Mạng Lưới Rách Rưới
Mặt trời chưa lặn hẳn phía tây thành Lạc Châu nhưng sương mù màu chì đã bốc lên cuồn cuộn từ lòng sông cạn, mang theo mùi vôi sống nồng nặc từ Đập Khóa Mạch.
Gió bấc thổi thốc qua các khe nứt nẻ của bờ đê, quất từng luồng buốt giá vào những rặng lau xơ xác đang rạp mình sát mép bùn lầy. Thứ mùi vôi ấy không phải hơi ẩm tự nhiên của bùn đất phù sa ngàn năm bồi đắp, mà là mùi vôi nung om nhiệt hòa lẫn với dầu hắc, thứ tạp chất xám chì mà suốt mấy tháng ròng đám thợ ngầm của Thủy Sứ quán đã bí mật xả xuống đáy sông để gia cố chân móng cọc sắt. Nhưng chiều nay, mùi vôi ấy đậm đặc và ngột ngạt hơn gấp bội, bốc lên cùng những cột khói mảnh không màu, chập chờn như bóng ma lượn lờ phía bờ cõi hạ lưu. Mặt nước Dạ Thủy vốn dĩ phải biếc xanh khi ráng chiều buông xuống, nay lại xỉn đi như một dải kim loại rỉ sét, trơ trọi những bãi đá ngầm lởm chởm nhô lên giữa dòng chảy thoi thóp.
Cách Bến Lau Tàn năm dặm về phía hạ lưu, Đập Khóa Mạch sừng sững như một con cự thú bằng đá đen nằm chắn ngang yết hầu Dạ Thủy. Bức tường đá hoa cương sừng sững cao cả chục trượng, các mối ghép được trám bằng thứ vữa pha bột xương và bột đá huyền thiết, tạo nên một vách ngăn lạnh lẽo chia cắt đôi bờ sinh tử. Dưới móng đập sâu mười lăm trượng, nơi ánh sáng ban ngày chưa từng một lần chạm tới, ba cửa lò ngầm đã đỏ rực lửa than tự bao giờ. Hơi nóng hầm hập phả ra từ những khe thông gió khoét sâu trong lòng đá, khiến không khí quanh thân đập khô khốc, tanh nồng mùi khoáng chất bị nung chảy.
Bị tước quyền hạn tại công đường Nghị Sự Đường, phán quyết của Ty Danh Tịch và Hội Giữ Bến giáng xuống như một cái tát nảy lửa vào thể diện ngạo mạn của Bạch Huyền. Suốt mấy mươi năm leo lên chiếc ghế quyền lực, chưa từng có kẻ nào dám đứng trước mặt bẻ gãy từng bản cáo trạng của ông ta, càng chưa từng có kẻ nào dám dùng luật bến cổ xưa để giam lỏng một Trưởng viện Viện Nghiên Cứu Bảo Danh giữa chốn công quyền. Nhưng thay vì co cụm lùi bước trước đoàn thanh tra độc lập đang trên đường hội tụ binh lực từ các tổng trấn lân cận, Trưởng viện Viện Nghiên Cứu Bảo Danh đã chọn con đường điên cuồng và tàn độc nhất. Mật lệnh hỏa tốc đóng dấu triện đỏ từ tổng viện Huyền Đăng Môn được ban xuống không chút đắn đo: đốt lửa lò luyện ngầm ngay khi hoàng hôn vừa buông, dẹp bỏ mọi kế hoạch cũ, tuyệt đối không chờ đợi đến tiết Sương giáng nữa.
Trong lòng Buồng Tro nằm sâu dưới mố Tây của chân đập, không khí ngột ngạt đến mức một người bình thường chỉ hít thở nửa khắc cũng đủ cháy rụi cuống họng. Hàng trăm bao tải chứa bài vị, gia phả, sắc phong dòng tộc gom nhặt từ mười bảy thôn xóm ven sông suốt nửa năm qua bị đám đao phủ mặc giáp da xé toạc không thương tiếc. Những tấm gỗ mít, gỗ thị khắc tên họ tổ tiên qua bao đời bị hất thẳng vào máng trượt bằng đồng gai, lao vun vút xuống chảo vôi đang sôi sùng sục bên dưới. Khói xám mù mịt cuộn lên mang theo tiếng lách tách ai oán của những thớ gỗ khô rạn nứt, kèm theo mùi khét lẹt của sơn ta và mạt cưa nung cháy. Mỗi tấm bài vị rơi vào lòng chảo vôi là một cái tên bị xóa sổ, một sợi dây liên kết vô hình giữa người sống và người chết bị bẻ gãy gãy gọn trong tiếng than củi gầm gừ.
Ở Buồng Giấy nằm ngay vách đá bên cạnh, cảnh tượng còn âm u và rợn ngợp hơn gấp bội. Những xấp sổ đinh đóng bìa da dê, sổ hộ tịch cổ trang ngả vàng ngâm tẩm Linh Tức Tỏa Hồn Dầu được đưa vào các trục nghiền bằng gang lớn. Bánh răng chuyển động ken két, nghiền nát từng trang giấy chép tên tuổi, ngày sinh, giờ mất của hàng ngàn con người ven sông thành một thứ bột nhão nhớp nháp màu chì. Thứ bột giấy ấy lập tức được chuyển qua các rãnh dẫn, đổ thẳng vào những đường cống ngầm xuyên lòng đập nhằm bít kín toàn bộ các khe nứt địa mạch, biến đáy sông Dạ Thủy thành một lòng máng nhân tạo trơ lì, cấm tiệt mọi dòng sinh khí tự nhiên thẩm thấu.
Bạch Huyền đứng sừng sững trên sàn đá hoa cương của phòng điều khiển ngầm, tà áo lụa màu tím thêu hoa sen ba ngọn lửa phần phật bay trong luồng gió nóng rực từ đáy lò cuộn lên. Gương mặt ông ta hốc hác đi trông thấy sau chuỗi ngày mưu tính, nhưng trong đáy mắt lại lập lòe ngọn lửa cuồng loạn không thể dập tắt. Mắt trái của ông ta giật giật từng cơn giận dữ, tròng mắt đục ngầu phủ một lớp màng xám ngoét như mắt cá chết phơi nắng lâu ngày. Đáng sợ hơn cả là dưới lớp áo lụa mỏng nơi lồng ngực gầy guộc, da thịt ông ta phập phồng méo mó theo từng đợt co giật dị thường. Từng tiếng thì thào rền rĩ, ai oán, lúc the thé như tiếng khóc than của sản phụ chết non, lúc ồm ồm như lời nguyền rủa của kẻ chết đuối, đang dội lên từ hàng trăm sinh hồn bị gọt tỉa danh phận. Chúng cào cấu vào xương sườn ông ta, vùng vẫy muốn xé toạc lồng ngực ấy để thoát ra ngoài không gian ngột ngạt này.
"Lũ sâu bọ giữ bến... lũ chấp pháp cổ hủ ở Ty Danh Tịch tưởng rằng chỉ cần một tờ công văn đình chỉ là khóa được đôi tay này sao?" Bạch Huyền thì thào một mình, giọng nói đã hơi vặn vẹo, méo mó, lẫn vào âm sắc the thé rợn người của một vong phụ không nơi nương tựa. "Chúng muốn thanh tra? Muốn niêm phong cống xả đáy? Vậy thì hãy để toàn bộ lưu vực này chìm vào cõi câm lặng vĩnh hằng ngay trong đêm nay. Kích hoạt đại trận tước danh ngay đầu giờ mở nước canh ba! Kẻ nào không có tên trong sổ mới của ta, kẻ đó sẽ vĩnh viễn tan thành bọt nước không chốn dung thân!"
Đứng khuất sau bóng một cây cột đá phủ rêu mốc meo, Ninh Sắc khẽ cúi đầu, hai bàn tay gầy giấu sâu trong tay áo màu tro run rẩy từng hồi không tự chủ được. Khuôn mặt gã tái nhợt như xác chết trôi sông nhiều ngày vừa vớt lên khỏi mặt nước, dưới hai gò má nhô cao lồi lên những đường gân xanh đen ngoằn ngoèo tựa như đàn giun đất đang bò ngầm dưới da. Gã cảm nhận rõ ràng từng đợt sóng phản chấn đang gặm nhấm thức hải của mình. Bình chứa ký ức mà Bạch Huyền cưỡng ép cấy ghép vào hồn phách gã để làm vật chứa tạp niệm đã vượt quá ngưỡng chịu đựng từ lâu; mỗi nhịp thở của Ninh Sắc giờ đây đều nghẹn ứ, cuống họng lúc nào cũng nếm thấy vị tanh nồng của máu bầm ứ đọng.
"Muốn đại trận vận hành trơn tru mà không sợ luồng chân khí ngầm lật ngược," Bạch Huyền đột ngột quay ngoắt lại, ánh mắt sắc lẹm như lưỡi dao cạo xoáy thẳng vào khuôn mặt thảm hại của Ninh Sắc, "phải nhổ bỏ cái đinh gai nhọn hoắt nhất cắm ở đầu nguồn. Tên tiểu tử họ Trình ở Bến Lau Tàn đang nắm giữ vé bảo danh mang nợ của Trình Hoài. Hắn đã đột phá Thính Tức, lại cầm trong tay còi lệnh hiệu triệu mười hai bến đò ven sông. Hắn chính là điểm neo sống của toàn bộ đám dân chèo đang nuôi mộng chống đối. Đi đi. Dùng thuật Đoạt Danh bẻ gãy linh hồn hắn trước khi con đò đầu tiên kịp rời bến trong đêm nay."
Nói đoạn, Bạch Huyền vung tay áo, ném cho Ninh Sắc một lá bùa màu tím sẫm vẽ đồ hình hoa sen ngược bằng máu quạ khô, giọng điệu lạnh băng không một gợn hơi ấm: "Ngươi biết phải làm gì rồi đấy. Đoạt Danh không thể phát động bừa bãi giữa thinh không mênh mông. Tìm cho bằng được vật mang huyết tức và sinh cơ của chính bàn tay hắn! Chỉ cần có vật dẫn đó, dù hắn có trốn trong mai rùa hay lặn sâu ba tầng nước, ta cũng kéo được hồn hắn ra băm vằm."
Ninh Sắc đón lấy lá phù lạnh toát, siết chặt nó trong lòng bàn tay gầy trơ xương. Gã khẽ cúi đầu nhận lệnh, không thốt ra một lời nào rồi lùi dần vào bóng tối ẩm ướt của đường cống xả đáy, bóng hình gã mờ nhạt dần rồi tan biến vào màn sương đen ngòm dưới lòng đập.
***
Khi ánh hoàng hôn cuối cùng vụt tắt sau rặng phi lao già nua cằn cỗi, Bến Lau Tàn chìm vào một thứ bóng tối quánh đặc bất thường, tựa như một tấm chăn dày tẩm dầu trùm kín cả khúc sông. Mặt sông cạn trơ đáy bùn nhão nhoét, những vạt lau sậy ngả rạp mình xuống theo từng cơn gió buốt rát mặt, phát ra tiếng xào xạc khô khốc tựa như răng người va lập cập vào nhau. Gian nhà chờ phía trước bến vẫn hắt ra ánh sáng màu cam nhạt ấm áp từ ngọn đèn dầu lạc của bà Lê An. Bên trong, tiếng bước chân khẽ khàng và tiếng thì thầm bàn bạc của Trình Dạ, Tống Yên và Lâm Chiêu vọng ra đứt quãng, xen lẫn tiếng kim loại lách cách khi họ kiểm tra lại từng khoen sắt trên thân đò. Họ đang cẩn thận đo đạc từng sải dây đò bện bằng vỏ gai già, chuẩn bị phương án cùng lão Vũ Kính dàn trận thuyền nan bọc thép ngay khi tiếng chuông canh ba bắt đầu điểm.
Trái ngược với vẻ bận rộn đầy lo toan ở nhà chờ, chái sau của Bến Lau Tàn — nơi đặt kho chứa ngư cụ, phao gỗ rỗng ruột và các tấm ván đò cũ tích tụ từ đời cha ông Trình Dạ — lại hoàn toàn chìm trong tịch mịch. Mùi rêu khô, mùi nhựa thông dùng trét thuyền và mùi ẩm mốc của những tấm lưới đánh cá rách nát quyện chặt vào nhau tạo nên một bầu không khí u hoài, lắng đọng.
Một cái bóng mỏng manh như một vệt khói xám trườn qua khe liếp cửa sổ đóng hờ. Ninh Sắc thi triển thuật Giấu Bóng ở mức độ cao nhất, thân hình gã hòa lẫn hoàn hảo vào bóng tối thâm u của những cây cột bằng gỗ dâu rừng, không phát ra lấy một tiếng động dù là nhỏ nhất. Từng hơi thở gấp gáp của gã đều bị nén chặt sâu nơi cuống họng, lồng ngực gã bất động như khúc gỗ mục. Gã hiểu rõ hơn ai hết rằng Trình Dạ vừa bước chân vào cảnh giới Thính Tức; ở cảnh giới này, chỉ cần một nhịp tim đập lỗi nhịp, một bước chân đè nén không đều làm gãy một sợi dăm bào trên sàn, hay một luồng gió gãy khúc ngoài quy luật tự nhiên lọt qua khe cửa cũng đủ kinh động đến gã thiếu niên giữ bến đang cảnh giác cao độ kia.
Đôi mắt đùng đục của Ninh Sắc đảo nhanh qua từng ngóc ngách của gian kho lạnh lẽo. Gã lướt qua chiếc rương gỗ dâu rừng đã bị xích chặt bằng ba ổ khóa đồng thau, lướt qua những cuộn dây đò ba tao treo ngay ngắn trên vách nứa. Gã không tìm kiếm sổ sách chép công nợ, cũng chẳng bận tâm đến tấm hải đồ đánh dấu các luồng lạch hiểm trở của Dạ Thủy. Gã cần một thứ hoàn toàn khác, một thứ tầm thường nhưng chí mạng. Thuật Đoạt Danh tầng thứ nhất khi nhắm thẳng vào ký ức tự thân và căn cước sống của một cá nhân cụ thể đòi hỏi một điểm tiếp xúc vật lý không thể chối bỏ: một vật trung gian thấm đượm sinh tức, mồ hôi và máu tươi của chính mục tiêu qua năm tháng.
Ánh mắt Ninh Sắc dừng lại ở chiếc chậu gỗ trắc cũ kỹ đặt cạnh bệ rửa tay nơi góc tối của gian kho.
Vắt hờ hững trên thành chậu nứt nẻ là một chiếc khăn lau đò bằng vải thô nhuộm củ nâu đã sờn rách mép. Đó là chiếc khăn Trình Dạ đã dùng để quấn chặt vết thương rách toạc ở lòng bàn tay trong cái đêm định mệnh anh liều mạng vớt Khách Vô Danh từ dòng nước xiết cuồn cuộn. Đó cũng chính là mảnh vải anh dùng để lau những giọt mồ hôi mặn chát và dòng máu mũi tuôn trào sau trận kịch chiến giữ ngọn đèn đồng đầu nghê trước đòn tập kích đẫm máu của lũ sát thủ giấu mặt. Từng thớ vải thô ráp ấy đã ngấm đẫm tinh huyết khi Trình Dạ lập khế ước nhận nợ bảo chứng thay cho người cha mất tích, thấm đượm cả vị mặn mòi của những giọt mồ hôi rỏ xuống thềm đò gỗ trong suốt những ngày đêm căng thẳng tột độ vừa qua.
Ninh Sắc khẽ nhếch mép, một nụ cười méo mó, ghê rợn hiện lên trên gương mặt xám ngoét phủ đầy gân xanh. Gã nhẹ nhàng vươn bàn tay run rẩy về phía trước, những ngón tay gầy guộc khẳng khiu như cành củi khô nhẹ nhàng chạm vào mép chiếc khăn ẩm ướt.
*Xoạt.*
Ngay khoảnh khắc da thịt lạnh ngắt của gã chạm vào lớp vải thô ráp, một luồng sinh tức ấm nóng mang theo sự kiên định, quật cường của dòng máu họ Trình truyền thẳng qua đầu ngón tay Ninh Sắc, khiến gã giật nảy mình như vừa chạm phải thanh sắt nung. Đồng thời, từ sâu thẳm trong thức hải vốn đã rạn nứt của gã, các mảnh vỡ ký ức ngoại lai gào thét dữ dội. Một cơn đau buốt nhói chạy dọc sống lưng lên tận đỉnh đầu làm hai đầu gối gã run rẩy, suýt chút nữa ngã quỵ xuống nền đất nện. Ninh Sắc cắn chặt môi dưới đến mức bật máu tươi, nuốt ngược vị tanh nồng vào trong để ngăn một tiếng rên rỉ đau đớn không kịp thoát ra ngoài kẽ răng.
Gã vội vã cuộn tròn chiếc khăn lại, nhét sâu vào bọc áo trong, ép chặt nó vào lá bùa hoa sen ngược màu tím sẫm của Bạch Huyền. Thủ pháp Giấu Bóng lập tức được kích hoạt lại trong cơn hoảng loạn, biến thân ảnh gã thành một vệt xám mờ ảo trượt qua khe cửa sau, biến mất không dấu vết vào màn sương mù màu chì đang cuồn cuộn dâng lên từ mép sông cạn.
***
Trong khi bóng tối đang bao vây Bến Lau Tàn, thì tại trung tâm thành Lạc Châu, Tàng Danh Các ngự trị trên gò đá hoa cương cổ kính lại tĩnh lặng tuyệt đối, tựa như một hòn đảo ngọc nằm ngoài dòng chảy hỗn loạn của trần thế. Nơi đây không có bất kỳ mạch nước ngầm nào nối thông với Dạ Thủy. Nền móng bằng những khối đá tảng nguyên khối ngàn năm tuổi đã được tiền nhân gia cố bằng vô số trận đồ phù chú phong ấn cổ xưa, nhằm mục đích ngăn cách triệt để mọi sự xâm thực của tà thuật và tử khí bốc lên từ cõi âm.
Dưới tầng hầm sâu chứa chứng tích độc lập, Đỗ Từ Uyên đang chậm rãi bước đi dọc theo những dãy kệ đá cao ngút tầm mắt. Tay bà nâng ngọn đèn tam hợp đúc bằng đồng đen, ánh lửa tùng bách tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp, rọi sáng từng chiếc hòm huyền thiết nặng nề được đánh số cẩn thận theo niên hiệu. Gương mặt người quản hồ sơ đời thứ bảy đanh lại, từng nét nhăn nơi khóe mắt lộ rõ vẻ mệt mỏi nhưng ánh mắt sắc sảo thì không bỏ qua bất kỳ một hạt bụi lạ hay một vết xước mới nào trên mặt sàn đá nhẵn bóng.
Kể từ khi phát hiện tờ phiếu tiếp nhận trong hòm chứng tích của Trình Hoài bị tráo đổi bằng thứ giấy dó vỏ dâu pha nhựa thông rẻ tiền của Ty Danh Tịch, bà biết rõ nội gián đã len lỏi vào tận nơi tôn nghiêm cẩn mật này. Lòng tin của bà đối với hệ thống phòng thủ bề ngoài đã hoàn toàn sụp đổ.
Bỗng nhiên, ngọn lửa tùng bách trên tay bà khẽ chao đảo, ngọn bấc nghiêng hẳn về phía góc tây bắc sâu thẳm của kho lưu trữ đá.
Có tiếng kim loại cọ xát rất khẽ lọt vào tai bà, tựa như tiếng mũi khoan mỏng tang bằng thép nguội đang rà tìm cơ quan của một ổ khóa ngầm.
Đỗ Từ Uyên khựng bước, dập tắt ngọn đèn tam hợp chỉ bằng một cái phẩy nhẹ của cổ tay áo. Thân hình bà lướt đi trong bóng tối dày đặc không phát ra một tiếng động nhỏ, tà áo lam bay là là trên mặt sàn. Linh lực thâm hậu của một tu sĩ Kết Danh tỏa ra mỏng manh nhưng bền bỉ như một tấm lưới nhện vô hình, từng bước phong tỏa toàn bộ không gian xung quanh dãy kệ đá số chín.
Tại góc khuất nhất của gian hầm, một bóng người mặc trường bào của thị giả Tàng Danh Các đang quỳ mọp trước bệ đá giữ chiếc hộp huyền thiết của Trình Hoài. Gã thị giả cắm cúi dùng một thanh trâm bạc ngâm axit ăn mòn rà quanh rãnh khóa hình bán nguyệt, tay kia run rẩy cầm sẵn một xấp bùa nổ phá ấn tẩm thứ dầu xám chì bốc mùi nồng nặc. Hơi thở của gã dồn dập, ngắt quãng, trán túa đầy mồ hôi lạnh chảy ròng ròng xuống cằm.
"Ngươi đang tìm kiếm chiếc hộp lưu trữ chứng tích của người giữ bến Bến Lau Tàn sao, Thẩm Thị giả?"
Thanh âm của Đỗ Từ Uyên vang lên, phẳng lặng như mặt hồ đóng băng giữa mùa đông nhưng lại mang theo uy áp trầm trọng của một tầng cấm chế vừa sập xuống bốn phía.
Tên thị giả giật bắn người, kinh hoàng quay phắt đầu lại, đồng tử co rút thành hai chấm nhỏ. Thanh trâm bạc trên tay gã rơi choảng xuống sàn đá, vang lên một tiếng động chói tai giữa đêm thanh vắng. Nhận ra thân phận đã bại lộ hoàn toàn, không một giây đắn đo, gã gầm lên một tiếng liều mạng như dã thú đường cùng. Tay gã vung mạnh, ném xấp bùa nổ phá ấn tẩm dầu xám chì thẳng vào bệ đá chứa di vật của Trình Hoài nhằm hủy diệt toàn bộ chứng tích, đồng thời tay kia rút đoản đao tẩm độc giấu trong ống tay áo, lao bổ về phía Đỗ Từ Uyên với đòn thế tự sát.
"Muốn chết!"
Đỗ Từ Uyên không hề né tránh nửa bước. Tà áo lam của bà tung bay phần phật, hai ngón tay trỏ và giữa khép chặt lại điểm thẳng vào khoảng không trước mặt.
*Keng!*
Một vòng hào quang màu hoàng kim rực rỡ bùng lên từ đầu ngón tay bà, hóa thành một đạo xiềng xích Kết Danh chói lọi quấn chặt lấy lưỡi đao và cổ tay tên phản đồ. Lực đạo cương mãnh cực hạn bẻ ngoặt khớp xương của gã thị giả kêu một tiếng *rắc* giòn giã, khiến thanh đoản đao văng ra xa cắm ngập vào vách đá. Cùng lúc đó, tay trái bà vung rộng vạt áo, ống tay áo rộng mở ra như một chiếc túi càn khôn hút trọn toàn bộ xấp bùa nổ đang xì khói vào trong, dập tắt ngọn lửa tà ma hung hiểm chỉ trong một cái chớp mắt.
Tên thị giả ngã vật xuống sàn đá lạnh ngắt, ôm cánh tay gãy rên xiết đau đớn cùng cực, miệng sùi bọt mép định cắn nát viên độc dược giấu trong kẽ răng để tự vẫn. Nhưng ngón tay Đỗ Từ Uyên đã nhanh hơn một bước, điểm thẳng vào huyệt hàm dưới của gã, khóa chặt toàn bộ cơ mặt và cử động của đối phương.
"Nói! Ai sai ngươi đến?" Đỗ Từ Uyên lạnh lùng nhìn xuống kẻ phản bội, ánh mắt không chút gợn sóng nhưng chứa đầy sát khí. "Bạch Huyền phái ngươi tới tiêu hủy nốt bằng chứng gốc trước khi đoàn thanh tra liên bến kịp tiếp cận Đập Khóa Mạch, có phải không?"
Tên thị giả trợn trừng hai mắt, trong đáy mắt vằn đỏ ánh lên vẻ tuyệt vọng xen lẫn cuồng tín điên dại, nhưng cơ hàm đã bị phong tỏa cứng ngắc nên gã chỉ có thể phát ra những tiếng ứ hự nghẹn ngào từ sâu trong cuống họng.
Đỗ Từ Uyên cúi người, nhìn lướt qua chiếc ống đựng ám khí giấu kín trong nẹp áo của gã. Ở phần đáy ống đồng, bà bắt gặp dấu triện hoa sen ngược khắc chìm — biểu tượng mật của phái cực đoan dưới trướng Viện Nghiên Cứu Bảo Danh. Bà hiểu ngay tình thế bên ngoài đã chuyển biến nguy cấp đến mức độ nào. Bạch Huyền đang ráo riết dọn sạch mọi dấu vết manh mối ở hậu phương để chuẩn bị tung ra một đòn hủy diệt quyết định ở tiền tuyến bến đò.
Không chần chừ dù chỉ một khắc, Đỗ Từ Uyên vung tay kích hoạt toàn bộ cơ quan phòng ngự tối cao của Tàng Danh Các. Những phiến đá hoa cương ngàn cân từ trên trần hầm ầm ầm sụt xuống, khóa chặt vĩnh viễn các lối thông đạo ra vào của kho lưu trữ. Sau đó, bà bước thoăn thoắt lên tháp quan sát cao nhất trên đỉnh gò đá, lấy ra từ hộp bọc nhung một chiếc ống đồng dài nửa thước khắc hoa văn sấm sét cổ.
Bà hướng ống đồng về phía hạ lưu sông Dạ Thủy rồi giật mạnh ngòi nổ bằng dây thao.
*Vút! Đoàng! Đoàng! Đoàng!*
Một chùm pháo hiệu màu đỏ rực xé toạc màn sương mù chì đặc quánh trên bầu trời đêm Lạc Châu, phát ra ba tiếng nổ đanh gọn liên tiếp, tạo thành ba vệt lửa đỏ rực rọi thẳng về hướng Bến Lau Tàn. Đó là tín hiệu cảnh báo cấp cao nhất của Tàng Danh Các: *Kho đá đã phong tỏa — Tai họa giáng xuống bến đò!*
***
Trên mặt sông Dạ Thủy, cảnh tượng rùng rợn chưa từng thấy bắt đầu lộ diện.
Theo quy luật tự nhiên ngàn đời của dòng sông, dòng nước âm chỉ bắt đầu dâng lên và giao thoa với cõi sống khi tiếng chuông dẫn canh ba ngân vang trên các cột bến dọc hai bờ. Nhưng đêm nay, trên bầu trời, bóng trăng mờ đục vừa mới nhích qua canh hai, mặt sông cạn đã bắt đầu rung chuyển từng đợt dữ dội từ tận tầng đáy đá.
Dọc theo chân con đê quai số chín kéo dài về phía Bến Lau Tàn, lớp bùn đen kịt dưới đáy sông bỗng nhiên sôi sùng sục như nước trong chảo gang đặt trên lò lửa lớn. Những bọt khí màu xám đục như tro tàn từ lòng đất sâu thi nhau trồi lên mặt nước, vỡ ra tanh tách, tỏa ra một làn khói mờ mang theo mùi ẩm mốc lạnh lẽo của những ngôi mộ hoang bị khai quật giữa mùa mưa. Bọt khí tro tàn tụ lại thành từng mảng lớn nhớp nháp trôi lững lờ ven bờ đê, bám chặt vào những chân cọc mốc bằng gỗ lim và những mố đá cổ của các bến đò, gặm nhấm lớp rêu xanh bám trên mặt đá.
Dòng nước Dạ Thủy đen thẫm dâng lên sớm hơn hẳn một canh giờ so với chu kỳ thông thường.
Nước không dâng lên êm ả như mọi đêm mà cuộn xoáy ngầu bọt, gầm thét dữ dội tựa như một con thú dữ bị đâm thủng lồng ngực đang quằn quại trong vũng máu. Đó chính là hậu quả tàn khốc của việc các bệ đá giới ngầm bị di dời cưỡng bức suốt thời gian qua. Phiến đá giới nghìn năm ở Bến Thượng Du đã bị Ninh Sắc dùng lời đường mật lừa Dương Kha bứng đi, các cọc mốc định vị phong thủy dọc tuyến đê quai bị phá hủy không thương tiếc, khiến cho ranh giới tự nhiên ngăn cách giữa dòng âm và cõi dương bị xé toạc thành một vết thương hoại tử khổng lồ. Địa mạch mất cân bằng nghiêm trọng, dòng tử khí lạnh buốt từ sâu trong cõi chết bị hút ngược lên bề mặt, tràn ngập toàn bộ lòng sông trước thời hạn.
Đứng trên sàn đò nhìn ra mặt nước sôi sục bọt tro tàn, Trình Dạ bỗng thấy hai màng nhĩ mình ong ong, hai tai ù đi từng hồi chói gắt.
Kể từ khi đột phá cảnh giới Thính Tức, thính giác của anh không chỉ dừng lại ở việc bắt được âm thanh vật lý thông thường mà còn cảm nhận rõ rệt nhịp đập sinh tử của vạn vật và dòng chảy linh mạch ẩn sâu trong lòng đất đá. Lúc này, vang vọng bên tai anh không phải là tiếng sóng vỗ ì oạp đơn thuần vào mạn thuyền, mà là hàng vạn tiếng rên xiết ken két của tầng đá ngầm dưới đáy sông đang cọ xát vào nhau trong cơn đau đớn xé ruột xé gan. Thủy mạch ngàn năm của Dạ Thủy đang rách toạc ra từng mảng. Dòng nước rít lên những âm thanh nghẹn ngào, ai oán tựa như một người sắp chết đuối đang bị những bàn tay vô hình bóp nghẹt khí quản.
"Trình Dạ! Nhìn lên trời kìa!"
Tiếng gọi thất thanh, gấp gáp của Lâm Chiêu kéo giật anh về với thực tại nghiệt ngã. Nàng đứng ở mạn thuyền bên cạnh, cánh tay run rẩy chỉ thẳng lên bầu trời đêm u ám phía thành Lạc Châu. Ba đốm lửa đỏ chói lọi vừa nổ tung trên nền mây mù màu chì xám xịt, hắt những vệt sáng đỏ quạch ma quái xuống mặt nước đang sủi bọt tro tàn.
"Tín hiệu cảnh báo cấp ba từ Tàng Danh Các..." Tống Yên bước vội từ trong nhà chờ ra thềm bến đá, gương mặt thanh tú của nàng lộ rõ vẻ kinh hãi tột cùng. "Đỗ Các chủ đã phải phát lệnh phong tỏa toàn diện các kho đá! Bạch Huyền... Bạch Huyền đã bắt đầu hành động sớm hơn giờ ước định rồi!"
Trình Dạ siết chặt nắm tay đến mức móng tay găm sâu vào da thịt, đôi mắt anh nhìn chăm chăm vào dòng nước đen ngòm đang dâng lên mấp mé chân bậc đá tam cấp của bến đò. Ánh mắt anh đanh lại, giọng nói trầm xuống đầy ớn lạnh: "Hắn không chỉ nhắm vào Đập Khóa Mạch. Chúng đang muốn bóp chết bến đò này trước khi chúng ta kịp nhóm lửa."
***
Cách Bến Lau Tàn chừng nửa dặm về phía gò hoang, ẩn mình sau một đụn đất phủ đầy cỏ gai và những bụi lau sậy khô héo gãy gục, Ninh Sắc đang quỳ gối giữa một trận đồ nhỏ được vẽ vội vã bằng vôi sống và bột than đen.
Ở ngay chính tâm của trận đồ ma quái ấy, chiếc khăn lau đò dính máu khô và mồ hôi của Trình Dạ được trải phẳng phiu trên một phiến đá phiến xám ngoét lượm lặt ven bờ. Đặt ngay cạnh chiếc khăn rách là lá bùa hoa sen ngược màu tím sẫm của Bạch Huyền, trên mặt giấy bùa, những nét mực máu quạ đang run rẩy phát ra những tia sáng ma mị, chập chờn như lân tinh nơi bãi tha ma.
Ninh Sắc bắt đầu lẩm nhẩm tụng niệm những câu chú ngữ bí truyền của Viện Nghiên Cứu Bảo Danh. Đó là những âm tiết khô khốc, méo mó, trượt qua kẽ răng như những thanh gỗ mục cọ xát vào nhau, thứ ngôn ngữ quái đản không thuộc về bất kỳ sinh linh sống nào trên trần thế. Từng lời chú thoát ra khỏi miệng gã tựa như những lưỡi cưa cùn gỉ sét cứa nát không gian tĩnh mịch của màn đêm. Gã cắn rách ngón tay trỏ của bàn tay run rẩy, nặn ra từng giọt máu đen nhớp nháp nhỏ thẳng lên mặt chiếc khăn thô màu nâu sẫm.
Máu của kẻ thi thuật gọt tỉa danh phận hòa lẫn với vết máu khô của người giữ bến Bến Lau Tàn. Ngay lập tức, một sợi tơ linh lực màu xám đục từ từ bốc lên từ mặt chiếc khăn, uốn éo, co giật như một con rắn độc vừa thức giấc trong bóng tối, rồi lao vút vào khoảng không vô định, nhắm thẳng về hướng Bến Lau Tàn mà phóng tới.
Thuật Đoạt Danh từ xa chính thức phát động toàn lực.
Nhưng ngay khi trận đồ vôi than bùng lên một ngọn lửa màu lục nhạt hắt ánh sáng ma quái lên gò đất hoang, thân thể Ninh Sắc bỗng nhiên co giật từng cơn dữ dội. Gã trừng trừng hai mắt nhìn vào khoảng không, lồng ngực phập phồng gấp gáp như muốn nổ tung lồng ngực. Việc cưỡng bức vận hành một nghi thức tước danh tối thượng nhắm thẳng vào một người vừa đạt tới cảnh giới Thính Tức, lại mang trong mình dòng máu ăn thề ba đời giữ bến của dòng họ Trình với đất trời Dạ Thủy, đã tạo ra một lực cản phản phệ vượt xa mọi toan tính ban đầu của gã.
Hơn thế nữa, chiếc bình chứa ký ức bất ổn được Bạch Huyền nhồi nhét bên trong thức hải của Ninh Sắc hoàn toàn không thể chịu nổi luồng xung lực cuồng bạo ấy.
"Ặc... khụ... khụ!"
Ninh Sắc gập gập người lại, ôm chặt lấy bụng, há hốc miệng nôn thốc nôn tháo ra một búng máu đen đặc quánh xuống phiến đá xám. Trong vũng máu đen nhớp nháp bốc mùi tanh tưởi ấy, kinh hoàng thay, không chỉ có máu thịt và đờm dãi thông thường. Lẫn trong chất dịch sền sệt là những mảnh vảy li ti phát ra ánh sáng bàng bạc lung linh — đó chính là những mảnh vỡ ký ức chưa kịp tiêu hóa của các nạn nhân bị gọt tỉa danh phận suốt bấy lâu nay. Những mảnh ký ức ngoại lai ấy đang vùng vẫy, cắn xé kinh mạch và thiêu đốt linh hồn của chính kẻ đang thi triển tà thuật từ bên trong.
Gương mặt Ninh Sắc vặn vẹo trong đau đớn tột cùng, một bên mắt của gã đã chuyển hẳn sang màu xám đục vô hồn, giọng nói gã phát ra rít lên từng tràng hổn hển, lẫn lộn giữa tiếng gầm gừ man dại của đàn ông và tiếng nấc nghẹn ngào của một đứa trẻ vô danh: "Chết đi... hãy quên hết đi... Trình Dạ... hãy quên sạch tên của ngươi... quên sạch cái bến đò rách nát này đi..."
***
Tại thềm đá Bến Lau Tàn, Trình Dạ đang cúi khom người kiểm tra lại nút thắt của đoạn dây đò nối mũi thuyền nan vào cây cọc gỗ lim đóng sâu dưới mép nước.
Bỗng nhiên, một cơn đau buốt nhói khủng khiếp tựa như có một lưỡi dao nung đỏ cắm phập xuyên qua lồng ngực trái khiến anh khuỵu ngã, hai đầu gối đập mạnh xuống sàn gỗ kêu một tiếng *thịch*.
"Hự!"
Trình Dạ ôm chặt lấy ngực trái, toàn thân run bắn lên từng chập không cách nào kìm giữ. Hơi thở của anh tắc nghẽn hoàn toàn nơi cuống họng, ngột ngạt như bị dìm sâu dưới đáy nước lạnh ngắt. Cơn đau quái ác này không hề xuất phát từ da thịt bị rách nát hay đường kinh mạch bị tổn thương thông thường. Nó giống như có một bàn tay vô hình, lạnh buốt và nhớp nháp đang thọc sâu vào thức hải của anh, túm lấy từng sợi tơ ký ức sâu kín nhất rồi ra sức giật mạnh, cố gắng bứng rễ mọi nhận thức, mọi ký ức của anh về chính bản thân mình và thế gian xung quanh.
Trước mắt anh, toàn bộ cảnh vật bỗng nhiên chao đảo dữ dội như một bức tranh vẽ trên mặt nước bị quấy đảo.
Màn sương mù màu chì cuộn xoáy lại, hóa thành những hình thù dị hợm, méo mó lượn lờ quanh mắt. Trình Dạ hoảng hốt đưa hai bàn tay run rẩy lên ngang mặt. Những vết chai sần dày cộp do mười mấy năm cầm sào, cầm chèo chống chọi với sóng dữ, vết sẹo dài đã lên da non ở kẽ ngón tay cái do bị dây đò siết phải trong đêm cứu người... tất cả những dấu vết da thịt ấy bỗng nhiên trở nên lạ lẫm đến rợn người. Chúng như thể là bàn tay của một kẻ xa lạ nào đó vừa được gắn ghép tạm bợ vào thân thể anh.
Trong tâm trí anh, một khoảng trống rỗng lạnh buốt bắt đầu lan rộng ra với tốc độ kinh hoàng, tựa như giọt mực đen loang nhanh trên một tờ giấy dó sũng nước.
*Mình... mình đang làm gì ở chỗ này?*
Một câu hỏi quái gở, hoang đường bỗng nhiên vụt lóe lên trong đáy sâu tâm thức, làm toàn thân Trình Dạ lạnh toát từ đỉnh đầu xuống tận gót chân. Anh trừng mắt nhìn xuống con thuyền nan nằm dưới chân mình. Con thuyền nan đóng bằng gỗ sồi đen bóng ngấm nước âm, từng thớ gỗ, từng đường đinh tán quen thuộc mà anh đã cùng cha chèo lái suốt những năm tháng ấu thơ đầy giông bão... tại sao nhìn nó lúc này lại xa lạ, trơ khấc và vô nghĩa đến thế? Chiếc cột chuêng nghiêng sừng sững đứng đầu bến đò, nơi từng gióng lên hàng ngàn hồi chuông dẫn độ linh hồn qua sông... chiếc cột đá đó dựng lên để làm gì? Vì sao nó lại đứng nghiêng ngả như một kẻ say rượu bên bờ vực?
Những ký ức thường nhật thân thương nhất, những quy tắc giữ bến nghiêm ngặt đã ăn sâu vào tủy não từ ngày đầu tiên cầm sào bỗng chốc mờ nhạt dần, chập chờn le lói như ngọn nến tàn trước một cơn bão dữ. Anh cố gồng mình nhớ lại khuôn mặt của cha, người đã truyền lại cho anh chiếc còi lệnh và trọng trách nặng nề này, nhưng hình bóng Trình Hoài trong tâm trí anh lúc này chỉ còn là một khối sương mù mờ mịt, xám ngoét, không đường nét, không ánh mắt, không còn lấy một thanh âm quen thuộc. Tệ hại hơn nữa, ngay cả tên gọi của những vật dụng thân thuộc nhất từng gắn bó với sinh mạng anh — chiếc sào lim bị mẻ đầu, ngọn đèn đồng hình đầu nghê, cuộn dây ba tao bện bằng vỏ gai già — cũng đang dần trượt dài khỏi đầu lưỡi anh, tan biến như bong bóng xà phòng.
"Dạ! Con làm sao thế con?!"
Tiếng gọi đầy lo lắng, hốt hoảng từ phía bậc cửa gian nhà chờ vang lên xé toạc màn đêm đặc quánh. Bà Lê An bưng chiếc đèn dầu lạc bước vội vã ra thềm đá, khuôn mặt gầy guộc đầy những nếp nhăn hằn sâu nỗi âu lo qua bao năm tháng một mình nuôi con bên bờ sông vắng. Cơn gió sông lạnh buốt thổi tạt vào vạt áo chàm bạc phếch của bà, làm ngọn lửa nhỏ nhoi trong lồng kính lay lắt chao đảo, chực tắt ngấm giữa màn sương chì.
Trình Dạ hai tay ôm chặt lấy lồng ngực đang đau thắt, lảo đảo gượng đứng dậy tựa lưng vào mép thuyền. Trán anh túa đầy những giọt mồ hôi lạnh ngắt, từng khớp ngón tay trắng bệch ra vì siết quá chặt vào thớ gỗ sần sùi. Anh khó nhọc ngẩng đầu lên, đôi mắt mờ đục nhìn người phụ nữ đang vội vã bước từng bước run rẩy về phía mình.
Ánh mắt người mẹ chan chứa tình thương yêu và nỗi xót xa, bàn tay thô ráp, gầy gò của bà vươn ra toan đỡ lấy bờ vai đang run lên bần bật của anh.
Trình Dạ nhìn thẳng vào khuôn mặt thân thương, khắc khổ ấy. Khuôn mặt của người mẹ đã thức trọn bao đêm đông bên bếp lửa tàn đợi anh chèo đò trở về giữa dòng nước chết, người đã chắt chiu từng củ khoai, bát cháo nuôi anh khôn lớn từ thuở lọt lòng.
Nhưng trong khoảnh khắc kinh hoàng tột độ ấy, thức hải của anh như bị một bức màn sương mù xám đục, lạnh ngắt buông xuống che phủ hoàn toàn.
Khi bước ra thềm bến, Trình Dạ bỗng nhìn mẹ mình và ngập ngừng mất ba nhịp thở mới nhớ ra bà tên là gì.