Người Gõ Cửa Lúc 3 Giờ 17Ch.6 / 20
Chapter 6

Chiếc đồng hồ trở về

Tiếng kim loại lách cách gõ nhịp dồn dập vào cánh cửa gỗ tầng hai lúc 3 giờ 17 phút sáng xé toạc sự tĩnh mịch ngột ngạt của căn hộ nơi hai cha con ông Tự đang ngủ.

Đó dứt khoát không phải là tiếng khớp ngón tay người gõ lên thớ gỗ mục. Đó là thanh âm đanh, lạnh, sắc ngọt của một chiếc mỏ lết hoặc đầu tuốc nơ vít bằng thép tôi va đập liên hồi vào then cài bằng đồng: *Cắc... cắc... cắc...*

Nhịp gõ chuẩn xác đến rợn người, khô khốc và đều đặn như một chiếc đồng hồ quả lắc rỉ sét bị kẹt nhông, mang theo một tiết tấu lạnh lùng bóp nghẹt lồng ngực. Hai tiếng ngắn, một tiếng dài. Một khoảng lặng ngắn như thể kẻ đứng bên ngoài đang nghiêng đầu lắng nghe từng nhịp thở yếu ớt từ bên trong bức vách, rồi chuỗi gõ ấy lại lặp lại, không nhanh hơn một phần mười giây, cũng không chậm đi một ly nào: *Cắc... cắc... cắc...*

Trên chiếc phản gỗ lim cũ kỹ kê sát bức tường loang lổ những vệt ẩm mốc hình vân mây, ông Vũ Đức Tự giật nảy mình, bật dậy như một chiếc lò xo máy bị bung chốt hãm. Tấm chăn chiên Nam Định xơ xác trượt khỏi đầu gối khẳng khiu của ông. Mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa dưới từng chân tóc bạc, bết chặt lấy vầng trán nhăn nheo hằn sâu những rãnh muộn phiền của người thợ điện già. Cổ họng ông khô khốc, tắc nghẽn, phát ra những tiếng khò khè đứt quãng như ống bễ lò rèn rách mép. Tim ông đập thình thình vào lồng ngực gầy guộc, từng nhịp dội thẳng lên màng nhĩ đau buốt, hòa cùng tiếng kim loại gõ sắc lạnh ngoài cánh cửa chính.

Ánh trăng non nhợt nhạt cuối tháng lọt qua khe chớp ô văng cửa sổ, rọi một dải sáng màu tro xám xuống góc nhà lộn xộn. Vệt sáng xiên khoét vào bóng tối mịt mùng, dừng lại ngay trên mặt bàn làm việc bằng gỗ ghép công nghiệp ngả màu—nơi đặt chiếc tủ sắt cá nhân xám xịt phủ đầy dầu nhớt cơ khí. Và ngay cạnh chân đèn bàn, chiếc hộp đồ nghề bằng tôn dập sơn màu xanh rêu—vật bất ly thân mà ông Tự đã khóa chặt bằng chiếc ổ khóa đồng Việt Tiệp ba chốt suốt mười tám năm ròng rã qua—bỗng nhiên đã bị bật tung nắp tự lúc nào.

Chiếc quai cài bằng sắt uốn cong bật mở trơ trọi, buông thõng xuống thành hộp kêu một tiếng *coong* khe khẽ trong trí nhớ của ông. Từng ngăn kéo tầng trên đựng những con ốc vít ren mịn, những chiếc bu lông đồng số 10, kìm bấm dây, cuộn băng dính đen cách điện đều nằm nguyên vẹn, phủ một lớp bụi mỏng tang của năm tháng. Duy chỉ có ngăn đáy cùng—ngăn sâu nhất được lót bằng một mảnh vải dạ màu hạt dẻ đã sờn rách mép—là trống hoác.

Khoang bí mật ấy đã rỗng tuếch.

Hai mắt ông Tự trợn trừng, các tia máu đỏ ngầu vằn lên trong bóng tối lờ nhờ. Đôi bàn tay gân guốc, thô ráp với những vết sẹo bỏng hồ quang điện run lên bần bật như người trúng gió độc. Ông run rẩy nhìn xuống lòng bàn tay trống không của mình, rồi trong một phản xạ kinh hoàng tột độ, ông giật thót mình quay phắt đầu nhìn về phía bức vách ngăn bằng gỗ ép mỏng manh ngăn đôi gian phòng khách chật chội.

Đằng sau tấm vách ọp ẹp đó là chiếc giường sắt đơn của An.

Con trai ông vừa mới trải qua một đêm dài kiệt quệ về cả thể xác lẫn tâm can. Thằng bé vừa phát hiện ra con dấu kỹ thuật mang tên cha nó—con dấu hình chữ nhật khắc chìm chữ *Kỹ thuật viên bậc 5: Vũ Đức Tự*—nằm lạnh lùng ở góc dưới của bản vẽ sơ đồ cô lập nguồn điện trạm bơm năm 2006. An đang ngủ say vì ngấm cơn mệt mỏi cùng cực, hay lúc này đây, thằng bé cũng đang nằm trơ mắt trong bóng tối, cắn chặt môi trong nỗi giằng xé và nghi hoặc tột cùng đối với chính người cha mà nó từng tôn sùng như một tượng đài nghề nghiệp?

*Cắc... cắc... cắc...*

Âm thanh ngoài then cài lại vang lên. Lần này, nó nặng nề và trầm đục hơn, như thể đầu kim loại gõ vào gỗ đã ngấm đẫm bùn sình từ một đáy cống sâu, mang theo cả độ dính nhớp nháp trượt sột soạt trên lớp sơn cánh gián đã bong tróc từng mảng lớn. Tiếng kim loại không còn vang đanh thuần túy nữa, nó nhão ra, nhớp nhúa, tựa hồ có một lớp bùn đặc quánh đang bao bọc lấy lưỡi thép.

Ông Tự bước chân xuống sàn nhà. Đôi bàn chân trần lạnh ngắt, nứt nẻ gót chân chạm xuống mặt sàn. Sàn gạch bông hoa văn xi măng lục giác từ thời bao cấp buốt giá như một tảng băng trôi ngâm nước mặn. Hơi lạnh thấu xương xông thẳng từ lòng bàn chân qua các khớp xương bánh chè, chạy dọc lên sống lưng, làm cứng đờ từng thớ cơ già cỗi. Từng bước đi của ông lảo đảo, nặng trĩu tựa hồ có hai khối chì đúc nặng cả chục cân xích chặt nơi mắt cá. Ông nín thở, cắn chặt hai hàm răng giả lỏng lẻo, nhón từng gót chân tiến từng bước một về phía cánh cửa chính của căn hộ 204.

Mùi bùn đất tanh tưởi bắt đầu tràn ngập không gian.

Đó là thứ mùi nước tù đọng dưới đáy cống ngầm lâu năm, mùi của rêu phong thối rữa dưới lòng móng công trình ngập lụt, trộn lẫn với mùi rỉ sét kim loại nồng nặc đang luồn qua khe cửa hẹp dưới chân bậu gỗ, phả thẳng vào sống mũi ông. Đó là thứ mùi vị mà suốt mười tám năm qua, ông Tự luôn tìm mọi cách xua đuổi bằng khói thuốc lá Điện Biên khét lẹt, bằng mùi cồn công nghiệp lau chùi bảng mạch, bằng hương dầu máy biến thế ngai ngái nồng cay. Nhưng mùi hương oan nghiệt ấy chưa từng thực sự rời bỏ căn phòng này; nó chỉ lẩn khuất trong thớ vữa ẩm, chờ đợi một vết nứt để lại ứa ra như máu rỉ từ một vết thương hoại tử.

Qua khe hở hẹp chưa đầy nửa đốt ngón tay giữa mép cửa gỗ lim và khung bao bằng thép hình chữ U, ông Tự run rẩy ép sát nửa khuôn mặt vào bề mặt gỗ lạnh ngắt, ghé một con mắt đùng đục nhìn ra ngoài bóng đêm hành lang.

Hành lang tầng hai chìm trong một thứ ánh sáng lờ nhờ, nhờ nhợt và tù mù của ngọn đèn dây tóc bốn mươi oát sắp cháy dở treo lơ lửng ở đầu hồi lối thoát hiểm. Gió luồn từ khoảng thông tầng bốc lên một làn khói sương mỏng manh, bết dính hơi ẩm mốc của những mảng trần vôi rữa nát. Không gian hành lang hun hút như một đường hầm mỏ bỏ hoang.

Và ngay trên gờ gạch bông sát mép bậu cửa—ngay tại lằn ranh tiếp giáp mỏng manh giữa lòng hành lang công cộng nhớp nháp và ngưỡng cửa căn nhà ông—một vật thể kim loại nhỏ bé đang nằm trơ trọi.

Đó là một chiếc đồng hồ đeo tay cơ khí cũ kỹ mạ crôm đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ lớp đồng thau xỉn màu bên dưới. Dây đeo bằng thép bấm lỗ mắt xích đã bị hoen gỉ nặng nề, những mắt xích kẹt cứng bởi cặn bùn khô vón cục. Mặt kính mica tròn xước chằng chịt những vết cào sâu hoắm, bên trong mặt số đọng một lớp màng hơi nước đục ngầu như mắt của một con cá ươn chết trôi. Kim giây bằng thép mạ bạc không hề nhúc nhích, chết cứng một cách chuẩn xác ở con số mười hai.

Chiếc đồng hồ của thợ bảo trì Bùi Văn Phúc.

Chính là nó. Không thể lẫn vào đâu được. Vật chứng oan nghiệt mà mười tám năm trước, khi nước lũ sông Hồng dâng cao tràn ngập tầng hầm và mọi thứ chìm nghỉm trong tiếng la hét tuyệt vọng sau cánh cửa sắt ngập bùn bị xích chặt, ông Tự đã nhặt được dưới chân cầu thang thoát hiểm. Lúc ấy, chiếc đồng hồ rơi nằm lẫn trong đống bùn đỏ quánh lại. Ông đã run rẩy nhặt nó lên, lau vội vào vạt áo, rồi giấu sâu dưới đáy hộp đồ nghề bằng tôn rêu. Suốt ngần ấy năm, ông tự huyễn hoặc bản thân bằng những lời dối trá êm tai: rằng ông chỉ nhặt một món đồ vô chủ trôi dạt trong cơn hỗn loạn, rằng việc giữ một chiếc đồng hồ chết rỉ sét không có nghĩa là ông đã đồng lõa với bàn tay tàn độc của tổ trưởng Phạm Văn Khang, rằng ông không hề nhúng chàm vào thảm kịch năm 2006.

Suốt gần hai thập kỷ, chiếc đồng hồ chưa từng một lần rời khỏi đáy hộp tôn lót dạ. Vậy mà giờ đây, nó đang nằm ngay ngưỡng cửa nhà ông, bốc lên những sợi khói ẩm tanh nồng như thể vừa được vớt lên từ một đáy mồ ngập nước dưới móng tòa nhà.

Một cơn rùng mình dữ dội chạy dọc sống lưng ông Tự, làm các đốt sống cổ của ông giật nảy lên đau nhức.

Bỗng nhiên, từ sau tấm vách ngăn ép mỏng manh, tiếng thở của An khẽ trở mình. Chiếc dát giường tre già kêu *cọt kẹt* một tiếng khô khốc.

Nỗi sợ hãi tột cùng như một bàn tay vô hình thít chặt lấy thanh quản ông lão thợ điện. Nếu An tỉnh giấc vào lúc này, nếu thằng bé bước ra gian ngoài uống nước và nhìn thấy chiếc đồng hồ này nằm trước cửa, nếu ánh mắt tinh tường của một kỹ sư trẻ quét qua cái tên khắc chìm nơi mặt đáy kim loại... toàn bộ bức màn che đậy của một người cha mẫu mực, nghiêm cẩn, một người thợ già suốt đời cần lao và trong sạch sẽ sụp đổ tan tành thành từng mảnh vụn. Thằng bé sẽ biết cha nó không chỉ là kẻ ký tên vào bản vẽ kỹ thuật ngắt điện theo lệnh điều hành ngầm, mà còn là một kẻ hèn hạ đã trộm đồ của người chết rồi ngậm miệng ăn tiền, câm nín sống qua ngày suốt mười tám năm ròng rã!

Không thể để An nhìn thấy. Tuyệt đối không thể!

Lý trí và sự tỉnh táo cuối cùng của một người thợ điện già dặn hoàn toàn bốc hơi trong cơn hoảng loạn tột độ. Trong khoảnh khắc tim đập chân run ấy, ông Tự quên sạch lời dặn dò bí ẩn mà bà Hạnh tổ phó từng bóng gió cảnh báo trước khi đổ bệnh liệt giường. Ông quên mất quy luật bất di bất dịch của ngưỡng cửa trong đêm khuya thanh vắng của khu nhà tập thể cũ kỹ này: *Không bao giờ được mở chốt đón vật ngoài thềm khi kim đồng hồ chưa qua khỏi giờ gọi hồn.*

Bàn tay gầy guộc nổi đầy những đường gân xanh ngoằn ngoèo của ông run bần bật đưa lên, ngón tay bấu chặt lấy then cài bằng đồng thau.

*Rắc.*

Tiếng then sắt trượt khỏi ổ vang lên khô khốc, sắc lẹm trong sự tĩnh mịch của đêm vắng.

Ông Tự khẽ hé mở cánh cửa gỗ lim ra một khoảng vừa đủ một thân người lách qua. Một luồng tử khí buốt giá lập tức tràn vào, táp thẳng vào mặt ông như một bàn tay ướp lạnh tát mạnh vào gò má. Hơi lạnh không phải của mùa đông, mà là cái lạnh nhớp nháp của đáy huyệt sâu ẩm ướt. Không dám ngẩng đầu nhìn ra khoảng bóng tối đặc quánh ngoài hành lang hun hút, ông lão vội vã nhoài hẳn nửa người trên qua bậu cửa, vươn cánh tay gầy trơ xương ra phía trước, chộp lấy chiếc đồng hồ kim loại lạnh ngắt trên nền gạch bông.

Mặt kim loại chạm vào da thịt buốt nhói như một thanh sắt nung ngược. Một cảm giác tê rần chạy dọc từ đầu ngón tay xộc thẳng lên tim.

Ông Tự giật nảy người, rụt tay lại như vừa chạm phải than hồng. Bằng một phản xạ hoảng loạn cùng cực, ông dùng cùi chỏ kéo sập cánh cửa gỗ lim nặng nề vào khuôn bao và gạt then cài bằng đồng xuống một cách điên cuồng. Hai then sắt đóng sập vào hèm cửa: *Cạch! Cạch!* Cả tấm lưng còng queo của ông tựa chặt vào cánh cửa gỗ, ngực ông phập phồng dữ dội, hơi thở hắt ra từng cơn hồng hộc nghẹn ứ, hai mắt dại đi vì kinh hãi.

Trong góc phòng khách, chiếc đồng hồ treo tường vỏ nhựa cũ kỹ khẽ tích tắc chuyển động. Tiếng nhông xích khô dầu kêu lách cách chầm chậm. Kim giây màu đỏ vừa nhảy qua mốc bốn mươi của vòng tròn số La Mã.

Đúng 3 giờ 17 phút 40 giây sáng.

Cánh cửa đã mở. Món đồ của người chết đã được đưa qua lằn ranh ngăn cách. Quy tắc ngưỡng cửa bất khả xâm phạm của khu tập thể Hòa An chính thức bị xé toạc ra một lỗ hổng đen ngòm. Trong khoảng thời gian tử thần của sáu mươi giây định mệnh, chính tay ông Tự đã phá vỡ rào chắn tâm linh, tự tay mang một phần của đáy mồ vào trong nhà, trao quyền xâm nhập căn hộ cho những thực thể bị chôn vùi dưới tầng hầm ngập nước.

Bên ngoài hành lang, tiếng kim loại gõ cửa im bặt hoàn toàn. Không gian tĩnh lặng đến gai người.

Nhưng ngay dưới chân tường căn hộ 204, một dòng nước đen nhờn nhợt, tanh tưởi bắt đầu rỉ ra qua khe hở nhỏ dưới cánh cửa gỗ, âm thầm lan rộng, thấm sâu vào từng thớ xi măng và mạch vữa của sàn gạch bông, để lại những vệt ố màu bùn cống ngoằn ngoèo như những xúc tu vô hình đang chậm rãi bò vào bóng tối.

***

Suốt cả ngày hôm sau, bầu không khí trong căn hộ 204 nặng nề tựa hồ một nấm mồ đá bị niêm phong.

An hầu như không nói một lời nào với cha mình. Người kỹ sư trẻ ngồi lặng lẽ bên chiếc bàn làm việc ngổn ngang giấy tờ kỹ thuật, đôi mắt thâm quầng và trĩu nặng nhìn chằm chằm vào tấm ảnh chụp bản vẽ phụ lục phân phối điện năm 2006 mà anh đã lưu trong máy điện thoại. Từng đường nét mực in kỹ thuật màu đen, từng con số ghi chú về rơ-le nhiệt, và đặc biệt là con dấu mang tên Vũ Đức Tự đóng đè lên dòng chữ *“Đã nghiệm thu cô lập trạm bơm ngầm”* cứ như những vết dao cứa vào tâm can anh.

Những vết nứt trong niềm tin tôn kính suốt hai mươi mấy năm cuộc đời dành cho người cha mẫu mực không thể nào hàn gắn được chỉ bằng vài ba câu biện bạch vụng về hay sự im lặng trốn tránh.

Còn ông Tự, ông lầm lũi đi lại trong không gian bốn mươi mét vuông chật hẹp như một cái bóng ma dật dờ không hồn. Bàn tay phải của ông hầu như không bao giờ rút ra khỏi túi chiếc áo khoác thợ điện màu chàm đã sờn rách hai bên cổ tay. Mười đầu ngón tay ông siết chặt lấy khối kim loại lạnh lẽo của chiếc đồng hồ cơ khí nằm sâu trong túi vải. Kim loại ấy dường như không hề hấp thụ nhiệt lượng từ cơ thể ông; nó cứ lạnh ngắt, buốt giá như một cục băng vĩnh cửu cắm rễ vào da thịt.

Mỗi lần An ngước mắt nhìn lên, ánh mắt hai cha con chạm nhau trong một tích tắc ngắn ngủi, ông Tự lại vội vã lảng tránh. Ông quay ngoắt mặt vào góc tường, lúi húi cầm chiếc kìm vặn vẹo một đầu dây đồng vô hại, miệng lẩm bẩm những câu rời rạc, vô nghĩa về tình trạng tụt áp của mạng lưới điện khu vực, về đường dây dẫn mục nát thời Liên Xô và áp lực nước sinh hoạt của tầng hai đang sụt giảm nghiêm trọng.

Cả hai người đàn ông đều đắm chìm trong những dằn vặt và toan tính riêng của mình, mà không hề hay biết rằng, khi hoàng hôn buông xuống và màn đêm đặc quánh của ngày thứ hai ập đến, cánh cửa gỗ lim khóa chặt hai then kia đã không còn là một lá chắn an toàn nữa. Ranh giới đã mất. Căn nhà đã thông với cõi chết.

Đêm thứ hai ập xuống khu tập thể Hòa An nhanh hơn thường lệ.

Một sự tĩnh lặng dị thường và quái gở bao trùm lấy toàn bộ bốn tầng nhà chữ U cũ nát. Không một tiếng chó sủa vu vơ ngoài bãi rác, không một tiếng côn trùng rả rích dưới gốc cây bàng cổ thụ ngoài sân chung, thậm chí cả tiếng còi tàu đêm vọng lại từ ga Giáp Bát cũng dường như bị một bức màn sương ẩm dày đặc nuốt chửng. Hơi ẩm từ dưới tầng hầm bị ngập bốc lên đậm đặc, ngưng tụ thành từng giọt nước đùng đục, nhớp nháp bám đầy trên trần vôi rạn nứt của căn hộ 204.

An nằm trên chiếc giường sắt đơn sau vách ngăn, hai mắt mở trừng trừng nhìn vào khoảng tối mịt mùng trên trần nhà. Lồng ngực anh nặng trĩu một cảm giác bất an đè nặng. Chiếc điện thoại đặt cạnh gối nằm sáng mờ mờ, từng con số điện tử màu trắng nhảy đều đặn, vô tình:

03:16:55... 03:16:58... 03:17:00.

Đúng ba giờ mười bảy phút.

Đột ngột, nhiệt độ trong gian phòng khách tụt xuống một cách dữ dội, nhanh đến mức không gian dường như vừa bị nhúng thẳng vào một bể nước đá ngầm. Từng thớ cơ trên người An co rút lại. Hơi thở phả ra từ cánh mũi anh hóa thành một làn khói trắng nhờ nhờ trôi bồng bềnh trong không khí.

Từ phía góc nhà—nơi kê chiếc bàn làm việc và chiếc tủ sắt đựng dụng cụ cơ khí nặng nề của ông Tự—một tiếng kim loại rít lên ghê rợn.

Không hề có tiếng gõ cửa nào từ phía hành lang bên ngoài như đêm trước.

Thứ kinh hoàng ấy không cần phải gõ cửa nữa. Nó đã ở ngay *bên trong* gian phòng này.

*RẦM!*

Chiếc tủ sắt cao hơn đầu người, chứa hàng trăm ký đồ nghề, bu lông, phụ tùng máy móc bằng thép đúc bỗng nhiên bị một lực tác động vô hình cực kỳ khủng khiếp giật phắt khỏi chân tường. Chiếc tủ nặng trịch nhấc bổng lên khỏi mặt đất vài tấc rồi đổ sầm xuống sàn nhà như một tòa tháp sắt bị đánh sập.

Tiếng sắt thép va đập điên cuồng vào nền gạch men vang lên đinh tai nhức óc, tạo ra một chấn động cơ học làm rung chuyển dữ dội cả mảng sàn bê tông cũ kỹ của tầng hai. Bụi vữa từ trần nhà rơi lả tả như tuyết xám.

“Á... á!”

Tiếng thét kinh hoàng, xé ruột xé gan của ông Tự vang lên xé toạc màn đêm u uất.

An giật thót mình, bật tung tấm chăn, lao bổ ra khỏi tấm vách ngăn gỗ ép.

Trước mắt người kỹ sư trẻ, gian phòng khách đã biến thành một bãi chiến trường địa ngục thực sự. Chiếc bóng đèn tuýp duy nhất treo lơ lửng trên trần nhà chớp nháy loạn xạ, phát ra những tiếng nổ tanh tách cùng những tia lửa điện màu xanh tím bắn tung tóe. Chấn lưu điện từ kêu vo ve từng chập chói tai như tiếng một đàn ong vò vẽ khổng lồ bị chọc tổ, ánh sáng trắng xanh lúc mờ lúc tỏ quét qua những góc phòng méo mó.

Hàng chục, hàng trăm chiếc cờ lê mỏ lết, tuốc nơ vít, kìm bấm, búa đẽo xỉ sắt văng tung tóe ra khỏi các khay đựng. Nhưng chúng không hề rơi nằm yên trên sàn. Một luồng lốc xoáy vô hình cuộn tròn giữa căn phòng, nhấc bổng toàn bộ những khối kim loại nặng nề ấy lên không trung, quăng quật chúng một cách điên loạn khắp bốn bức tường. Chúng đập chan chát vào lớp vôi vữa mục nát, tiện đứt từng mảng tường, ghim phập vào cánh cửa tủ gỗ, bay ràn rạt ngang qua đầu An như một cơn mưa mảnh đạn pháo hoa mai xé gió rít lên từng hồi kinh hãi.

Và ở ngay giữa sàn nhà, cảnh tượng đập vào mắt An khiến tim anh như ngừng đập hoàn toàn, máu trong người đông cứng lại.

Cha anh—ông Vũ Đức Tự—đang nằm sấp trên nền gạch bông loang lổ bùn ướt và nước đen nhớp nháp. Hai cổ chân gầy guộc của ông lão bị một lực lượng vô hình tóm chặt lấy, kéo lê giật lùi từng nhịp dứt khoát, tàn bạo về phía cánh cửa chính đang đóng kín then cài.

Mười đầu ngón tay của ông Tự cào cấu tuyệt vọng xuống mặt sàn xi măng. Móng tay ông lật ngược, toác máu, để lại những vệt máu tươi lẫn bùn đen kéo dài thành những vệt ngoằn ngoèo trên nền hoa văn rêu phong. Khuôn mặt người thợ già tím tái, nổi đầy những đường gân xanh tím co giật, hai tròng mắt trợn ngược trắng dã, miệng há hốc đứt quãng phát ra những âm thanh rên rỉ nghẹn ứ nơi cuống họng:

“Cứu... cứu tao với! An ơi... cứu tao! Phúc ơi... tao xin mày... tha cho tao! Đừng kéo... đừng lôi tao xuống hầm nước...!”

Mùi bùn cống rỉ sắt tanh nồng nặc quẩn quanh cơ thể ông lão thành một làn sương mỏng nhờn nhợt. Khoảng không gian ngay phía sau gót chân ông méo mó, biến dạng kỳ dị, như thể có một bóng người sũng nước, vặn vẹo, đen ngòm đang đè nghiến lên đôi chân ông, gầm gừ những tiếng thở hắt sặc mùi nước thối rữa của đáy cống ngầm mười tám năm tích tụ.

“Bố!”

An gầm lên một tiếng xé họng. Mọi sự nghi kỵ, mọi nỗi giận hờn và oán trách dồn nén suốt một ngày qua bỗng chốc tan biến sạch trơn trước cảnh tượng kinh hoàng của người cha đang cận kề cái chết. Bản năng máu mủ ruột rà thôi thúc anh lao bổ tới giữa cơn bão kim loại đang bay ràn rạt trong phòng.

Bàn chân An trượt dài trên nền gạch nhớp nháp bùn trơn, anh ngã quỵ xuống nhưng kịp vươn hai cánh tay rắn chắc của một thanh niên lao động, ôm ghì lấy thân người gầy guộc, lạnh ngắt như một tảng băng của cha mình.

Ngay khoảnh khắc An chạm vào người ông Tự, một luồng lực kéo kinh hồn giật mạnh ngược trở lại, như thể có cả một sợi cáp tời bằng thép của xe cẩu ngầm đang gầm rú kéo về phía cửa chính. Toàn bộ cơ bắp trên lưng, vai và cánh tay An căng cứng đến mức rách cơ, từng khớp xương kêu răng rắc. Một luồng khí buốt giá xuyên thấu qua lớp áo phông mỏng, thấm thẳng vào da thịt anh cảm giác đau nhói buốt lạnh như bị hàng ngàn mũi kim châm bằng băng cắm ngập vào tủy sống.

Anh cảm nhận rõ ràng sức nặng khủng khiếp của một thực thể cực kỳ hung bạo, mang theo sức nặng của hàng ngàn khối nước lũ và nỗi hận thù tích tụ suốt mười tám năm dưới đáy bùn sâu, đang điên cuồng lôi cả hai cha con anh về phía bậu cửa lim!

“Giữ lấy con! Bố bám chặt vào chân bàn! Nhanh lên!” An gào lên, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau đến mức máu tươi rỉ ra từ kẽ nướu, vị tanh nồng lan tỏa trong khoang miệng.

Anh quắp chặt gót chân vào chân cây cột bê tông chịu lực cạnh vách ngăn, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể sáu mươi lăm ký của mình để làm điểm tựa đối kháng với lực kéo ma quái từ cõi âm.

Một chiếc mỏ lết số 24 bằng thép rèn bay rít qua không khí, xẹt ngang qua thái dương An, rạch một đường máu tươi rỉ trên gò má anh trước khi cắm phập lưỡi thép vào thớ gỗ lim của cánh cửa phòng khách phía sau lưng.

Ông Tự run rẩy bần bật trong vòng tay con trai, hơi thở của ông yếu dần đi, hai mắt đờ đẫn trợn trừng nhìn vào khoảng không mịt mùng trên trần nhà, môi mấp máy run rẩy lặp đi lặp lại những lời sám hối trong cơn mê sảng tột cùng: “3 giờ 17... tao cúp cầu dao tổng... tao không muốn đâu... thằng Khang ép tao... nó bảo tao phải ngắt điện để cứu máy biến áp... tao không cố ý hại chúng mày...”

An ngước nhìn chiếc đồng hồ treo tường đang rung bần bật trên vách tường loang lổ. Mặt kính của nó đã nứt toác một đường dài.

03:17:48... 03:17:52... 03:17:57...

Từng giây trôi qua dài dặc và nghẹt thở như cả một thế kỷ tra tấn thể xác. Cánh tay An tê dại đi, các khớp ngón tay co quắp, da thịt bầm tím vì sức kéo tàn bạo. Khói đen và mùi khét lẹt của dây điện quá tải bốc lên mù mịt từ bóng đèn tuýp.

03:17:59...

03:18:00!

*PHỰT!*

Một âm thanh đứt gãy vô hình vang lên đanh gọn trong không gian, tựa như một sợi dây cáp vô hình chịu lực căng cực đại vừa bị một lưỡi rìu sắc bén chém đứt ngọt ngào.

Lực kéo tàn bạo đột ngột biến mất hoàn toàn trong tích tắc.

Do quán tính đối kháng quá lớn, An và cha anh cùng ngã nhào chúi về phía trước, va đập mạnh lồng ngực vào mép chiếc bàn làm việc bằng gỗ ép.

Cùng lúc đó, toàn bộ những chiếc cờ lê, mỏ lết, bu lông và búa sắt đang lơ lửng, quay cuồng trong không trung đồng loạt rơi rụng tự do xuống sàn nhà. Chúng va đập vào nhau, va vào mặt gạch bông tạo nên một chuỗi âm thanh lách cách, loảng xoảng hỗn loạn, kéo dài vài giây rồi tắt lịm hoàn toàn trong sự im ắng chết chóc.

Bóng đèn tuýp trên trần nhà ngừng chớp giật, phát ra một tiếng *o o* trầm đục quen thuộc rồi ổn định lại ánh sáng trắng xanh yếu ớt. Nhiệt độ trong gian phòng khách chầm chậm tăng trở lại, cái lạnh buốt giá rút đi, trả lại bầu không khí oi nồng, ngột ngạt quen thuộc của một đêm hè ẩm ướt chốn tập thể cũ.

Sự tĩnh lặng rợn người tái lập, chỉ còn lại tiếng thở dốc hồng hộc, đứt quãng của An và tiếng rên rỉ thoi thóp, run rẩy của người thợ điện già đang nằm co quắp dưới chân anh.

Đột nhiên, từ phía cầu thang bê tông bên ngoài hành lang, tiếng bước chân huỳnh huỵch dồn dập vang lên. Tiếng bước chân của một người đang lao nhanh thục mạng từ tầng bốn xuống tầng hai, kèm theo tiếng dép nhựa gõ cồm cộp trên từng bậc thang mục nát.

Tiếng người đập dồn dập vào then cài ngoài cửa:

*Rầm! Rầm! Rầm!*

“An ơi! Bác Tự ơi! Có chuyện gì ở trong đấy thế? Mở cửa ra mau lên! An ơi!”

Đó là tiếng của Mai. Cơn chấn động cơ học khủng khiếp từ chiếc tủ sắt đổ sập cùng tiếng la hét thất thanh từ căn hộ 204 đã xuyên qua lớp sàn bê tông mỏng manh, đánh động cô gái trẻ đang thao thức ở tầng trên.

An lảo đảo bò dậy. Đầu gối anh bầm dập, hai ống chân run rẩy không còn chút sức lực. Anh bám vào mép bàn, lảo đảo bước từng bước qua đống kim loại ngổn ngang dưới sàn, tiến lại gần cửa chính, giật mạnh then cài bằng đồng rồi đẩy toang hai cánh cửa gỗ lim nặng nề.

Mai đứng sững ngay ngoài bậu cửa, lồng ngực phập phồng thở không ra hơi, lọn tóc mai ướt đẫm mồ hôi dính chặt vào gò má tái nhợt. Chiếc áo ngủ màu xám tro của cô dính đầy bụi vôi từ trần cầu thang rơi xuống.

Nhìn cảnh tượng hoang tàn, đổ nát bên trong căn phòng—chiếc tủ sắt đồ nghề bẹp dúm đổ ngang sàn, hàng chục chiếc mỏ lết cắm ngập vào vách gỗ, những vệt cào móng tay rớm máu kéo dài trên lớp bùn đen nhầy nhụa—mặt Mai cắt không còn một giọt máu.

“Chúa ơi... chuyện quái quỷ gì đã xảy ra thế này?” Mai hốt hoảng lao qua bậu cửa, quỳ sụp xuống bên cạnh ông Tự đang nằm rên rỉ.

“Giúp anh... nâng bố dậy đã...” Giọng An khản đặc, lạc hẳn đi, cổ họng anh khô rát như vừa nuốt phải tro nóng.

Cả hai người vội vã xốc nách hai bên, hợp lực nâng thân hình nhẹ bẫng, rũ rượi như một tàu lá chuối héo của ông thợ điện già dậy, dìu ông ngồi tựa lưng vào mép chiếc đi-văng gỗ lim chưa bị đồ đạc va quẹt vỡ nát. Quần áo bảo hộ của ông Tự lấm lem bùn đen nhờn nhợt, hai bàn tay rách toạc da thịt, máu tươi ứa ra hòa lẫn với bụi bẩn từ sàn nhà.

Đột nhiên, trong lúc Mai cúi người kéo lại vạt áo chàm xộc xệch cho ông Tự, từ túi ngực bên trong chiếc áo khoác thợ điện của ông, một vật thể kim loại nặng trịch trượt ra ngoài, rơi thẳng xuống sàn gạch.

*Keng.*

Vật kim loại va đập vào mép gạch bông hoa văn, xoay tròn vài vòng rồi trượt dài một đoạn ngắn, dừng lại ngay sát dưới mũi đôi dép nhựa màu xanh của Mai.

Đó là một chiếc đồng hồ đeo tay cơ khí mạ crôm cũ kỹ, mặt kính mica tròn xước xát ố vàng, phủ một lớp hơi nước đục ngầu.

Mai nheo mắt nhìn vật thể dưới chân. Trái tim cô bỗng nhiên thắt nghẹt lại như có ai bóp chặt. Một luồng linh cảm lạnh buốt mách bảo cô rằng đây không phải là một chiếc đồng hồ thông thường, và nó tuyệt đối không thể là đồ dùng cá nhân của ông Tự. Cô run rẩy cúi người xuống, nhặt chiếc đồng hồ lên khỏi mặt sàn còn loang lổ bùn ướt.

Khối kim loại trong tay cô buốt nhức đến tận xương tủy. Mặt kính mica bên trong vẫn còn đọng lại một lớp màng nước tanh tưởi mùi bùn cống ngầm.

Mai lật nhẹ chiếc đồng hồ lại, hướng phần nắp đáy bằng thép không gỉ xỉn màu về phía ánh sáng lờ nhờ của ngọn đèn tuýp trên trần.

Trên bề mặt kim loại bị ăn mòn loang lổ, từng nét chữ khắc chìm bằng mũi kim cơ khí thủ công thô sơ hiện lên sắc nét, tàn nhẫn dưới lớp bụi mờ:

*“Bùi Văn Phúc – Bảo trì 2004”*

Cả căn phòng 204 dường như ngưng đọng lại trong một cõi chết chóc.

Mai cảm thấy một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng, làm tê dại từng đầu ngón tay của cô. Bùi Văn Phúc!

Người thợ bảo trì máy bơm cùng làm việc với cha cô năm xưa! Người có tên nằm ở vị trí thứ ba trên mảnh giấy xi măng kẹp trong cuốn sổ tay chợ búa của mẹ cô! Người đàn ông đã biến mất không để lại một dấu vết nào cùng chiếc áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân trong đêm bão lũ kinh hoàng mười tám năm trước!

“Cái này...” Mai run rẩy ngẩng đầu lên, ánh mắt bàng hoàng, đau đớn nhìn xoáy vào gương mặt thất thần, xám ngoét của ông Tự. “Bác Tự... chiếc đồng hồ này... tại sao nó lại ở trong túi áo của bác?”

Vừa nhìn thấy chiếc đồng hồ nằm gọn trên lòng bàn tay Mai, đôi mắt trắng dã của ông Tự bỗng nhiên mở trừng trừng trong một cơn hoảng loạn điên cuồng tột độ.

Như một con thú hoang bị dồn vào chân tường đá, ông lão thợ điện chồm người tới với một sức mạnh tàn dư khó tin, giật phắt chiếc đồng hồ khỏi tay cô gái trẻ, rồi giấu nghiến nó ra sau lưng, hai cánh tay gầy guộc run rẩy ôm chặt lấy nó như ôm một quả bom nổ chậm.

“Không có gì hết! Trả lại cho tao! Đừng có động vào nó!” Giọng ông Tự the thé, the thé và the thé như tiếng kim loại cào vào bảng đen, run bần bật trong nỗi sợ hãi tột cùng.

“Bố!”

An đứng sững cạnh chiếc đi-văng, giọng nghẹn ứ lại trong nỗi đau đớn và thất vọng cùng cực. Đôi mắt người kỹ sư trẻ đỏ hoe, hằn lên những tia máu uất nghẹn. Anh đã hiểu. Anh đã xâu chuỗi được toàn bộ bức tranh tăm tối. Từ bản vẽ sơ đồ ngắt điện ở tum mái cho đến chiếc đồng hồ hoen gỉ này.

“Bố lấy nó ở đâu ra? Tại sao đồ của chú Phúc bảo trì lại nằm trong nhà mình suốt mười tám năm nay? Bố nói đi! Bố đã làm gì trong đêm bão năm 2006?”

“Tao không lấy! Tao không biết cái gì hết!” Ông Tự vừa thở dốc vừa lắc đầu nguầy nguậy như một kẻ mất trí, thân hình còng queo co rúm lại trên mặt gỗ đi-văng như một đứa trẻ vừa phạm phải một tội ác tày trời. Nước mắt xen lẫn mồ hôi đục ngầu chảy ròng ròng qua những nếp nhăn sâu hoắm trên gò má xám xịt của ông. “Là chập điện! Tụ điện cao áp ở trạm biến thế hạ lưu nó nổ tung... đường dây đồng cũ rỉ sét sinh nhiệt quá tải làm nổ tung tủ đồ nghề! Chúng mày đừng có suy diễn lung tung! Không có ma quỷ nào hết... không có ai về đòi nợ hết... tao chỉ là thợ điện thôi! Tao chỉ làm công ăn lương theo lệnh thôi mà!”

Ông lão vùi mặt vào hai bàn tay rách toạc da thịt, rớm máu tươi, bờ vai gầy guộc rung lên từng chập dữ dội trong những tiếng nấc khô khốc, nghẹn ngào và tuyệt vọng.

Mai và An đứng lặng ngắt giữa đống đổ nát ngổn ngang của căn phòng 204. Nhìn chiếc đồng hồ bị giấu chặt sau lưng người thợ già nua, Mai cay đắng nhận ra rằng thảm kịch năm 2006 chưa bao giờ là một câu chuyện tai nạn thiên tai hay mất tích bí ẩn đơn thuần. Nó là một tội ác dây chuyền mang tính hệ thống, được bện chặt bằng sự hèn nhát, lòng tham và những sự đồng lõa câm lặng của chính những con người đang ngày ngày chạm mặt nhau, sống mòn mỏi trong khu tập thể mục nát này.

***

Tám giờ sáng hôm sau.

Ánh nắng ban mai nhạt nhòa, vàng vọt xuyên qua những tán lá rậm rạp của cây bàng cổ thụ, rọi những vệt sáng lốm đốm xuống nền xi măng nứt nẻ của sân chung khu tập thể Hòa An.

Tiếng cọ rửa xoong chảo, tiếng đun nước sôi lạch cạch từ các căn hộ tầng một vẫn diễn ra như nhịp sống thường nhật, nhưng bầu không khí dưới sân chung lại căng thẳng và ngột ngạt một cách bất thường. Những người đàn bà đi chợ về túm năm tụm ba dưới chân cầu thang bộ, dáo dác ngước mắt nhìn lên ban công tầng hai, xì xào bàn tán to nhỏ về tiếng nổ và tiếng đổ vỡ kim loại kinh hoàng lúc nửa đêm qua.

Bên trong căn hộ 204, những mảnh vỡ kim loại và đồ nghề cơ khí đã được An thu dọn tạm vào một góc chân tường. Chiếc tủ sắt móp méo được dựng tạm lại, nhưng cánh cửa tủ bằng tôn đã cong vênh không thể nào khép kín. Cánh cửa chính bằng gỗ lim vẫn khép hờ, để lộ những vết cào xước sâu hoắm trên thớ gỗ và lỗ thủng do lưỡi mỏ lết găm vào đêm qua.

Một tiếng hắng giọng trầm đục, quen thuộc bất ngờ vang lên ngoài hành lang bê tông.

Cánh cửa gỗ lim bị đẩy mạnh ra không một tiếng gõ, và bóng dáng bệ vệ, đạo mạo của ông Phạm Văn Khang xuất hiện ngay ngưỡng cửa.

Cựu tổ trưởng khu tập thể bước vào phòng với phong thái tự tin, khoan thai. Ông ta mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu mỡ gà cài cúc cẩn thận, nách cắp một tập hồ sơ dày cộp bọc bìa da màu đen bóng. Trên khuôn mặt vuông vức đầy đặn của ông ta nở một nụ cười hòa nhã, ân cần thường trực của một người cán bộ lãnh đạo luôn hết lòng vì đời sống dân sinh.

Thế nhưng, đôi mắt một mí hẹp dài ẩn sau cặp kính lão gọng vàng của ông ta lại sắc lạnh như hai lưỡi dao cạo. Đôi mắt ấy quét nhanh một vòng chuẩn xác qua chiếc tủ sắt bẹp rúm, qua những vệt vôi vữa bong tróc lở loét trên tường, qua những vết máu khô trên sàn gạch bông, và cuối cùng dừng lại trên gương mặt bơ phờ, trắng bệch như xác chết của ông Tự đang ngồi co ro bên bàn trà.

“Bác Tự này, tôi vừa đi tập thể dục dưới sân, nghe bà con lối xóm kháo nhau đêm qua nhà mình gặp sự cố chập cháy gì lớn lắm, tôi phải vội vã chạy ngược lên đây ngay xem tình hình thế nào,” Khang cất tiếng, giọng trầm ấm, chan chứa sự quan tâm của một người đồng chí già, nhưng từng âm tiết nhả ra đều nặng trĩu sức ép ngầm của quyền lực. “Thế nào rồi? Người ngợm có xây xát, thương tích gì nặng không đấy?”

Ông Tự khẽ rùng mình một cái, hai vai co rúm lại. Đầu ông cúi gằm xuống chén trà nguội ngắt đóng váng ố vàng trên mặt bàn kính, hai bàn tay gầy guộc đan chặt vào nhau dưới gầm bàn run lẩy bẩy, tuyệt nhiên không dám ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào người tổ trưởng năm xưa.

An từ trong góc phòng bước ra, tiến tới đứng chắn ngang giữa Khang và người cha già của mình. Khuôn mặt người kỹ sư trẻ đanh lại, ánh mắt sắc bén nhìn thẳng vào vị cựu cán bộ mà không hề có lấy một tia kiêng dè hay nhượng bộ.

“Cảm ơn bác Khang đã cất công quan tâm,” An lạnh lùng nói, giọng rắn rỏi. “Nhà cháu chỉ bị rơi đổ mấy cái giá sắt đựng đồ nghề cũ thôi. Không có ai bị thương nặng cả.”

Nụ cười trên khuôn mặt béo tốt của Khang thoáng cứng đờ lại trong nửa giây trước khi giãn ra, trở nên lạnh lẽo và sắc nhọn hơn. Ông ta chậm rãi tiến lại gần chiếc bàn trà, tự nhiên kéo chiếc ghế đẩu duy nhất còn nguyên vẹn ra ngồi xuống, đặt tập hồ sơ bìa da đen lên mặt bàn kính bám đầy bụi vôi.

“Thế thì may quá. Đồ đạc rơi vỡ thì quét dọn thu xếp lại là xong ngay ấy mà,” Khang đưa bàn tay mập mạp có ngón trỏ đeo chiếc nhẫn vàng tây cẩn đá đỏ gõ nhẹ xuống mặt bàn kính. Tiếng *cốc... cốc... cốc...* thong thả, dứt khoát nhưng đều đặn như một hồi chuông cảnh cáo. “Tôi đã nhắc nhở trên loa truyền thanh của tổ dân phố không biết bao nhiêu lần rồi. Hệ thống dây dẫn điện đi ngầm trong tường của cái khu nhà Hòa An này thi công từ thời các chuyên gia Liên Xô, quá hạn sử dụng đến mấy chục năm trời rồi còn gì. Dây nhôm thoái hóa, rơ-le nhiệt kẹt gỉ, chuyện chập mát đoản mạch làm nổ tung đồ đạc, nổ tụ điện là chuyện thường ngày ở huyện. Có phải thế không, bác thợ điện Tự?”

Câu hỏi cuối cùng được Khang gằn giọng xuống, xoáy thẳng vào đỉnh đầu ông Tự như một lời mớm cung đanh thép và đầy tính đe dọa.

Ông Tự run rẩy toàn thân, chiếc chén trà trên tay khẽ va vào đĩa kêu *leng keng*. Ông thều thào gật đầu, giọng đứt quãng như người sắp hụt hơi: “Vâng... đúng thế... chập điện nhánh phụ... do quá tải đường dây cũ...”

Khang mỉm cười hài lòng, một nụ cười thỏa mãn của kẻ nắm đằng chuôi. Đoạn, ông ta quay ngoắt sang nhìn An, ánh mắt sắc như chim ưng khóa chặt lấy từng biểu cảm trên gương mặt người thanh niên trẻ tuổi.

“An này, cháu là kỹ sư trẻ, được ăn học đàng hoàng, có bằng cấp đào tạo chính quy, cháu phải là người hiểu lý lẽ và nhìn xa trông rộng hơn những người khác chứ,” giọng Khang chùng hẳn xuống, thì thầm nhưng từng từ từng chữ lại ghim sâu vào không gian tĩnh lặng. “Hồ sơ đền bù giải tỏa và phương án tái định cư bằng tiền mặt của toàn bộ bốn mươi hộ dân khu Hòa An hiện đang nằm ngay ngắn trên bàn làm việc của Hội đồng thẩm định thành phố rồi. Chỉ cần một trục trặc nhỏ, một tin đồn thất thiệt mang tính chất mê tín dị đoan làm mất an ninh trật tự, tiến độ di dời này sẽ bị đình chỉ ngay lập tức để lập đoàn thanh tra lại toàn bộ hiện trường tòa nhà.”

Khang hơi nghiêng người về phía trước, ánh mắt lộ rõ vẻ tàn nhẫn không chút che đậy:

“Lúc ấy, tiền đền bù của hàng trăm con người bị treo vô thời hạn. Mùa mưa bão sắp tới, khu nhà này có nguy cơ sập đổ bất cứ lúc nào. Hàng trăm con người không có chỗ đi nơi về, họ sẽ oán hận ai? Họ sẽ trút cơn giận dữ ấy lên đầu ai? Cháu có gánh nổi cái trách nhiệm phá hoại miếng cơm manh áo và tương lai của cả cái tập thể này không, hả cháu An?”

An nghiến chặt quai hàm, hai hàm răng siết chặt lại đến mức cơ hàm gồ lên từng mảng cứng đờ. Hai bàn tay anh thụt sâu trong túi quần bò siết chặt thành nắm đấm, móng tay cắm sâu vào da thịt đau nhức để kìm nén cơn thịnh nộ đang chực bùng nổ.

Anh hiểu quá rõ lời đe dọa trắng trợn và đê hèn ẩn giấu đằng sau tấm bình phong mỹ miều “vì lợi ích chung của tập thể” mà Khang đang giăng ra. Người đàn ông quyền lực này đang dùng chính số phận, tiền bạc và sự sống còn của bốn mươi hộ dân lao động nghèo khổ trong khu nhà để bịt chặt miệng hai cha con anh, ép họ phải nuốt trọn sự thật kinh hoàng của thảm kịch năm 2006 và những sự kiện ma quái đêm qua vào sâu trong dạ dày.

“Bác Khang không cần phải lo lắng việc ấy,” An lạnh lùng đáp trả, từng chữ bật ra qua kẽ răng sắc như thép nguội. “Chuyện nội bộ trong nhà cháu, gia đình cháu tự biết cách giải quyết cho êm thấm. Cháu không rảnh rỗi đến mức đi buôn chuyện nhảm nhí với hàng xóm láng giềng.”

“Tốt. Được thế thì tốt quá rồi.” Khang hài lòng đứng dậy, phủi nhẹ nếp nhăn vô hình trên chiếc quần âu màu ghi xám, nụ cười hòa nhã lại nở toe toét trên gương mặt trơ tráo. “Bác biết ngay mà, cháu An là người có học, biết nhìn trước ngó sau. Cố gắng giữ cho cái khu nhà này được yên ổn thêm vài ba tuần lễ nữa thôi, rồi dự án giải tỏa được duyệt, ai cũng có phần đền bù thỏa đáng, ai cũng được tự do bắt đầu cuộc sống mới ở nơi khác. Bác Tự cứ yên tâm nghỉ ngơi tĩnh dưỡng đi nhé, đầu giờ chiều tôi sẽ bảo mấy đứa thanh niên dân phòng mang xô vữa với ít vôi tôi lên trát lại mảng tường nứt cho.”

Khang cắp tập hồ sơ bìa da đen vào nách, ung dung quay người sải bước ra khỏi cửa. Tiếng đế giày da nện cồm cộp, nặng nề trên nền hành lang xi măng xa dần, rồi khuất hẳn sau khúc quanh dẫn xuống cầu thang bộ.

Căn phòng 204 lại chìm vào một khoảng câm lặng buốt giá và u uất.

An quay lại nhìn cha mình. Ông Tự vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ, tấm lưng còng gập xuống như một kẻ tử tù đang cúi đầu chờ đợi nhát chém cuối cùng của đao phủ. Bàn tay phải của ông vẫn găm chặt trong túi áo khoác thợ điện—nơi chiếc đồng hồ cơ khí của người thợ bảo trì đã chết đang tỏa ra một hơi lạnh âm ỉ, dai dẳng và chết chóc.

***

Mười giờ trưa cùng ngày.

Mai trở về căn hộ 407 trên tầng bốn của mình.

Cánh cửa gỗ lim nặng nề khép lại sau lưng cô, tiếng chốt khóa bằng sắt gạt xuống khô khốc, tạm thời ngăn cách cô với những âm thanh sinh hoạt giả tạo, ồn ào dưới sân chung. Thế nhưng, sự ngột ngạt và nỗi ám ảnh kinh hoàng trong tâm trí cô thì không có bất kỳ cánh cửa nào có thể ngăn cách nổi.

Hình ảnh chiếc đồng hồ cơ khí hoen gỉ khắc dòng chữ *“Bùi Văn Phúc – Bảo trì 2004”*, cảnh tượng ông Tự bị một lực vô hình tàn bạo kéo lê từng mét trên sàn nhà đầy bùn đen, và ánh mắt đe dọa lạnh như băng của Phạm Văn Khang cứ chập chờn, xoay mòng mòng trong tâm trí cô gái trẻ.

Quy tắc ngưỡng cửa bất khả xâm phạm đã bị phá vỡ hoàn toàn.

Thực thể oán hận dưới đáy sâu không còn bị giam hãm ngoài hành lang hay dưới lòng tầng hầm ngập nước nữa. Chúng đã chính thức vượt qua ngưỡng cửa căn hộ 204. Sự việc đêm qua không còn là một lời cảnh báo bằng âm thanh hay điềm báo mộng mị; nó là một cuộc tấn công trực diện nhằm tước đoạt mạng sống của một kẻ đồng lõa. Và đêm qua, nếu An không kịp liều mình giữ cha lại cho đến đúng 3 giờ 18 phút, ông Tự chắc chắn đã bị lôi tuột qua bậu cửa, biến mất vĩnh viễn vào cõi chết.

Mai đứng giữa gian phòng khách tĩnh mịch của căn hộ 407, nhìn lên bàn thờ của mẹ. Bát hương trầm lạnh ngắt, bức di ảnh của bà Trần Thị Hạnh nhìn xuống cô với ánh mắt u buồn, u uất.

Mai siết chặt hai bàn tay lại. Nếu như có một hành động sai lầm khiến thực thể dưới đáy sâu có được quyền năng xâm nhập qua ngưỡng cửa, thì chắc chắn phải có một quy luật đối ứng để trục xuất nó, để đóng lại cánh cửa sinh tử đã bị mở toang!

Mẹ cô—người đàn bà đã âm thầm duy trì sự bình yên mong manh cho khu nhà tập thể này suốt mười tám năm ròng rã bằng những nghi thức cúng lễ kỳ quái vào mỗi dịp rằm và mùng một, người duy nhất nắm giữ chiếc chìa khóa dự phòng bằng đồng mở cánh cửa sắt tầng hầm—bà chắc chắn phải biết điều bí mật này!

Một linh cảm mãnh liệt thôi thúc Mai lao thẳng vào gian phòng ngủ của mẹ mình.

Căn phòng vẫn giữ nguyên vẹn cách bài trí từ ngày bà Hạnh qua đời. Mùi dầu gió Trường Sơn thoang thoảng trộn lẫn với mùi gỗ mục và ẩm mốc bốc lên từ chiếc tủ quần áo bằng gỗ lim ba buồng kê sát góc tường.

Mai quỳ sụp xuống sàn nhà, kéo tung ngăn kéo dưới cùng của chiếc tủ lim—nơi mẹ cô sinh thời luôn cất giữ những kỷ vật cũ kỹ, những tập hóa đơn tiền điện thời bao cấp mục nát, những chiếc biên lai thu tiền vệ sinh và đống sổ sách chợ búa ghi nợ từ những năm 2000.

Cô lục lọi trong một cơn sốt ruột và hoảng loạn tột độ. Giấy tờ cũ bay xào xạc trên mặt chiếu cói. Từng tập biên lai viện phí của bệnh viện Bạch Mai, từng mẩu giấy kẻ ngang ghi chép lịch trực dân phòng của khu phố... Không có gì cả. Toàn là những mảnh vụn của đời sống thường nhật.

Mai cắn chặt môi, mồ hôi ướt đẫm trán. Cô thọc sâu hai tay vào tận cùng góc trong của ngăn kéo, nơi tiếp giáp giữa tấm gỗ đáy và thành tủ. Ngón tay cô chạm phải một vật cộm lên dưới lớp giấy báo lót đã giòn vụn.

Đó là một cuốn sổ tay nhỏ dạy nấu ăn bọc vải hoa đã ố vàng, mép gáy sổ bị gián nhấm nham nhở.

Mai run rẩy cầm cuốn sổ lên, lật nhanh từng trang giấy ố vàng khét lẹt mùi thời gian. Và rồi, từ trong kẹp gáy ở giữa cuốn sổ, một mảnh giấy xi măng thô ráp, dày cộp rơi tuột ra ngoài, chao đảo rơi xuống mặt chiếu cói.

Mảnh giấy bao xi măng ấy bị xé rách nham nhở một bên mép, thớ giấy ngả sang màu nâu sẫm vì khói hương trầm và sự oxy hóa của năm tháng.

Trên mặt giấy ráp gồ ghề, từng nét mực Cửu Long màu xanh học trò của mẹ cô hiện lên run rẩy, vội vã, nhiều chỗ nét chữ bị nhòe nhoẹt đi bởi những giọt nước mắt mặn chát đã khô cứng tự bao năm trước. Từng con chữ như nhảy múa trước mắt Mai:

*“...Nếu chẳng may trong khu nhà có kẻ u mê mở chốt, mang vật của người chết qua bậu cửa trong phút gọi hồn, quyền ngự trị của cõi âm sẽ mở toang cho đến khi máu tươi chảy thành dòng. Không lễ cúng nào có thể xua được, không then khóa sắt thép nào có thể ngăn nổi bước chân oan hồn một khi đã được chính tay người sống mời vào nhà.*

*Muốn hóa giải quyền xâm nhập ngưỡng cửa, người trong nhà phải tự tay đưa vật chứng ấy ra ngoài thềm trước giờ gọi hồn của đêm tiếp theo. Và kẻ mang tội phải quỳ trước ngưỡng cửa gỗ, đọc rõ họ tên người đã khuất ba lần, cúi đầu nhận rõ tội lỗi của mình trước ánh sáng của trời đất và lương tâm. Bằng không, đến đúng đêm thứ ba, ngưỡng cửa sẽ biến thành cửa mả, kẻ có nợ ắt phải đền mạng dưới đáy bùn sâu...”*

Mai run rẩy siết chặt mảnh giấy xi măng rách mép trong lòng bàn tay. Từng câu từng chữ của người mẹ quá cố như một tia sét rạch ngang màn đêm u tối, vạch ra ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết cho căn hộ 204 phía dưới lầu, khi mà bóng tối của đêm thứ ba đang dần dần kéo đến.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories