Cửa Hầm Đóng Kín
Gió lạnh thốc qua từng kẽ nứt của vòm đá hoa cương ẩm ướt, mang theo mùi tro giấy khét lẹt xen lẫn hơi rêu mốc nồng nặc khi Trình Dạ lách mình qua cánh cửa sắt ngầm đóng váng xanh xám của cửa xả phụ. Bản lề sắt gỉ ngoan cố cọ vào gờ đá, phát ra một tiếng rít rất mảnh, tựa như tiếng rên của một kẻ chết đuối vừa bị ai đó dẫm lên ngực dưới đáy bùn sâu. Anh vội vã giơ cùi chỏ hãm lại đà trượt của cánh cửa, đợi cho đến khi tiếng vang nhỏ giọt cuối cùng tan biến vào khoảng không mịt mùng phía sau rồi mới nghiêng người, mở ra một khe hở vừa đủ cho một bóng người lướt qua.
Bên trong lòng đập, bóng tối tuyệt nhiên không đơn thuần là sự vắng mặt của ánh sáng. Nó quánh đặc, nhờn nhẫy như một lớp màng bùn âm đã lắng đọng qua hàng chục năm dưới đáy lạch sâu, bám chặt lấy da thịt người sống bằng một lực ép lạnh lẽo và ma quái. Tiếng nước gầm gừ sau những thớ đá dày mười lăm trượng dội vào màng nhĩ thành từng nhịp đập trầm đục, nghẹn ứ, khi thì dồn dập như tiếng bước chân của vạn quân xung trận, khi lại rời rạc, tức tối như một con thủy quái khổng lồ đang bị bóp nghẹt khí quản dưới đáy sâu tăm tối. Hơi vôi sống dùng để gắn các khối đá tảng trộn lẫn với mùi tanh nồng của bùn Dạ Thủy xộc thẳng vào cuống họng, cay sè, buốt giá và đắng chát nơi đầu lưỡi.
Trình Dạ ép sát lưng vào vách đá gồ ghề đầy những đường lồi lõm sắc nhọn, đưa tay ra hiệu cho hai người phía sau giữ khoảng cách ba bước chân. Lâm Chiêu khẽ gật đầu, vạt áo chàm của nàng cọ vào mặt đá phát ra tiếng sột soạt rất khẽ, dường như tan biến ngay vào âm hưởng rền rĩ của lòng đập; ngọc bội Chiếu Hồn giấu kín trong lòng bàn tay nàng chỉ hé ra một sợi hào quang thanh bạch mỏng mảnh như tơ nhện qua kẽ ngón tay, vừa đủ soi rõ ba tấc đất dưới mũi hài lấm bùn.
Đi sau cùng là Tống Yên. Đôi mắt nàng mở to, run rẩy nhưng sắc lạnh một cách kỳ dị, những ngón tay gầy guộc miết nhẹ lên mặt đá lởm chởm như đang lần mò đọc một văn bản khắc chìm từ kiếp trước. Nàng không nhìn đường bằng mắt, mà bước đi bằng ký ức của cơ bắp, bằng những đêm dài thuở ấu thơ từng theo chân phụ thân đi tuần dọc theo các đường hầm kỹ thuật của Ty Danh Tịch.
Hành lang dốc đứng chúc xuống lòng đất theo một góc nghiêng rợn người, sâu hun hút như dẫn thẳng xuống địa ngục. Bậc đá ở đây không hề được đẽo gọt phẳng phiu theo quy chuẩn kiến trúc của triều đình, mà chỉ là những khối đá hộc để nguyên cạnh vỡ nham nhở, rỉ nước nhớp nháp quanh năm. Nước từ trần vòm rỏ xuống từng giọt đều đặn, lạnh buốt như băng tuyết tan đầu mùa, rơi trúng gáy làm da thịt người ta co thắt lại từng cơn.
"Dừng lại," Trình Dạ đột ngột truyền âm, thanh âm nén chặt như sợi dây cung vừa kéo căng hết mức, chỉ vang lên trong phạm vi thức hải của ba người.
Khứu giác và thính giác của cảnh giới Thính Tức lập tức căng ra đến cực hạn trong không gian ngột ngạt này. Trình Dạ không chỉ nghe thấy tiếng rò rỉ của vô số mạch nước ngầm đang len lỏi qua từng thớ vôi rữa, mà còn bắt được một luồng dao động rất khẽ, sắc lạnh và méo mó cắm ngang qua khoảng không trước mặt tầm nửa trượng. Trong bóng tối dày đặc, mắt thường không thể thấy được gì ngoài một màn sương mù xám đục, nhưng dưới thính giác tinh tường của một kẻ đã nếm trải bao hiểm nguy nơi sông nước, luồng dao động ấy phát ra tiếng vo ve âm ỉ như bầy muỗi đói.
Đó là một sợi chỉ tơ màu tím sẫm, mảnh hơn cả sợi tóc mai của trẻ sơ sinh, được bện từ tóc của những người chết oan khi đắp đê và ngâm ròng rã chín chín ngày trong dầu trấu cõi âm—loại bẫy phù chú trói hồn tàn độc của Huyền Đăng Môn. Sợi chỉ ấy nối liền hai mắt ngọc đen gắn ngầm trong khe đá hai bên tả hữu; chỉ cần một luồng sinh tức sống lướt qua làm xao động từ trường tự nhiên, bùa chú sẽ lập tức kích hoạt. Nó sẽ không làm sập vách hầm để tránh kinh động đến đại trận trên mặt đập, nhưng luồng tử khí giam cầm sẽ phóng ra trong chớp mắt, khóa chặt thần hồn kẻ xâm nhập vào thớ đá hoa cương, biến họ thành những bức tượng đá sống dở chết dở, đời đời kiếp kiếp chịu đựng sự ăn mòn của dòng nước ngầm.
Lâm Chiêu bước lên một bước nhẹ không một tiếng động, vạt áo chàm dường như không làm lay chuyển lấy một hạt bụi đá. Nàng rút từ trong tay áo rộng ra một chiếc trâm bạc mảnh mai, nhẹ nhàng chấm lên đầu trâm một giọt nước sương hoa được cất giữ cẩn thận từ Tàng Danh Các. Bằng sự am tường đến từng đường tơ kẽ tóc về các trận pháp mà sư môn từng bố trí thuở nàng còn ở Huyền Đăng Môn, Lâm Chiêu nín thở, định thần, mũi trâm bạc lướt đi trong thinh không với độ chuẩn xác tuyệt đối của một y giả châm cứu vào tử huyệt.
Mũi trâm khẽ chạm vào nút kết vô hình của luồng khí tức tím ngắt. Một tiếng "tách" cực nhỏ vang lên, tựa như hạt mè nổ trên chảo rang. Sợi chỉ tơ run rẩy kịch liệt trong một nhịp thở, ánh sáng tím sẫm bùng lên mờ mịt rồi lặng lẽ tan rã thành một làn khói xám nhạt, bị luồng gió ngầm lạnh ngắt cuốn phăng đi vào khe đá, không để lại lấy một tia tàn tích hay dao động linh lực thừa thãi nào.
Nhưng ngay khi chiếc bẫy thứ nhất vừa bị vô hiệu hóa, tai Trình Dạ khẽ giật mạnh.
*Bịch... Bịch... Bịch...*
Một nhịp bước chân đều đặn, nặng nề nện trên nền đá phía trước, kèm theo tiếng thở có tiết tấu ngắn, nông và khô khốc như tiếng ống bể rèn sắt han gỉ. Đó là nhịp thở đặc trưng của những kẻ tu tập công pháp bế khí thuộc Huyền Đăng Môn—thứ công pháp ép tạng phủ vào trạng thái bán đình chỉ để tránh bị tà khí của dòng Dạ Thủy xâm nhập vào phế quản. Nhờ giác quan Thính Tức đã được tôi luyện qua biến cố sống chết nơi Bến Lau Tàn, Trình Dạ dễ dàng bóc tách từng lớp âm thanh trong lòng hầm tối: hai kẻ đi trước mang hơi thở dồn dập, đứt quãng của cảnh giới sơ kỳ, bước chân có phần lảo đảo vì phải chịu đựng áp lực âm khí kéo dài; nhưng kẻ đi sau cùng hít thở sâu và chậm hơn nửa nhịp, tiếng bước chân nhẹ tựa lông hồng nhưng gót giày lún sâu vào mặt bùn—một đệ tử chấp pháp nội môn, tu vi ít nhất cũng đã đạt tới đỉnh cao của tầng Ngưng Huyết.
"Ba người, cách hai mươi bước, góc rẽ hướng đông," Trình Dạ thì thầm sát tai hai người đồng hành, bàn tay gân guốc siết chặt lấy thân đòn chèo bằng gỗ lim bọc đồng đen. Kim loại lạnh buốt cọ vào lòng bàn tay nóng rực của anh, sẵn sàng cho một đòn đoạt mạng nếu hành tung bị bại lộ.
Anh nhanh chóng kéo Lâm Chiêu và Tống Yên lùi sâu vào một hõm đá tự nhiên bị nước ngầm ăn mòn khoét sâu bên mép hành lang. Hõm đá hẹp đến mức cả ba phải đứng ép sát vào nhau, lồng ngực gần như chạm vào lưng người phía trước. Trình Dạ vận chuyển tâm pháp giữ bến, phong tỏa toàn bộ lỗ chân lông trên cơ thể, cưỡng ép nhịp đập trái tim mình chậm lại, từng nhịp từng nhịp hòa lẫn vào tiếng nước ộc ầm ĩ sau vách đá hoa cương. Lâm Chiêu ngậm chặt viên ngọc trong miệng để ngăn luồng hơi ấm thoát ra, còn Tống Yên thì hai tay bấu chặt vào tà áo Trình Dạ.
Đội tuần tra mặc đạo bào xám viền lam lướt qua mép hõm đá. Ngọn đèn bão bằng đồng treo lủng lẳng trên tay kẻ đi đầu hắt những vệt sáng vàng vọt, ma quái lên vách đá ướt sũng đầy rêu nhớt. Ánh lửa chao đảo chỉ lướt qua chóp mũi và vạt áo thô của Dạ trong gang tấc. Mùi dầu xám chì khét lẹt—thứ dầu hôi pha lẫn mỡ cá cháy dùng để thắp sáng dưới lòng đất—tỏa ra từ ngọn đèn xộc thẳng vào xoang mũi, khiến cổ họng Tống Yên nghẹn ứ, một cơn ho chực bùng lên dữ dội. Nhưng nàng cắn chặt môi dưới đến bật máu, vị tanh mặn lan khắp khoang miệng, nuốt ngược cơn ho vào lồng ngực, không để lọt ra dù chỉ một tiếng thở dài nhỏ nhất.
Bóng của ba tên đệ tử đổ dài ngoằng ngoặc trên mặt đất ngập nước, méo mó như ba bóng ma trôi dạt. Đợi cho đến khi nhịp chân nện đá của toán tuần tra khuất hẳn sau khúc quanh dẫn lên tầng kiểm soát mặt đập phía trên, Trình Dạ mới khẽ thở hắt ra một làn chân khí mỏng.
"Lối này," Tống Yên cất tiếng thì thầm, giọng nàng tuy run rẩy vì lạnh nhưng lại dứt khoát lạ thường. "Chúng ta đang ở ngay phía trên kho than âm. Muốn xuống Buồng Mẫu Thể mà không chạm trán kết giới trắc đài của phòng điều khiển trung tâm, chỉ có thể đi qua cửa ngách của ty sở cũ."
Nàng chủ động bước lên dẫn đường. Họ men theo một đường hầm phụ chật hẹp và thấp lè tè, nơi trần đá chỉ cao quá đầu người một chút, khiến Trình Dạ phải hơi khom lưng. Khác với những đoạn hầm thô nhám bên ngoài, các phiến đá hoa cương lớn ở đây được ghép lại với nhau bằng những đường mộng tinh xảo, khít khao đến mức một lưỡi dao mỏng cũng không thể lách qua. Đây rõ ràng là công trình kiến trúc của triều đình thời kỳ đầu, được xây dựng bài bản bằng công sức của hàng vạn phu đê trước khi Huyền Đăng Môn cấu kết với đám quan lại biến chất để tiếp quản và biến nơi này thành địa ngục tước danh bí mật.
Chắn ngang lối đi trước mặt họ là một cánh cổng đá hình bán nguyệt đồ sộ bị khóa chặt tự bao đời. Bề mặt cánh cổng phẳng lì như gương, không hề có then cài hay ổ khóa bằng đồng thông thường, chỉ có chín hốc tròn lõm sâu cỡ chén trà xếp thành hình chòm sao Bắc Đẩu, xung quanh phủ đầy rêu mốc xanh đen và các ký hiệu khắc chìm đã mờ mịt theo năm tháng. Ngay chính giữa cánh cửa, một vòng tròn đá âm dương hơi lồi lên khỏi mặt phẳng, bị niêm phong bằng một vệt chu sa pha bột chì xám xịt, cứng như sắt nguội—ký hiệu niêm phong cơ mật tuyệt đối của Ty Danh Tịch mười hai năm về trước.
Phía sau cánh cửa đá ấy chính là kho than âm, nơi tích trữ hàng trăm tấn than ngâm cõi âm dùng để đun lò luyện tước danh của toàn bộ hệ thống đại trận. Trận pháp trắc đài của Bạch Huyền được cài cắm dày đặc như mạng nhện quanh khu vực này; bất kỳ ai bước sai một bước, chạm vào sai cơ quan hay phát ra xung lực linh lực không khớp với tần số cho phép sẽ lập tức kích hoạt chuông báo động treo ở phòng điều khiển trung tâm trên đỉnh đập, kéo theo sự xuất hiện của hàng chục chấp pháp giả.
Lâm Chiêu nhìn cánh cổng đá kiên cố, đôi chân mày thanh tú khẽ nhíu lại thành một đường chỉ mỏng: "Cơ cấu khóa này dùng đá hoa cương ngầm kết hợp trọng lực âm dương của lòng sông. Nếu dùng chân khí hay kiếm quang cưỡng ép phá vỡ, cơ quan tự hủy bằng đá dăm bên trong sẽ lập tức sụp xuống, đánh sập toàn bộ trần vòm và chôn vùi toàn bộ kho than trong chớp mắt."
"Để tôi," Tống Yên bước lên, ánh mắt nàng dán chặt vào chín hốc đá phủ đầy rêu.
Dù ký ức đời tư của nàng về người cha quá cố hay những ngày tháng thơ ấu vẫn còn là những mảnh vỡ răng cưa sắc nhọn chưa thể chắp vá liền mạch, nhưng khi đứng trước hệ thống niêm phong công vụ quen thuộc của ty sở, bản năng nghề nghiệp mười hai năm trước bỗng trỗi dậy mạnh mẽ đến mức lạ kỳ. Thói quen đối chiếu hồ sơ đinh bạ, cảm giác của những đầu ngón tay từng lật qua hàng vạn trang sổ sách ố vàng và kiểm tra từng dấu triện niêm phong bằng chì dường như đã ăn sâu vào tủy xương, vào từng tế bào máu thịt của nàng.
Tống Yên giơ bàn tay gầy guộc lên. Những ngón tay nàng run rẩy trong khoảnh khắc đầu tiên, nhưng ngay khi chạm vào bề mặt đá lạnh buốt, chúng lập tức trở nên chuẩn xác và thoăn thoắt lạ thường.
"Khóa đá này không chạy theo bát quái thông thường của giới tu chân, mà chạy theo đồ thức 'Cửu Khúc Quy Điền' của ty kiểm kê thuế đê," giọng nàng thì thầm đều đặn, vang lên trong không gian tĩnh mịch như tiếng đọc khẩu quyết gia truyền, ánh mắt nàng phát ra tia sáng lạnh lùng, sắc bén của một lại viên lão luyện chốn quan trường. "Năm âm bốn dương, ấn huyệt Thiên Khu ba phần, chuyển ngọc Hành năm khắc... Đây chính là mật mã niêm phong kho vật chứng số bảy năm Cảnh Hưng thứ mười hai, ngày cha tôi ký lệnh niêm phong trước khi gặp nạn."
Nàng dứt khoát ấn mạnh đầu ngón trỏ vào hốc đá thứ năm ở vị trí sao Ngọc Hành, đồng thời dùng cả lòng bàn tay áp chặt lấy vòng tròn âm dương, xoay nhẹ ngược chiều kim đồng hồ đúng một phần tư cung tròn. Cơ bắp trên cánh tay nàng gồng lên, gân xanh nổi rõ dưới lớp da mỏng manh.
*Cạch... Rắc... Rắc...*
Một chuỗi âm thanh cơ quan bằng đá trượt êm ru, trầm đục vang lên sâu trong lòng vách đá. Vệt chu sa pha bột chì xám xịt nứt toác ra thành những đường rạn nhỏ li ti, lớp bụi niêm phong mười hai năm rơi lả tả xuống mặt bùn. Cánh cổng đá từ từ trượt sang bên phải, để lộ một khe hở vừa đủ một người nghiêng mình lách qua mà không hề phát ra một tia linh quang hay tiếng động lớn nào, hoàn toàn lách qua sự cảm ứng nhạy bén của các trận pháp trắc đài bao bọc xung quanh.
Khi cả ba lách mình qua cánh cửa đá bước vào kho than âm, một luồng khí lạnh thấu xương lập tức ập tới, khiến sống lưng họ buốt nhói.
Không gian kho than rộng lớn đến rợn người, tựa như một hang động tự nhiên được mở rộng thêm. Hàng chục đống than đen ngòm, to lớn như những ngọn đồi nhỏ chất cao ngất ngưởng chạm đến tận trần vòm. Thứ than này không phải than gỗ hay than đá thông thường, mà là than ngâm cõi âm—được chế biến từ gỗ lim ngâm dưới bùn Dạ Thủy qua ba mươi năm, chỉ cháy bằng linh tức hút từ dòng sông mẹ. Nó tỏa ra một làn khói đen kịt lảng bảng sát mặt đất, không có mùi khét của lửa trần mà mang mùi tanh nồng, ngai ngái, có khả năng ăn mòn tâm trí và làm tê liệt thần hồn của bất kỳ phàm nhân nào hít phải quá ba hơi thở.
Trình Dạ ngước mắt nhìn lên vòm ngầm của kho than. Ánh mắt anh đột nhiên tối sầm lại, một linh cảm chẳng lành dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng.
Trên các cột chống bằng đá hoa cương đồ sộ nâng đỡ toàn bộ vòm ngầm của đập, những vết nứt chân chim đang bắt đầu lan rộng với tốc độ mắt thường có thể thấy được. Từ các khe nứt sâu hoắm ấy, một chất bùn đen nhớp nháp, hôi thối đang rỉ ra thành từng dòng dài, kèm theo những bọt khí tro tàn sủi lên lép bép rồi vỡ tung, bắn ra những tia nước âm tanh tưởi.
"Móng đập đang lung lay dữ dội," Trình Dạ trầm giọng nói, thanh âm nặng trĩu âu lo. Cảnh giới Thính Tức cho anh nghe thấy tiếng rên rỉ nghẹn ngào từ sâu trong lòng đất, tiếng các thớ đá hoa cương đang cọ xát vào nhau dưới sức ép hàng triệu tấn nước. Việc Bạch Huyền cưỡng bức dời đá giới để nắn dòng linh mạch, cộng với việc dòng nước Dạ Thủy bị nén ép quá mức ngoài giờ mở nước thông thường, đang tạo ra một phản chấn kinh hoàng lên cấu trúc vật lý của toàn bộ con đập. "Nếu đại trận không dừng lại ngay lập tức, chưa cần ai đánh phá, chính sức nặng của dòng âm bị dồn ứ sẽ bẻ gãy những cột chống này và nghiền nát tất cả chúng ta dưới đáy sông."
Tống Yên khẽ rùng mình, nàng đưa tay quệt một vệt bùn đen rỉ ra từ thân cột, ngửi thử rồi gật đầu xác nhận trong cay đắng: "Cha tôi từng nói trong tập nhật ký công trình, đá vôi sống dưới đáy đập chỉ có thể chịu được sức ép ngàn cân khi dòng nước được lưu thông tự nhiên theo thế rồng cuộn. Việc Bạch Huyền cho bít toàn bộ các cửa xả phụ để gom linh mạch tước danh vào lò luyện chính là hành động tự sát điên cuồng. Hắn đang đánh cược tính mạng của cả vạn người dân hai bên bờ đê."
Đột nhiên, từ phía xa xăm ngoài hào nước dẫn vào chân đập, một chấn động dữ dội truyền qua tầng tầng lớp lớp đất đá.
*ẦM!*
Tiếng nổ trầm đục nhưng mang uy lực vô cùng khủng khiếp vang lên, làm rung chuyển cả kho than âm rộng lớn. Trần vòm chấn động mạnh khiến bụi đá và những vụn than sắc nhọn rơi lả tả xuống vai áo, mái tóc của ba người. Mặt nước ngập dưới chân họ dâng lên thành từng đợt sóng nhỏ dập dềnh, đập vào mắt cá chân buốt giá.
Trình Dạ lập tức quỳ một gối xuống, áp sát tai vào mặt đá nứt nẻ. Qua rung động đa tầng của các mạch nước ngầm truyền về, anh bắt được tiếng reo hò quen thuộc, hào sảng của các tay chèo thiện chiến thuộc mười hai bến đò, tiếng dòng Dạ Thủy gầm thét cuồn cuộn tràn vào một khoảng trống mới toanh vừa bị xé toạc, và đặc biệt là tiếng cười lanh lảnh, đanh thép, ngạo nghễ của Tạ Mạn vang vọng qua đường ống xả.
Bên ngoài đường hào nước, Tạ Mạn đã ra tay đúng như kế hoạch đã định trước tại miếu hoang. Ả đã phối hợp nhịp nhàng cùng các toán thuyền nan cảm tử của Hội Giữ Bến, dùng những bao tải bùn nén trộn với thuốc nổ khai mỏ giấu sẵn từ Cồn Đèn Câm, nhét chặt vào các kẽ hở xung yếu của máng trượt ngầm dẫn vào lòng đập. Vụ nổ chính xác tuyệt đối đã đánh sập toàn bộ hệ thống máng trượt bằng đá xanh—con đường huyết mạch chuyên dùng để vận chuyển dầu mè đen và than ngâm cõi âm từ bến ngầm ngoài cồn vào thẳng lò luyện trung tâm.
Hàng chục tấn đất đá sụp đổ ầm ầm, nước bùn Dạ Thủy tràn ngập máng trượt, dìm chết ngọn lửa tiếp vận và cắt đứt hoàn toàn nguồn cung cấp vật liệu duy trì ngọn lửa tước danh của Bạch Huyền.
"Bên ngoài đã bắt đầu nổ súng rồi," Lâm Chiêu siết chặt thanh đoản kiếm gãy trong tay áo, ánh mắt nàng rực lên ngọn lửa quyết tâm chưa từng có. "Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa. Máng trượt bị sập, Bạch Huyền ở phòng điều khiển chắc chắn sẽ nhận ra có kẻ đột nhập và hắn sẽ đẩy nhanh tiến độ thiêu hủy nhân chứng để phi tang mọi dấu vết."
"Đi thôi!" Trình Dạ bật dậy.
Cả nhóm lập tức tăng tốc, băng qua những đống than âm đen ngòm đang bốc khói lảng bảng, men theo một cầu thang xoắn ốc bằng đá dốc ngược dẫn thẳng xuống tầng ngục tối sâu nhất, lạnh nhất dưới đáy đập: Buồng Mẫu Thể.
Càng đi xuống sâu, không khí càng trở nên đặc quánh, lạnh buốt và tanh tưởi đến lợm giọng. Mùi thuốc bắc ngâm nước âm pha lẫn mùi da thịt người thối rữa xộc lên nồng nặc qua từng kẽ đá, bám chặt vào khứu giác như muốn xua đuổi bất kỳ sinh linh nào dám bén mảng tới. Không còn tiếng bước chân tuần tra, không còn những cạm bẫy tinh vi của Huyền Đăng Môn, bởi vì nơi đây từ lâu đã được coi là cấm địa bất khả xâm phạm—nơi chôn giấu bí mật đen tối, dơ bẩn nhất của môn phái và Viện Nghiên Cứu Bảo Danh.
Khi bước chân cuối cùng của Trình Dạ chạm vào nền đá ngập nước ngang mắt cá chân, cảnh tượng hiện ra trước mắt dưới ánh sáng lờ mờ khiến cả ba người chết lặng, lồng ngực như bị một tảng đá ngàn cân đè bẹp.
Đó là một dãy buồng giam ẩm ướt xây bằng đá hộc xám xịt, kéo dài hun hút trong màn sương mù xám chì quánh đặc. Những chấn song sắt to bằng bắp tay đã rỉ sét đến mức biến dạng, phủ đầy một lớp rêu nhầy nhụa dưới tác động ăn mòn liên tục của tử khí Dạ Thủy. Bên trong từng buồng giam chật hẹp, ẩm thấp như chuồng thú, gần chục con người đang nằm hoặc ngồi bất động trên những phản đá xám xịt phủ đầy rêu đen.
Họ còn sống, nhưng đó là một thứ sự sống tàn nhẫn, đau đớn và ghê rợn hơn cả cái chết nghìn lần.
Tất cả các nạn nhân đều trần trụi hoặc chỉ khoác trên mình những mảnh bao tải gai rách bươm, mục nát; thân thể họ gầy guộc đến mức da bọc lấy xương, từng chiếc xương sườn nhô lên như những nan quạt gãy. Trên khắp cơ thể họ—từ đỉnh đầu, hai bên thái dương, huyệt Đản Trung trước ngực cho đến các đầu ngón tay, ngón chân—đều bị cắm chi chít những cây kim châm dài bằng đồng đen sáng bóng một cách tà dị. Những cây kim châm ấy không ngừng rỉ ra một thứ dịch thuốc màu xanh đen nhờ nhờ, tỏa ra mùi thảo mộc âm tính ngai ngái, nồng nặc và buồn nôn.
Đó chính là thuật giữ sinh tức tàn độc mà Ninh Sắc và Bạch Huyền đã dày công nghiên cứu suốt hàng chục năm qua. Để thi triển thành công tầng thứ ba của thuật Đoạt Danh—tầng tước đoạt triệt để, cắt đứt hoàn toàn tên tuổi, danh phận và ký ức của một con người khỏi cõi sống mà không để lại dấu vết—kẻ thi thuật bắt buộc phải giữ cho thân xác nạn nhân không được phép chết.
Nếu thể xác tàn tạ này trút hơi thở cuối cùng trước khi cái tên bị cắt trọn vẹn, linh hồn của họ sẽ lập tức phân rã vào dòng chảy tự nhiên của Dạ Thủy theo quy luật của trời đất. Khi ấy, thuật tước danh sẽ hoàn toàn thất bại, và kẻ thủ ác sẽ không thể thu gom được phần danh tính tinh khiết đó làm vật mồi tâm linh gia cố cho Đập Khóa Mạch. Vì thế, chúng đã dùng hàng trăm mũi kim đồng đen phong tỏa toàn bộ kinh mạch và huyệt đạo, ép các nạn nhân phải lơ lửng giữa lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái chết suốt nhiều năm ròng rã. Chúng biến những con người bằng xương bằng thịt này thành những "mẫu thể" sống dở chết dở, những vật chứa sinh học chờ ngày bị tước đoạt nốt tầng danh phận cuối cùng để hiến tế cho công trình vĩ đại nhưng tàn bạo của chúng.
Những nạn nhân ấy khẽ thở ra từng hơi yếu ớt, lồng ngực phập phồng một cách máy móc, vô hồn. Đôi mắt họ đờ đẫn, trừng trừng nhìn vào vách đá xám xịt phía trước mà không hề có tiêu cự, không có tia sáng, không có lấy một gợn cảm xúc đau đớn hay sợ hãi. Họ tựa như những chiếc bình gốm rỗng tuếch đã bị rút cạn linh hồn, chỉ còn chờ một nhát búa cuối cùng giáng xuống để vỡ vụn thành tro bụi.
"Trời đất ơi... lũ súc sinh..." Lâm Chiêu nghẹn ngào thốt lên, bàn tay nàng run rẩy áp chặt lên ngực áo, nước mắt uất nghẹn ứa ra nơi khóe mi.
Nàng từng là đệ tử ưu tú được tôi luyện trong giáo điều của Huyền Đăng Môn, từng học y thuật cứu người song hành cùng kiếm pháp hộ đạo, từng một thời ngây thơ tin rằng việc bảo danh là để gìn giữ sự tôn nghiêm và trật tự cho cõi nhân gian. Nhưng cảnh tượng địa ngục trần gian đang phơi bày trước mắt là một cái tát trời giáng, một sự sỉ nhục khủng khiếp đối với mọi luân thường đạo lý và lương tri của kẻ làm người.
Ở góc trong cùng của dãy hành lang ngục tối, Tống Yên đột ngột đứng sững lại trước một buồng giam nhỏ hẹp. Đôi mắt nàng mở to trừng trừng, hơi thở dồn dập đến nghẹt thở. Ánh mắt nàng dán chặt vào vách đá hoa cương phía trên đầu một cụ già râu tóc bạc phơ đang thoi thóp thở từng hơi ngắn ngủi trên phản đá.
Trên phiến đá hoa cương xám xịt, xù xì ấy, có những nét khắc thô ráp, sâu hoắm vào tận thớ đá, dường như được đục đẽo vội vã bằng mũi dao găm chuyên dùng để cạo hà trên mạn thuyền của thợ chèo đò:
*Ất-Hợi, thất nguyệt, thập thất — Giáp-Thất chi sơ.*
"Mã số này..." Tống Yên run rẩy đưa bàn tay gầy gò chạm vào từng rãnh khắc đá sắc lạnh, giọng nàng lạc hẳn đi vì cơn chấn động tâm can tột cùng. "Dạ... anh mau nhìn xem! Mau nhìn nét khắc này!"
Trình Dạ bước vội lại gần, cúi đầu nhìn chăm chú vào những dòng chữ khắc trên đá. Tim anh thắt lại dữ dội, máu trong huyết quản như đông cứng lại thành băng.
Nét khắc hình chữ đinh sắc gọn dứt khoát, độ sâu của lưỡi dao ăn vào đá hoa cương và đặc biệt là ký hiệu một bông lau gãy cánh nhỏ xíu được khắc tỉ mỉ ở góc dưới bên phải... Tất cả những dấu tích này hoàn toàn trùng khớp với mã số lưu trữ và bút tích trên tập hồ sơ mật mà Trình Hoài—cha của anh—đã bí mật gửi lại trong chiếc hòm huyền thiết niêm phong tại Tàng Danh Các mười hai năm về trước!
Cha anh đã từng đặt chân tới chính căn buồng giam u tối này. Mười hai năm trước, chính người chèo đò Trình Hoài đã đơn thương độc mã đột nhập vào tầng ngục tối Buồng Mẫu Thể để liều chết cứu Tống Yên—khi ấy mới chỉ là một cô bé con—thoát khỏi nanh vuốt của Huyền Đăng Môn. Và trước khi phá vòng vây đưa nàng ra ngoài, ông đã dùng con dao găm của người giữ bến khắc lại mã số này lên vách đá để làm chứng tích độc lập cho thế hệ mai sau. Những vết khắc thô ráp ấy không chỉ ghi lại một ngày tháng oan nghiệt, mà còn ghi lại tội ác tày trời mà một người chèo đò Bến Lau Tàn đã đánh đổi cả danh dự, tương lai và tính mạng của mình để vạch trần trước ánh sáng.
"Họ... họ còn cứu được không Chiêu?" Trình Dạ quay sang nhìn Lâm Chiêu, giọng anh trầm khàn, gấp gáp và dồn dập hơn bao giờ hết.
Lâm Chiêu nuốt ngược dòng nước mắt mặn chát vào trong lồng ngực, quỳ sụp xuống bên cạnh một người phụ nữ trẻ đang co giật nhẹ trên phiến đá rêu phong. Nàng vội vã rút ngọc bội Chiếu Hồn ra khỏi lòng bàn tay, áp sát mặt ngọc ấm áp vào giữa trán nạn nhân. Một quầng sáng thanh bạch, dịu dàng tựa ánh trăng rằm lan tỏa từ phiến ngọc cổ truyền, bao bọc lấy thức hải đang bị cắn xé tơi bời của người phụ nữ, xoa dịu những cơn co giật dữ dội.
"Ngọc Chiếu Hồn chỉ có thể tạm thời định thần, xoa dịu những vết thương tâm thức và ngăn không cho cấm chế hoa sen ngược bùng phát cắn nuốt phần hồn phách còn sót lại của họ," Lâm Chiêu kiểm tra nhanh các huyệt vị ở cổ tay và thái dương rồi lắc đầu trong cay đắng và bất lực. "Nhưng tôi tuyệt đối không thể rút các mũi kim châm đồng đen này ra ngay lúc này được! Thân xác họ đã bị ngâm trong dược dịch âm tính suốt nhiều năm trời, kinh mạch đã hoàn toàn phụ thuộc vào độc tố để duy trì nhịp tim. Nếu rút kim một cách thô bạo mà không có thuốc giải phối hợp cùng sự chăm sóc thể xác cẩn thận, sinh tức của họ sẽ đứt đoạn ngay lập tức! Chúng ta buộc phải đưa họ ra khỏi đây nguyên vẹn cả người lẫn kim!"
"Nhưng móng đập sắp sụp đổ hoàn toàn rồi!" Tống Yên chỉ tay lên trần vòm ngục tối, thanh âm lạc đi trong nỗi hoảng loạn.
Những vết nứt trên các cột đá chống đỡ Buồng Mẫu Thể đang toác rộng ra từng tấc một, phát ra những tiếng răng rắc rợn người. Bùn đen có bọt khí tro tàn tuôn ra xối xả như những vòi nước rỉ, rơi lộp độp xuống vũng nước dưới chân họ. Tiếng nước Dạ Thủy gầm rú bên ngoài bức tường đá mười lăm trượng đã biến thành những tiếng thét xé tai của hàng ngàn oan hồn đòi mạng. Áp lực khủng khiếp của dòng sông đang đè bẹp công trình này từng khắc, từng nhịp thở một. Vòm đá có thể đổ ụp xuống bất cứ lúc nào, chôn vùi vĩnh viễn những con người vô tội này dưới hàng vạn tấn bùn đá.
Trình Dạ nhìn dãy buồng giam ẩm ướt, nhìn mười con người thoi thóp đang nằm chờ chết trong bóng tối, rồi anh quay đầu nhìn về phía cuối hành lang ngục tối—nơi một cánh cửa sắt đen khổng lồ sừng sững chắn ngang lối đi, tỏa ra thứ nhiệt lượng hừng hực pha lẫn mùi tro tàn bài vị khét lẹt đến cháy da rát thịt.
Phía sau cánh cửa sắt đen đồ sộ đó chính là lò luyện tâm trận—trung tâm của toàn bộ Đập Khóa Mạch, nơi Bạch Huyền đang cố thủ để thi triển nghi thức tước danh cuối cùng, dùng hàng ngàn cái tên bị tước đoạt làm vật dẫn tâm linh để khóa chặt vĩnh viễn dòng Dạ Thủy.
Tình thế lúc này đã rơi vào bước đường cùng không thể vẹn toàn đôi ngả.
Nếu không có ai xông vào cắt đứt vật dẫn ở tâm trận, đại trận sẽ bùng nổ khi đến giờ mở nước, kéo theo sự sụp đổ dây chuyền của toàn bộ Đập Khóa Mạch và thiêu rụi toàn bộ những nhân chứng sống này thành tro bụi hư vô. Nhưng nếu cả ba người cùng xông vào lò luyện để đối đầu với Bạch Huyền, sẽ không có ai bảo vệ những con người không còn khả năng tự vệ này trước sự xâm lấn của bùn độc Dạ Thủy và đất đá đang sạt lở từng giây.
Trình Dạ hít một hơi thật sâu, luồng khí lạnh buốt tràn vào phổi làm dịu đi cơn sôi sục trong lồng ngực. Lời thề của người chèo đò Bến Lau Tàn—lời thề giữ bến, chở đạo, đưa người qua sông—chưa bao giờ rõ ràng và nặng trĩu trên đôi vai anh đến thế.
"Chiêu, Yên, nghe tôi nói đây," Trình Dạ dứt khoát phân công, thanh âm trầm tĩnh đến lạ kỳ giữa cơn chấn động rung trời chuyển đất của lòng đập. "Hai người phải ở lại đây."
"Dạ!" Lâm Chiêu ngẩng phắt đầu lên, trong đôi mắt trong veo của nàng ánh lên sự bàng hoàng và hoảng hốt tột độ. "Bạch Huyền là tu sĩ cảnh giới Thủ Giới tầng thứ chín! Hắn lại đang nắm giữ toàn bộ linh lực của tâm trận! Anh một mình vào đó là đi thẳng vào chỗ chết!"
"Tôi không đi tìm cái chết, tôi đi cắt vật dẫn," Trình Dạ nhìn thẳng vào mắt nàng, ánh mắt kiên định và vững chãi như bệ đá giới ngàn năm dưới đáy sông sâu. "Chiêu, cô có ngọc Chiếu Hồn để giữ cho thức hải của họ không tan vỡ khi chấn động xảy ra. Yên có ký ức về cấu trúc ngầm của ty sở do cha cô để lại, chỉ có nàng mới tìm được đường đưa họ rút lui an toàn qua cửa dẫn nước phụ của Cửa Xả Đáy số Ba. Nếu hai người đi theo tôi vào lò luyện, mười con người ở đây chắc chắn sẽ chết khi trần hầm sụp đổ. Họ là những nhân chứng sống cuối cùng để vạch trần tội ác của Huyền Đăng Môn trước thiên hạ. Mười hai năm trước, cha tôi đã liều mạng để đưa một người ra ngoài, hôm nay chúng ta không thể bỏ mặc mười người này lại phía sau!"
Tống Yên run rẩy nhìn Trình Dạ, hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má hốc hác. Nàng hiểu rõ hơn ai hết cái giá cay đắng của việc bị bỏ lại trong bóng tối ngục tù này suốt mười hai năm trời. Nàng bước tới, nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của Trình Dạ, giọng nghẹn lại nhưng đanh thép: "Anh phải sống sót trở ra. Bến Lau Tàn vẫn đang chờ anh về mở nước. Người giữ bến không được chết trước con thuyền của mình."
"Tôi nhất định sẽ trở về," Trình Dạ siết nhẹ bàn tay gầy guộc của nàng, truyền cho nàng một tia hơi ấm chân khí.
Anh quay sang nhìn Lâm Chiêu một lần nữa. Không cần thêm bất kỳ lời thề thốt hay dặn dò nào nữa, ánh mắt của hai người giao nhau giữa ánh sáng thanh bạch dịu dàng của ngọc Chiếu Hồn và bóng tối ngục tù dày đặc—đó là một sự tin tưởng tuyệt đối, thứ tình cảm được đánh đổi bằng máu, bằng sinh tử và những mảnh ký ức đau thương mà họ đã cùng nhau chia sẻ qua bao hoạn nạn.
Trình Dạ dứt khoát buông tay, xoay người lại. Bàn tay anh siết chặt lấy thân đòn chèo bằng gỗ lim bọc đồng đen, sải những bước chân dài và dứt khoát tiến thẳng về phía cánh cửa sắt đen khổng lồ ở cuối hành lang.
Mỗi bước chân của anh nện trên mặt nước ngập bùn đều dứt khoát, nặng trĩu và dội vang trong lòng hầm tối. Hơi nóng hầm hập từ lò luyện phía trước táp thẳng vào mặt, thiêu đốt da thịt, làm cháy sém những sợi tóc mai của anh, nhưng trong huyết quản Trình Dạ, dòng máu của những người chèo đò Bến Lau Tàn đang cuộn trào mãnh liệt hơn bao giờ hết. Chiếc còi lệnh bằng sừng trâu nơi ngực áo bên trái áp sát vào tấm vé bảo danh mang nợ của cha, tỏa ra hơi ấm nồng nàn và rực sáng qua lớp vải nâu sồng cũ kỹ.
Khi Trình Dạ vừa sải bước qua ngưỡng cửa đá dẫn vào sảnh ngoài của tâm trận, một tiếng gầm chói tai của cơ quan sắt thép ngầm bỗng vang lên từ đỉnh vòm cao ngất.
*RẦM!*
Cánh cửa sắt đen khổng lồ nặng hàng vạn cân ngăn cách lò luyện trung tâm với dãy ngục tối từ từ sập xuống sau lưng Dạ, cắm phập vào rãnh đá ngầm ngập bùn, cắt đứt hoàn toàn đường lui.