Vỏ đài và câu chuyện bỏ đi
Ánh sáng ban mai rọi qua lớp bụi mờ khi An bắc chiếc ghế đẩu trèo lên với lấy chiếc đài bán dẫn cổ lỗ sĩ từ nóc tủ phòng khách xuống.
Khoảng không gian trên đỉnh chiếc tủ đứng bằng gỗ dán ép đã phồng rộp vì ẩm mục tựa như một góc thời gian bị bỏ quên suốt gần hai thập kỷ. Khi đôi bàn tay chai sạn của An chạm vào hai bên gờ máy, một lớp bụi tro xám xịt dày quện như lớp màng nhện lâu năm chưa từng có bàn tay người quét qua lập tức vỡ vụn, tỏa ra thành làn khói mù li ti lơ lửng giữa luồng ánh nắng đầu ngày. Chiếc đài National ba băng tần màu đỏ sẫm cũ kỹ, bốn góc cạnh đã sứt mẻ vì va đập thời gian và lớp nhựa tróc lở, phả ra mùi nhựa phenolic lão hóa chua nồng lẫn với mùi dầu máy khô khốc, gắt gợn của những thập niên trước. An thận trọng dùng hai lòng bàn tay giữ chặt thân đài, bước giật lùi từng bước một xuống chiếc ghế đẩu gỗ lim cũ kỹ kêu lên những tiếng cọt kẹt rệu rã. Anh đặt nhẹ khối nhựa nặng trịch lên mặt bàn ăn bốn chỗ—ngay trước mặt chiếc ghế đẩu thứ ba vẫn còn phủ chiếc áo bảo hộ lao động dính vệt bùn đen khô cứng của cha Mai.
Mai đứng sững bên cạnh, hai vai khẽ so lại dưới làn gió sớm lùa qua chấn song sắt gỉ sét. Hơi thở cô dồn dập, đứt quãng sau một đêm dài bị vắt kiệt tinh thần trong nỗi kinh hoàng và những đợt rung chấn vô hình từ lòng đất. Đôi mắt Mai trũng sâu, quầng thâm tím tái vì thiếu ngủ, nhưng bên dưới đáy mắt lại rực lên ngọn lửa căng thẳng tột cùng. Những lời trăn trối run rẩy của linh hồn ông Dũng trước ngưỡng cửa lúc 3 giờ 17 phút sáng vẫn còn văng vẳng bên tai cô, sắc nhọn như mảnh thủy tinh cứa vào từng thớ thịt nơi lồng ngực: *“Trong vỏ đài... có giấy tờ... toàn bộ chứng cứ kỹ thuật năm 2006... Cứu lấy cả ba người chúng cha...”*
An không nói một lời. Sự điềm tĩnh vốn có của một người thợ điện lâu năm giúp anh kìm nén sự chấn động đang cuộn trào trong huyết quản. Anh quỳ một chân xuống sàn gạch bông bạc màu loang lổ những vết ố vàng, với tay mở chiếc hộp đồ nghề bằng tôn mang theo bên mình, rút ra một cây tuốc nơ vít bốn cạnh cán nhựa trong suốt đã ngả màu hổ phách. Đầu thép đã mòn vẹt cắm chặt vào rãnh của con ốc vít rỉ sét đầu tiên ở góc lưng chiếc đài.
*Két.*
Tiếng kim loại ma sát chói tai rít lên trong không gian tĩnh mịch của căn hộ 407, nghe như tiếng xương khớp khô khốc cọ vào nhau. Từng vòng xoắn rỉ đỏ lạo xạo nhả dần ra khỏi lớp vỏ nhựa giòn rụm. An thao tác vô cùng cẩn trọng; từng thớ cơ trên ngón tay anh gồng lên để giữ cho đầu mũi thép không làm trượt mép ốc mục rỗng. Đôi bàn tay thợ điện thường ngày thoăn thoắt bấm cốt, tuốt dây, xử lý những tủ điện ba pha phức tạp giờ đây khẽ run lên từng chặp khó nhận biết. Bốn con ốc vít rỉ sét đen đúa lần lượt rời khỏi thân máy, rơi lách cách xuống mặt bàn gỗ phủ khăn nilon hoa ố màu.
An đặt chiếc tuốc nơ vít sang một bên. Anh dùng đầu móng tay khẽ nạy theo đường gờ nối thân máy. Lẫy nhựa bên trong kêu *tách* một tiếng khô khốc, mảng nắp lưng bằng nhựa sọc ngang bung ra, làm bật tung một làn bụi xám bảng lảng trong vệt nắng ban mai xiên qua khung cửa sổ phòng khách.
Bên trong lòng chiếc đài, một thế giới kỹ thuật của thế kỷ trước hiện ra trần trụi: hệ thống bo mạch bán dẫn màu xanh rêu bám đầy mạng nhện, những tụ điện hóa học đã phồng rộp chân chì, các cuộn cảm quấn dây đồng đỏ đã xỉn màu và chiếc loa điện động tròn xoe bị rách màng giấy. Mùi ẩm mốc tích tụ qua mười tám mùa mưa bão phả thẳng vào mặt hai người. Nhưng điều thu hút tầm mắt của cả An lẫn Mai không nằm ở những vi mạch điện tử ấy.
Khoang chứa pin đại—nơi theo thiết kế ban đầu dùng để lắp bốn viên pin con thỏ cỡ lớn phục vụ những đợt mất điện kéo dài—hoàn toàn trống rỗng, không có lấy một mẩu kim loại tiếp xúc pin. Thay vào đó, chiếm trọn khoảng không gian hình trụ hẹp dài ấy là một bọc thuôn dài, được quấn kín mít bằng nhiều lớp túi nilon chống ẩm màu xanh nhạt, bên ngoài dán chằng chịt các vòng băng keo điện màu đen đã chảy nhựa dính nhớp theo năm tháng.
Mai nín thở, lồng ngực thắt nghẹn lại. Ngón tay cô run rẩy vươn ra. Khi đầu ngón tay cô vừa chạm vào khối bọc ấy, một cảm giác buốt lạnh quen thuộc mơ hồ lại giật nhẹ nơi đầu mút thần kinh, buốt nhói chạy dọc theo sống lưng, như thể hơi lạnh ngấm từ buồng bơm dưới đáy hầm ngập nước mười tám năm trước vẫn còn tích tụ nguyên vẹn nơi này, chờ đợi bàn tay máu mủ của cô chạm tới. Cô cẩn thận rút bọc nilon ra khỏi khoang pin rỗng. Khối bọc nặng hơn cô tưởng tượng, đầm tay và cứng cáp.
An đưa cho cô chiếc dao rọc giấy bằng sắt nhỏ. Mai cẩn thận rạch từng mép băng dính đã biến chất thành một thứ keo đen quánh dính bết vào da gà. Cô tách từng lớp nilon chống ẩm đã ngả màu ố đục, giòn rụm như cánh ve sầu. Bên trong lớp nilon cuối cùng, một xấp giấy gấp làm ba rơi nhẹ ra mặt bàn ăn.
Mùi giấy bãi bằng cũ ẩm mốc, mùi mực in roneo nồng hắc từ đầu những năm 2000 bốc lên sực nức, quyện đặc trong bầu không khí ngột ngạt của căn phòng.
Đó là một tập hồ sơ dày chừng ba mươi trang, gồm các bản sao kê thu chi chi tiết của quỹ sửa chữa gia cố khu tập thể Hòa An năm 2006, kèm theo hàng loạt phiếu xuất kho vật tư và các biên lai giao nhận tiền mặt có chữ ký sống. Ngay trên trang đầu tiên, dưới tiêu đề in đậm bằng máy đánh chữ cơ học: *“BẢNG TỔNG HỢP KINH PHÍ ĐÓNG GÓP GIA CỐ MÓNG VÀ HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC NGẦM KHU TẬP THỂ HÒA AN - ĐỢT 2/2006”*.
Mai lật giở từng trang với đôi bàn tay rét run. Từng con số, từng dòng mục kiểm kê nhảy múa trước mắt cô như những vết roi quất thẳng vào lương tri con người. Tiền mua thép cường độ cao phi 18 dùng cho việc đan lưới móng chịu lực của buồng bơm áp lực đã bị kê khống giá trị lên gấp ba lần so với hóa đơn xuất kho thực tế của đại lý sắt thép; xi măng mác cao PC40 chống thấm chuyên dụng cho các công trình ngầm được lập dự toán thanh toán theo đơn giá ngoại nhập đắt đỏ nhất, nhưng các phiếu xuất kho thực tế kẹp phía sau lại chỉ toàn là xi măng mác thấp PC30 rẻ tiền chuyên dùng để trát vữa tường ngoài.
Các biên bản nghiệm thu vật tư rải rác đều thiếu chữ ký của kỹ sư giám sát kỹ thuật, nhưng ở cột thanh toán tiền mặt lại có đầy đủ chữ ký duyệt chi của Phạm Văn Khang—với tư cách Trưởng ban Quản trị lâm thời. Toàn bộ khoản tiền chênh lệch khổng lồ lên đến hàng trăm triệu đồng—một gia tài có thể mua được cả vài căn nhà mặt phố vào thời điểm năm 2006—đã bốc hơi hoàn toàn khỏi quỹ chung do các hộ dân nghèo chắt bóp từng đồng đóng góp.
Nhưng điều khiến Mai nghẹn ngào, buốt nhói đến từng chân tơ kẽ tóc chính là những tờ giấy xi măng xi mạ màu vàng nâu khổ A4 kẹp rời phía sau xấp tài liệu.
Đó là nét chữ viết tay bằng bút bi xanh đã phai màu, nét chữ gãy gọn, vuông vức, thẳng tắp và đậm chất cơ khí của cha cô—kỹ sư Nguyễn Văn Dũng. Trên nền giấy xi măng thô ráp, ông đã cẩn thận dùng thước kẻ và bút mực đen vẽ lại từng mặt cắt chi tiết của buồng bơm áp lực và kho kỹ thuật tầng hầm, đánh dấu các điểm giao cắt kết cấu bê tông. Đi kèm với bản vẽ là những dòng nhật ký kiểm tra hiện trường đầy tính cảnh báo, nét mực run rẩy vì phẫn nộ và lo âu:
*“Ngày 02/07/2006: Vách hầm buồng bơm xuất hiện ba vết nứt xé dọc kéo dài từ chân móng lên dầm chịu lực phía đông. Vữa trát bên ngoài bong tróc từng mảng lớn, nước ngầm từ lòng đất rỉ mạnh qua khe nứt tạo thành dòng bùn đen tanh hôi. Bê tông đổ thực tế quá nhiều tạp chất cát sỏi thô, không đạt độ chống thấm B6 theo thiết kế ban đầu. Nguy cơ bục túi nước ngầm khi mưa lớn là hiển hiện. Nguy hiểm cận kề!”*
*“Ngày 10/07/2006: Đã báo cáo trực tiếp với anh Khang về nguy cơ bục túi nước ngầm khi cơn bão số 3 đổ bộ vào đất liền. Tôi đã nói rõ: nếu áp lực thủy tĩnh từ hệ thống thoát nước ngầm thành phố dâng cao mà máy bơm tự động bị tê liệt hoặc không vận hành được do lỗi nguồn điện hạ thế, tầng hầm sẽ bị ngập lút nóc trong vòng chưa đầy hai mươi phút. Anh Khang gạt phắt đi, bảo tôi lo hão, yêu cầu tuyệt đối không được nói ra ngoài để tránh làm cư dân hoang mang, ảnh hưởng đến việc thu nốt đợt tiền đóng góp cuối cùng. Chiều nay, chị Lệ thủ quỹ phát hiện hàng loạt hóa đơn khống bên kho vật tư, quyết định giữ lại sổ cái quỹ tiền mặt, kiên quyết không ký duyệt thanh toán đợt ba cho bên nhà thầu sân sau của anh Khang...”*
*“Ngày 14/07/2006: Bão đang áp sát bờ biển, đài báo cấp 11-12 giật cấp 13. Anh Khang hẹn tối mai xuống hầm đối chất ba bên cùng tôi, chị Lệ và anh Phúc để giải quyết dứt điểm sổ sách và thống nhất phương án xử lý sự cố rò rỉ buồng bơm. Tôi cảm thấy bất an tột cùng. Ánh mắt anh Khang mấy ngày nay rất lạ, luôn nhìn chằm chằm vào chiếc cặp tài liệu của tôi. Toàn bộ chứng từ sai phạm rút ruột vật tư và tập nhật ký vết nứt này tôi giấu tạm vào khoang pin vỏ đài ở nhà. Nếu tối mai tôi có bề gì bất trắc, đây là bằng chứng duy nhất cứu lấy danh dự cho ba người chúng tôi trước xóm giềng và pháp luật...”*
Nước mắt Mai ứa ra nóng hổi, lăn dài trên đôi gò má gầy guộc rồi rơi tí tách xuống trang giấy ố vàng, làm nhòe đi một góc chữ viết tay thân thương của người cha. Từng nét chữ như đang sống lại, cất lên tiếng kêu cứu tuyệt vọng từ lòng đất sâu thẳm. Mười tám năm ròng rã, cả khu tập thể này đã ném vào mặt mẹ con cô bản án nghiệt ngã và tàn nhẫn nhất: gia đình của kẻ phản bội, con gái của tên thủ quỹ biển thủ tiền mồ hôi nước mắt rồi bỏ trốn cùng nhân tình. Mười tám năm cô phải cúi gầm mặt lớn lên dưới cái bóng đen nhục nhã, mẹ cô đã héo hon chết dần chết mòn trong nỗi u uất cùng cực.
Nhưng sự thật nghiệt ngã nằm trần trụi ngay trước mắt cô: cha cô chưa từng trốn chạy. Ông cùng bà Lệ và chú Phúc đã đứng lên như những người chính trực cuối cùng để ngăn cản một tội ác rút ruột công trình tàn khốc, để rồi bị dồn vào ngõ cụt và biến mất vĩnh viễn trong đêm giông bão.
Cửa phòng khách bỗng vang lên tiếng gõ vội vã.
*Cộc! Cộc! Cộc!*
Không phải nhịp hai ngắn một dài buốt lạnh lúc nửa đêm làm đông cứng máu trong tim, mà là tiếng gõ dồn dập, dứt khoát của một người bằng xương bằng thịt giữa ban ngày.
“Mai ơi! Mở cửa, tao đây!”
Tiếng của Phan Ngọc Linh vọng qua khe cửa gỗ lim dày cộp. An nhanh chóng bước lại, rút chiếc then sắt hoen gỉ mở cửa. Linh bước xộc vào phòng, trán rịn đầy mồ hôi, chiếc quai túi xách đựng máy tính xách tay đeo trĩu trên một bên vai áo sơ mi đã lấm tấm bụi đường. Nhìn thấy đống giấy tờ trải la liệt trên bàn ăn cạnh chiếc đài bán dẫn bị tháo tung nắp lưng, đôi mắt cô phóng viên điều tra trẻ tuổi lập tức lóe lên tia sáng sắc bén, căng thẳng.
“Mày tìm thấy rồi à?” Linh buông chiếc túi xuống mặt ghế gỗ, lao ngay lại mép bàn, hai tay chống xuống mặt gỗ.
“Cha tao... đêm qua ông ấy đã chỉ cho tao vị trí giấu.” Giọng Mai lạc đi, khàn đặc vì xúc động. Cô run rẩy chỉ ngón tay vào tập sao kê và những tờ giấy xi măng. “Toàn bộ hồ sơ khống năm 2006. Khang đã rút ruột vật tư gia cố tầng hầm. Cha tao ghi lại toàn bộ vết nứt nguy hiểm và sơ đồ buồng bơm trước ngày bão đổ bộ. Họ không hề ôm tiền bỏ trốn, Linh ơi... Họ bị hãm hại!”
Linh lật từng trang giấy với sự chuyên nghiệp lạnh lùng của nghề báo. Đôi mắt cô đảo nhanh qua các chữ số, đối chiếu các mã phiếu xuất kho và những con dấu đỏ đã mờ nhạt theo năm tháng. Bản năng nghề nghiệp giúp cô nhận ra ngay mắt xích tử huyệt của toàn bộ câu chuyện:
“Nếu đây là bản sao lưu nội bộ và nhật ký hiện trường mà chú Dũng bí mật giữ lại, vậy bản quyết toán lưu chiêu nộp cho ủy ban nhân dân phường và lưu trữ ở phòng sinh hoạt tổ dân phố chắc chắn phải có điểm bất thường mang tính ngụy tạo. Khang không thể tự dưng bịa ra câu chuyện ba người ôm tiền bỏ trốn nếu không có giấy tờ giả mạo để hợp thức hóa việc quyết toán công trình trước chính quyền vào thời điểm đó.”
“Nhưng tủ hồ sơ lưu trữ của khu tập thể nằm ở phòng sinh hoạt chung dưới tầng một,” An lo ngại lên tiếng, ánh mắt nhìn ra phía hành lang vắng lặng. “Ổ khóa tủ sắt do chính ông Khang quản lý suốt mười mấy năm qua. Ông ta canh chừng nơi đó như canh chừng mạng sống của mình, chưa từng cho ai tùy tiện động vào.”
“Sáng nay phòng sinh hoạt đang mở cửa để quét dọn,” Linh đáp ngay, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười quả quyết. “Bà Hòa và mấy bác cựu chiến binh đang kê lại bàn ghế chuẩn bị cho cuộc họp tổ dân phố bất thường diễn ra lúc hai giờ chiều nay. Tao vừa đi ngang qua thấy cửa he hé, còn lão Khang thì vừa phóng xe máy lên ủy ban phường xin thêm biểu mẫu giải tỏa đền bù. An, Mai, đưa xấp tài liệu này cho tao. Tao xuống chụp lại bản quyết toán lưu trữ năm 2006 đối chiếu ngay bây giờ. Có tao là phóng viên lạ mặt lảng vảng với danh nghĩa tìm hiểu đời sống cư dân trước di dời, người ta sẽ không cảnh giác bằng việc hai người xuất hiện.”
Không chần chừ thêm một giây, Linh cẩn thận kẹp tập tài liệu của ông Dũng vào cặp hồ sơ cá nhân, rút chiếc máy ảnh kỹ thuật số mini đeo vào cổ tay rồi thoăn thoắt bước ra hành lang, tiếng bước chân vội vã chìm dần xuống cầu thang bộ. Mai và An đứng tựa vào lan can hành lang tầng bốn, dõi mắt nhìn xuống khoảng sân chung phía dưới. Không khí khu nhà oi nồm, đặc quánh một thứ áp lực vô hình như bầu khí quyển trước một cơn dông sét khổng lồ của mùa hạ. Từng mảng rêu phong bám trên tường vôi lở loét như những vết chàm đen đúa của quá khứ đang rỉ máu.
Gần bốn mươi phút trôi qua trong sự im lặng căng thẳng đến nghẹt thở. Từng tích tắc đồng hồ trôi qua chậm chạp như tra tấn.
Cuối cùng, tiếng bước chân quen thuộc lại dồn dập vang lên từ chiếu nghỉ tầng bốn. Linh quay trở lại căn hộ 407. Cánh cửa gỗ lim vừa khép chặt lại và then sắt vừa gài vào chốt, cô liền rút ngay chiếc điện thoại và mở máy ảnh kỹ thuật số ra, gương mặt tái nhợt vì sốc nhưng ánh mắt tràn ngập sự phẫn nộ tột cùng.
“Đúng như tao dự đoán!” Linh đập mạnh xấp ảnh vừa in vội từ máy in di động trong ba lô xuống mặt bàn ăn. “Tao đã mở được ngăn hồ sơ lưu trữ kỹ thuật năm 2006 trong tủ sắt phòng sinh hoạt. Bọn mày nhìn đi!”
Trên màn hình máy ảnh và các bản in sắc nét, bức ảnh chụp cận cảnh trang cuối cùng của *Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình gia cố tầng hầm* hiện lên rõ mồn một từng chi tiết cơ học. Ở mục chữ ký của Trưởng ban nghiệm thu kỹ thuật—nơi đáng lẽ phải là họ tên và chữ ký của kỹ sư Nguyễn Văn Dũng—nét chữ ký ban đầu đã bị cạo tẩy trắng xóa bằng hóa chất tẩy mực chuyên dụng, để lại một vệt ố vàng nham nhở làm mủn cả thớ giấy bãi bằng. Đè lên trên vết tẩy xóa thô bạo ấy là một chữ ký mạo danh vụng về bằng mực bút bi đen, bên dưới đóng dấu xác nhận khống của Ban Quản trị do chính tay Phạm Văn Khang ký duyệt.
“Số tiền quyết toán khống được hợp thức hóa trên giấy tờ nộp lên phường là hai trăm bốn mươi lăm triệu đồng chẵn,” Linh nghiến răng, giọng căm phẫn đến run rẩy. “Chúng đã dùng hóa chất xóa sạch chữ ký phản đối của chú Dũng và cô Lệ, biến một công trình bớt xén nguy hiểm, một cái bẫy chết người thành công trình hoàn thành đạt chuẩn kỹ thuật. Sau đó, đêm bão ập đến, chúng đẩy cả ba người xuống hầm, vu cáo họ ôm số tiền đó bỏ trốn. Hai trăm bốn mươi lăm triệu đồng năm ấy... thực chất chưa từng rời khỏi khu nhà này theo chân bất kỳ ai. Nó đã chảy thẳng vào túi Khang và đường dây của ông ta để mua nhà, sắm đất cho con cái lão!”
Lồng ngực Mai phập phồng dữ dội. Từng mảnh ghép đẫm máu, u tối của mười tám năm trước giờ đây đã ráp nối hoàn chỉnh thành một bức tranh tàn bạo đến ghê người: danh dự của cha cô, tính mạng của ba con người vô tội đã bị chôn vùi vĩnh viễn dưới bùn sâu tăm tối chỉ để che đậy cho những bao xi măng bị rút ruột, những thanh thép bị bớt xén và hàng trăm triệu đồng tiền tham ô bẩn thỉu.
***
Đúng hai giờ chiều hôm đó, khoảng sân chung khu tập thể Hòa An trở nên ngột ngạt đến mức dường như không khí cũng có thể bốc cháy.
Dưới tàng cây bàng cổ thụ xơ xác lá vì sâu róm và nắng hạn, những chiếc ghế nhựa màu xanh đỏ được xếp ngay ngắn thành từng hàng dài chật chội. Chiếc loa nén sắt gỉ sét mắc trên chạc ba thân cây bàng rỉ rè phát ra những hồi thông báo triệu tập khẩn cấp của tổ dân phố, âm thanh the thé chói tai như tiếng kim khí cọ vào lòng máng xối. Mùi khói bếp than tổ ong ngun ngút lẩn khuất trong cái nóng hầm hập của buổi chiều muộn, quyện với mùi xú khí tanh nồng bốc lên từ rãnh nước đen ngòm quanh lối cầu thang thoát hiểm phía đông tạo thành một thứ mùi vị ngột ngạt, buồn nôn.
Gần ba mươi hộ dân còn lại trong toàn bộ khu nhà đều có mặt đông đủ. Những gương mặt hằn sâu nếp nhăn thời gian, xám xịt vì kham khổ, lam lũ và mỏi mòn qua hàng chục năm bám víu nơi khu tập thể xập xệ này. Họ ngồi túm tụm thành từng cụm nhỏ, xì xào bàn tán về giá đền bù giải tỏa, về mức hỗ trợ tái định cư ở khu đô thị mới xa xôi ngoài vành đai ba, về tương lai bấp bênh khi phải rời khỏi mảnh đất trung tâm này.
Trên chiếc bàn dài trải tấm khăn vải hoa sờn rách đặt dưới bóng râm cây bàng, ông Phạm Văn Khang ngồi ở vị trí chủ tọa. Ông ta mặc một chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh nhạt cài cúc phẳng phiu, mái tóc hoa râm chải chuốt cẩn thận ngược về phía sau, gương mặt chữ điền toát lên vẻ điềm đạm, nhân từ và từng trải của một người cán bộ hưu trí cả đời tận tụy vì khu dân phố. Trước mặt ông ta là tập biên bản dày cộp in sẵn các điều khoản đồng thuận bàn giao mặt bằng di dời, cùng một con dấu đỏ tươi của ban đại diện lâm thời nằm cạnh chiếc bút máy kim loại sáng bóng.
Ngồi ngay cạnh bàn chủ tọa, Đỗ Thu Thảo khoanh hai tay trước ngực, ánh mắt sắc như dao cau liên tục quét ngược lên phía lối cầu thang dẫn lên các tầng trên. Chiếc váy hoa sẫm màu đắt tiền và đôi bông tai vàng chóe đung đưa theo từng cử động càng làm tôn lên vẻ chua ngoa, sốt ruột và ngạo mạn trên gương mặt người đàn bà ngoài ba mươi tuổi.
Khi Mai, An và Linh cùng bước xuống khoảng sân chung, những tiếng xì xào bàn tán lập tức ngưng bặt.
Vô số ánh mắt của cư dân đồng loạt đổ dồn về phía ba người—những ánh mắt pha trộn giữa sự tò mò, dè bỉu, thương hại và cả sự cảnh giác đầy ác cảm tích tụ qua nhiều thế hệ. Tiếng dép lê lẹp xẹp trên nền xi măng nứt nẻ bỗng trở nên rõ mồn một.
Ông Khang khẽ hắng giọng, nụ cười hòa nhã thường trực xuất hiện trên khóe môi, ánh mắt ông ta nheo lại đầy vẻ ân cần:
“Kìa, cháu Mai đã xuống rồi. Mời cháu và các bạn lại đây ngồi vào hàng ghế đầu. Hôm nay tổ dân phố chúng ta họp bất thường để giải quyết dứt điểm việc hoàn thiện hồ sơ dự án cải tạo, di dời khu tập thể Hòa An theo đúng tiến độ của ủy ban nhân dân quận. Đến giờ phút này, toàn bộ hai mươi chín hộ gia đình đã ký kết đầy đủ biên bản đồng thuận, chỉ còn lại duy nhất căn hộ 407 của gia đình cháu Mai là chưa hoàn tất thủ tục ủy quyền đại diện. Bác đã chuẩn bị sẵn giấy tờ pháp lý đầy đủ đây rồi, cháu chỉ cần ký một chữ là toàn bộ hồ sơ của cả khu nhà chúng ta sẽ được nộp thẳng lên ban bồi thường ngay trong sáng mai. Tiền tạm ứng bồi thường đợt một sẽ về tài khoản của bà con nội trong tuần tới.”
Những tiếng vỗ tay lẹt đẹt, rời rạc vang lên từ vài hộ dân thân cận ngồi ở hai dãy ghế đầu. Nhưng chưa để Mai kịp bước tới mép bàn, Đỗ Thu Thảo đã bật phắt dậy khỏi chiếc ghế nhựa, lực đẩy mạnh đến mức làm chân ghế xô mạnh ra sau, cọ xuống nền xi măng phát ra tiếng ken két chói tai.
“Ký đi chứ còn đợi ai thỉnh nữa hỡi cô Mai!” Thảo lớn tiếng, ngón tay trỏ sơn móng đỏ chót chĩa thẳng vào mặt Mai giữa chốn đông người. “Cô về đây lo hậu sự cho mẹ cô hay về để làm mình làm mẩy, làm khó làm dễ xóm giềng này? Cô nhìn lại xem ở cái khu tập thể rách nát này có ai sướng như cô không? Cô có học thức, có công ăn việc làm đàng hoàng ngoài xã hội, ở chung cư cao cấp, đi xe đẹp, còn những người nghèo như chúng tôi phải bám víu ở cái chuồng cọp mục nát, mưa dột nắng nung này suốt bao nhiêu năm trời!”
Cả khoảng sân chung im phăng phắc. Gió trưa đứng sững, chỉ còn tiếng Thảo the thé như xé vải đập thẳng vào màng nhĩ mọi người:
“Một chữ ký đỏng đảnh của cô đang cản trở chén cơm, cản trở tiền đền bù của hàng chục con người đang mòn mỏi chờ đợi đấy! Cô định ôm khư khư cái căn hộ 407 ma ám rách nát ấy để làm giá với chủ đầu tư, vòi thêm tiền bồi thường cá nhân có đúng không? Đêm hôm thì làm trò ma quỷ, kéo xích sắt ầm ầm trên trần nhà người ta làm con tao không ngủ được, ban ngày thì dở chứng không chịu ký tá! Tôi nói cho cô biết, mẹ tôi—bà Đỗ Thị Lệ—năm xưa cũng vì dính líu đến cái nhà cô mà mang tiếng xấu ôm tiền quỹ bỏ trốn, để lại tôi chịu nhục nhã, bị người đời khinh bỉ suốt mười tám năm qua. Giờ cô định biến cái khu này thành mồ chôn tương lai của con tôi nữa hay sao?”
Những lời công kích cay nghiệt, đánh trúng vào tâm lý nôn nóng muốn nhận tiền của Thảo như một mồi lửa ném thẳng vào đống rơm khô. Dưới sân, tiếng xì xào đồng tình bắt đầu rộ lên, lan nhanh như vết dầu loang từ các bậc cao niên:
“Ký đi cháu ơi, đừng làm khổ người già chúng tôi nữa...”
“Phải đấy, nhà nào cũng ký biên bản bàn giao cả rồi, một mình căn hộ 407 dùng dằng làm gì cho tắc nghẽn dự án...”
“Nghĩ cho cái xóm này một chút chứ cháu Mai, dự án mà bị chủ đầu tư rút vốn treo lại thì dân nghèo chúng tôi biết bấu víu vào đâu mà dọn đi...”
“Đúng đấy, giải tỏa sớm ngày nào dân đỡ khổ ngày ấy...”
Áp lực đám đông bủa vây nghẹt thở như những đợt sóng ngầm muốn nuốt chửng lấy cô gái trẻ. Mai đứng sững giữa tâm bão phẫn nộ và những ánh nhìn phán xét tàn nhẫn của cộng đồng, nhưng hai bàn tay cô siết chặt lại thành nắm đấm bên hông, bờ vai thẳng tắp không hề run rẩy. Lồng ngực cô cuộn trào một nỗi xót xa vô hạn cho người cha đang nằm dưới đáy bùn lạnh lẽo không một nén nhang, và cả nỗi thương hại cay đắng, xót xa dành cho chính Đỗ Thu Thảo—người con gái cũng mồ côi mẹ, chịu đựng nỗi ô nhục mười tám năm qua nhưng lại đang dốc hết sức bình sinh để bảo vệ, bợ đỡ cho chính kẻ đã đẩy mẹ mình xuống vực sâu tăm tối.
Mai bước lên một bước dài, đứng đối diện trực tiếp với chiếc bàn dài của ban chủ tọa, cách Phạm Văn Khang chỉ một sải tay. Ánh mắt cô quét qua từng gương mặt quen thuộc từ thuở ấu thơ—những người từng chia cho cô bát canh cua, củ khoai nướng năm nào nhưng giờ đây đang vì đồng tiền mà mù quáng—rồi dừng lại trừng trừng trên nét mặt điềm đạm giả tạo của Phạm Văn Khang.
“Cháu sẽ không ký bất kỳ biên bản ủy quyền nào hôm nay,” giọng Mai cất lên, rõ ràng, đanh thép và vang vọng khắp khoảng sân chung dưới bóng cây bàng cổ thụ.
Đám đông lập tức ồ lên kinh ngạc. Tiếng la ó, xôn xao bắt đầu bùng phát từ các dãy ghế sau.
“Cô nói cái gì? Cô dám...” Thảo trừng mắt, hai hàm răng nghiến chặt, chực lao tới nắm lấy cổ áo Mai.
“Tôi nói là tôi từ chối ký giấy ủy quyền di dời!” Mai ngắt lời Thảo bằng một âm lượng dứt khoát, uy lực đến mức khiến người đàn bà hung hãn kia phải khựng lại giữa chừng. “Và với tư cách là người thừa kế hợp pháp duy nhất của căn hộ 407, tôi chính thức tuyên bố tạm hoãn vô thời hạn việc chuyển nhượng, giải tỏa căn hộ này!”
Ông Khang nheo mắt lại, nụ cười hòa nhã trên khóe môi ông ta từ từ đông cứng lại thành một đường chỉ mỏng dính, lạnh lẽo. Ánh mắt ông ta sâu hoắm, tối sầm lại trong tích tắc:
“Cháu Mai, cháu đừng bồng bột như thế. Việc di dời, giải tỏa là chủ trương chung của thành phố, liên quan trực tiếp đến quyền lợi sống còn, an sinh xã hội của cả tập thể ba mươi hộ dân ở đây. Căn hộ của cháu mẹ cháu đã mất, cháu cũng đã có nơi ăn chốn ở ổn định bên ngoài, cháu cố tình giữ lại căn nhà nát này để làm gì?”
“Cháu giữ lại để xác minh sự thật về sự mất tích của cha cháu—kỹ sư Nguyễn Văn Dũng!”
Mai nhìn thẳng vào mắt Khang, từng chữ thốt ra như nhát búa tạ nện thẳng xuống mặt bàn gỗ.
“Mười tám năm trước, ban quản trị do chính bác đứng đầu đã tuyên bố với chính quyền phường và toàn thể cư dân rằng cha cháu, bà Đỗ Thị Lệ và chú Bùi Văn Phúc đã ôm tiền quỹ sửa chữa bỏ trốn cùng nhau trong đêm bão số 3. Nhưng hôm nay, trước mặt toàn thể bà con khu tập thể Hòa An, cháu khẳng định: họ không hề ôm tiền bỏ trốn! Họ chưa từng rời khỏi khu tập thể này một bước nào!”
Cả sân chung chết lặng trong một sự im ắng dị thường, rợn ngợp.
Cái tên của ba con người mất tích sau mười tám năm bị coi là điều cấm kỵ, là vết nhơ của khu nhà nay bỗng nhiên bị xới tung lên giữa thanh thiên bạch nhật, dưới ánh sáng mặt trời gay gắt. Bà Hòa ngồi co ro bên góc quán nước dưới chân cầu thang, đôi bàn tay gầy guộc khô khốc run rẩy làm chén nước chè sóng sánh đổ tràn ra chiếc đĩa nhựa, mắt bà nhìn Mai trân trối đầy kinh hãi như nhìn thấy người cõi âm hiện về.
Sắc mặt của Phạm Văn Khang biến đổi hoàn toàn trong chớp mắt. Lớp vỏ bọc điềm tĩnh, mực thước, nhân từ của người cựu cán bộ khu phố nứt toác ra, để lộ một tia nhìn u tối, sắc lạnh và tàn nhẫn như thép nguội dưới đáy giếng sâu. Đôi bàn tay đặt trên mặt bàn của ông ta khẽ co quắp lại, các đầu ngón tay ghim chặt vào mép tập tài liệu. Dù vậy, với bản lĩnh của một kẻ đã che đậy tội ác suốt gần hai thập kỷ, Khang vẫn hít sâu một hơi, cố đè nén cơn thịnh nộ đang chực bùng phát, chậm rãi đứng dậy khỏi chiếc ghế chủ tọa.
“Cháu Mai à,” giọng ông Khang trầm xuống một cách đáng sợ, mang theo một sức nặng răn đe ngấm ngầm khiến không khí xung quanh dường như hạ xuống vài độ, “chuyện năm 2006 công an khu vực và chính quyền đã thụ lý, lập hồ sơ kết luận mất tích từ lâu rồi. Bác hiểu cháu thương cha, lại vừa lo tang ma cho mẹ nên tâm lý bất ổn, dễ bị những kẻ xấu có dã tâm bên ngoài xúi giục, đâm ra hoang tưởng, nhìn gà hóa cuốc.”
Ông ta đưa mắt liếc xéo qua Linh và An đang đứng sừng sững như hai bức tường bảo vệ phía sau lưng Mai, rồi tiếp tục buông từng lời cảnh cáo nặng trịch, sắc nhọn:
“Người chết thì cũng đã xanh cỏ rồi. Quá khứ đã khép lại mười tám năm nay, việc cháu cố tình bới móc lại những chuyện không đâu, dựng chuyện vu khống không chỉ hoàn toàn vô ích, mà nó còn có thể phá hỏng cả chén cơm, dập tắt con đường sống của mấy chục hộ gia đình nghèo khổ ở khu nhà này đấy. Đừng để sự cố chấp và ích kỷ cá nhân biến mình thành kẻ thù không đội trời chung của toàn bộ xóm giềng, cháu hiểu rõ điều đó chưa?”
Lời cảnh báo sắc lạnh như một lưỡi dao găm giấu kỹ trong bọc nhung lụa. Cả khoảng sân như đông cứng lại trước uy quyền và sự đe dọa không hề che giấu của người đàn ông đã nắm giữ vận mệnh khu tập thể này suốt hai mươi năm trời. Một vài người dân lớn tuổi khẽ rùng mình, lén lút nhìn nhau rồi cúi gầm mặt xuống đất.
Nhưng Mai không hề lùi bước dù chỉ nửa bước chân. Cô ngẩng cao đầu, ánh mắt rực lửa không hề chớp lấy một lần trước cái nhìn hiểm độc của Khang:
“Ai là kẻ phá hỏng chén cơm của người khác, ai là kẻ mang tội ác tày trời với cả người sống lẫn người chết, sự thật sẽ sớm được pháp luật và công lý làm sáng tỏ! Cháu nhắc lại một lần cuối: căn hộ 407 sẽ không bao giờ được ký bán hay bàn giao chừng nào sự thật về đêm bão năm 2006 chưa được phơi bày ra ánh sáng!”
Nói đoạn, không đợi bất kỳ phản ứng nào từ đám đông đang bắt đầu nhốn nháo hoang mang tột độ, Mai dứt khoát xoay người bước đi. An và Linh lập tức áp sát hai bên, tạo thành một khối vững chãi bảo vệ cô trước những ánh mắt hằn học, những tiếng xì xào hoảng loạn và tiếng gào thét chửi rủa điên cuồng của Đỗ Thu Thảo đang đuổi theo sau lưng.
***
Cánh cửa gỗ lim của căn hộ 407 sập mạnh lại, then cài sắt dày nặng được An đẩy dứt khoát vào chốt với một tiếng *cạch* khô khốc, cắt đứt hoàn toàn những tiếng ồn ào thù địch và sự ngột ngạt đang sôi sục dưới sân chung.
Căn phòng khách lại chìm vào sự yên ắng nặng nề, u uất. Vệt nắng chiều muộn đã ngả sang màu vàng vọt ảm đạm, nhuộm đỏ những thớ gỗ cũ kỹ của chiếc bàn ăn và bộ ấm chén phủ đầy bụi thời gian.
Mai tựa lưng vào cánh cửa khép chặt, hai chân cô bỗng mềm nhũn ra, lồng ngực phập phồng dồn dập trong cơn giải phóng adrenaline. Những giọt mồ hôi lạnh rịn ra ướt đẫm vầng trán và hai bên thái dương. Cô vừa vượt qua lằn ranh nguy hiểm nhất trong cuộc đời mình: công khai tuyên chiến với Phạm Văn Khang và đối đầu trực diện với sự phẫn nộ của cả một cộng đồng dân cư. Nhưng kỳ lạ thay, trong sâu thẳm tâm can cô lúc này không hề có sự sợ hãi, chỉ có một ngọn lửa kiên định và một nỗi thanh thản lạ kỳ khi bóng ma nhục nhã mười tám năm qua cuối cùng đã bị xé toạc.
“Mày làm tốt lắm, Mai,” Linh kéo chiếc ghế đẩu ngồi xuống, nhanh chóng mở chiếc máy tính xách tay đặt lên bàn. “Thái độ run rẩy và ánh mắt độc ác của lão Khang chiều nay chính là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy lão đang hoảng loạn tột độ. Tao đã tải toàn bộ ảnh chụp bản nghiệm thu bị cạo sửa, tài liệu sao kê khống và tập nhật ký của chú Dũng lên ba máy chủ đám mây độc lập. Sáng mai tao sẽ trực tiếp mang hồ sơ này đến gặp một anh điều tra viên cao cấp bên Công an thành phố mà tòa soạn tao từng phối hợp làm việc để đề nghị can thiệp nghiệp vụ khẩn cấp.”
An không nói một lời nào. Kể từ khoảnh khắc bước chân trở lại căn phòng 407, người kỹ sư điện trẻ tuổi chìm vào một sự im lặng khác thường, u uất và nặng nề như một khối đá tảng. Anh kéo chiếc ghế đẩu còn lại tiến lại gần góc bàn ăn, nơi tập hồ sơ kỹ thuật thu chi và các bản vẽ sơ đồ mặt cắt tầng hầm của ông Dũng vẫn đang mở rộng dưới ánh sáng vàng đục của bóng đèn tuýp cũ.
Bàn tay chai sạn của An lật nhẹ từng trang giấy xi măng thô ráp. Đôi mắt người thợ điện quen nhìn các mạch dây phức tạp bỗng nhiên dừng sững lại ở trang áp chót—một bản vẽ sơ đồ đấu nối chi tiết nhánh điện ba pha ngầm dẫn từ tum kỹ thuật tầng mái chạy thẳng xuống buồng bơm cao áp dưới đáy hầm.
Đó là một bản phụ lục kỹ thuật bổ sung được lập vào ngày 12 tháng 7 năm 2006—chỉ đúng ba ngày trước đêm giông bão định mệnh làm biến mất ba con người.
Đột nhiên, đồng tử của An co thắt dữ dội. Toàn bộ cơ thể anh cứng đờ như bị một luồng điện cao thế chạy dọc qua xương tủy. Hơi thở anh nghẹn ứ lại nơi cuống họng, phát ra một tiếng nấc nghẹn khô khốc. Mười đầu ngón tay anh bấu chặt vào mép tờ giấy xi măng, bấu mạnh đến mức khiến thớ giấy dày nhăn nhúm, rách toạc một đường nhỏ.
“An? Anh sao thế? Có chuyện gì bất thường à?”
Mai nhận ra sự biến đổi kinh hoàng trên sắc mặt của người bạn đồng hành, vội vã bước nhanh lại cạnh chiếc bàn ăn.
An không ngẩng đầu lên. Gương mặt người đàn ông trẻ tuổi trắng bệch không còn một giọt máu, các thớ cơ trên gò má và khóe miệng anh giật giật từng cơn trong một cơn bàng hoàng, đau đớn tột cùng. Anh từ từ run rẩy đưa ngón tay trỏ chỉ vào góc dưới cùng bên phải của bản vẽ kỹ thuật điện ngầm.
Tại vị trí đó, ở ô mục *“Người kiểm tra và hiệu chỉnh sơ đồ trạm điện kỹ thuật ngầm”*, có một ký hiệu nghiệm thu viết tắt bằng nét bút bi đỏ đậm nét, gãy gọn: *“V.Đ.T - ĐKT”*.
Và ngay bên cạnh dòng ký hiệu viết tắt ấy là một con dấu kỹ thuật hình tròn bằng mực xanh đã phai mờ theo năm tháng, nhưng các dòng chữ khắc nổi bên trong vẫn hiện lên sắc nét, tàn nhẫn và chuẩn xác đến rợn người:
*KỸ SƯ ĐIỆN VŨ ĐỨC TỰ - XÍ NGHIỆP XÂY LẮP ĐIỆN HÀ NỘI.*
Nét chữ ghi chú kỹ thuật viết tay bên cạnh con dấu nắn nót từng chữ số theo thói quen nghề nghiệp của một người thợ điện lão thành: *“Đã kiểm tra nhánh ngắt điện riêng buồng bơm từ hộp điều khiển tầng mái. Đảm bảo cô lập độc lập nguồn điện hạ thế buồng ngầm theo lệnh điều hành.”*
Mai đứng sững như trời trồng giữa căn phòng khách. Dòng máu nóng trong huyết quản cô như đông cứng lại thành băng tuyết.
Vũ Đức Tự.
Cha ruột của An.
Người thợ điện già khắt khe, ít nói, sống lầm lũi suốt hàng chục năm qua tại căn hộ tầng hai ngay dưới chân cầu thang thoát hiểm. Người đàn ông từng dạy An cách cầm từng chiếc tuốc nơ vít, dạy anh từng nguyên lý an toàn điện. Người vừa mới đêm hôm trước còn đứng ở chiếu nghỉ khuyên Mai nên mau chóng bán nhà, ký giấy di dời để “người chết được yên thân”. Người đã trực tiếp leo lên tum kỹ thuật tầng mái, đặt con dấu kỹ thuật định mệnh của mình vào bản vẽ cô lập nguồn điện máy bơm tầng hầm—để rồi đúng 3 giờ 17 phút sáng cơn bão đổ bộ, buồng bơm bị ngắt điện hoàn toàn, biến tầng hầm thành một cái bẫy nước lút nóc chôn sống ba con người.
An gục đầu xuống hai bàn tay thô ráp, những ngón tay vò chặt lấy mái tóc ngắn trong một nỗi đau đớn đến xé toạc tâm can. Niềm tin, sự kính trọng cả đời anh dành cho người cha mẫu mực, liêm khiết bỗng chốc sụp đổ tan tành thành từng mảnh vụn tro tàn ngay trước mắt anh.
Không gian căn phòng 407 rơi vào một khoảng câm lặng buốt giá, nặng nề và nghẹt thở hơn cả bóng đêm dày đặc của cõi âm ti.
***
Đêm hôm đó, bóng tối đen đặc quánh lại như mực tàu, trùm lên toàn bộ khối bê tông rệu rã của khu tập thể Hòa An như một tấm vải liệm khổng lồ của một ngôi mộ tập thể.
Gió ngoài trời ngưng thổi hoàn toàn. Không khí oi nồng, bức bối đến nghẹt thở tích tụ hơi ẩm từ lòng đất bốc lên nồng nặc. Cả dãy nhà bốn tầng chìm trong một sự im lìm ma quái, dị thường sau một ngày bị chấn động dữ dội bởi những lời tuyên bố đanh thép của Mai dưới khoảng sân chung. Không một tiếng cười nói, không một tiếng tivi phát thanh, dường như mọi ô cửa sổ đều đóng kín mít trong sự ngờ vực và nỗi sợ hãi vô hình đang len lỏi qua từng khe gạch.
Bên trong căn phòng 407, ba con người ngồi bất động trong bóng tối lờ mờ. Ánh sáng từ màn hình chiếc đồng hồ kỹ thuật số để bàn chuyển từng vạch số đỏ lòm trong sự câm lặng tuyệt đối:
03:16:58...
03:16:59...
03:17:00.
Đêm nay, hành lang tầng bốn trước cửa căn hộ 407 hoàn toàn tĩnh lặng. Không có luồng khí buốt giá thấu xương nào quét qua khe cửa sổ, không có tiếng kim loại lê thê trên nền bê tông, và cũng không có một giọt bùn đen tanh tưởi nào rỉ qua bậc cửa gỗ lim. Nỗi oan khiên của người cha dường như đã được xoa dịu khi bằng chứng tìm thấy ánh sáng.
Nhưng sâu bên dưới, tại khúc quanh tăm tối của hành lang tầng hai, một biến chuyển kinh hoàng khác bắt đầu cựa mình thức giấc.
Một luồng tử khí tanh nồng mùi rỉ sắt, ngai ngái mùi xác phân hủy và nồng nặc mùi bùn lầy buốt giá bắt đầu cuộn trào lên từ phía chân cầu thang thoát hiểm phía đông. Luồng khí lạnh đặc quánh ấy bò trườn trên mặt sàn gạch bông ẩm ướt, thổi tắt ngọn đèn quả ớt leo lét trên bàn thờ thổ công gắn ở góc tường.
Đêm đó, ngay trước cánh cửa sắt hoen gỉ của căn hộ ông Vũ Đức Tự ở tầng hai, tiếng kim loại lách cách rợn người của chiếc tuốc nơ vít gõ nhịp hai ngắn một dài bắt đầu vang lên lạnh lẽo lúc 3 giờ 17 phút.