Người Gõ Cửa Lúc 3 Giờ 17Ch.15 / 20
Chapter 15

Sự yên ổn được chào giá

Tại góc sảnh chung ẩm ướt dưới chân cầu thang đơn nguyên hai, ông Phạm Văn Khang đứng sừng sững chắn ngang lối đi trước mặt Mai. Thân hình lão còng xuống trong vẻ tiều tụy cùng cực sau một đêm thức trắng, nhưng hai tròng mắt đục ngầu, chằng chịt những tia máu đỏ lại ánh lên sự ngoan cố hằn học của một kẻ đã quen nắm giữ quyền sinh sát trong cái cộng đồng thu nhỏ này suốt bốn thập kỷ và không cam tâm buông bỏ quyền kiểm soát vào phút chót.

Gió buổi sớm từ khoảng sân chung lùa qua những ô văng gãy nan chớp, mang theo cái lạnh thấu xương và mùi ẩm mốc nồng nặc đặc trưng của khu nhà già cỗi vừa trải qua một đêm giông bão ngập ngụa. Dưới luồng ánh sáng vàng vọt, nhờn nhợt vừa rọi xiên qua những tán lá bàng khẳng khiu ngoài sân, từng nếp nhăn xô lệch trên gương mặt lão cựu tổ trưởng hằn sâu như những rãnh nứt nẻ trên lớp vữa trát của bức tường chịu lực phía sau. Hai bờ vai lão so lại, co quắp bên dưới chiếc áo sơ mi cộc tay dệt bằng sợi bông thô đã ngả sang màu cháo lòng, tuột mất một cúc ngực để lộ hõm xương ức gầy guộc phập phồng theo từng nhịp thở dốc. Thế nhưng, hai bàn tay nổi đầy gân xanh và những đốm đồi mồi của lão vẫn ghì chặt lấy một vật phẩm, run rẩy chìa thẳng ra ngay trước tầm mắt Mai như thể đó là thứ bùa hộ mệnh tối thượng cuối cùng còn sót lại trên cõi đời để cứu vãn thế cờ tàn.

Đó là một chiếc đĩa tráng men sắt tây màu trắng viền xanh lá mạ — thứ đồ dùng gia dụng rẻ tiền sản xuất từ thời bao cấp, lớp men sứ ở vành ngoài đã tróc lở loang lổ từng mảng lớn để lộ cốt sắt đen sì, sần sùi rỉ sét bên trong. Đáy đĩa ố vàng bởi những vệt khói hương và tàn dầu cáu bẩn tích tụ qua nhiều năm tháng, bề mặt phủ một lớp màng nhờn mờ đục. Vật dụng ấy giống hệt chiếc đĩa mà mẹ Mai, bà Trần Thị Hạnh, từng cẩn trọng bưng ra bể nước chung lau rửa vào mỗi buổi chiều ba mươi và mười bốn âm lịch hàng tháng suốt mười tám năm ròng, với một sự sùng kính câm lặng đến rợn người.

"Mai, cháu nhìn đi... Bác van cháu, nhìn kỹ cái đĩa này đi," giọng Khang rít qua kẽ hai hàm răng vàng ố khói thuốc lào, âm thanh khô khốc, the thé và run rẩy như tiếng hai mảnh kim loại rỉ sét cọ xát vào mặt đá tảng. "Mẹ cháu... bà Hạnh đã giữ cho cái khu nhà này được bình yên suốt gần hai mươi năm cũng nhờ chiếc đĩa này và bài khấn ấy. Mẹ cháu là người hiểu chuyện, bà ấy biết điều gì là sống còn, điều gì là tốt nhất cho hàng trăm con người dưới cái mái bê tông này. Giờ bà ấy mất rồi, ngọn đèn tắt rồi, chỉ còn cháu... chỉ có dòng máu của nhà cháu mới tiếp quản được việc này. Nghe bác, cháu chỉ cần bước ra đầu cầu thang phía đông, múc thau nước mưa lau sạch ngưỡng cửa xi măng, đặt chiếc đĩa này lên rồi đọc đủ ba cái tên vào ngày rằm với mùng một. Chỉ cần làm thế thôi! Giữ cho cái tầng hầm nó yên tĩnh thêm vài tháng nữa, cho tới khi tất cả bốn mươi hộ dân ở đây nhận xong trọn vẹn tiền đền bù di dời. Cháu cũng có một suất cơ mà! Tiền tỷ cầm tay chứ có phải mớ rau con cá đâu! Cả khu này ai nấy đều được an cư lạc nghiệp, con cháu họ có chỗ dung thân, cháu dại gì mà đi phá bỏ chén cơm của ngần ấy con người?"

Mai đứng sững giữa bậc thềm xi măng lồi lõm sỏi đá, hai bàn chân như hóa đá, đôi mắt đóng đinh vào chiếc đĩa men cáu bẩn đang run rẩy trên đôi bàn tay gầy guộc của lão già. Không gian sảnh tầng một quánh đặc lại trong sự ngột ngạt của vôi vữa mục rữa và hơi ẩm bốc lên từ rãnh thoát nước ngầm rỉ rả dưới chân móng. Cách chỗ hai người đứng chỉ vài bước chân, tấm bảng thông báo bằng gỗ ép dán danh sách phương án bồi thường giải tỏa của dự án cải tạo chung cư cũ vẫn còn treo nghiêng lệch trên tường, những chữ ký dở dang của các hộ dân nhòe nhoẹt vệt nước mưa hắt vào từ đêm qua.

Khang thấy Mai im lặng, đôi mắt cô gái trẻ không hề chớp lấy một lần, lão ngỡ rằng những con số tiền tỷ, những viễn cảnh an cư và trách nhiệm đạo đức đối với sự an nguy của cộng đồng đã đánh trúng vào tâm lý non nớt của cô gái mồ côi. Lão vội vã tiến thêm nửa bước, đôi giày vải mòn vẹt kéo lê trên nền gạch tàu vỡ nát phát ra tiếng xoèn xoẹt ẩm ướt. Đôi mắt vằn tia máu của lão mở to hơn, lão hạ giọng thì thầm, đổi sang một tông giọng tha thiết, dụ dỗ đầy vẻ từng trải của một người bề trên đang sẻ chia nỗi niềm trắc ẩn:

"Cháu đừng nghĩ xấu cho bác... Chuyện đêm bão năm 2006, thực chất chỉ là một cuộc thương lượng sổ sách nội bộ vượt ngoài tầm kiểm soát mà thôi! Lúc đó bác, chú Dũng bố cháu, cô Lệ với cậu Phúc ngồi lại dưới hầm buồng bơm là để dàn xếp cho êm xuôi khoản quỹ sửa chữa chống lún. Người ta đâu có cố ý giết ai! Không một ai trong cái tập thể này muốn chuyện đó xảy ra cả! Nhưng cháu có biết đêm hôm đó nước cống bên ngoài tràn vào nhanh đến mức nào không? Trời đất tối đen như mực, mưa trút xuống như xối nước từ trên trời, túi bùn ngoài hố ga công cộng bục ra ầm ầm, nước dâng ngập đến ngực chỉ trong chớp mắt. Cửa sắt dưới hầm bị hàng tấn áp lực nước ép chặt từ bên ngoài, then cài bằng sắt kẹt cứng lại, người ở trên có muốn kéo ra cũng không tài nào kéo nổi! Đó là tai nạn... hoàn toàn là một tai nạn thiên tai thảm khốc!"

Lão cựu tổ trưởng nuốt nước bọt đánh ực một tiếng, cuống họng lão giật giật. Trên vầng trán nhăn nheo rịn ra những giọt mồ hôi nhờn bóng dù ngọn gió sớm thổi qua sảnh lạnh buốt đến thấu xương:

"Sau khi chuyện lỡ rồi, nếu bác bù lu bù loa lên thì giải quyết được cái gì? Cháu thử nghĩ bằng cái đầu của người lớn xem, lúc đó mà làm rùm beng lên thì công an niêm phong toàn bộ tòa nhà, dự án gia cố móng bị đình chỉ vô thời hạn, bốn mươi hộ dân ở đây sẽ sống ra sao? Họ sẽ bị đuổi ra đường, mất trắng nhà cửa, mang nợ ngập đầu ngập cổ! Mười tám năm qua bác phải cắn răng gánh lấy cái tiếng ác, phải ngậm đắng nuốt cay dựng lên câu chuyện ba người ôm tiền quỹ bỏ trốn vào Nam... cũng chỉ vì muốn bảo vệ cho sự tồn tại của hàng chục gia đình vô tội ở cái khu tập thể này! Mẹ cháu hiểu điều đó hơn ai hết, nên bà ấy mới đồng ý làm lễ trì hoãn mỗi tháng để giữ họ yên vị dưới đáy sâu. Bác với mẹ cháu đã cùng nhau giữ cái mái che trên đầu cho ngần ấy số phận! Cháu là con gái bà ấy, cháu không thể nhẫn tâm đạp đổ chén cơm, đạp đổ mái nhà của bốn mươi hộ dân được, Mai à!"

Những lời ngụy biện trơn tru, dơ dáy tuôn ra từ khuôn miệng móm mém của Khang như một thứ bùn nhầy nhụa tích tụ suốt gần hai thập kỷ dưới đáy cống tối tăm. Từng âm thanh rít lên, từng cái nhíu mày giả tạo của lão đập vào màng nhĩ Mai, đánh thức mọi giác quan đang căng như dây đàn trong cơ thể cô. Mai nhìn thẳng vào khuôn mặt đang méo mó, co giật vì những toan tính đê hèn của người đàn ông từng được cả khu tập thể kính cẩn gọi là "bác tổ trưởng mẫn cán". Trong khoảnh khắc tột cùng của sự thật trần trụi ấy, cô không còn thấy sợ hãi, không còn thấy cảm giác rùng mình hoang mang của những đêm dài cô độc ngồi co ro trên căn hộ tầng bốn, nín thở lắng nghe tiếng gõ cửa bí ẩn vang lên lúc ba giờ mười bảy phút sáng.

Bên trong lồng ngực cô, nỗi sợ hãi nguyên thủy đã bị quét sạch hoàn toàn, chỉ còn lại một sự ghê tởm lạnh buốt đến tận tủy xương.

"Ông im mồm đi," Mai cất tiếng.

Thanh âm của cô không quá lớn, không gào thét, nhưng đanh gọn và sắc lạnh như một lưỡi dao cạo gọt phăng dòng tự sự trơ trẽn đang tuôn trào của Khang.

Khang sững sờ khựng lại giữa câu nói dở, hai cánh tay đang giơ chiếc đĩa men khẽ chao đảo trong không khí. Lão trố mắt nhìn cô gái mảnh khảnh trước mặt, như thể không tin nổi vào tai mình.

"Thương lượng sổ sách?" Khẽ nhếch mép, ánh mắt Mai găm thẳng vào đồng tử đục ngầu của lão già, lạnh lùng bóc trần từng lớp mặt nạ. "Thương lượng sổ sách mà phải lừa ba con người xuống căn buồng bơm sâu hút dưới lòng đất, rồi cài then ngoài và luồn xích sắt khóa chặt cửa thoát hiểm? Thương lượng sổ sách mà ông Tự phải trèo lên tum mái, dập cầu dao nhánh CD-04 đúng vào lúc ba giờ mười bảy phút sáng để cắt toàn bộ nguồn điện buồng bơm, dập tắt bóng đèn duy nhất và làm tê liệt hoàn toàn hai máy hút nước công suất lớn? Nước lũ tràn vào làm kẹt then cửa, hay chính bàn tay vấy máu của các người đã biến căn hầm kỹ thuật thành một cái quan tài bê tông bịt kín, chỉ để chôn vùi vĩnh viễn món tiền hai trăm bốn mươi lăm triệu đồng tiền quỹ cải tạo bị các người bòn rút chia chác cho nhau?"

Khang giật nảy mình như vừa bị điện giật, toàn thân lão run bắn lên bần bật, sắc mặt từ tái nhợt chuyển sang xám ngoét như tro tàn của một bãi tha ma:

"Mai... cháu... cháu nghe ai... đứa nào đặt điều bậy bạ..."

"Bà Hòa ở tầng một đã khai hết với công an từ đêm qua. Bác Tự vừa quỳ rạp dập đầu tạ tội trước ngưỡng cửa tầng hai và tự tay ký vào biên bản lấy lời khai của điều tra viên Trịnh Quốc Quân rồi!" Mai tiến lên một bước dài. Bước chân dứt khoát của cô nện mạnh xuống nền xi măng ẩm ướt, tạo nên một áp lực vô hình buộc Khang phải lảo đảo lùi lại nửa bước trong sự hoảng hốt tột độ. "Ông luôn mồm bảo rằng ông che giấu suốt mười tám năm là để bảo vệ hàng chục gia đình sao? Đừng đem sinh mạng của bốn mươi hộ dân ra làm tấm lá chắn cho sự đê hèn của bản thân mình! Ông che giấu tội ác là để bảo vệ cái ghế tổ trưởng quyền lực của ông, bảo vệ những đồng tiền bẩn thỉu mà ông đã nhét đầy túi tham, và bảo vệ cái mạng sống hèn hạ, dơ dáy của chính bản thân ông trước vành móng ngựa! Còn nghi thức của mẹ tôi..."

Lồng ngực Mai đột ngột thắt nghẹn lại. Một luồng cay đắng cuộn trào lên cuống họng khi hình bóng người mẹ quá cố hiện về trong tâm trí, nhưng ánh mắt cô không hề né tránh, không hề chớp lấy một tia nhu nhược. Cô nhìn thẳng vào chiếc đĩa men cáu bẩn trên tay Khang, giọng nói run rẩy vì uất hận nhưng từng từ ngữ đều sắc như thép nguội:

"Nghi thức của mẹ tôi chưa bao giờ là sự cứu rỗi hay sự chở che cao cả nào hết! Đó là một chuỗi ngày hèn nhát kéo dài nỗi thống khổ cho người chết! Mười tám năm trước, mẹ tôi đã nghe thấy tiếng ba người gào khóc, cào cấu đập cửa đến bật máu móng tay trong buồng bơm ngập lụt. Mẹ tôi đã cầm chiếc chìa khóa dự phòng trên tay chạy xuống chân cầu thang, nhưng vì khiếp sợ bóng tối, vì sự hèn nhát ích kỷ và vì sự đe dọa của đám người các ông mà bà ấy đã quay lưng bỏ chạy! Suốt mười tám năm qua, chưa một đêm nào bà ấy được thanh thản nhắm mắt! Chiếc đĩa men này, ba chén rượu cúng và bài khấn lầm rầm vào rằm với mùng một của bà ấy không phải để siêu thoát cho ai cả, mà là một chiếc gông cùm vô hình giam hãm bố tôi, cô Lệ và chú Phúc dưới đáy bùn lạnh ngắt, bắt những linh hồn chết oan phải chịu ngạt thở lần thứ hai, lần thứ ba, hàng ngàn lần nữa chỉ để cho những kẻ sống sót ở trên mặt đất được yên ổn tận hưởng sự dối trá tàn nhẫn này!"

Mai giơ thẳng ngón tay trỏ chỉ thẳng vào gương mặt già nua đang tái mét của Khang, từng lời thốt ra như sấm sét giáng xuống:

"Mẹ tôi đã phạm phải một sai lầm khủng khiếp. Bà ấy đã sống nửa phần đời còn lại trong sự mục ruỗng của mặc cảm tội lỗi và chết đi trong câm lặng đớn đau. Nhưng tôi là Nguyễn Thanh Mai! Tôi kiên quyết không bao giờ chấp nhận trở thành một bản sao thứ hai của mẹ mình! Tôi sẽ không bao giờ cầm lấy chiếc đĩa này, không bao giờ thực hiện bất kỳ nghi thức cúng tế ma quỷ nào để đánh đổi lấy sự bình yên giả tạo của các người! Và tôi càng không bao giờ để xương cốt của bố tôi tiếp tục nằm vùi dưới tầng hầm tăm tối chỉ vì vài đồng tiền đền bù giải tỏa của các người!"

Dứt lời, không đợi Khang kịp thốt thêm bất kỳ lời biện minh nào, Mai vung mạnh cánh tay, gạt phắt bàn tay đang chìa chiếc đĩa men của Khang sang một bên.

Một lực đẩy dứt khoát và mãnh liệt truyền qua không khí. Lão cựu tổ trưởng già nua, mất đà vì đòn phản kháng bất ngờ, loạng choạng nghiêng ngả rồi va cả bờ vai vào gờ tường xi măng sắc cạnh ở chân cầu thang. Chiếc đĩa tráng men sắt tây tuột khỏi những ngón tay gầy guộc của lão, văng ra giữa không trung rồi rơi thẳng xuống nền gạch sứt mẻ.

*Choảng!*

Một tiếng va đập kim loại xen lẫn tiếng gốm sứ vỡ khô khốc, chát chúa vang dội khắp khoảng sảnh tầng một. Vành men xanh lá mạ vỡ toác thêm một mảng lớn, để lộ toàn bộ phần lõi sắt đen đúa, gỉ ngoét. Chiếc đĩa chao đảo, lăn lông lốc vài vòng trên nền đất ẩm rồi nằm nghiêng trơ trọi sát mép một vũng nước mưa tù đọng bốc mùi rêu phong cạnh chân tường.

Khang khuỵu hai đầu gối, ngồi bệt xuống bậc thềm xi măng lạnh ngắt. Hai bàn tay khẳng khiu của lão run rẩy buông thõng giữa hai đùi, đôi mắt đờ đẫn dán chặt vào mảnh men vỡ văng tung tóe dưới đất. Miệng lão méo xệch, mấp máy lẩm bẩm những câu từ vô nghĩa, đứt quãng như một kẻ vừa bị tước đoạt mất linh hồn:

"Mày điên rồi... Mày phá vỡ nó... Mày phá bức tường ấy ra... mày sẽ giết chết tất cả chúng ta... Mày giết cả cái khu này rồi..."

Mai không buồn dừng mắt nhìn lại bóng dáng thảm hại của lão già thêm một giây nào nữa. Cô xoay người, bước nhanh qua khoảng sảnh chung ẩm thấp. Gót giày thể thao của cô nện từng nhịp dứt khoát, vang vọng khô khốc trên những bậc thang xi măng dẫn ngược lên các tầng trên.

Lúc này, khắp các tầng của khu nhà tập thể bốn tầng cũ kỹ đã bắt đầu rộ lên những âm thanh lạch cạch của then cài, chốt sắt hé mở. Sau tiếng vỡ chát chúa của chiếc đĩa và những lời vạch trần đanh thép của Mai, những cánh cửa gỗ dán ọp ẹp của các căn hộ tầng một và tầng hai khẽ hé ra từng khe hẹp. Những ánh mắt len lén, sợ hãi, hoang mang của những cư dân gắn bó cả đời với nơi này nhìn trộm ra hành lang. Họ nhìn thấy cựu tổ trưởng Khang đang ngồi gục bên vũng nước bẩn, nhìn thấy mảnh đĩa vỡ — biểu tượng của sự bình yên giả dối mười tám năm qua — nằm lăn lóc nơi góc thềm. Nhưng tuyệt nhiên không một ai dám bước chân ra cản đường Mai. Lời thú tội trong nước mắt của ông thợ điện Tự ban nãy và sự xuất hiện của sắc phục công an ở khoảng sân tầng trệt đã giáng một đòn chí mạng, đánh sập hoàn toàn bức tường im lặng đồng lõa từng bao trùm khu nhà này suốt gần hai thập kỷ.

Mai bước thoăn thoắt qua từng khúc quanh chiếu nghỉ. Bụi vôi từ trần nhà bong tróc lả tả rơi xuống mái tóc cô, mùi ẩm mốc của những mảng rêu xanh bám dọc chân tường xộc vào mũi, nhưng bước chân cô không hề chậm lại. Lên đến tầng bốn, hành lang hun hút gió sớm thổi lồng lộng từ khoảng không gian trống phía đông. Gió làm bay những dải mạng nhện chằng chịt trên các đường dây điện trần chắp vá.

Căn hộ 407 hiện ra ở cuối dãy hành lang dài dằng dặc. Cánh cửa gỗ dán bạc màu đã tróc từng mảng sơn xanh, để lộ cốt gỗ dăm ép sần sùi. Ổ khóa đồng cũ kỹ vẫn cắm nguyên chiếc chìa khóa mà ban nãy cô vội vã lao xuống nhà chưa kịp rút ra. Mai nắm lấy tay nắm, đẩy cửa bước vào trong, rồi khẽ khép cánh cửa lại sau lưng, ngăn luồng gió lạnh buốt bên ngoài ùa theo.

Căn nhà chìm trong một sự vắng lặng đến rợn ngợp. Mùi khói hương trầm cúng tuần đầu cho mẹ cô đã tàn lạnh từ đêm hôm trước, hòa quyện với mùi ẩm mục của những lớp giấy dán tường hoa văn cổ lỗ từ thập niên chín mươi đang bong mép. Mai đứng giữa gian phòng khách nhỏ hẹp chỉ chừng mười hai mét vuông, đảo mắt nhìn quanh. Chiếc bàn ăn bằng gỗ tạp kê sát vách tường ngăn, xung quanh vẫn đặt ngay ngắn ba chiếc ghế đẩu gỗ lim cũ kỹ. Suốt mười tám năm ròng rã, từ ngày bố cô bặt vô âm tín sau đêm mưa bão năm 2006, mẹ cô luôn luôn đặt chiếc ghế thứ ba ấy ở đầu bàn, so thêm một đôi đũa mun và một chiếc bát sứ hoa chanh vào mỗi bữa cơm chiều, cấm không cho Mai được chạm vào hay ngồi lên chiếc ghế đó.

Ngày thơ bé, Mai từng ngây thơ tin rằng đó là biểu hiện của một tình yêu chung thủy, một sự hoài niệm xót xa mà người mẹ dành cho người chồng mất tích phương xa. Nhưng giờ đây, đứng trong căn phòng vắng tanh không còn bóng mẹ, Mai hiểu rằng chiếc ghế ấy là một bản án. Mẹ cô không đợi một người trở về; bà dựng lên chiếc ghế đó như một đài tưởng niệm cho sự cắn rứt lương tâm của chính mình, một sự trừng phạt tinh thần tự giam cầm bản thân trong bóng tối của sự đồng lõa. Nhưng Mai không còn nhìn chiếc ghế ấy với nỗi u uất mơ hồ của một đứa trẻ mồ côi nữa. Cô đã biết chính xác bố mình đang ở đâu. Ông Dũng chưa từng ôm tiền bỏ trốn vào Nam như lời đồn độc địa. Ông vẫn nằm đó, ngay dưới lòng đất của khu tập thể này, dưới lớp bùn cống bị trám xi măng kín mít, kiên nhẫn phát ra những tiếng gõ nhịp ba vào lúc ba giờ mười bảy phút sáng qua hệ thống đường ống kim loại để đánh thức công lý, dẫn lối cho đứa con gái tìm lại danh dự cho mình.

Mai hít một hơi sâu, quay người bước thẳng về phía góc bếp cũ kỹ nằm khuất phía sau bức tường ngăn bằng vách thạch cao.

Căn bếp của căn hộ 407 chỉ rộng vỏn vẹn chừng bốn mét vuông, là không gian chật chội điển hình của các khu chung cư thời kỳ trước. Mảng tường sát bồn rửa bằng xi măng bám đầy muội than tổ ong và dầu mỡ đóng bánh keo phong qua hàng chục năm sử dụng. Tại góc tối tăm nhất nằm khuất sau chân chiếc chạn bát bằng nhôm kính cáu bẩn, nơi ánh sáng từ ô thông gió nhỏ xíu trên cao không bao giờ rọi tới được, chiếc thùng gạo bằng gỗ quét sơn nâu sẫm nằm im lìm dưới một lớp bụi dày đặc.

Chiếc thùng gỗ ấy được đóng bằng gỗ tạp dày dặn từ thời ông bà ngoại để lại, bốn góc bọc những miếng tôn sắt mỏng gỉ sét, nắp đậy liên kết với thân thùng bằng hai chiếc bản lề sắt đã rỉ ngoét, cứng đờ. Nó là vật dụng gắn liền với tuổi thơ của Mai từ những ngày đầu tiên gia đình cô dọn về khu tập thể Hòa An này sinh sống. Kể từ ngày bà Hạnh bị đột quỵ nằm liệt giường rồi qua đời cách đây ít lâu, Mai chỉ ăn cơm bụi qua bữa hoặc nấu nướng qua loa bằng chiếc bếp từ đơn, chiếc thùng gạo cũ kỹ này gần như chưa từng được ai chạm tay mở nắp suốt nhiều tháng trời.

Mai quỳ một chân xuống nền gạch hoa sứt sẹo, hai đầu gối chạm vào lớp xi măng lạnh buốt. Hai bàn tay cô khẽ run rẩy, những ngón tay thon dài chạm nhẹ vào mép nắp thùng gỗ đóng bụi xám xịt.

Trong khoảnh khắc ấy, ký ức kinh hoàng của rạng sáng ngày mười sáu tháng Bảy năm 2006 — ký ức mà cô từng cố chôn chặt vào tầng sâu nhất của tiềm thức và tự dối lòng mình rằng đó chỉ là một cơn ác mộng con trẻ — bỗng chốc cuộn trào về, sống động và sắc nét đến từng chi tiết như một thước phim quay chậm hiển hiện ngay trước mắt.

Đêm đó, bão số hai đổ bộ trực tiếp vào thành phố, sấm chớp xé toạc bầu trời đêm và mưa như thác đổ làm ngập trắng xóa khoảng sân chung của khu tập thể. Mai, khi ấy mới là một cô bé mười một tuổi, giật mình thức giấc giữa đêm bởi một tiếng cọt kẹt khô khốc phát ra từ cánh cửa chính căn hộ. Qua khe hở của tấm rèm vải hoa ngăn cách phòng ngủ nhỏ, cô bé nhìn thấy mẹ mình vừa bước vào nhà. Bà Hạnh ướt sũng từ đầu đến chân, chiếc áo mưa giấy rách bươm dính bết vào người. Ống quần bà xắn cao đến tận bắp đùi, bê bết thứ bùn cống đen ngòm, tanh tưởi bốc mùi xú uế nồng nặc. Khuôn mặt bà khi ấy trắng bệch, cắt không còn một giọt máu, hai hàm răng va vào nhau cầm cập phát ra những tiếng lập cập rợn người, toàn thân run rẩy như một người đang lên cơn co giật của trận sốt rét ác tính.

Bà không hề bật ngọn đèn tuýp ngoài phòng khách. Trong bóng tối lờ nhờ của ánh chớp ngoài cửa sổ, bà lầm lũi bò vào góc bếp này, quỳ sụp xuống trước chiếc thùng gạo gỗ. Bằng những cử chỉ điên cuồng và hoảng loạn, bà giật tung nắp thùng, thọc sâu cánh tay đang run rẩy nhét một vật gì đó bằng kim loại nặng trịch xuống tận đáy sâu của lớp gạo trắng, rồi vội vã cào gạo phủ kín lên trên. Khi Mai bước ra gọi khẽ một tiếng "Mẹ ơi", bà Hạnh giật bắn mình như một kẻ tội đồ bị bắt quả tang. Bà lao tới, dùng đôi bàn tay lạnh ngắt như tay người chết bóp chặt lấy hai bả vai Mai đến bầm tím, đôi mắt mở trừng trừng hoang dại, gằn từng tiếng rít qua kẽ răng: *"Quên đi! Con phải quên hết những gì con thấy đêm nay! Quên sạch đi, nếu không cả nhà mình sẽ chết không có chỗ chôn đâu con ơi!"*

Mai nhắm nghiền mắt lại trong giây lát, hít một hơi thật sâu. Luồng không khí ẩm lạnh tràn vào lồng ngực làm tan biến những ảo ảnh của quá khứ, trả lại cho cô sự tỉnh táo và quyết đoán tột độ. Cô đặt hai tay vào mép nắp gỗ, dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh lên trên.

*Kéttt!*

Hai chiếc bản lề rỉ sét bị cưỡng bức chuyển động, phát ra một tiếng rít chói tai cào xé màng nhĩ. Nắp thùng bật mở, đập vào vách tường gạch phía sau làm bụi bặm rơi lả tả. Một làn mùi ẩm mốc, chua nồng của lớp gạo cũ để lâu ngày bị biến chất lập tức xộc thẳng vào cánh mũi Mai, ngột ngạt và khó chịu.

Bên trong lòng thùng gỗ sâu hút, lớp gạo trắng ngần năm nào nay đã ngả hoàn toàn sang một màu xám đục nhờ nhờ. Lớp gạo bên trên mốc meo, kết dính lại với nhau thành từng mảng lớn như đá vôi, phủ đầy một lớp bụi phấn xốp mục nát do mọt gạo đục khoét qua năm tháng.

Mai không hề ngần ngại. Cô xắn hai ống tay chiếc áo len dày lên quá khuỷu tay, để lộ cẳng tay trắng ngần nhưng săn chắc. Không một chút chần chừ, cô đưa cả hai bàn tay trần cắm thẳng vào giữa khối gạo mốc lạnh ngắt.

Cảm giác những hạt gạo mục rữa lạo xạo cọ xát vào da thịt mang lại một cảm giác buốt giá, ghê rợn như thể đang chạm tay vào một đống tro tàn hay những mảnh vụn hài cốt. Mai cắn chặt môi, dùng mười đầu ngón tay gạt phăng lớp gạo đóng bánh phía trên sang hai bên thành gỗ, rồi thọc sâu cả hai cánh tay xuống tận đáy thùng. Càng xuống sâu, lớp gạo càng bị lèn chặt bởi độ ẩm ngấm qua các khe hở của đáy gỗ mục, kết thành những tảng bột cứng đanh như đất sét khô. Móng tay Mai cào mạnh vào lớp bột gạo khô khốc, buốt nhói từng đầu ngón tay, nhưng cô không dừng lại.

Cô lần tìm theo ký ức của đứa trẻ mười một tuổi năm xưa. Góc trong cùng bên tay trái của thùng gạo, nơi có một thanh giằng gỗ chịu lực nhô lên một cái gờ nhỏ hình tam giác.

Các ngón tay cô cào xới trong bóng tối của đáy thùng. Đột nhiên, đầu ngón tay trỏ của Mai va phải một bề mặt cứng đanh, gồ ghề và lạnh ngắt như băng tuyết.

Tim Mai thắt lại một nhịp, rồi đập dồn dập, liên hồi trong lồng ngực như muốn nhảy ra khỏi cuống họng.

Cô mở rộng các ngón tay, bấu chặt lấy vật thể cứng rắn ấy. Lớp bột gạo mốc bám chặt xung quanh như một lớp xi măng mỏng. Mai gồng sức, vặn mạnh cổ tay để bẻ gãy sự liên kết của những mảng gạo đóng tảng. Một góc kim loại nặng trịch, sắc nhọn cấn sâu vào lòng bàn tay cô. Mai hít một hơi thật dài, dùng cả hai bàn tay siết chặt lấy vật thể ấy, từ từ kéo mạnh nó lên khỏi lớp gạo mục sâu hút.

Bột gạo mốc bay lên mù mịt trong luồng sáng lờ nhờ rọi vào từ cửa sổ bếp.

Nằm gọn trong hai lòng bàn tay đầy bụi trắng của Mai là một chùm chìa khóa sắt to bản, nặng trịch đến bất ngờ.

Chùm chìa khóa gồm ba chiếc khóa sắt cỡ đại, mỗi chiếc dài bằng nửa bàn tay người lớn, xâu lại với nhau bằng một vòng thép dày bản đã bị hoen rỉ đỏ quạch như màu máu khô. Trên thân những chiếc khóa sắt công nghiệp thô kệch ấy, những vệt bùn đất đen ngòm từ trận ngập kinh hoàng năm 2006 vẫn còn bám chặt cứng vào các rãnh răng cưa và các khe hốc kỹ thuật, khô nứt nẻ sau mười tám năm bị chôn vùi trong bóng tối. Đây tuyệt đối không phải loại chìa khóa nhà dân dụng mạ đồng sáng bóng, mà là loại chìa khóa công nghiệp chuyên dụng từ thời Liên Xô, dùng riêng để đóng mở những ổ khóa gang chịu lực của hệ thống cửa chống ngập, kho kỹ thuật và cầu thang thoát hiểm buồng bơm tầng hầm thời kỳ xây dựng khu tập thể.

Hình hài của từng chiếc chìa vẫn còn hoàn toàn nguyên vẹn. Các răng khóa sắc cạnh, vuông vức chưa hề bị mài mòn, chỉ bị bao bọc bởi một lớp oxit sắt sần sùi và bùn đất hóa thạch.

Mười tám năm ròng rã, chùm chìa khóa này đã nằm im lìm dưới đáy sâu của chiếc thùng gạo, câm lặng chứng kiến sự suy tàn của một mái ấm gia đình, chứng kiến sự dằn vặt mục ruỗng của người mẹ và sự tha hóa tàn nhẫn của cả một tập thể dân cư. Đây chính là vật chứng quyết định, là mắt xích vật chất tối quan trọng chứng minh hành vi bỏ mặc người bị nạn của mẹ cô, nhưng đồng thời, nó cũng chính là chiếc chìa khóa duy nhất có thể mở toang cánh cửa sắt đang giam giữ sự thật dưới lòng đất sâu, nối liền thế giới của người sống với ba bộ hài cốt oan khiên suốt gần hai thập kỷ qua.

Mai nắm chặt chùm chìa khóa trong tay. Kim loại lạnh buốt cấn vào da thịt đau nhói, nhưng cảm giác sắc lạnh ấy lại truyền cho cô một nguồn sức mạnh kỳ lạ, vững chãi và kiên định hơn bao giờ hết. Cô từ từ đứng dậy, phủi sạch lớp bột gạo mốc bám đầy trên ống tay áo và hai bên vạt áo len, rồi không ngoái đầu nhìn lại góc bếp u tối thêm một lần nào nữa, cô sải bước dứt khoát ra khỏi căn hộ 407.

***

Dưới sân khu tập thể, phòng sinh hoạt cộng đồng ở tầng trệt — căn phòng rộng chừng ba mươi mét vuông với những cánh cửa chớp gỗ quét sơn xanh lam đã bạc màu, nơi trước đây ông Khang thường dùng để chủ trì các cuộc họp chi bộ, họp tổ dân phố và gây áp lực buộc từng gia đình phải ký vào biên bản đồng thuận giải tỏa — nay đã được trưng dụng hoàn toàn làm phòng làm việc lưu động của tổ công tác điều tra Công an quận.

Hai cánh cửa chính mở toang. Bên ngoài hiên, một chiến sĩ công an trẻ mang quân phục cảnh sát nhân dân đứng gác nghiêm trang, ánh mắt cảnh giác bao quát toàn bộ khu vực sân trước. Bên trong phòng, bầu không khí đặc quánh mùi giấy tờ lưu trữ cũ, mùi mực in tươi và mùi thuốc lá nồng nặc. Trên chiếc bàn họp dài bằng gỗ tạp phủ một tấm bạt nhựa màu xanh công nhân, ngổn ngang các tập hồ sơ lưu trữ, máy tính xách tay của bộ phận kỹ thuật hình sự đang nhấp nháy đèn nguồn, và những tập biên bản lấy lời khai vừa được hoàn tất còn thơm mùi mực.

Khi tiếng bước chân dứt khoát của Mai vang lên ngoài bậc thềm, điều tra viên Trịnh Quốc Quân đang ngồi ở đầu bàn, đối diện với Đỗ Thu Thảo và Phan Ngọc Linh. Quân vừa đặt chiếc bút mực xuống bên cạnh tập hồ sơ lời khai dày cộp của ông thợ điện Vũ Đức Tự. Vẻ mặt người điều tra viên dày dạn kinh nghiệm vô cùng nghiêm nghị, quầng thâm lộ rõ dưới đôi mắt trũng sâu sau một đêm dài trực chiến cân não, nhưng từng cử chỉ, từng ánh nhìn của anh vẫn toát lên sự sắc bén, chuẩn xác và uy quyền của pháp luật.

Đỗ Thu Thảo ngồi thu mình ở một góc bàn. Đôi mắt cô sưng húp, đỏ hoe vì những giọt nước mắt đã cạn kiệt sau khi đón nhận sự thật về cái chết của mẹ mình — bà Đỗ Thị Lệ. Nhưng trên khuôn mặt nhợt nhạt ấy, nét u uất tuyệt vọng đã biến mất, thay vào đó là một vẻ thanh thản, kiên trĩ lạ lùng. Trước mặt Thảo, bức thư tuyệt mệnh hoen ố vệt nước của bà Lệ được đặt ngay ngắn trên mặt bàn. Ngồi bên cạnh Thảo là Phan Ngọc Linh, chiếc máy ảnh chuyên dụng có gắn ống kính góc rộng và chiếc máy ghi âm kỹ thuật số đặt ngay ngắn trước mặt cô phóng viên trẻ, sẵn sàng ghi lại từng diễn biến tố tụng dù là nhỏ nhất.

Nghe tiếng bước chân Mai, cả ba người trong phòng đồng loạt ngẩng đầu lên.

Mai bước thẳng tới trước bàn làm việc của Quân. Không nói một lời hoa mỹ thừa thãi, cô mở rộng hai bàn tay đang nắm chặt, đặt chùm chìa khóa sắt hoen rỉ xuống tấm bạt nhựa trải bàn.

*Cạch!*

Tiếng kim loại va chạm khô khốc, đanh gọn vang lên giữa bốn bức tường tĩnh lặng, phá tan sự ngột ngạt của căn phòng.

Chân mày Quân khẽ nhướng lên. Ánh mắt sắc bén của người điều tra viên lập tức dán chặt vào chùm chìa khóa ba chiếc to bản, loang lổ những mảng bùn khô và rỉ sét đỏ quạch. Anh không vội vàng đưa tay chạm vào, mà từ từ ngước nhìn thẳng vào mắt Mai, giọng nói trầm tĩnh nhưng đầy sức nặng:

"Vật này là..."

"Đây là chùm chìa khóa sắt dự phòng của cửa thoát hiểm cầu thang phía đông dẫn xuống buồng bơm kỹ thuật tầng hầm," giọng Mai vang lên rành rọt, từng âm tiết nhả ra đều đặn, đanh thép như những nhát búa nện xuống đe thép giữa chốn công đường. "Mười tám năm trước, vào rạng sáng ngày mười sáu tháng Bảy năm 2006, mẹ tôi — bà Trần Thị Hạnh — đã cầm chính chùm chìa khóa này chạy xuống chân cầu thang nhưng không mở cửa cứu người. Sau đó, vì sợ hãi tội lỗi và sự đe dọa của nhóm người ông Khang, bà ấy đã đem chùm chìa khóa này giấu sâu dưới đáy thùng gạo trong bếp căn hộ 407 suốt từ đó cho đến tận ngày hôm nay. Tôi, Nguyễn Thanh Mai, con gái của bà Trần Thị Hạnh và nạn nhân Nguyễn Văn Dũng, chính thức bàn giao lại vật chứng nguyên bản này cho cơ quan cảnh sát điều tra."

Thảo ngồi bên cạnh khẽ nấc lên một tiếng nghẹn ngào xé ruột. Hai bàn tay cô gái siết chặt lấy mép bàn gỗ đến trắng bệch các đầu ngón tay. Đôi mắt Thảo dán chặt vào chùm chìa khóa sắt — vật dụng kim loại từng là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, thứ từng có thể cứu sống mẹ cô, bà Đỗ Thị Lệ, thoát khỏi cái chết ngạt tàn khốc trong dòng nước bùn dâng ngập mười tám năm về trước. Linh vội vàng đưa một cánh tay ôm lấy bả vai Thảo, siết nhẹ để truyền hơi ấm trấn an, trong khi ánh mắt cô phóng viên trẻ vẫn không rời chiếc máy ảnh đang ghi lại khoảnh khắc lịch sử này.

Điều tra viên Trịnh Quốc Quân đứng thẳng dậy. Động tác của anh chuẩn xác và dứt khoát. Anh mở chiếc hộp dụng cụ hiện trường, lấy ra một đôi găng tay cao su y tế chuyên dụng màu trắng ngà rồi cẩn thận đeo vào tay. Quân cúi xuống, nâng chùm chìa khóa lên một cách trân trọng, đưa lại gần ngọn đèn bàn neon công suất lớn để quan sát tỉ mỉ từng chi tiết.

Anh dùng một chiếc thước kẹp cơ khí bằng thép trắng, đo đạc cẩn thận chiều dài then khóa, độ sâu của các rãnh răng cưa, khoảng cách giữa các khấc hãm, rồi đối chiếu trực tiếp với tập bản vẽ kỹ thuật chi tiết của hệ thống ổ khóa cửa sắt buồng bơm năm 2004 — tài liệu gốc mà cậu sinh viên kiến trúc An đã thu thập và giao nộp trước đó.

"Kích thước then khóa 12 milimét, độ sâu rãnh 4 milimét, cơ cấu ba chốt hãm đối xứng... Khớp hoàn toàn một trăm phần trăm với quy cách kỹ thuật của cụm ổ khóa cơ khí hạng nặng lắp đặt tại cửa ngăn kho kỹ thuật buồng bơm ngầm," Quân hạ chiếc thước kẹp xuống, giọng nói đanh lại như thép nguội. Anh ngẩng đầu lên, quay sang cán bộ thư ký tổ công tác đang ngồi bên máy tính: "Đồng chí lập ngay biên bản tiếp nhận vật chứng theo thủ tục tố tụng đặc biệt."

Tiếng lách cách gõ bàn phím vang lên dồn dập. Bản in biên bản niêm phong vật chứng được in ra nhanh chóng từ chiếc máy in di động. Từng chi tiết định dạng của chùm chìa khóa — chất liệu sắt rỉ, chiều dài từng chiếc chìa, số lượng ba chiếc gắn trên vòng thép chịu lực, dấu vết bùn đất khô và phấn gạo mốc bám dính trên các rãnh kim loại — đều được ghi nhận chi tiết, tỉ mỉ và chuẩn xác đến từng milimét dưới sự giám sát của tất cả những người có mặt.

"Chị Nguyễn Thanh Mai, chị đọc kỹ lại toàn bộ nội dung biên bản và ký xác nhận vào vị trí người giao nộp vật chứng," Quân đẩy tờ biên bản in hai mặt cùng một cây bút bi sang phía Mai.

Mai cầm lấy cây bút. Các ngón tay cô không hề run rẩy. Cô đọc lướt qua từng dòng chữ pháp lý rõ ràng, minh bạch, rồi dứt khoát ký tên: *Nguyễn Thanh Mai*. Tiếp sau đó, Phan Ngọc Linh và Đỗ Thu Thảo lần lượt cầm bút ký vào mục Người chứng kiến việc giao nhận vật chứng.

Cán bộ kỹ thuật hình sự cẩn thận dùng kẹp gắp đưa chùm chìa khóa vào trong một chiếc túi ni lông chuyên dụng dán nhãn màu vàng của Viện Khoa học Hình sự. Miệng túi được dán kín bằng băng keo niêm phong chuyên dụng màu đỏ, và dấu giáp lai đỏ chót của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận được đóng dập dứt khoát lên mép niêm phong. Quy trình pháp lý hoàn tất, cánh cửa thỏa hiệp, che đậy hay lấp liếm của bất kỳ cá nhân nào trong khu tập thể này đã vĩnh viễn bị đóng sập hoàn toàn trước ánh sáng của công lý.

Quân cẩn thận cất tập hồ sơ cùng túi vật chứng vào trong chiếc cặp tài liệu bằng da màu đen khóa số. Anh đứng nghiêm nghị trước bàn làm việc, ánh mắt kiên định nhìn bao quát bốn người phụ nữ đang có mặt trong phòng, giọng nói anh cất lên dõng dạc, vang dội uy quyền tối thượng của pháp luật:

"Tôi chính thức thông báo cho các chị biết: Lời khai nhận tội toàn diện của ông Vũ Đức Tự về hành vi ngắt điện phá hoại buồng bơm, kết hợp với chùm chìa khóa gốc này, tập hồ sơ kỹ thuật ghi nhận việc can thiệp cầu dao nhánh CD-04 và các tài liệu kế toán chứng minh hành vi biển thủ, rút ruột quỹ sửa chữa của cựu tổ trưởng Phạm Văn Khang đã tạo thành một chuỗi chứng cứ vật chất hoàn chỉnh, vững chắc và không thể chối cãi. Cách đây đúng mười lăm phút, Viện Kiểm sát nhân dân quận đã chính thức phê chuẩn Lệnh khám xét khẩn cấp và Quyết định khám nghiệm hiện trường đặc biệt đối với toàn bộ khu vực tầng hầm buồng bơm bị xây tường gạch bịt kín suốt mười tám năm qua."

Một luồng không khí giải tỏa mạnh mẽ quét qua căn phòng sinh hoạt cộng đồng ngột ngạt. Thảo đưa mu bàn tay quệt vội dòng nước mắt vừa trào ra trên gò má, đôi vai cô run lên nhưng nụ cười nhẹ nhõm đã nở trên môi. Linh khẽ thở phào một hơi dài, tay siết chặt lấy chiếc máy ảnh như chuẩn bị bước vào một trận đánh lớn.

Đúng vào lúc đó, từ phía cổng chính dẫn vào khu tập thể Hòa An bỗng vang lên những hồi còi hụ dồn dập, đanh thép, xé toang không gian tĩnh mịch và u ám của buổi sớm mai.

Âm thanh gầm rú nặng nề của những khối động cơ diesel hạng nặng dội ầm ầm vào các vách tường bê tông cũ kỹ của dãy nhà tập thể, làm rung chuyển những ô kính cửa sổ đã rạn nứt. Tiếng xôn xao, nhốn nháo của hàng chục con người bắt đầu túa ra khắp các ban công, hành lang và đầu cầu thang. Cả khu tập thể bừng tỉnh sau một cơn mê muội kéo dài gần hai thập kỷ.

Mai, Quân, Linh và Thảo cùng bước nhanh ra khỏi phòng sinh hoạt chung, đứng dưới mái hiên hiên ngang nhìn thẳng ra khoảng sân trung tâm.

Dưới tán cây bàng cổ thụ rụng đầy những chiếc lá úa đỏ sau đêm bão, ba chiếc xe tải chuyên dụng màu xanh quân cảnh của lực lượng Cứu nạn cứu hộ và Công binh thành phố đang từ từ tiến vào sân, bánh xe nghiến rào rạo trên lớp bùn đất nhão nhoét. Nối đuôi phía sau là xe biển xanh của Viện Kiểm sát nhân dân và xe của lực lượng Kỹ thuật hình sự. Hàng chục chiến sĩ công an, công binh trong trang phục dã chiến chỉnh tề, cùng các chuyên gia pháp y mang theo máy khoan bê tông công suất lớn, búa tạ thủy lực, bình dưỡng khí cá nhân, cáng cứu hộ và dàn đèn chiếu sáng công nghiệp bắt đầu bước xuống xe, nhanh chóng triển khai đội hình phong tỏa nghiêm ngặt toàn bộ lối đi dẫn xuống cầu thang phía đông.

Ánh đèn hiệu chớp nháy màu đỏ rực từ nóc những chiếc xe cảnh sát quét từng vệt sáng chói lòa qua những mảng tường vôi lở loét, rêu phong của dãy nhà tập thể già cỗi. Bóng tối bao trùm khu nhà suốt mười tám năm ròng bỗng chốc bị xé toạc. Giờ phút đập tan bức tường gạch vô nhân đạo để đưa sự thật và những người đã khuất trở về với ánh sáng mặt trời đã chính thức bắt đầu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories