếng khô khốc.

Lâm Chiêu rút kiếm ra khỏi vỏ nửa tấc. Ánh kiếm xanh biếc lập tức rọi sáng khoảng sân sau ẩm ướt, nơi nắp hầm bằng phiến đá xanh nguyên khối đang khẽ run rẩy dưới sức ép của những luồng khí tức âm hàn đen đặc đang trào dâng từ lòng đất.

Phạm Lục ngồi bệt dưới đất, hai tay ôm chặt lấy bọc giấy thuế, hàm răng đánh vào nhau lập cập:

"Có... có thứ gì ở dưới đó... Ở dưới lòng đất... có người sống... hay là ma?"

"Không phải ma," Lâm Chiêu lạnh lùng đáp, bước chân nàng đã tiến sát về phía ngưỡng cửa ngách dẫn ra sân sau. Mũi kiếm Chiếu Hồn hướng thẳng về phía luồng sáng tím đang rỉ ra qua khe đá. "Là thứ mà sư phụ ta không kịp mang đi."

Trình Dạ bước vượt lên trước nàng một bước, bàn tay anh nắm chặt lấy gờ đá nham nhở của nắp hầm. Tiếng rên rỉ dưới lòng đất mỗi lúc một rõ hơn, thê thiết và nghẹn ngào như tiếng khóc của một linh hồn bị cầm tù qua mười hai năm tăm tối.

Dưới lớp phiến đá xanh nứt nẻ, những đường phù triện màu tím đang co giật từng cơn, giãy giụa như những con giun đất bị đốt cháy, báo hiệu cánh cửa dẫn vào bí mật đen tối nhất của Làng Sau Miếu đang từ từ hé mở.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories