Lời nói của người mẹ đã chết
Ánh sáng nhờ nhờ của ngọn đèn bàn hắt lên mảnh giấy ố vàng rách mép vừa rơi ra từ đáy kẹp hồ sơ gia đình của bà Hạnh.
Mảnh giấy bao xi măng thô ráp nằm im lìm trên mặt chiếu cói, những dòng mực Cửu Long màu xanh đã xỉn màu như máu khô, phơi bày từng nét chữ sắc lạnh về quy tắc nghiệt ngã để hóa giải ngưỡng cửa đang đe dọa nuốt chửng căn hộ 204 của cha con ông Tự. Từng vệt ố loang lổ trên thớ giấy ráp như những vết sẹo cũ kỹ của thời gian, bốc lên thứ mùi ẩm mốc lẫn mùn cưa mục rữa đặc trưng của khu nhà tập thể Hòa An sau những đợt nồm kéo dài. Nhưng ngay khoảnh khắc ngón tay Mai trượt khỏi mép giấy ráp để miết sâu vào lớp báo Nhân Dân lót đáy ngăn kéo đã mủn nát tự bao giờ, đầu ngón tay trỏ của cô bất chợt vấp phải một gờ gỗ nổi lên bất thường.
Đó là một điểm cộm cứng nhắc, nằm lẩn khuất dưới lớp giấy in lem luốc những dòng tin tức từ thập niên chín mươi.
Chiếc tủ ba buồng bằng gỗ hương này vốn là thứ của hồi môn duy nhất còn sót lại từ thời bao cấp mà mẹ cô nâng niu như chính sinh mệnh mình. Suốt mấy chục năm dầm dãi trong gian buồng ẩm thấp của tầng bốn, lớp véc-ni màu cánh gián nguyên thủy đã sẫm lại thành sắc đen mun của gỗ lim ngâm bùn, tỏa ra thứ mùi gỗ cũ ngai ngái, nồng gắt, quyện đặc với khói trầm bài và những viên long não vỡ vụn nơi góc kẹt. Mai quỳ sụp hai đầu gối xuống sàn xi măng lạnh buốt, chiếc quần vải thô mỏng manh không đủ ngăn cái lạnh buốt xương của nền nhà thấm qua da thịt. Cô cúi rạp người, đưa chiếc đèn pin mini bấm sáng, rọi luồng ánh sáng trắng xanh le lói vào khoảng trống sâu hun hút nơi ngăn kéo vừa được rút hẳn ra ngoài.
Ở sát vách lưng trong cùng, nơi ánh sáng ban ngày không bao giờ chạm tới được, tấm đáy tủ không hề liền mạch như vẻ ngoài thô mộc của nó. Một đường chỉ mộc mỏng như sợi tóc, tinh vi đến mức nếu không dùng đầu móng tay dò dẫm từng milimét thì chẳng một con mắt trần tục nào có thể phân biệt nổi với những thớ vân gỗ tự nhiên. Đường chỉ ấy chia đôi đáy ngăn kéo thành hai tầng riêng biệt, một kỹ thuật giấu đồ tinh xảo của những người thợ mộc Nam Định thời chiến tranh.
Tim Mai đập thình thịch vào lồng ngực, dội lên từng hồi tức nghẹn nơi cuống họng. Đôi bàn tay cô run rẩy bấu lấy chiếc kéo bấm kim loại nhỏ dùng để cắt chỉ trên bàn máy khâu, cẩn trọng luồn đầu mũi kéo sắc nhọn vào khe hở mỏng manh kia rồi bẩy nhẹ lên.
Một tiếng “cạch” khô khốc, đanh gọn vang lên giữa không gian tĩnh mịch của căn phòng 407.
Tấm ván ép mỏng bung chốt ngậm bằng then gỗ chìm, từ từ bật lên, để lộ ra một hộc ngầm hẹp dài chỉ vừa vặn bằng bàn tay người lớn xòe ra.
Không có dây chuyền vàng lá hay cuốn sổ tiết kiệm hoa dâu nào nằm trong đó như Mai từng mường tượng về những tích cóp phòng thân của một người đàn bà góa bụa. Nằm lọt thỏm giữa lòng hộc gỗ phủ đầy bụi mịn chỉ có một bọc vải dù màu chàm đã sờn rách hết các đường biên chỉ, được thắt nút chéo cẩn thận bằng một sợi dây dù quân đội màu cỏ úa bấm đầu bọc thiếc.
Mai run rẩy đưa tay nhấc bọc vải ra. Sợi dây dù thắt nút ba vòng đã chai cứng lại qua năm tháng, khiến mười đầu ngón tay cô đau nhói khi cố gỡ từng mối buộc. Khi lớp vải dù sáp dính tuột ra, bên trong lộ ra một cuốn sổ tay khổ hẹp bìa bọc da nhân tạo màu hạt dẻ. Bốn góc bìa đã quăn queo, mòn rách để trơ ra lớp vải lót trắng đục mủn sợi.
Ngay trên trang lót đầu tiên bằng giấy bãi bằng xơ xác, nét chữ tròn trịa, nắn nót, nghiêng đều tăm tắp bằng bút bi xanh quen thuộc của bà Trần Thị Hạnh hiện ra dưới luồng sáng đèn pin:
*“Nhật ký việc nhà và những điều phải nhớ để giữ lấy mạng sống của con Mai.”*
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng Mai, buốt nhói lên tận chân tóc. Cô ngồi bệt hẳn xuống nền xi măng, nín thở lật giở từng trang giấy đã ngả sang màu vàng vôi.
Khởi đầu từ những ngày cuối tháng Bảy năm 2006—chỉ vài ngày sau đêm bão kinh hoàng đã chôn vùi người cha của cô—cuốn sổ không hề ghi chép chuyện giá gạo, mớ rau, tiền điện hay công nợ lặt vặt như cuốn sổ tay rách nát đặt ngoài bàn phấn. Nó là một biên niên sử câm lặng, một bản ghi chép chi tiết đến rợn người về một nghi thức hàng tháng mà mẹ cô đã bền bỉ, cô độc và tuyệt vọng thực hiện suốt mười tám năm ròng rã giữa bóng tối của khu nhà tập thể này.
Cứ vào rạng sáng ngày rằm và mùng một âm lịch mỗi tháng, khi cả khu tập thể Hòa An còn chìm trong giấc ngủ mỏi mệt sau những ngày dài mưu sinh kiệt quệ, bà Hạnh lại thức dậy lúc ba giờ kém mười lăm.
Bà không bao giờ bật đèn điện. Từng dòng chữ của mẹ miêu tả lại hành vi ấy với một sự lạnh lùng, máy móc đến mức ám ảnh:
*“...Phải bước thật êm xuống chiếu nghỉ tầng một, mang theo một chiếc khăn xô sạch và âu nước mưa đã lắng trong vại sành ngoài ban công. Đi dọc hành lang dẫn ra lối cầu thang thoát hiểm phía đông, nơi có cánh cửa sắt rỉ sét đã bị ông Khang bấm khóa chữ U to tướng.*
*Trước khi sương sớm tan và trước khi tiếng gà gáy đầu tiên ở xóm ven sông cất lên, phải dùng khăn xô tẩm nước mưa lau thật khô vệt nước bùn rỉ ra từ bậu cửa sắt. Tuyệt đối không được để nước ngấm qua mép chân tường ra ngoài sân chung. Sau đó, đặt chiếc đĩa men sứ trắng lên ngưỡng cửa, đặt chiếc chìa khóa dự phòng bằng đồng vào lòng đĩa. Rót ba chén rượu trắng con, thắp ba nén hương bài cắm thẳng vào khe hở của bản lề sắt.*
*Quỳ xuống, áp trán sát mặt sàn xi măng lạnh, khấn đọc rành rọt đủ họ tên của ba người: Nguyễn Văn Dũng, Đỗ Thị Lệ, Bùi Văn Phúc. Phải đọc liền một hơi, không được ngập ngừng, không được gọi thiếu hay thừa bất kỳ ai. Đọc đủ ba lượt trước khi vệt sáng đầu tiên của bình minh chạm vào ngọn cây bàng ngoài sân. Khi hương tàn quá nửa, thu chìa khóa về, cất kỹ dưới đáy thùng gạo...”*
Mười tám năm. Hai trăm mười sáu tháng không hề sót một lần nào.
Bất kể mùa đông rét mướt cắt da cắt thịt khiến các khớp ngón tay người đàn bà sưng tấy nứt nẻ, hay mùa hè oi nồng ngột ngạt với những cơn mưa rào xối xả đập vào mái tôn rỉ sét, người phụ nữ góa bụa ấy đã lẳng lặng rời khỏi giường trong bóng đêm dày đặc, bước đi như một cái bóng không hồn dọc theo hành lang nồng nặc mùi ẩm mốc, dùng chiếc đĩa men sứ và lời khấn định kỳ để lau sạch những vệt nước đen rỉ ra từ cõi chết dưới lòng đất.
Thế nhưng, khi Mai run rẩy lật sang những trang tiếp theo, lồng ngực cô như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Những dòng chữ giữa cuốn sổ bắt đầu chuyển sang lý giải cơ chế tàn nhẫn và tuyệt vọng đằng sau nghi thức ấy.
*“...Nghi thức này không phải lễ cầu siêu. Không có thần phật nào chứng giám cho một cái chết bị chôn vùi trong bùn đen và sự dối trá của con người. Nước mưa và đĩa men chỉ có tác dụng như một chiếc nẹp sắt, giam giữ sự oán hận và vong hồn của ba người ở lại dưới đáy hầm thêm đúng một tháng âm lịch.*
*Hương tàn thì nợ vẫn còn. Họ không siêu thoát. Họ không thể rời khỏi ranh giới khu nhà. Họ bị giam lỏng dưới tầng hầm, chờ đợi một chu kỳ mới. Mỗi lần khấn tên họ là một lần nhắc nhở họ rằng người trên mặt đất vẫn biết họ ở đó, van xin họ đừng trồi lên cướp mạng người sống.*
*Nếu nghi thức bị gián đoạn, nếu đĩa men không được đặt và tên họ không được xướng đủ ba lần trước bình minh, nẹp sắt sẽ vỡ vụn. Sau tròn một tháng âm lịch kể từ lần cúng cuối cùng, sự ám sẽ phá tung ngưỡng cửa sắt tầng hầm, men theo từng đường dây điện, từng bậc cầu thang mà trồi lên tìm những kẻ đã hại họ, và tìm cả những kẻ đã làm ngơ...”*
Mai đưa một tay bóp chặt lấy xương ức. Mắt cô hoa lên, tai ù đi trong một tiếng vo ve rền rĩ, đầu óc quay cuồng như vừa bị ai nện một thanh gỗ nặng nề vào gáy.
Lần cúng cuối cùng của mẹ cô là vào ngày Rằm tháng Sáu âm lịch. Đến mùng một tháng Bảy, bà Hạnh bị tai biến mạch máu não đột ngột ngay trên sàn nhà khi chưa kịp chuẩn bị xong âu nước mưa—chính là vệt mực đỏ nguệch ngoạc trượt dài trên cuốn sổ chợ mà Mai đã tìm thấy cách đây mấy ngày. Bà nằm liệt giường trong cơn hôn mê sâu rồi trút hơi thở cuối cùng sau đó ít ngày.
Đợt bảo hộ cuối cùng mà mẹ cô đánh đổi bằng mười tám năm quỳ gối dưới chân cầu thang đã hết hạn đúng vào ngày bà mất tròn một tháng.
Đó là lý do vì sao suốt mười tám năm qua, khu tập thể Hòa An chìm trong một sự bình lặng giả tạo đến rợn gáy, để rồi đúng vào đêm thứ tư mươi chín của mẹ cô, nhịp gõ cửa hai ngắn một dài lúc 3 giờ 17 phút sáng bắt đầu xuất hiện. Mẹ cô không hề cứu rỗi ai cả. Bà không hề hóa giải được điều gì. Bà chỉ dùng sự kiên trì đầy đớn hèn của mình để mua từng tháng bình yên tạm bợ, tích tụ một món nợ máu khổng lồ suốt gần hai thập kỷ rồi đẩy toàn bộ khối oán hận ngập ngụa ấy về phía tương lai—về phía chính đứa con gái duy nhất của bà!
Bàn tay Mai run lẩy bẩy lật tiếp sang trang sau. Đến khoảng giữa của tập giấy, những nét chữ tròn trịa quen thuộc của mẹ cô đột ngột biến mất hoàn toàn. Thay vào đó là những nét bút chì nghuệch ngoạc, xé rách cả thớ giấy bãi bằng mỏng manh, run rẩy và giằng xé như được viết ra trong cơn mê sảng tột cùng hay giữa một nỗi kinh hoàng không lối thoát. Giấy viết ở những trang này nhăn nhúm, co quắp lại, từng vệt ố tròn loang lổ in hằn dấu vết của những giọt nước mắt đầm đìa đã khô tự bao giờ.
*“Ngày 16 tháng 7 năm 2006.*
*Trời ơi, tôi đã làm gì thế này? Tôi là một kẻ giết người.*
*Đêm qua mưa to quá, nước ngập ngang đầu gối ở sân chung. Lúc ba giờ sáng, tôi giật mình thức giấc vì không thấy anh Dũng về. Tôi cầm chiếc đèn pin và chiếc chìa khóa dự phòng bằng đồng của cửa sắt tầng hầm—chiếc chìa mà anh Dũng bảo tôi giữ phòng khi máy bơm hỏng giữa đêm.*
*Tôi lội nước xuống cầu thang phía đông. Khi vừa bước xuống đến chiếu nghỉ, tôi nghe thấy tiếng đập cửa. Tiếng đập cửa sắt thình thình, tuyệt vọng, điên dại từ phía dưới hầm sâu dội lên.*
*Tôi nghe thấy tiếng anh Dũng. Anh ấy gào tên tôi: ‘Hạnh ơi! Mở cửa! Khang nó khóa ngoài rồi! Nước đang tràn vào buồng bơm, ngập đến ngực rồi Hạnh ơi!’*
*Tôi nghe cả tiếng bà Lệ khóc thét, tiếng thằng Phúc gầm rú đập búa vào then cài sắt. Cánh cửa sắt rung lên bần bật dưới chân tôi.*
*Tôi đã đứng đó. Chiếc chìa khóa đồng nằm ngay trong lòng bàn tay tôi. Tôi chỉ cần bước xuống ba bậc thang nữa, cắm chìa vào ổ khóa chữ U và vặn một vòng. Chỉ một vòng thôi.*
*Nhưng tôi nhìn thấy chiếc khóa xích to tướng mà thằng Khang đã quấn thêm bên ngoài. Tôi thấy bóng thằng Khang và lão Tự vừa chạy vụt qua lối sân sau. Tôi sợ. Tôi hèn hạ quá, anh Dũng ơi! Tôi sợ nếu tôi mở cửa, thằng Khang sẽ biết tôi là người phá chuyện của nó. Tôi sợ bọn chúng sẽ giết cả mẹ con tôi. Tôi sợ nước bùn đen dưới đó sẽ cuốn tôi xuống.*
*Tiếng đập cửa mỗi lúc một yếu dần. Tiếng anh Dũng gọi tên tôi nghẹn lại trong tiếng ùng ục của nước ngập. Anh ấy gọi: ‘Hạnh ơi... cứu anh... cứu con...’*
*Tôi đã quay lưng. Tôi đã bịt chặt tai lại và chạy trốn. Tôi nắm chặt chiếc chìa khóa dự phòng ướt sũng trong tay, leo ngược lên tầng bốn, chui vào chăn ôm lấy con Mai đang ngủ say. Tôi đã bỏ mặc chồng mình chết đuối dưới đáy bùn...”*
“Không...”
Một tiếng rên rỉ nghẹn ứ, vỡ vụn bật ra từ lồng ngực Mai. Cô ngã ngửa ra phía sau, cả tấm lưng va mạnh vào cạnh giường gỗ đau điếng, nhưng nỗi đau thể xác ấy chẳng thấm tháp vào đâu so với sự sụp đổ kinh hoàng đang cào xé tâm can cô. Cuốn sổ tay bìa da hạt dẻ tuột khỏi những ngón tay vô lực, rơi úp xuống mặt sàn xi măng bụi bặm.
Căn phòng 407 bỗng chốc trở nên lạnh buốt, một cái lạnh thấu xương tủy không hề bắt nguồn từ gió bão hay hơi ẩm của tường vôi nứt nẻ, mà xông lên từ tận đáy sâu tội lỗi của ngôi nhà này.
Hình tượng người mẹ hiền từ, người phụ nữ chịu thương chịu khó, người vợ tảo tần suốt mười tám năm ròng lặng lẽ thắp hương chờ chồng trong ký ức của Mai bỗng chốc vỡ tan thành trăm ngàn mảnh vụn sắc nhọn, găm thẳng vào tim cô rỉ máu.
Ký ức năm mười một tuổi ùa về như một cơn lũ quét tàn độc: buổi sáng sau đêm bão kinh hoàng năm ấy, mẹ cô ngồi thất thần bên bậc cửa bếp tro tàn, đôi mắt đỏ ngầu trũng sâu vô hồn, hai bàn tay run bần bật khi vùi một vật kim loại ướt sũng, dính đầy bùn đen vào tận đáy thùng gạo sâu hoắm. Khi ấy, cô bé Mai ngây thơ bước đến ôm lấy vạt áo mẹ, hỏi cha đâu rồi sao không về ăn cơm, bà chỉ ôm chặt lấy cô mà khóc nức nở đến ngất đi, nói rằng cha đã đi làm ăn xa ở một công trường rất xa xôi để kiếm tiền nuôi cô ăn học, cha sẽ không bao giờ về nữa.
Bà không hề chờ đợi ông. Bà biết chính xác ông đang ở đâu.
Ông nằm ngay dưới chân bà, cách mặt sàn xi măng nơi bà đứng chỉ vài thước đất, sau bức tường gạch đặc bịt kín của tầng hầm thoát nước, ngập ngụa trong bùn rác xú uế và rỉ sắt hoen ố, cùng với hai sinh mạng khác mà tiếng kêu cứu tuyệt vọng của họ đã bị chính sự hèn nhát của bà bóp nghẹt ngay trên bậc cầu thang!
Mai gập người lại, hai bàn tay cào cấu vào mái tóc, vùi mặt vào hai đầu gối. Cô muốn khóc gào lên cho vơi đi nỗi uất nghẹn đang dâng lên ứ nghẹt nơi cổ họng, nhưng nước mắt chảy ngược vào trong, đắng ngắt và bỏng rát như tro than. Người cha mà cô hằng yêu kính, người từng ngồi trên chiếc ghế đẩu thứ ba đặt tên cho con gấu bông sứt tai thuở nhỏ, đã chết trong sự tuyệt vọng cùng cực, gọi tên vợ mình qua cánh cửa sắt trong khi vợ ông đứng ngay phía trên bậc thang và chọn cách quay lưng bỏ chạy.
*Cộc. Cộc. Cộc.*
Tiếng gõ cửa gấp gáp vang lên từ phía cửa chính cắt đứt dòng suy nghĩ điên loạn đang bóp nghẹt lồng ngực Mai.
Mai giật bắn mình, hoảng loạn ngẩng đầu nhìn về phía cánh cửa gỗ ép ọp ẹp. Chiếc đồng hồ treo tường vỏ nhựa màu đỏ chỉ mười bốn giờ ba mươi phút chiều. Đó không phải là nhịp gõ 3 giờ 17 phút chết chóc.
“Mai ơi! Cậu có nhà không? Tớ với An đây!”
Tiếng gọi gấp gáp của Linh vọng qua khe cửa hẹp, kèm theo tiếng thở dốc nặng nhọc của hai người vừa leo bộ bốn tầng cầu thang.
Mai hít một hơi thật sâu, cố gắng đè nén cơn run rẩy đang giật từng hồi nơi cơ hàm. Cô vội vã nhặt cuốn sổ nhật ký bìa da hạt dẻ dưới sàn, nhét vội nó vào ngăn kéo bàn làm việc của mình rồi xoay chìa khóa cái cạch, giấu chìa vào túi quần. Cô chỉ cầm theo mảnh giấy bao xi măng ghi hướng dẫn hóa giải ngưỡng cửa và tập hồ sơ kỹ thuật photo rồi loạng choạng bước ra mở chốt cửa.
Cánh cửa gỗ vừa hé mở, Linh và An đã lách nhanh vào nhà, mang theo luồng gió nồm ẩm ướt và sự căng thẳng tột cùng bao trùm lấy không gian.
Gương mặt An hốc hác đến thảm hại, râu ria lởm chởm sau một đêm thức trắng giành giật mạng sống của cha mình khỏi lưỡi hái tử thần. Quầng thâm dưới mắt anh sẫm lại như bị bôi nhọ nồi, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ ngầu vì thiếu ngủ và sợ hãi. Linh đi ngay phía sau, chiếc áo sơ mi bạc màu bết dính mồ hôi bên dưới chiếc ba lô đựng máy tính xách tay to bản, trên tay cô ôm khư khư một tập hồ sơ dày cộp đã quăn góc.
“Tình hình chú Tự thế nào rồi?” Mai hỏi, giọng cô khản đặc, khô khốc đến mức chính bản thân cô cũng thấy xa lạ.
An thả phịch người xuống chiếc ghế gỗ đối diện bàn ăn, hai bàn tay đan chặt vào nhau đến mức các khớp ngón trắng bệch, run bần bật:
“Bố tớ sốt li bì từ sáng tới giờ. Thân nhiệt lúc nào cũng trên ba mươi chín độ nhưng miệng cứ run lên cầm cập, kêu lạnh buốt từ trong tủy sống. Ông ấy cứ mê sảng lảm nhảm đòi đem trả lại chiếc đồng hồ, rồi lại ôm đầu sợ ông Khang biết chuyện sẽ giết cả nhà. Căn phòng 204 giờ lạnh như hầm ướp đá, dù tớ đã mượn thêm hai cái máy sưởi dây may-so về bật hết công suất. Các góc tường giáp với hộp kỹ thuật bắt đầu rỉ ra những vệt nước đen có mùi bùn tanh tưởi hệt như nước cống ngầm. Mai à, đêm nay là đêm thứ ba rồi.”
An ngước nhìn Mai, ánh mắt chàng kỹ sư điện trẻ tuổi tràn ngập sự khẩn thiết, tuyệt vọng và một nỗi kinh hoàng nguyên thủy:
“Nếu đêm nay không có cách nào hóa giải, bố tớ sẽ không qua khỏi. Thực thể đó... thứ dưới tầng hầm đó sẽ kéo ông ấy đi thật sự.”
Linh đặt chiếc ba lô và tập hồ sơ lên mặt bàn kính, kéo ghế ngồi xuống sát bên cạnh An, nhìn thẳng vào Mai với ánh mắt sắc sảo:
“Cậu bảo trên điện thoại là cậu tìm thấy thứ gì đó mẹ cậu để lại trước khi mất? Có liên quan trực tiếp đến việc hóa giải chuyện ông Tự đã phạm phải quy tắc ngưỡng cửa đêm hôm kia không?”
Mai đứng chết lặng bên cạnh bàn ăn, ánh mắt cô vô thức lướt qua chiếc ghế đẩu thứ ba bằng gỗ tạp mộc mạc đặt nơi góc bàn—nơi chiếc áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân đã bạc phếch của cha cô vẫn đang được vắt ngay ngắn suốt bao năm qua. Cảm giác tội lỗi, nhục nhã và xấu hổ bóp nghẹt lấy cuống họng cô.
Trước mặt cô là An—con trai của người thợ điện đã run rẩy ngắt cầu dao định mệnh theo lệnh cấp trên, nhưng bản thân An hoàn toàn vô tội, anh chỉ đang liều mạng để cứu cha mình. Còn mẹ cô... mẹ cô là người đã nắm trong tay chiếc chìa khóa duy nhất có thể mở toang cánh cửa sắt cứu sống cả ba con người, nhưng bà đã chọn cách quay lưng bỏ chạy vì sự hèn nhát của bản thân.
Một sự thôi thúc mãnh liệt muốn bật khóc nức nở và nói ra tất cả bùng lên trong tâm trí Mai, nhưng ngay khoảnh khắc nhìn vào ánh mắt chân thành, kiệt quệ của An và sự kỳ vọng của Linh, sự hèn nhát tương tự như của mẹ cô năm xưa lại bóp nghẹt lấy lý trí cô. Làm sao cô có thể mở miệng thừa nhận rằng người mẹ mẫu mực, đáng thương, người góa phụ tần tảo mà cô luôn tự hào bảo vệ bấy lâu nay lại là một kẻ đồng lõa bằng sự im lặng tàn nhẫn? Làm sao cô dám đối diện với ánh mắt của An khi biết rằng gia đình cô cũng mang một phần nợ máu không thể gột rửa trong thảm kịch dưới đáy bùn ấy?
Mai nuốt khan ngụm nước bọt đắng ngắt, bàn tay run rẩy đặt bản sao mảnh giấy bao xi măng lên mặt bàn kính trước mặt hai người.
“Đây là thứ tớ tìm thấy kẹp trong cuốn sổ tay ghi chép việc nhà của mẹ tớ,” Mai nói, cố gắng ghìm từng âm tiết cho thật vững vàng, không để lộ ra sự run rẩy đang chực chờ vỡ òa. “Mẹ tớ đã ghi lại quy tắc hóa giải sự xâm nhập ngưỡng cửa khi có người lỡ phạm quy.”
An chộp lấy mảnh giấy như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao cứu sinh cuối cùng. Anh ghé sát mắt vào từng dòng chữ mờ nhạt, đọc ngấu nghiến từng từ:
“Đưa vật chứng ra ngoài thềm trước giờ gọi hồn... quỳ trước ngưỡng cửa gỗ, đọc rõ họ tên ba lần và cúi đầu nhận tội...”
“Chú Phúc,” Linh thì thào, ngón trỏ của cô gõ nhẹ lên dòng chữ ghi trên mặt giấy xi măng. “Chứng vật mà chú Tự đã lỡ nhặt vào nhà lúc rạng sáng hôm kia là chiếc đồng hồ cơ khí của chú Bùi Văn Phúc. Điều đó có nghĩa là chú Tự phải đích thân mang chiếc đồng hồ đó đặt lại ngay ngắn trước ngưỡng cửa căn hộ 204 trước 3 giờ 17 phút đêm nay. Sau đó, chính miệng chú ấy phải gọi tên chú Phúc ba lần và thừa nhận tội lỗi ngắt cầu dao của mình?”
“Đúng vậy,” Mai gật đầu, cố né tránh ánh mắt dò xét của Linh bằng cách nhìn chằm chằm vào mép bàn. “Đó là cách duy nhất để hủy bỏ quyền xâm nhập mà chú Tự đã vô tình trao cho thực thể dưới tầng hầm khi mở then cửa nhặt đồ vào lúc 3 giờ 17 phút 40 giây đêm đầu tiên. Nếu làm đúng tất cả các bước trước khi đồng hồ điểm sang phút định mệnh, ngưỡng cửa sẽ được phong tỏa trở lại, ranh giới cõi âm sẽ không thể vượt qua bậc cửa gỗ.”
An thở hắt ra một hơi dài, đưa hai bàn tay thô ráp lên vò mạnh mái tóc rối bù bù:
“Nhưng bố tớ... ông ấy sợ ông Khang đến mất trí rồi. Sáng nay ông Khang đã đích thân xuống tận phòng 204 gõ cửa đe dọa. Lão dọa rằng nếu bố tớ để lộ chuyện chập điện buồng bơm năm đó, hay để ai nhìn thấy chiếc đồng hồ của chú Phúc, lão sẽ hủy bỏ toàn bộ phương án bồi thường di dời của bốn mươi hộ dân trong khu nhà. Bố tớ sợ mang tiếng là kẻ phá hoại quyền lợi của cả khu tập thể, và quan trọng hơn cả, ông ấy sợ phải đối mặt với sự thật rằng chính bàn tay ông ấy đã gián tiếp chôn vùi ba mạng người dưới đó.”
“Đây không còn là chuyện đền bù tái định cư hay danh dự hão huyền nữa, An!” Linh nghiêm giọng, phong thái đanh thép, quyết đoán của một phóng viên điều tra lập tức bộc lộ rõ rệt. “Đây là vấn đề mạng sống của chính chú Tự! Nếu đêm nay chú ấy không chịu nhận tội trước vong hồn của chú Phúc, chú ấy sẽ chết! Cậu có hiểu dòng chữ ‘ngưỡng cửa biến thành cửa mả’ trên giấy này có nghĩa là gì không? Nó có nghĩa là một khi ngưỡng cửa bị phá vỡ hoàn toàn sau ba đêm, thực thể đó sẽ kéo thẳng người sống xuống đáy bùn sâu để đền mạng đấy!”
“Tớ biết chứ! Tớ hiểu chứ!” An nghẹn ngào, giọng anh vỡ vụn ra trong sự tuyệt vọng cùng cực. “Tớ sẽ ép ông ấy. Dù có phải quỳ xuống lạy ông ấy, dù có phải trói ông ấy lại rồi lôi ra cửa, tớ cũng sẽ bắt ông ấy phải đem chiếc đồng hồ ra đặt trước bậu cửa và xin lỗi chú Phúc!”
Linh quay sang nhìn Mai. Đôi mắt đen láy của cô nheo lại, ánh nhìn bỗng chốc trở nên sắc bén và săm soi lạ thường:
“Mai này, mẹ cậu làm sao có thể biết được những quy tắc chi tiết và chuẩn xác đến từng bước như thế này? Bác Hạnh cả đời chỉ là một nhân viên cấp dưỡng bình thường trong nhà máy dệt, chưa từng học qua phong thủy hay pháp thuật gì. Tại sao bác ấy lại nắm rõ cơ chế vận hành tâm linh của tầng hầm và cách thức phong tỏa ngưỡng cửa như một người trong cuộc am tường tường tận mọi ngóc ngách như vậy?”
Mai giật thót mình, tim đập thắt lại một nhịp đau nhói. Máu dồn ngược lên thái dương khiến hai vành tai cô nóng bừng như bị lửa đốt. Để che giấu đôi bàn tay đang run rẩy mất kiểm soát, cô vội vã với lấy chiếc phích nước cũ trên kệ, rót dòng nước sôi bốc khói nghi ngút vào ấm trà nguội ngắt:
“Tớ... tớ cũng không rõ nữa. Có thể là mẹ tớ nghe ngóng từ những người già sống lâu năm ở khu này từ hồi xảy ra vụ việc năm 2006, hoặc mẹ tớ tự tìm hiểu qua mấy cuốn sách cúng bái cổ mua ở chùa Bà Đá. Cậu cũng biết tính mẹ tớ rồi đấy, từ sau cái đêm bố tớ mất tích không tìm thấy xác, bà luôn bị ám ảnh nặng nề bởi chuyện tâm linh và các vong hồn chết đuối...”
“Chỉ là nghe ngóng và đọc sách cúng thôi sao?” Linh hỏi dồn, giọng cô trầm hẳn xuống, đầy vẻ hoài nghi không giấu giếm. “Những dòng chữ viết trên giấy xi măng này rất dứt khoát, mang tính chỉ thị và cảnh báo sống còn của một người đã chứng kiến tận mắt quy luật vận hành của nó. Mai, cậu có tìm thấy cuốn sổ nào khác không? Một cuốn nhật ký riêng tư của bác chẳng hạn? Tớ có cảm giác bác Hạnh biết nhiều hơn những gì chúng ta đang thấy rất nhiều.”
“Không có! Tuyệt đối không có!” Mai buột miệng nói lớn, giọng nói the thé khác thường của cô vang dội giữa gian phòng nhỏ hẹp.
Nhận ra sự gay gắt bất thường và vẻ phòng thủ thái quá của mình, Mai vội vàng hạ giọng xuống, cố gượng gạo nặn ra một nụ cười nhợt nhạt:
“Ý tớ là... tớ đã lục tung toàn bộ tủ đồ và phòng ngủ của mẹ rồi. Chỉ có mấy cuốn sổ ghi tiền chợ búa với mảnh giấy bao xi măng này nằm dưới đáy thôi. Những thứ khác chỉ là ghi chép vụn vặt về kinh kệ, mê tín dị đoan chưa được kiểm chứng, chẳng có giá trị thực tế nào cả. Điều quan trọng nhất bây giờ là chúng ta phải tập trung cứu mạng chú Tự trước khi quá muộn.”
Linh không vặn hỏi thêm một lời nào nữa. Cô chỉ lặng lẽ nhìn sâu vào đôi mắt đang cố né tránh của bạn mình.
Là một người làm báo từng trải qua nhiều vụ án phức tạp, Linh thừa nhạy cảm để nhận ra sự phòng vệ đột ngột, tư thế ngồi co cụm run rẩy và ánh mắt đầy bất an, giằng xé của Mai. Linh hiểu rõ tính cách của Mai: Mai là người thẳng thắn đến mức bướng bỉnh, luôn tôn trọng sự thật và đòi hỏi bằng chứng xác thực. Sự ấp úng, giấu giếm và nỗi hoảng loạn này chỉ có thể xuất phát từ một vết thương tình cảm quá lớn, một bí mật đen tối có nguy cơ phá hủy hoàn toàn hình tượng của người mà Mai tôn thờ nhất suốt cuộc đời mình—bà Hạnh.
Tuy nhiên, nhìn thấy vẻ mặt đau đớn đến tái dại của bạn, Linh khẽ thở dài một tiếng thật khẽ, quyết định không dồn Mai vào chân tường ngay trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng này. Cô quay sang vỗ vai An:
“An, cậu cầm lấy bản photo này cất kỹ vào túi đi. Nhớ lấy các mốc thời gian sống còn: mọi việc phải hoàn tất trước 3 giờ 17 phút sáng. Tuyệt đối không được để kim đồng hồ nhích qua mốc đó dù chỉ một giây. Sau khi chú Tự đặt chiếc đồng hồ ra ngoài thềm và tạ tội xong, hai bố con phải lập tức lùi vào trong, sập cửa lại và cài chặt then sắt bên trong. Kể từ giây phút đó, tuyệt đối không được mở cửa cho bất kỳ ai, dù có nghe thấy tiếng gõ cửa hai ngắn một dài hay tiếng gọi tha thiết của bất kỳ người thân nào bên ngoài hành lang, nhớ chưa?”
An cẩn thận gấp mảnh giấy xi măng làm tư, nhét sâu vào túi áo ngực bên trái, nơi trái tim anh đang đập từng nhịp hỗn loạn:
“Cảm ơn Mai. Cảm ơn Linh. Tớ sẽ về phòng 204 ngay bây giờ để làm công tác tư tưởng cho bố. Dù bố tớ có chửi bới, có van xin hay chống cự, tớ cũng sẽ buộc ông ấy phải làm đúng như hướng dẫn.”
An đứng dậy, cúi đầu chào hai người rồi vội vã bước ra ngoài. Tiếng bước chân nặng trĩu, lê thê của anh vang vọng dọc theo hành lang xi măng cũ kỹ, mang theo gánh nặng ngàn cân của một người con đang cố níu giữ mạng sống của người cha tội lỗi trước khi bóng đêm định mệnh buông xuống.
Trong căn hộ 407, chỉ còn lại Mai và Linh giữa bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.
Linh đứng dậy thu dọn máy tính xách tay và tập tài liệu vào ba lô. Cô kéo khóa cẩn thận, rồi bước chầm chậm đến bên cạnh Mai, đặt một bàn tay ấm áp lên bờ vai gầy guộc đang khẽ run lên từng chặp của bạn mình:
“Mai này.”
Mai không ngước mặt lên, hai mắt cô vẫn dán chặt vào những đường vân gỗ xám xịt trên mặt bàn:
“Có chuyện gì thế Linh?”
“Tớ không biết cậu vừa phát hiện ra điều kinh khủng gì trong đống đồ cũ của bác Hạnh,” Linh nói chậm rãi, từng lời từng chữ đều chân thành nhưng mang theo một sức nặng răn đe kiên định. “Nhưng tớ nhìn thấy cậu đang phải gánh một thứ gì đó quá nặng nề trên lưng. Mai à, sự thật thì chưa bao giờ là thứ dễ chịu cả. Nhất là khi sự thật ấy lại chạm vào những người mà chúng ta yêu thương và kính trọng nhất trên đời. Nhưng nếu cậu thật sự muốn đòi lại công bằng cho chú Dũng, muốn đưa chú ấy cùng hai người vô tội kia ra khỏi bóng tối ẩm mốc dưới tầng hầm, cậu không thể xây dựng công lý dựa trên sự che đậy được đâu.”
Mai cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, vị tanh nồng của máu lan ra đầu lưỡi, hai bàn tay cô siết chặt lấy gấu áo thô đến mức các khớp ngón trắng bệch. Cô không thể thốt ra một lời nào, chỉ khẽ gật đầu trong câm lặng buốt giá.
Linh thở dài, bàn tay cô siết nhẹ vai Mai một cái đầy chia sẻ rồi xoay người bước ra cửa:
“Tớ phải chạy gấp qua tòa soạn để sao lưu nốt toàn bộ dữ liệu sơ đồ ngầm và gửi một bản báo cáo tóm tắt cho điều tra viên Trịnh Quốc Quân bên công an thành phố. Tối nay tớ sẽ quay lại đây túc trực cùng cậu. Hãy khóa chặt cửa và cẩn thận đấy.”
Cánh cửa gỗ khép lại. Tiếng chốt khóa kim loại vang lên một tiếng khô khốc, cô độc.
Mai ngồi lại một mình giữa gian phòng khách mờ tối khi ánh hoàng hôn đỏ quạch bắt đầu nhuộm một màu máu rợn người qua khung cửa sổ nhìn ra giếng trời. Cô chầm chậm quay đầu sang nhìn chiếc ngăn kéo bàn làm việc đã bị khóa chặt. Cuốn nhật ký bìa da hạt dẻ nằm im lìm trong bóng tối của ngăn kéo, tựa như một quả bom nổ chậm đang đếm ngược từng tích tắc, chực chờ phá hủy toàn bộ những ký ức trong trẻo, thiêng liêng nhất của tuổi thơ cô thành tro bụi.
Nỗi xấu hổ và sự tự ghê tởm ngập tràn tâm trí Mai. Cô đã nói dối An. Cô đã giấu giếm Linh. Cô đã chọn cách bảo vệ danh dự hão huyền cho một người mẹ đã khuất thay vì san sẻ toàn bộ sự thật nghiệt ngã với những người bạn đang liều mạng đồng hành cùng mình. Có phải trong huyết quản cô, sự hèn nhát ti tiện của bà Hạnh cũng đang âm thầm chảy, biến cô thành kẻ tiếp tay cho sự im lặng chết người này hay không?
Đúng lúc ấy, một cơn gió lạnh buốt từ đâu thốc mạnh qua khe hẹp của giếng trời, làm tấm rèm cửa sổ bằng vải thô bay phần phật, đập chan chát vào chấn song sắt gỉ.
Từ khoảng không hun hút, tối tăm của giếng trời thông suốt từ tầng hầm lên đến tầng bốn, một âm thanh lạ lùng bỗng dội lên, xé toạc sự tĩnh mịch ngột ngạt của buổi chiều muộn.
*Xoảng!*
Đó là tiếng kim loại nặng nề va đập chát chúa xuống sàn gạch ở hành lang tầng ba, nối tiếp ngay sau đó là tiếng một vật nặng bằng da rơi huỵch xuống nền xi măng ẩm ướt, kèm theo tiếng khóc nghẹn ngào, nức nở đầy uất ức và tuyệt vọng của một người phụ nữ:
“Mẹ ơi... sao mẹ lại đối xử với con như thế này... Mười tám năm qua... mẹ để con sống trong nhục nhã thế này sao...”
Tiếng khóc xé lòng, ai oán ấy phát ra từ chính căn hộ của Đỗ Thu Thảo.
Mai giật bắn mình, tim đập thắt lại. Cô lao như bay ra phía cửa sổ nhìn xuống khoảng không giếng trời.
Ngay trước ngưỡng cửa căn hộ 302 của Thảo, một chiếc túi xách nữ bằng giả da màu mận chín đã sờn rách hết các góc, ướt sũng bùn đen và loang lổ những vệt rỉ sắt đỏ quạch, đang nằm trơ trọi giữa hành lang xi măng lạnh ngắt.
Chứng vật thứ ba đã xuất hiện.