Sai Số Trên Trang Thuế
Hơi thở đứt quãng của Phạm Lục phả vào khung cửa liếp Bến Lau Tàn, kéo theo bùn non bắn tung tóe từ vạt áo lại viên Ty Danh Tịch.
Gã không kịp gạt lớp bùn đỏ quánh bám chặt từ gấu quần lên tận mép ngực áo chàm, hai tay cuống cuồng chộp lấy cánh cửa gỗ ọp ẹp, giật mạnh vào trong rồi cài then chốt bằng một thanh tre ngà đã sứt mẻ. Tiếng then gỗ trượt khấc trên khung kêu lên một tiếng *cạch* khô khốc, đanh gọn giữa bầu không khí ẩm ướt của buổi sớm mai. Bụi tre mục và mùn cưa li ti rơi lả tả xuống mu bàn tay run rẩy của gã, dính bết vào những giọt mồ hôi lạnh toát đang túa ra như tắm.
Bên ngoài, sương mù của sông Dạ Thủy vẫn cuộn từng đợt trắng đục như khói lò vôi, lấp liếm những bụi lau sậy rạp mình dưới gió bấc. Dòng nước ngầm mùa đông chảy xiết róc rách dưới chân bờ kè đá, thỉnh thoảng lại vỗ vào mạn thuyền neo một tiếng *bộp* nặng trịch, u uất như tiếng đập cánh của loài chim lặn ăn đêm. Nhưng bên trong căn nhà chờ của bến đò, không khí quánh lại như đông đặc, nặng trĩu mùi dầu hỏa, mùi lá khô xông khói và mùi tanh nồng của bùn sông vừa xộc vào.
Khách Vô Danh vẫn nằm thiếp trên chiếc chõng tre ở góc buồng trong. Khuôn mặt gầy gò của người thanh niên chìm sâu trong bóng tối mờ mờ của vách nứa, hơi thở đã êm dần nhờ lớp bột ngải cứu tuyết Yên Sơn mà Lâm Chiêu rắc trên trán, nhưng khóe môi thỉnh thoảng vẫn giật nhẹ theo từng cơn co thắt vô thức. Dưới lớp chăn thô bằng vải gai chắp vá, lồng ngực hắn phập phồng yếu ớt, cánh tay buông thõng để lộ một phần mép áo lót rách bươm còn dính vệt nước sông chưa khô hẳn.
Bà Lê An đứng sững bên cột cái bằng gỗ xoan ngâm, hai bàn tay thô ráp đan chặt vào nhau trước tạp dề dính tro bếp, mắt mở to nhìn người bạn thuở nhỏ của con trai mình vừa xông vào như một kẻ trốn nợ. Chiếc muôi gỗ múc nước trên tay bà khẽ nghiêng, rỏ xuống nền đất nện vài giọt nước lạnh tanh.
"Chốt... chốt chặt chưa Dạ?" Phạm Lục tựa lưng vào cánh cửa liếp, ngực phập phồng như ống bễ thợ rèn, mồ hôi túa ra hòa cùng nước mưa rịn trên trán, chảy ròng ròng xuống hai gò má hóp. Gã thở hổn hển, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập phát ra những âm thanh va chạm vụn vặt. "Trên đường đê... lúc tao qua đoạn Dốc Miếu... hình như có bóng người cưỡi ngựa bọc sắt... không, có thể chỉ là tuần phu trạm dịch... nhưng tao không dám quay đầu lại nhìn. Ngựa của nha môn phi nước kiệu nghe rầm rập như giã gạo trong lồng ngực..."
"Không có ai đuổi sát đằng sau đâu."
Trình Dạ bước tới, đặt một bàn tay chai sạn lên vai bạn. Bàn tay của người quanh năm cầm sào chống lũ rắn rỏi như gỗ lim, ghì chặt lấy bả vai Phạm Lục, truyền qua lớp vải ướt một luồng lực trầm tĩnh, kìm bớt cơn run rẩy đang co giật từng chặp dưới thớ thịt của gã lại viên. Trình Dạ khẽ nghiêng đầu lắng tai nghe ngóng ra ngoài khe cửa. Chỉ có tiếng gió luồn qua rặng lau khô xào xạc và tiếng nước vỗ chân mố đá. Không có tiếng vó ngựa gõ trên đá hộc, cũng không có tiếng xích sắt va vào bao kiếm của đám tuần đinh áo đỏ.
"Mày chạy từ thành Lạc Châu xuống đây từ canh tư à?" Trình Dạ hạ giọng hỏi, mắt nhìn thẳng vào đôi đồng tử đang giãn rộng vì khiếp hãi của bạn mình. "Có chuyện gì xảy ra ở Ty? Lệnh truy nã đã phát xuống các bến đò rồi sao?"
Phạm Lục nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh, cổ họng phát ra tiếng ực nghẹn ngào, yết hầu trồi lên sụt xuống sau cổ áo chàm rách mép. Ánh mắt gã đảo quanh gian phòng mờ tối, lướt qua vẻ mặt trầm lặng của Trình Dạ, qua bóng dáng già nua lo âu của bà Lê An, rồi đột ngột khựng lại khi chạm phải Lâm Chiêu.
Nữ tu Huyền Đăng Môn đang đứng tựa vào vách gỗ góc nhà. Nàng không mặc áo choàng ngoài, chỉ vận một thân đạo bào màu trắng ngà viền chỉ xanh xám, vóc dáng mảnh khảnh nhưng toát ra hàn khí sắc bén như một lưỡi gươm chưa tuốt khỏi bao. Bàn tay thon dài của nàng vẫn đặt hờ hững trên chuôi thanh kiếm Chiếu Hồn đeo ngang hông, đôi mắt hạnh trong veo mà sâu thẳm như giếng cạn giữa mùa đông, lạnh lùng dán chặt vào từng cử động của kẻ mới đến.
Thấy sắc áo trắng của đệ tử tiên môn và khí tức thanh lãnh áp đảo tỏa ra từ người nàng, Phạm Lục khẽ rụt cổ lại theo bản năng của một kẻ chức dịch hạ đẳng chốn nha môn. Lưng gã bất giác còng xuống, hai chân líu ríu lùi lại nửa bước, ánh mắt sợ sệt lấm lét nhìn xuống sàn nhà:
"Cô... vị tiên cô này..."
"Nàng là người đứng về phía chúng ta, tạm thời là vậy," Trình Dạ nói ngắn gọn, cắt đứt sự ngập ngừng của bạn. "Nói đi. Điều gì khiến một thằng nhát gan như mày dám trốn khỏi thành trong đêm bão tuyết tan này?"
"Dạ... chuyện này lớn lắm. Động trời rồi." Phạm Lục lắp bắp, hai tay ôm ghì lấy bọc vải dầu thô trước bụng như thể đó là đứa con đỏ hỏn hay chiếc phao cứu mạng duy nhất của mình giữa dòng nước xoáy. "Hôm qua tao ngồi soát lại sổ bộ chuẩn bị cho kỳ kiểm kê liên bến mùa đông... Ty Thủy Sứ cử người sang đốc thúc niêm phong các rương hồ sơ cũ từ thời mười hai năm trước. Tao lén mở thử một hòm gỗ mục dưới gầm sàn Tàng Thư Viện... tao thấy... tao thấy những thứ không nên thấy."
Gã bước lảo đảo tới chiếc bàn trà bằng gỗ thông xẻ mộc giữa nhà, hai đầu gối run rẩy khuỵu xuống mặt ghế băng dài đóng bằng thân tre già. Chiếc ghế cọt kẹt kêu lên dưới sức nặng của gã. Trình Dạ đưa mắt ra hiệu cho mẹ lui vào chái bếp để canh chừng người thanh niên bị thương, tránh cho bà phải nghe những chuyện hiểm độc nơi quan nha. Bà Lê An khẽ gật đầu, thở dài một tiếng thật khẽ rồi rón rén khép cánh cửa buồng lại.
Lâm Chiêu cũng rời khỏi vách nứa, bước lại gần chiếc bàn gỗ. Tà áo trắng của nàng lay động rất khẽ, không phát ra tiếng sột soạt của vải vóc phàm trần, mang theo mùi hương thanh lãnh nhàn nhạt của sương sớm Yên Sơn, lập tức lấn át mùi tanh nồng của bùn sông và mồ hôi hôi hám bốc lên từ người gã thư lại.
Bằng những ngón tay dính đầy mực đen khô két và cáu ghét, Phạm Lục run rẩy cởi nút thắt dây gai bọc ngoài xấp tài liệu. Tấm vải dầu màu nâu thô ráp mở ra, để lộ một tập giấy bản thô màu vàng nghệ, mép giấy xơ xác, quăn queo vì bị lật giở quá nhiều lần trong bóng tối.
Đây không phải loại giấy hoa tiên láng mịn có đóng dấu chu sa bóng lộn của nha môn Lạc Châu, mà là giấy dó rẻ tiền do chính tay những thư lại nghèo dùng để chép nháp tính toán ngoài giờ trực. Mặt giấy sần sùi nổi rõ những thớ vỏ cây chưa được nghiền kỹ, phủ đầy những hàng chữ số chi chít, dày đặc như đàn kiến bò ngang dọc, gạch xóa chằng chịt bằng cả mực tàu lẫn than củi.
"Đây là cái gì?" Trình Dạ kéo chiếc ghế đẩu đối diện ngồi xuống, mắt nhìn chăm chú vào những cột tính dày đặc.
"Sổ tính thuế đê điều và lộ phí vận tải phân vùng hạ lưu Lạc Châu," Phạm Lục thở hổn hển, ngón tay run rẩy chỉ vào trang giấy đầu tiên. Bàn tay gã giật giật từng cơn vì lạnh và sợ hãi.
Trong lúc lúng túng lật giở xấp giấy dày cộm, một mảnh giấy nhỏ chỉ bằng ngón tay vô tình trượt ra từ kẽ tay áo thụng của gã, rơi nghiêng trên mặt bàn thông mộc.
Trình Dạ liếc mắt qua. Đó là một mẩu biên nhận đánh số bằng giấy hồng điều đã nhàu nát, bên trên viết vài chữ thảo ngoằn ngoèo bằng thứ mực đỏ phẩm cánh kiến, thoang thoảng bốc lên mùi phấn son xạ hương nồng gắt—thứ mùi đặc trưng rẻ tiền chỉ có thể tìm thấy ở các tửu quán xập xệ và sòng bạc nổi trên Cồn Đèn Câm, nơi tụ tập của đám buôn lậu và trốn thuế đường sông.
Nhận ra sơ hở của mình, khuôn mặt hốc hác của Phạm Lục thoắt cái trắng bệch ra như người chết trôi. Gã vội vàng dùng cả bàn tay áo còn lại đè nghiến lấy mẩu giấy hồng điều ấy, nhanh như chớp giúi biến nó vào sâu trong nếp vải trong ngực, mắt lấm lét ngước nhìn sang Lâm Chiêu như một tên trộm vừa bị bắt quả tang giữa chợ.
Lâm Chiêu chỉ khẽ nhướng đôi mày thanh tú, ánh mắt sâu thẳm không để lộ nửa phần gợn sóng, nhưng năm ngón tay nàng đặt trên đốc kiếm khẽ siết lại một nấc. Nàng không vạch trần thói trăng hoa cờ bạc hay những giao dịch mờ ám dưới đáy sông của gã lại viên, chỉ lạnh lùng cất giọng, thanh âm trong vắt nhưng buốt giá:
"Nói vào việc chính đi. Một lại viên cấp thấp phụ trách việc chép số như ngươi thì phát hiện được dị thường gì trong đống giấy vụn này mà phải chạy bán sống bán chết đến tận Bến Lau Tàn?"
Phạm Lục nuốt ực một cái, hai bàn tay áp chặt vào xấp giấy dó để giữ cho chúng khỏi bay theo gió lùa qua khe liếp, cố trấn tĩnh để giọng khỏi vỡ ra:
"Bản chính... bản chính lưu tại Tàng Thư Viện của Ty Danh Tịch đã bị 'làm sạch' từ mười hai năm trước. Mọi người đều biết sau trận đại hồng thủy năm Kỷ Hợi, toàn bộ sổ đinh của dải ven sông đều được sao chép lại theo lệnh của Thủy Sứ Lạc Châu. Nhưng bản nháp thô này là do tao tự tay cộng sổ từ các phiếu thu lẻ của các đội phu đào đất, lính gác trạm tuần đê và các phường thợ đắp đá qua từng năm... Nhìn vào đây đi, Dạ."
Gã miết đầu ngón tay dính mực vào một cột số liệu dài dằng dặc được khoanh tròn bằng mực đen pha nước chè tươi:
"Tổng chiều dài tuyến đê quai ngăn lũ số chín, tính từ ngã ba sông Hạc về phía hạ nguồn Dạ Thủy, được ghi nhận trên sổ phân kim ngân khố là bốn mươi hai dặm. Suốt mười hai năm qua, ngân khố quan phủ mỗi mùa khô đều cấp đủ kinh phí duy tu, kè đá hộc, đắp đất sét cho trọn vẹn bốn mươi hai dặm ấy. Số tiền xuất kho, số phu phen điều động từ các tổng lân cận, số đá hộc chở từ mỏ đá Lạc Châu về bến trung chuyển... tất cả đều khớp từng đồng, từng cân, không thiếu một hào, không thừa một lạng."
Trình Dạ nheo mắt nhìn theo ngón tay khẳng khiu của bạn:
"Điều đó thì có gì bất thường? Việc tu bổ đê điều hằng năm vẫn diễn ra như lệ thường. Triều đình sợ lũ sông Dạ Thủy vỡ đê tràn vào vựa lúa Lạc Châu, chi bạc gia cố đê quai là chuyện thường thấy mười mấy năm nay."
"Bất thường ở cái đuôi của con đê!"
Giọng Phạm Lục hạ thấp xuống đột ngột, chỉ còn như tiếng gió rít qua khe nứa, run rẩy và đầy vẻ kinh hoàng. Gã nhoài người qua bàn, hơi thở hôi hám phả ra từng luồng gấp gáp:
"Bốn mươi hai dặm đê dẫn đi đâu hả Dạ? Mày nhìn vào tấm đồ bản hành chính chính thức này đi!"
Phạm Lục lật phắt xấp giấy sang một bản sao lục mỏng dính, có dấu triện hoa sen mờ mờ của Ty Danh Tịch đóng ở góc phải:
"Trên bản đồ địa bạ chính thức lưu hành ở nha môn, con đê số chín chỉ kéo dài đúng ba mươi lăm dặm thì đứt đoạn tại trạm tuần bến Cây Gạo! Bảy dặm còn lại... bảy dặm đê quai khổng lồ đắp bằng hàng vạn khối đá hộc ấy, trên toàn bộ các bản sổ triện đỏ lưu trữ hiện hành, nơi đáng lẽ phải ghi tên các làng xóm, thôn ấp tiếp nhận lượng nước tiêu úng và nộp thuế thân... đều biến thành những khoảng giấy trắng xóa!"
Ngón tay Phạm Lục đập bồm bộp xuống mặt giấy dó:
"Mày nhìn kỹ xem! Chỗ này, chỗ này, và cả chỗ này nữa! Văn tự trên bản chính không phải bị cạo sửa bằng dao rọc giấy, cũng không phải bị mực đen bôi xóa hay bị nước lũ làm ố nhòe. Nó biến mất! Nó trắng phau, trơn láng như thể chưa từng có một ngọn bút lông nào hạ xuống mặt giấy! Thậm chí các vị trí ghi tên đinh bộ, ngạch thuế vụ, tên các xóm nhỏ đều trở thành những khoảng trống câm lặng, mất sạch ngữ nghĩa."
Gã trợn tròn mắt, con ngươi đỏ ngầu những tia máu:
"Nếu mày đọc bản sổ chính thức của Ty, mày sẽ thấy những dòng văn bản vô nghĩa đến rợn người kiểu như: *'Tuyến đê dẫn qua... thu thuế của... gồm... nóc nhà'*. Nhưng kỳ quái nhất là gì mày biết không? Các quan coi sổ, từ quan Đề lại cho đến quan Chưởng ấn, thậm chí cả mấy lão giám sát của Thủy Sứ quán, khi lướt ngón tay qua những trang giấy trắng này đều coi đó là chuyện đương nhiên! Họ đọc lướt qua như gió thoảng qua đầm lau. Họ tự động bỏ qua, hoặc nếu có ai hỏi đến, họ sẽ tự lấp liếm trong đầu rằng đoạn đê đó dẫn ra bãi hoang ngập mặn, không có người ở thì ghi làm gì!"
Lâm Chiêu bước hẳn tới mép bàn trà. Nàng nghiêng mình cúi xuống, những lọn tóc đen nhánh xõa nhẹ bên bờ vai thon. Ngón tay trỏ trắng muốt của nàng khẽ chạm vào mặt giấy bản sao lục, lướt nhẹ qua khoảng trắng tinh khôi nằm lọt thỏm giữa những dòng chữ Hán chân phương.
Đôi đồng tử trong veo của nàng khẽ co rút lại. Đầu ngón tay nàng cảm nhận được một luồng hàn khí vô hình còn vương lại trên thớ giấy—thứ hàn khí không thuộc về trần thế, không lạnh như băng giá mùa đông, mà là sự lạnh lẽo của sự triệt tiêu tồn tại.
"Không có vết cạo rách xơ giấy," Lâm Chiêu cất giọng, thanh âm trầm thấp nhưng đanh lại như thép nguội. "Độ dày của trang giấy hoàn toàn đồng nhất. Đây tuyệt đối không phải thủ đoạn tẩy xóa cơ học của phàm nhân. Văn tự biến mất cùng lúc với khái niệm tương ứng trong tâm trí người đọc... Đó là tác động đồng bộ của thuật Đoạt Danh."
"Đúng! Đúng là như vậy!"
Phạm Lục kích động đập mạnh tay xuống mặt bàn thông, làm chiếc chén sành mẻ góc nảy lên lách cách, nước cặn bên trong bắn tung tóe.
"Mọi người ở nha môn đều bị mù quáng bởi danh ấn chính thức! Mỗi khi một văn bản có đóng triện hoa sen của Ty Danh Tịch hay triện pháp thuật của tiên môn bị thuật Đoạt Danh tác động, toàn bộ tâm thức của những kẻ tiếp xúc với nó sẽ tự động lấp đầy khoảng trống bằng những lời giải thích hợp lý nhất do thuật thức áp đặt: *'À, chỗ ấy là bãi hoang ngập mặn'*, *'À, chỗ ấy sau trận lụt dân chết hết rồi bỏ xứ đi'*. Nhưng tao... tao là một thằng đếm số!"
Phạm Lục ngẩng phắt mặt lên. Trong đôi mắt ngập tràn sợ hãi của gã lại viên hạ đẳng bỗng nhiên ánh lên một tia kiêu hãnh kỳ dị—sự kiêu hãnh của một kẻ suốt đời vùi đầu vào đống sổ sách mục nát, nơi những con số thuần túy ngự trị:
"Tao không nhìn vào tên làng! Tao là chân lại viên quét dọn, tao chỉ nhìn vào phép tính số học! Phép tính thì không có danh phận! Số một là số một, số mười là số mười, nó không có họ tên, không có quê quán, và quan trọng nhất là nó không bị trói buộc bởi danh ấn của nha môn! Bảy dặm đê đắp bằng đá hộc, tốn sáu vạn khối đất thịt, bốn trăm chuyến đò tải đá của phu trạm, tiêu tốn ba ngàn lượng bạc tiền công mỗi năm... Nếu nơi đó chỉ là một bãi bùn sình hoang vu không bóng người, thì ai là kẻ đắp đê? Ai là kẻ hưởng lợi từ việc ngăn dòng lũ Dạ Thủy? Quan lại có tham ô thì cũng phải có công trình để mà nghiệm thu chứ!"
Gã lật một tờ giấy nháp lem nhem đầy những phép nhân chia phức tạp, những vệt mực son cọ quẹt lung tung:
"Tao lấy tổng chiều dài của hệ thống mương máng phụ, lượng thóc thuế nộp vào kho dự trữ trước năm Kỷ Hợi đem đối chiếu ngược lại với năng suất lúa nước của vùng hạ lưu. Kết quả cho ra rành rành: Vùng đất nằm ở cuối bảy dặm đê ấy... thực tế rộng ít nhất ba trăm mẫu ruộng màu mỡ! Ba trăm mẫu đất bồi phù sa trù phú, đủ chỗ cho hàng trăm nhân khẩu sinh sống, cày cấy, sinh con đẻ cái suốt bao đời nay... Vậy mà trên bản đồ địa chính Lạc Châu hiện tại, nó bị khoét một lỗ hổng tròn vo, chỉ ghi đúng hai chữ câm lặng: *Bãi Hoang*!"
Một khoảng lặng ngột ngạt buông xuống gian nhà chờ Bến Lau Tàn.
Tiếng sóng vỗ ì oạp vào mố đá ngoài kia dường như lùi xa dần, chỉ còn lại tiếng thở dốc nặng nề của Phạm Lục và tiếng gió bấc rít qua khe nứa. Ngọn đèn dầu lạc leo lét trên bàn chao đảo, hắt bóng ba người lên vách liếp thành những hình thù méo mó, ma quái.
Trình Dạ nhìn chằm chằm vào những con số khô khốc trên mặt giấy của bạn mình. Từng con số, từng dấu gạch nối, từng lượng bạc được kê khai tỉ mỉ kia không biết nói dối. Chúng là những dấu vết vật chất trần trụi, lạnh lùng, không mang linh hồn, không có ký ức, nhưng cũng chính vì thế mà cấm thuật không thể với tới để tẩy xóa hoàn toàn. Kẻ thi thuật có thể xóa một cái tên khỏi bia đá, có thể bịt miệng người sống, nhưng không thể bóp méo trọng lượng của sáu vạn khối đất đá đã đổ xuống dòng sông.
Đột nhiên, Trình Dạ đứng dậy. Anh không nói một lời, sải bước đi thẳng vào góc chái kho tối tăm phía sau nhà chờ.
Tiếng lục lọi đồ đạc vang lên trong bóng tối, tiếng lách cách của then khóa đồng hoen gỉ, tiếng cót két của nắp rương gỗ nặng nề được nhấc lên. Ít phút sau, Trình Dạ quay trở lại bàn trà. Trên tay anh là một cuộn giấy dó ố vàng, dày dặn, được bọc cẩn thận trong nhiều lớp vải gai tẩm dầu rái để chống ẩm mốc.
Đó chính là tấm hải đồ cổ mà cha anh, Trình Hoài, đã để lại dưới đáy chiếc rương gỗ dâu rừng trước khi biến mất vào đêm giông bão mười hai năm trước.
Trình Dạ trải rộng tấm hải đồ của cha lên mặt bàn trà, dùng bốn chiếc chặn giấy bằng đá cuội đè chặt bốn góc, phủ lên trên xấp bản thảo tính thuế của Phạm Lục.
"Lục, mày nhìn vào chỗ này xem," giọng Trình Dạ trầm xuống, ngón tay anh chỉ vào một dải mực vẽ uốn lượn men theo dòng Dạ Thủy cổ. "Đây là bản đồ luồng lạch và đường đê hộ bến do cha tao tự tay đo đạc và vẽ bằng mực tàu từ mười hai năm trước. Hãy nhìn vào khúc quanh của nhánh sông chết này."
Lâm Chiêu và Phạm Lục cùng ghé sát đầu lại.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, tấm bản đồ cũ của Trình Hoài hiện lên rõ mồn một từng con lạch nhỏ, từng cồn cát ngầm và những gò đất cao ven sông. Những nét vẽ bằng bút lông tuy mộc mạc nhưng cực kỳ chuẩn xác, ghi rõ độ nông sâu của từng luồng nước theo từng con nước lớn ròng.
Và tại điểm kết thúc của dải đê số chín—chính là nơi mà trên sổ sách hiện hành của Ty Danh Tịch bị bỏ trống thành một khoảng giấy trắng—nét bút lông sắc sảo của Trình Hoài đã chấm một ký hiệu hình mái ngói rêu phong nằm bên cạnh một ngã ba sông cụt.
Phía dưới mái ngói ấy, có ba chữ viết bằng mực tàu đậm nét nhưng mép chữ đã hơi phai nhạt theo năm tháng: *Thành Hoàng Miếu*.
Và kéo dài từ sau lưng ngôi miếu cổ ấy, trải rộng ra một vùng đất bằng phẳng kẹp giữa dải đê quai cũ và bờ sông ngập lau sậy, là những nét gạch đan chéo biểu thị ruộng vườn, bờ vùng bờ thửa và những chấm mực nhỏ tượng trưng cho xóm ấp. Nơi đó, ngòi bút của Trình Hoài từng ghi chú một dòng chữ nhỏ để chỉ dẫn phương hướng cho người chèo đò.
Nhưng kỳ lạ thay, những nét chữ ấy dường như đã bị một lực lượng vô hình tác động, mực tàu không hề phai đi nhưng nét chữ bị nhòe nhoẹt, méo mó như thể bị ai đó dùng nước làm loãng ra, chỉ còn sót lại hai chữ mờ mờ như bóng ma:
*... Sau Miếu.*
"Sau Miếu..." Lâm Chiêu khẽ thì thào, lồng ngực nàng khẽ phập phồng dưới lớp đạo bào. Đôi mắt nàng lóe lên một tia sáng lạnh buốt: "Lời mê sảng của người thanh niên nằm trong kia... hắn liên tục lẩm bẩm 'Sau Miếu'... không phải là nói về một ngôi miếu hoang, mà là đang gọi tên cả một ngôi làng!"
"Mười bảy nóc nhà," một giọng nói run rẩy, nghẹn ngào cất lên từ ngưỡng cửa buồng trong.
Bà Lê An đã bước ra từ lúc nào. Bà đứng tựa vào khung cửa gỗ, hai mắt đỏ hoe, những ngón tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào tấm tạp dề dính tro. Ánh mắt bà dừng lại trên những nét vẽ quen thuộc của người chồng đã mất tích:
"Mười hai năm trước... trước cái đêm mưa bão kinh hoàng ấy vài ngày, ông Hoài từng về nhà, ngồi đúng ở chiếc ghế này mà nói với tôi... Làng Sau Miếu có mười bảy nóc nhà. Họ sống tụ họp quanh ngôi miếu Thành Hoàng cổ từ thời tiền triều. Ngôi miếu ấy thờ một vị thủy thần giữ nước của nhánh sông cụt. Dân làng quanh năm làm nghề chài lưới, cào hến, đan lát nong nia mang ra chợ Lạc Châu bán... Họ sống hiền lành, yên ổn ở cái doi đất ấy cả trăm năm trời..."
Phạm Lục há hốc mồm, hai mắt trợn trừng nhìn vào sự trùng khớp đến rợn người giữa các con số tính toán khô khốc của mình và nét vẽ trên tấm hải đồ cũ:
"Ba trăm mẫu đất... mười bảy hộ đinh... số lượng đá hộc duy tu đê điều hàng năm... Mọi thứ khớp nhau từng li từng tí! Nhưng... nhưng tại sao? Trời đất ơi, nếu cả một ngôi làng mười bảy nóc nhà tồn tại sờ sờ ra đó, tại sao sau trận lũ năm ấy, không một ai trong thành Lạc Châu còn nhớ đến họ? Tại sao từ quan đến dân, hễ nhắc đến khúc sông ấy đều chỉ bảo rằng đó là bãi sình lầy ma thiêng nước độc, dân đã bỏ xứ đi biệt tích từ đời tám hoánh nào rồi?"
"Bởi vì họ không hề bỏ đi," Lâm Chiêu lạnh lùng nói, thanh âm như nhát dao rạch qua màn sương sớm.
Nàng vươn những ngón tay thon dài, lật giở một trang nháp khác nằm kẹp dưới đáy xấp giấy của Phạm Lục. Ánh mắt nàng bỗng khựng lại ở một dòng ghi chú viết vội bên lề trang giấy, viết bằng thứ mực đen pha chì rẻ tiền:
*‘Tiết Sương giáng năm ngoái: Điều động bốn mươi cỗ xe bò chở đá tảng xám và vôi sống từ mỏ Lạc Châu, chuyển thẳng vào khu vực đê cụt sau miếu. Ghi chú điều chuyển của Thủy Sứ quán: Phục vụ gia cố chân móng Đập Khóa Mạch’.*
Ngón tay Lâm Chiêu khẽ run lên khi chạm vào ba chữ "Đập Khóa Mạch".
Nàng ngẩng phắt đầu nhìn Trình Dạ, trong đôi mắt vốn luôn bình thản của người tu đạo lần đầu tiên dâng lên sự bàng hoàng tột độ:
"Đập Khóa Mạch... Chúng không chỉ xóa sổ ngôi làng. Chúng đang dùng chính vùng đất bị xóa danh ấy làm bình phong để thi công một công trình tà đạo phong tỏa thủy mạch của cả con sông Dạ Thủy! Trình Dạ, anh có hiểu điều này nghĩa là gì không?"
Trình Dạ siết chặt hai nắm tay trên mặt bàn gỗ thông, những khớp xương ngón tay kêu lên răng rắc, trắng bệch ra:
"Tôi hiểu. Thuật Đoạt Danh của các người... cái thứ tiên pháp thanh cao mà các người tôn thờ... nó tàn độc hơn việc giết người cướp của của phường thổ phỉ gấp vạn lần."
Lâm Chiêu không hề phản bác lại hai chữ "các người" đầy vẻ căm phẫn và cay đắng của anh. Nàng hít sâu một hơi không khí lạnh buốt của buổi sớm mai, giọng nói trầm xuống nhưng đanh thép, mang theo sự phân tích sắc bén của một kẻ thông hiểu huyền môn:
"Thuật Đoạt Danh là một trong những cấm thuật tuyệt mật của Thần Đăng Đạo, chỉ có hàng trưởng lão trở lên mới được tiếp cận khẩu quyết. Nó hoạt động dựa trên nguyên lý cắt đứt ba tầng liên kết cấu thành sự tồn tại của một thực thể trong cõi nhân gian: Ký ức tự thân của nạn nhân, nhận thức của nhân chứng bên ngoài, và chứng tích văn tự mang danh ấn."
Nàng chỉ tay vào tấm bản đồ và xấp giấy thuế:
"Khi kẻ thi thuật kích hoạt đại trận, chúng dùng sức mạnh của phù chú để bóp nghẹt thức hải của cả một cộng đồng, ép họ quên đi gốc tích của chính mình. Đồng thời, chúng cấu kết với quan phủ dùng quyền lực thế tục để thu hồi toàn bộ sổ sách địa bạ, phá hủy bài vị tổ tiên, đập vỡ văn bia, triệt tiêu mọi con dấu hành chính... Khi ba tầng liên kết ấy bị bẻ gãy cùng một lúc, thế gian sẽ dần quên đi sự tồn tại của họ như một lẽ tự nhiên. Người sống ở các làng phụ cận khi đi ngang qua vùng đất ấy, thần thức của họ sẽ bị cấm thuật dẫn dụ, chỉ nhìn thấy lau sậy, đầm lầy, và tâm trí họ sẽ tự động đưa ra một lời giải thích hợp lý nhất để khỏa lấp khoảng trống vô lý: *'Nơi này hoang vu từ ngàn xưa, chẳng có bóng người nào cả'*. Đó là sức mạnh đáng sợ của sự lãng quên bị cưỡng bức."
Nàng dừng lại một nhịp, đôi mắt sắc sảo nhìn thẳng vào ngọn đèn nghê đồng còn đọng vệt muội cá trắm đặt trên kệ gỗ góc nhà:
"Nhưng thuật Đoạt Danh có một giới hạn tuyệt đối mà kẻ thi thuật—dù là sư tôn Bạch Huyền hay bất kỳ đại năng nào—cũng không bao giờ có thể đảo ngược hay xóa bỏ được."
"Giới hạn gì?" Phạm Lục nín thở hỏi, trán gã lại rịn ra một lớp mồ hôi mới.
"Quy luật bảo toàn vật chất của trời đất," Lâm Chiêu nhấn mạnh từng từ, giọng nói rành rọt như gõ chuông khánh. "Kẻ thi thuật có thể dùng phù chú xóa một cái tên khỏi trang giấy dó, có thể làm mờ ký ức trong não tủy con người, nhưng chúng không thể dùng ảo thuật để làm biến mất chiều dài của một con đường đất đã được đầm nén suốt hàng chục năm! Chúng không thể làm tiêu biến hàng vạn khối đá hộc đã lát xuống chân đê, không thể phi tang hàng trăm cỗ xe chở vôi sống, và càng không thể xóa sạch những móng nhà bằng đá ong đã cắm sâu ba thước vào lòng đất phù sa! Thế gian này có quy luật vận hành của nó, vật chất đã hình thành thì không thể tự nhiên biến thành hư vô chỉ vì một lời nguyền tước đoạt tên họ!"
Nàng quay sang nhìn Trình Dạ, ánh mắt rực lên một ngọn lửa kiên định:
"Người thanh niên nằm trong kia mang trên mình vết sẹo khóa chỉ và phù văn hoa sen ngược—dấu tích của trận pháp thanh trừng. Trong tay hắn lại nắm chặt tấm vé bảo danh có thủ ấn rỉ máu của cha anh. Lời mê sảng của hắn về 'Sau Miếu' không phải là ảo giác lúc hấp hối! Làng Sau Miếu vẫn đang ở đó! Dấu tích vật chất của mười bảy nóc nhà ấy vẫn còn nằm lại sau ngôi miếu Thành Hoàng cổ ven sông! Bọn chúng có thể đã gom sạch bài vị, xé nát sổ đinh, nhưng nền móng của một đời sống cộng đồng thì không thể bị nhổ rễ hoàn toàn trong một sớm một chiều!"
Phạm Lục nghe đến đó thì toàn thân run bần bật như cầy sấy. Gã kinh hoàng túm chặt lấy ống tay áo chàm của Trình Dạ, giọng lạc đi vì hoảng loạn:
"Dạ... mày... chúng mày điên rồi! Mày định làm gì? Mày không định dấn thân vào đó đấy chứ? Vùng đất ấy... người quanh vùng đồn rằng có chướng khí ngập ngụa, ban đêm có tiếng khóc than dưới đáy bùn, ai lỡ bước chân vào đó đều bị ma dắt lạc lối mất phương hướng rồi chết rấp trong đầm lầy... Tao trộm xấp sổ sách này mang đến đây là để báo cho mày biết mầm họa sắp giáng xuống đầu, để mày liệu đường đưa mẹ trốn khỏi Bến Lau Tàn, chứ không phải để xúi mày đâm đầu vào chỗ chết!"
Trình Dạ bình thản gỡ từng ngón tay run rẩy của Phạm Lục ra khỏi vạt áo mình. Ánh mắt anh hướng qua khung cửa liếp ọp ẹp, nhìn ra dòng Dạ Thủy đang cuồn cuộn trôi trong sương mù—nơi dòng nước ngầm lạnh buốt đang kéo giọt máu tươi trên tấm vé bảo danh của cha anh chảy về phía thượng nguồn.
"Trốn đi đâu được nữa hả Lục?"
Giọng Trình Dạ trầm tĩnh một cách lạ thường. Đó là sự trầm tĩnh của một người chèo đò đã quen mặt với những con sóng dữ, quen đối đầu với những xoáy nước ngầm đen ngòm giữa đêm ba mươi Tết.
"Mày bảo tao trốn đi đâu? Đất trời Lạc Châu này đâu đâu cũng có tai mắt của Ty Danh Tịch, đâu đâu cũng có đệ tử của tiên môn. Cha tao mười hai năm trước đã chở một chuyến đò không ghi tên vào sổ bộ. Ông ấy đã đánh cược cả sinh mạng, gia sản và danh dự của một người giữ bến gia truyền để cứu người của ngôi làng ấy. Người thanh niên đang nằm thoi thóp kia đã sống sót trôi dạt suốt mười hai năm qua giữa dòng nước chết, ngậm đắng nuốt cay chỉ để mang tấm vé có máu của cha tao quay về tìm sự thật. Nếu bây giờ tao bỏ chạy, Bến Lau Tàn này sẽ bị tước quyền hộ bến, tấm vé của cha tao sẽ bị ném vào lò lửa, và ông ấy sẽ mãi mãi bị người đời nguyền rủa là một kẻ phản bội, một tên đào tẩu hèn hạ."
Anh quay sang nhìn thẳng vào mắt Lâm Chiêu:
"Cô dám đi cùng tôi không? Cô là tu sĩ chân truyền của Huyền Đăng Môn. Nếu cô bước chân vào vùng đất bị nguyền rủa ấy cùng tôi, cô sẽ chính thức đối đầu với mệnh lệnh của sư môn, đối đầu với sư tôn Bạch Huyền của cô, đối đầu với cả cái trật tự giả tạo mà cô đã quỳ lạy phụng sự suốt bao năm qua."
Lâm Chiêu không hề né tránh ánh nhìn của anh. Khóe môi nàng khẽ nhếch lên thành một nụ cười nhạt—một nụ cười đượm vẻ kiêu hãnh xen lẫn sự cay đắng tột cùng của một kẻ vừa nhận ra đức tin của mình bị phản bội.
*Xoạt!*
Thanh bội kiếm Chiếu Hồn bên hông nàng khẽ trượt ra khỏi vỏ nửa tấc. Một luồng thanh quang màu xanh biếc sắc lẹm hắt lên gương mặt thanh tú không chút phấn son của nàng, soi rõ ánh mắt lạnh lùng, dứt khoát:
"Từ khoảnh khắc ta ném lọ Tỏa Hồn Dầu vào góc kho rác rưởi của anh để cứu mạng người thanh niên kia, ta đã không còn đường lui rồi. Huyền Đăng Môn dạy ta dùng Chiếu Hồn Thuật để soi tỏ chân tướng giữa cõi sống và cõi chết, để trừ tà hộ đạo, chứ không dạy ta nhắm mắt làm ngơ trước những nấm mồ bị san phẳng bằng sự dối trá. Đi thôi. Chúng ta phải đến Làng Sau Miếu trước khi đợt tuần tra buổi trưa của nha môn bắt đầu."
Bà Lê An đứng lặng bên bậu cửa nhìn con trai. Bà hiểu rõ tính khí của Trình Dạ—một khi anh đã quyết định điều gì thì dù có chín con trâu mộng kéo ngược lại cũng chẳng lay chuyển nổi, hệt như tính khí bướng bỉnh của Trình Hoài năm xưa.
Bà không khóc lóc, cũng không nói lời ngăn cản. Người đàn bà cả đời gắn bó với bến sông chỉ lẳng lặng quay vào gian bếp nhỏ, cời đống tro tàn lấy ra một túi vải thô đựng ba vắt cơm nếp nắm muối vừng và một chiếc bầu nậm đựng nước lá vối nóng hổi. Bà bước tới, dúi chiếc túi vào tay Trình Dạ:
"Cầm lấy mà lót dạ dọc đường con ạ. Đi đứng phải cẩn thận... nhớ nhìn kỹ từng bước chân dưới lớp bùn. Đất có miếu cổ thường có mắt, thần linh tiền triều có thể đã khuất nhưng linh khí sông nước thì không bao giờ mất đi. Đừng làm điều gì thất lễ với người xưa."
"Mẹ ở nhà khóa chặt cửa lại, trông chừng người khách kia giúp con," Trình Dạ dặn dò, bàn tay siết nhẹ lấy những ngón tay khô cằn của mẹ. "Nếu có người của Hội Giữ Bến hay lính trạm của Ty Danh Tịch tới tra hỏi, mẹ cứ bảo con chèo thuyền sang bến bên mượn cuộn dây chão, tuyệt đối đừng hé răng nửa lời về xấp sổ sách này."
Phạm Lục thấy hai người bắt đầu thu dọn hành trang chuẩn bị lên đường thì hoảng hốt thực sự. Gã cuống quýt ôm chặt lấy bọc giấy bản thô vào lòng, chân tay luống cuống, mặt cắt không còn một giọt máu:
"Thế... thế còn tao? Chúng mày đi rồi thì tao biết chui rúc vào đâu bây giờ?"
"Mày ở lại đây, trốn tạm dưới hầm chứa lưới cũ trong chái kho sau nhà tao," Trình Dạ vỗ mạnh vào vai bạn. "Hoặc đợi sương mù tan bớt thì lén lút quay về thành Lạc Châu, giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Cứ coi như mày chưa từng đặt chân xuống Bến Lau Tàn sáng nay. Những con số này... cảm ơn mày, Lục. Nếu không có cái đầu tính toán chi li của một thằng thư lại như mày, tao sẽ vĩnh viễn không bao giờ hiểu được cha tao đã liều mạng vì điều gì mười hai năm trước."
Phạm Lục thở dài sườn sượt, ánh mắt phức tạp nhìn Trình Dạ. Bàn tay giấu trong tay áo của gã lại vô thức siết chặt lấy mẩu biên nhận bạc có mùi phấn son của Cồn Đèn Câm. Gã mấp máy môi, muốn nói thêm điều gì đó, muốn cảnh báo Dạ về những cạm bẫy đen tối và những món nợ ngập đầu mà chính bản thân gã đang lún sâu vào chốn giang hồ sông nước, nhưng cổ họng gã nghẹn ứ lại, không thốt nên lời. Gã chỉ biết lẳng lặng lùi vào góc tối của gian nhà, ôm chặt lấy đống giấy má như ôm một bản án tử hình lơ lửng trên đầu.
Trình Dạ khoác lên mình chiếc áo tơi kết bằng lá cọ cũ kỹ đã sờn rách mép, dắt bên hông một con dao quắm bằng thép rèn sắc lẹm dùng để phạt gai mở lối. Trên tay anh cầm một ngọn đèn bão bằng sắt tây đã tắt lửa, nhưng đáy đèn vẫn còn đầy cặn dầu cá trắm trộn tinh chất ngải cứu tuyết.
Lâm Chiêu trùm kín tấm áo choàng bằng vải thô màu xám tro, che khuất hoàn toàn bộ đạo bào trắng muốt và thanh kiếm lệnh của Huyền Đăng Môn. Nàng bước ra khỏi cửa trước, vóc dáng hòa lẫn vào màn sương sớm bảng lảng.
Hai người bước ra khỏi nhà chờ Bến Lau Tàn. Cánh cửa liếp khép lại sau lưng họ, thanh tre ngà lại trượt vào chốt gỗ kêu lên một tiếng *cạch* dứt khoát, ngăn cách hơi ấm mỏng manh của gian nhà nghèo với cái lạnh thấu xương của dòng sông buổi sớm.
Con đường đê số chín vào giờ này vắng ngắt không một bóng người qua lại. Màn sương sớm từ mặt sông Dạ Thủy dâng lên cuồn cuộn như sóng cồn, nuốt chửng cả những rặng tre ngà ven đường và những mái nhà lợp rạ thưa thớt của xóm chài ở phía xa xa. Gió bấc thổi từ mặt nước thốc lên bờ đê rát buốt, mang theo hơi ẩm lạnh giá và mùi bùn non ngai ngái nồng nặc.
Để tránh tai mắt của các trạm tuần thú và những toán lính cưỡi ngựa bọc sắt của Thủy Sứ quán, Trình Dạ không đi trên mặt đê chính lát đá hộc. Anh dẫn Lâm Chiêu men theo một con đường mòn nhỏ hẹp chạy dọc dưới chân taluy đê, luồn lách xuyên qua những bãi lau sậy rậm rạp cao lút đầu người.
Những bông lau trắng bạc trĩu nặng sương đêm quẹt vào mặt, vào vai họ, để lại những vệt nước buốt nhói như kim châm. Đất dưới chân họ lầy lội, bùn nhão ngập đến mắt cá chân, mỗi bước rút chân lên đều phát ra những tiếng *bẹp bẹp* nhớp nháp.
Trình Dạ đi trước mở đường. Bước chân của người sinh ra và lớn lên bên mép nước vững chãi lạ thường. Anh quen thuộc với từng mô đất gồ ghề, từng hõm bùn lún, từng gốc rễ cây ngầm ẩn dưới lớp cỏ mục. Con dao quắm trên tay anh thỉnh thoảng lại vung lên một đường dứt khoát, phạt đứt những cành gai mây bò ngang lối đi.
Lâm Chiêu theo sát ngay phía sau. Khác với bước chân nặng trịch của Trình Dạ, nàng bước đi nhẹ nhàng như một chiếc lá lướt trên đầu ngọn cỏ năn. Đạo lực trong cơ thể nàng âm thầm vận chuyển, thần thức Chiếu Hồn khẽ tỏa ra một vòng mỏng manh quanh bán kính ba trượng, lặng lẽ dò xét từng biến động nhỏ nhất của luồng gió, từng hơi thở của loài thủy tộc dưới lòng nước ngầm.
Đi được chừng hơn ba dặm, con đường mòn dưới chân đê bắt đầu biến mất hoàn toàn.
Trước mắt họ chỉ còn là một vùng đất hoang ngập tràn gai góc. Cỏ dại, ngải hoang và những bụi tầm xuân rừng mọc đan xen dày đặc như một tấm lưới khổng lồ bịt kín lối đi. Rõ ràng đã rất nhiều năm trôi qua, không có lấy một dấu chân người nào giẫm lên vùng đất này.
Nhưng đúng như những gì Phạm Lục đã chỉ ra trên những trang tính thuế: dù cây cỏ hoang dại có phủ kín mặt đất dày đến đâu, thì ngay dưới lớp bùn lầy và lá mục trơn trượt, lòng bàn chân Trình Dạ vẫn cảm nhận được độ cứng chắc, bằng phẳng của một nền đường đất đắp cao.
Đó là một con đường nhân tạo rõ ràng, được đầm nén cẩn thận bằng đất sét pha sỏi đỏ từ nhiều năm trước. Nó chạy thẳng tắp như một mũi tên xé toạc bãi bồi hoang vu, dẫn thẳng về phía ngã ba sông cụt nơi nhánh sông chết đang lẩn khuất sau màn sương. Cỏ hoang có thể mọc trùm lên mặt đất, nhưng không thể xóa nhòa vết tích của hàng ngàn bước chân người xưa đã từng nện chặt mặt đường này.
Càng đi sâu về phía thượng nguồn nhánh sông chết, không gian xung quanh càng trở nên biến đổi một cách kỳ dị.
Gió bấc vẫn thổi mạnh, làm vạt áo tơi của Trình Dạ bay phần phật, nhưng tiếng côn trùng rỉ rả quen thuộc của vùng sông nước bỗng nhiên thưa thớt dần rồi tắt lịm hoàn toàn. Không có tiếng ếch nhái uôm uôm dưới rãnh nước, không có tiếng chim bói cá lặn lội kiếm ăn, thậm chí ngay cả lũ muỗi dại thường bay từng đàn vo ve bên bụi sậy cũng biến mất không còn một con.
Kỳ lạ hơn cả, tiếng sóng vỗ ì oạp muôn thuở của dòng Dạ Thủy ở phía sau lưng dường như cũng bị chặn lại bởi một bức tường vô hình nào đó. Âm thanh mặt nước xa dần, rồi chìm hẳn vào một cõi tĩnh lặng ngột ngạt đến khó thở. Xung quanh họ chỉ còn trơ trọi tiếng gió rít qua những cành cây khô khốc và tiếng bùn lún dưới gót giày.
Trước mặt họ, qua màn sương mù mờ ảo đang dần tản ra dưới ánh bình minh ảm đạm, bóng dáng một gò đất cao dần dần hiện rõ.
Gò đất thoải dần về phía bờ sông, trên đỉnh mọc lên ba cây đa cổ thụ khổng lồ cành lá xum xuê. Những chùm rễ phụ đen sì, to bằng bắp đùi người lớn, buông thõng từ cành cao cắm sâu xuống lòng đất bùn như những cánh tay quỷ đang giam giữ lấy mặt đất.
Ẩn hiện sau những thân đa sần sùi bám đầy rêu phong là mái ngói xô lệch, rêu phủ xanh rì của một ngôi miếu cổ.
Đó chính là ngôi Thành Hoàng Miếu được vẽ trên hải đồ của Trình Hoài.
Ngôi miếu đã bị bỏ hoang phế từ rất lâu. Bức tường gạch vồ màu xám tro đã nứt toác từng mảng lớn, để lộ ra những thớ vữa vôi trộn mật mía đã mủn nát. Dây leo gai và rêu xanh bò chằng chịt, bịt kín các ô cửa sổ hình chữ thọ bằng gốm nung. Mái hiên trước miếu đã sụp xuống một góc, những viên ngói âm dương vỡ vụn nằm vương vãi trên thềm đá phủ đầy lá đa khô mục.
Trước hiên miếu, một chiếc lư hương bằng đá xanh nguyên khối đã bị đổ nghiêng sang một bên. Tro tàn bên trong đã bị mưa gió mười hai năm cuốn trôi sạch bách, chỉ còn đọng lại một vũng nước mưa đục ngầu và vài mảnh sành vỡ của những chiếc bát hương tiền triều.
Trình Dạ và Lâm Chiêu dừng bước dưới chân gò đất, lặng lẽ ngước nhìn lên ngôi miếu đang đứng trơ trọi giữa bãi hoang như một nấm mồ đá khổng lồ.
Và khi ánh mắt họ vượt qua mái ngói rêu phong của ngôi miếu cổ, nhìn về phía sau gò đất, cảnh tượng trước mắt khiến cả hai không khỏi rùng mình.
Phía sau ngôi miếu Thành Hoàng ấy, trải dài hút tầm mắt vào sâu trong màn sương mù dày đặc, là một vùng bình địa bằng phẳng kẹp giữa dải đê cụt số chín và khúc quanh của nhánh sông chết.
Khu vực này, trên toàn bộ các bản đồ hành chính của Ty Danh Tịch và Thủy Sứ quán Lạc Châu, chỉ được đánh dấu bằng một hình tròn trống rỗng kèm theo hai chữ câm lặng: *Bãi Hoang*.
Nhưng thực tế bày ra trước mắt họ lại là một sự thật trần trụi, nhức nhối không thể chối cãi.
Dưới ánh sáng nhờ nhợ của buổi sớm mai đang cố xé rách sương mù, những đường bờ thửa vuông vức của ruộng đồng cũ vẫn còn hằn rõ mồn một dưới lớp cỏ năn lác mọc dại. Từng ô ruộng, từng mương dẫn nước nhỏ xíu đắp bằng đất sét vẫn giữ nguyên hình hài của một vùng canh tác trù phú.
Dọc theo những lối mòn cũ nối liền các thửa ruộng, những gốc cọc rào bằng gỗ lim cắm mốc ranh giới đất đai vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Dù thân gỗ đã bị rêu phong gặm nhấm, bị bùn nước ngâm đen thui suốt mười hai năm, nhưng chúng vẫn cắm sâu ba thước vào lòng đất, đứng sừng sững như những chứng tích không thể bị khuất phục trước thuật tước đoạt tên họ.
Xa xa sau những lùm cây dại, những nền móng nhà bằng đá ong xám xịt nhô lên khỏi mặt cỏ, phác họa rõ ràng chu vi của những nếp nhà năm gian, ba gian.
Nơi đây từng có người sống. Từng có tiếng gà gáy trưa, tiếng trẻ con nô đùa bên rãnh nước, tiếng chày giã gạo đêm trăng và khói bếp lam chiều bốc lên từ mười bảy nóc nhà. Toàn bộ nền móng vật chất của ngôi làng vẫn nằm nguyên vẹn ở đó, bất động dưới lớp bụi thời gian, chỉ có tên gọi và ký ức của con người về nó là đã bị cấm thuật tước đoạt sạch trơn.
Lâm Chiêu khẽ nheo đôi mắt phượng, bàn tay đặt trên đốc kiếm Chiếu Hồn siết chặt đến mức các đốt ngón tay ửng đỏ:
"Chúng ta đến ranh giới rồi. Vùng đất phía trước... chính là Làng Sau Miếu."
Trình Dạ hít một hơi thật sâu, cảm nhận vị mặn chát của bùn sông, mùi rêu mốc và hơi lạnh của thời gian xộc thẳng vào buồng phổi. Máu trong huyết quản anh như sôi lên khi nhìn vào những bờ thửa mà cha anh từng vẽ trên hải đồ.
Anh bước lên một bước, nhấc chân vượt qua một rãnh nước cạn đầy lá mục dưới chân gò miếu để tiến vào khu vực bình địa phía sau.
Ngay khoảnh khắc mũi giày vải thô dính đầy bùn non của Trình Dạ vừa chạm qua ranh giới vô hình ngăn cách gò miếu với vùng đất hoang, một sự biến đổi quái dị, rợn tóc gáy bỗng nhiên ập đến.
Dưới mái hiên xụp đổ của ngôi miếu Thành Hoàng cổ phía trên đầu họ, một chiếc chuông gió bằng đồng đen gỉ sét, treo lơ lửng trên đầu đao mái ngói bằng một sợi dây đồng hoen ố, đang khẽ lắc lư dữ dội theo từng cơn gió bấc thổi rát mặt.
Lưỡi chuông va đập liên hồi vào thành chuông bằng kim loại. Gió sông vẫn rít từng cơn lạnh buốt làm vạt áo tơi bằng lá cọ của Trình Dạ bay phần phật, cuốn theo những đám lá đa khô xoay tít trên thềm đá.
Nhưng kỳ lạ thay, không có một âm thanh nào vang lên.
Thanh âm leng keng mong manh đáng lẽ phải phát ra từ chiếc chuông đồng bỗng nhiên câm bặt hoàn toàn.
Không một tiếng kim loại va chạm. Không một tiếng rít của gió luồn qua khe ngói. Không một tiếng sột soạt của lá khô cọ vào đá.
Toàn bộ thế giới xung quanh họ như vừa rơi tõm vào một khoảng chân không tuyệt đối, một cõi câm lặng rợn người đến mức Trình Dạ có thể nghe thấy tiếng tim mình đang đập thình thịch trong lồng ngực và tiếng máu đang chảy rần rật nơi thái dương.
Trình Dạ khựng lại giữa không trung, bàn chân vừa hạ xuống bùn đất bỗng nặng trĩu như đeo chì. Anh quay đầu nhìn Lâm Chiêu.
Nữ tu Huyền Đăng Môn cũng đã bước qua ranh giới ấy. Nàng đứng sững bên cạnh anh, vạt áo choàng xám tro ngừng bay dù gió vẫn đang thổi, đôi đồng tử trong veo mở to nhìn lên chiếc chuông đồng đang lắc lư điên cuồng trong câm lặng trên mái miếu cổ.
Thanh kiếm Chiếu Hồn bên hông nàng bỗng nhiên rung lên bần bật trong vỏ bao, phát ra một luồng sáng xanh ma quái xuyên qua lớp vải choàng, như thể đang gào thét trước một sự biến dịch khủng khiếp đang ẩn giấu dưới lòng đất mẹ.