Người Gõ Cửa Lúc 3 Giờ 17Ch.16 / 20
Chapter 16

Bức tường có hồ sơ

Chiếc xe đặc chủng của lực lượng cứu hộ và đoàn công tác Viện Kiểm sát nhân dân từ từ rẽ qua cổng vòm rạn nứt, bánh xe nặng nề nghiến lên lớp gạch vỡ rồi dừng hẳn lại giữa khoảng sân bàng. Tiếng rít ghê rợn của phanh dầu nén rền vang trong không gian hẹp, kéo theo ánh nhìn hoang mang, sợ hãi lẫn tò mò tột độ của những cư dân còn nán lại bên dãy hành lang tầng trệt khu tập thể Hòa An.

Mặt đất nhão nhoét bùn non sau cơn mưa bão dữ dội đêm qua vẫn còn hằn sâu những vệt rãnh lốp kép sâu hoắm, đọng đầy thứ nước mưa nhờ nhờ xám xịt. Mùi lá bàng thối rữa lâu ngày quyện chặt với hơi ẩm nồng nặc bốc lên từ các miệng cống thoát nước chung quanh khối nhà hình chữ U, tạo nên một thứ chướng khí đặc quánh, quấn lấy từng mảng tường vôi tróc lở vàng ố. Từ trên những khung cửa sổ chắp vá bằng nan gỗ mục và những “chuồng cọp” rỉ sét ở tầng hai, tầng ba, từng gương mặt hốc hác, nhợt nhạt ló ra sau lớp rèm vải ố màu. Họ thì thào, chỉ trỏ xuống lòng sân, ánh mắt dáo dác như đàn chim sẻ trước cơn giông bão. Rồi bất chợt, tiếng loa cầm tay rít lên một tràng âm thanh chói gắt, sắc nhọn, xé toạc bầu không khí nín thở ngột ngạt vốn đã bao trùm lấy khu tập thể này suốt gần hai thập kỷ qua.

Điều tra viên Trịnh Quốc Quân bước xuống từ chiếc xe chỉ huy dẫn đầu. Bộ cảnh phục dã chiến sẫm màu của anh phẳng phiu, đượm chút phong trần sương gió nhưng toát lên vẻ nghiêm cẩn tuyệt đối; gương mặt vuông chữ điền lạnh băng, rắn rỏi, không gợn một tia dao động. Anh chỉnh lại chiếc mic cài bên ve áo, sải bước dứt khoát về phía khoảng sân xi măng nứt toác, nơi một chiếc bàn dã chiến bằng kim loại vừa được các chiến sĩ cơ động hạ xuống cạnh gốc bàng cổ thụ xù xì. Đi sát bên cạnh anh là kiểm sát viên trung cấp đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận, trang phục âu phục ngành nghiêm trang, tay xách chiếc cặp tài liệu bằng da đen bóng. Khóa kim loại bật mở tanh tách, tập văn bản dày cộp với những dòng chữ in hoa sắc nét và con dấu đỏ tươi giáp lai được rút ra, đặt ngay ngắn trên mặt bàn nhôm lạnh ngắt.

“Yêu cầu toàn thể bà con trật tự và chú ý lắng nghe!” Giọng Quân vang rền, đanh gọn, qua chiếc loa pin dội ngược vào các vách tường bê tông ẩm mốc, chấn động màng nhĩ từng người. “Căn cứ Lệnh khám xét khẩn cấp số bốn mươi hai và Quyết định khám nghiệm hiện trường đặc biệt đã được Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền phê chuẩn vào rạng sáng nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra chính thức thiết lập trạm chỉ huy dã chiến tại sân chung khu tập thể Hòa An. Kể từ thời điểm này, toàn bộ lối đi cầu thang bộ phía đông và toàn bộ khu vực công trình ngầm, tầng hầm kỹ thuật thuộc đơn nguyên hai bị phong tỏa toàn diện và tuyệt đối. Nhằm bảo đảm an toàn kết cấu chịu lực của công trình trong suốt quá trình triển khai thiết bị khảo sát cơ học, đồng thời ổn định trật tự trị an, yêu cầu toàn bộ các hộ dân đang sinh sống tại tầng một và tầng hai khẩn trương thu dọn tư trang, tài liệu thiết yếu, nhanh chóng di chuyển tạm thời ra ngoài ranh giới khuôn viên khu nhà theo hướng dẫn trực tiếp của lực lượng cứu nạn, cứu hộ. Mọi hành vi cản trở, vượt qua hàng rào an ninh hoặc xâm phạm hiện trường niêm phong sẽ bị lập biên bản, cưỡng chế và xử lý nghiêm minh theo các điều khoản của Bộ luật Hình sự!”

Dải băng phản quang màu vàng viền đen in dòng chữ đậm nét “KHU VỰC CẤM XÂM PHẠM” được các chiến sĩ công an kéo căng tức thì. Từ gốc bàng già nua, sợi dây nhựa xé gió bay qua chiếc cột điện bê tông trơ cốt thép, chạy thẳng một đường tắp, phong tỏa hoàn toàn lối dẫn vào chân cầu thang phía đông. Tiếng bước chân lục tục, vội vã bắt đầu vang lên từ các dãy hành lang thấp tè, tối tăm. Những người già lập cập xách làn nhựa đựng vài vỉ thuốc và giấy tờ tùy thân, những người phụ nữ ôm chặt con nhỏ, đám trẻ con ngơ ngác níu chặt vạt áo mẹ bước đi trên nền gạch trơn trượt. Không còn ai dám lớn tiếng đôi co, không còn những màn đập xoong chảo hay hò hét chống đối như buổi chiều u ám hôm trước. Sự hiện diện áp đảo của xe đặc chủng, của lực lượng cảnh sát mặc sắc phục, của đại diện Viện kiểm sát và những khối máy móc công binh mang một sức nặng hiện thực nghiệt ngã, đập tan từng mảng vỏ bọc giả tạo mà ban đại diện cư dân từng cố công dựng lên qua bao năm tháng để che đậy bí mật mục ruỗng bên dưới.

Ở góc rìa sân, dưới bóng cây râm ran tiếng gió rít, Phạm Văn Khang bị hai cán bộ công an hình sự áp giải đứng tách biệt bên mép hiên phòng sinh hoạt chung. Đôi mắt lão hõm sâu vào hốc mắt thâm quầng, chằng chịt những tia máu đỏ quạch, chòm râu bạc lởm chởm rung bần bật sau mỗi nhịp thở đứt quãng. Lão dán mắt trừng trừng vào những người lính cứu hộ đang khiêng từng khối thiết bị nặng hàng tạ từ thùng xe tải xuống mặt đất. Chiếc đĩa men tráng sắt tây viền xanh thân thuộc mà lão từng run rẩy cố dúi vào tay Mai ban sáng lúc này đã vỡ tan tành dưới đất, những mảnh men sứ trắng sắc lẹm, nham nhở vẫn còn vương vãi trên nền xi măng sũng nước mưa, bị những gót giày bốt dã chiến giẫm qua, không một ai buồn cúi xuống nhặt.

Phan Ngọc Linh ôm một tập hồ sơ dày cộp bọc bìa cứng tiến lại gần bàn chỉ huy dã chiến, nơi Quốc Quân đang dùng những chiếc chặn giấy bằng đồng miết phẳng tấm sơ đồ tổng thể khu tập thể. Gương mặt nữ nhà báo lộ rõ vẻ bơ phờ sau một đêm thức trắng bên ấm trà đặc, ghi âm, đối chiếu từng trang tài liệu lưu trữ và ghi chú kỹ thuật, nhưng đôi mắt sau tròng kính cận lại sáng quắc, sắc lạnh như một lưỡi dao mổ. Cô đặt hai xấp bản vẽ kỹ thuật khổ A3 đã ngả màu ố vàng song song trước mặt Quân và vị kiểm sát viên.

“Đề nghị các đồng chí quan sát kỹ điểm bất thường mang tính cốt lõi này,” ngón tay trỏ của Linh miết mạnh vào mép tờ giấy bên tay trái, nơi các thông số kỹ thuật được in bằng mực xanh cổ điển. “Đây là bản vẽ thiết kế nguyên bản năm 1998 của Viện Thiết kế Xây dựng Đô thị, hồ sơ gốc được bàn giao khi khu nhà Hòa An hoàn thiện và đưa vào vận hành. Hãy nhìn vào trắc diện tầng hầm kỹ thuật: toàn bộ không gian ngầm được bố trí đối xứng hoàn hảo qua trục tim của đơn nguyên hai. Buồng bơm tiêu thoát nước cưỡng bức nằm ở cánh tây, đối diện qua trục hành lang kỹ thuật dài mười bốn mét ở cánh đông chính là phòng kho lưu trữ vật tư và máy nén khí dự phòng. Căn phòng kho này có diện tích sàn thực tế xấp xỉ ba mươi lăm mét vuông, chiều cao thông thủy hai mét tư, kết cấu trần bê tông đổ liền khối với dầm chịu lực tầng một.”

Quân cúi thấp người xuống, chiếc kính lúp kỹ thuật có gắn đèn rọi trên tay anh lướt chậm rãi, tỉ mỉ qua từng nét đứt thể hiện hệ thống ống thông hơi, đường cấp nước phụ và hệ thống cửa sắt chống cháy của gian phòng kho năm 1998.

Linh lật tiếp xấp tài liệu bên tay phải, đè mép giấy lên bản thiết kế cũ để tạo sự đối chiếu trực tiếp từng tọa độ: “Còn đây là Hồ sơ hoàn công cải tạo sửa chữa sau sự cố ngập lụt cục bộ tháng Bảy năm 2006. Biên bản nghiệm thu công trình ngầm này được hoàn tất vào ngày 28 tháng 8 năm 2006, do chính ông Phạm Văn Khang ký duyệt với tư cách kép: Tổ trưởng tổ dân phố kiêm Trưởng ban quản lý lâm thời khu tập thể, kèm theo con dấu tròn đỏ của ban đại diện.”

Cây bút chì kim trên tay Linh gõ mạnh, dứt khoát vào góc dưới cùng của bản vẽ năm 2006. Tại đúng tọa độ mà tám năm trước đó từng là gian phòng kho vật tư ba mươi lăm mét vuông, toàn bộ không gian đã biến mất không còn dấu vết. Một mảng mực tàu đen kịt, dày đặc và thô bạo được quét đè lên vị trí cửa ra vào và toàn bộ lòng căn phòng. Ngay bên cạnh mảng tô đen vội vã ấy là một dòng ghi chú viết tay bằng mực bút bi xanh đã ngả màu tím: *Khoảng móng đặc chịu lực bổ sung — Gia cố chống lún nứt móng đơn nguyên hai sau sự cố thiên tai.*

“Họ đã xóa sổ một căn phòng rộng ba mươi lăm mét vuông ra khỏi mặt giấy chỉ bằng vài nét mực tàu,” Linh gằn giọng, âm sắc của cô đanh thép, mang sức nặng của sự thật được phơi bày sau bao ngày bị vùi dập. “Một khoảng không gian kín có cửa thép đôi, có hệ thống dây điện ba pha đi ngầm trong tường, lại đột ngột biến thành một khối bê tông móng đặc chỉ trong vòng một tháng sau trận bão số hai. Khoản kinh phí hai trăm bốn mươi lăm triệu đồng rút ruột từ quỹ sửa chữa khẩn cấp năm đó không hề được dùng để gia cố chân móng hay bơm vữa chống sụt lún như trong báo cáo tài chính ngụy tạo. Nó được dùng để mua xi măng mác cao, cát vàng, gạch chỉ đặc, thuê thợ hồ bên ngoài làm việc thâu đêm suốt sáng để xây bịt kín cửa căn phòng kho này lại, vùi lấp toàn bộ hiện trường và chôn sống ba con người bên trong!”

Quân nhìn đăm đăm vào con dấu tròn màu đỏ son đã mờ nhạt nơi góc bản vẽ, dòng chữ nổi gân guốc: *Ban đại diện Cư dân Khu tập thể Hòa An — Tổ trưởng Phạm Văn Khang*. Các đốt ngón tay Quân siết chặt lấy chiếc bút ký nghiệp vụ đến trắng bệch. Anh ngẩng lên, gật đầu dứt khoát với cán bộ thư ký ghi chép: “Thu giữ và niêm phong ngay hai bản vẽ này vào tập chứng cứ tài liệu đối chiếu số một. Yêu cầu tổ kỹ thuật hình sự và giám định dấu vết bắt đầu triển khai ngay tại khu vực chân cầu thang phía đông.”

Không gian ẩm mốc dưới chân cầu thang phía đông lạnh lẽo đến thấu xương. Mặc dù bên ngoài trời đã sáng rõ, ánh sáng ban ngày dường như hoàn toàn bất lực, không thể xuyên qua lớp cửa sắt rỉ ngoét và những bậc tam cấp đóng rêu trơn tuột dẫn xuống bóng tối sâu hút của lòng hầm. Không khí nơi đây sực nức thứ mùi tanh tưởi lợm giọng của bùn cống chưa kịp thoát hết sau cơn mưa đêm, lẫn trong mùi tanh nồng của rỉ sắt lâu năm bị ngâm nước.

Hai kỹ thuật viên hình sự trong bộ đồ bảo hộ chuyên dụng, mang găng tay cao su màu xanh và khẩu trang lọc độc than hoạt tính, xách theo đèn chiếu tia cực tím công suất lớn và bộ dụng cụ cạo gạt cơ học bước xuống chiếu nghỉ tầng một. Toàn bộ mảng tường dọc vách cầu thang dẫn xuống hầm ngầm vừa được ai đó quét vội một lớp sơn nước màu xanh da trời rẻ tiền. Mùi hóa chất hữu cơ hắc nồng nặc vẫn còn bốc lên ngùn ngụt, lấn át cả mùi rêu phong ẩm mục của những bức tường cổ lỗ xung quanh.

“Bắt đầu bóc tách từ tọa độ một mét hai mươi tính từ mặt sàn chiếu nghỉ,” Quân đứng ngay bậc thềm phía trên, lạnh lùng chỉ đạo.

Lưỡi dao cạo bằng hợp kim thép sắc bén tì mạnh vào bề mặt bức tường. Một tiếng sột soạt rợn người vang lên, kéo dài lê thê. Lớp sơn xanh da trời tươi mới, còn chưa kịp đóng rắn hoàn toàn, bắt đầu rách toạc ra từng mảng lớn như da người bị lột vảy. Từng mảng sơn mỏng manh lả tả rơi xuống nền xi măng ẩm ướt. Và ngay bên dưới lớp màng sơn ngụy trang ấy, bức tường vôi cũ màu vàng xỉn, cáu bẩn qua năm tháng dần lộ ra, loang lổ những vệt nước đen kịt đã khô quắt tự bao giờ.

“Dừng tay! Giữ nguyên vị trí! Rọi đèn tập trung vào góc mười giờ!” Kỹ thuật viên hình sự lớn tuổi hơn bỗng giơ tay hô khẽ, giọng nói căng nghẹn qua lớp khẩu trang dày.

Ánh đèn pin công nghiệp chuyên dụng quét vuông góc vào mảng tường vừa được cạo sạch. Những vệt đen chằng chịt, sắc lẹm hiện hình rõ mồn một dưới luồng sáng trắng lạnh lẽo.

Đó hoàn toàn không phải là những vết nứt nẻ do co ngót kết cấu bê tông.

Trên vách tường vôi vữa cũ kỹ, cày sâu hoắm vào tận lớp cát thô bên trong, là hàng chục vệt cào cấu song song. Những đường rãnh sâu hoắm đến nửa đốt ngón tay, kéo dài từ tầm ngang ngực xuống tận chân tường theo một đường cong gấp khúc, quằn quại và tuyệt vọng. Tại điểm kết thúc của từng đường rãnh cào xé, những mẩu vữa vôi vụn nát vẫn còn găm chặt lấy những mảng màu nâu sẫm khô khốc — thứ màu sắc của máu từ những đầu ngón tay đã bị cọ xát điên cuồng đến tận xương tủy. Đan xen giữa những vết móng tay cào loạn xạ ấy là các vệt bám màu nâu đỏ của rỉ sắt cơ khí, trùng khớp tuyệt đối với vị trí của một người đang đứng bám chặt lấy khung cửa sắt trong cơn tuyệt vọng, khi mực nước cống hôi thối dâng ngập đến tận cổ họng, điên cuồng tìm kiếm một khe hở dù là nhỏ nhất để ngoi lên đớp lấy chút dưỡng khí mong manh.

“Có ít nhất ba hình thái dấu vết cào cấu cơ học khác nhau,” người kỹ thuật viên hình sự dùng thước đo tỷ lệ ly đặt cạnh từng rãnh cào, bấm máy ảnh chụp cận cảnh từng milimét. “Nhóm thứ nhất có khổ bàn tay lớn, lực tì đè cực mạnh, xé toạc cả lớp vữa trát gạch chỉ; nhóm thứ hai có khổ tay mảnh hơn, tầm với thấp hơn khoảng hai mươi lăm phân, tại các kẽ vữa còn lưu lại mảnh móng tay phụ nữ bị gãy dập, biến dạng găm sâu vào trong; và nhóm thứ ba là những vệt cào ngắn, dồn dập, loạn xạ ở tầm sát chân tường, thể hiện trạng thái co giật, quẫy đạp dữ dội. Toàn bộ là dấu vết giãy giụa cơ học trong trạng thái hoảng loạn cực độ khi nạn nhân bị ngạt nước và ngạt khí đồng thời.”

Mai đứng chôn chân ở đầu bậc cầu thang phía trên, hai bàn tay cô bấu chặt vào gờ lan can sắt hoen rỉ đến mức các khớp ngón tay đau nhói. Lồng ngực cô thắt lại, như thể có một khối đá tảng vô hình vừa rơi ụp xuống chặn đứng khí quản. Mười tám năm trước, trong bóng tối đặc quánh sau khi nhánh điện CD-04 bị giật sập lúc 3 giờ 17 phút sáng, cha cô — người kỹ sư cơ khí mẫn cán Nguyễn Văn Dũng, cùng bà Lệ và ông Phúc — đã đứng chính tại bậc thềm ngập nước này. Họ đã nghe thấy tiếng nước cống cuồn cuộn dâng tràn qua van chặn bị hỏng, đã nếm trải sự ngạt thở từng giây từng phút, đã dùng chính mười đầu ngón tay thịt nát xương tan cào xé bức tường vô tri này để van xin một con đường sống. Trong khi đó, ở phía bên kia cánh cửa sắt lạnh lùng bị khóa xích, mẹ cô đã đứng đó, tay cầm chùm chìa khóa, chôn chân trong nỗi kinh hoàng tê liệt rồi quay đầu bỏ chạy.

Từng giọt mồ hôi lạnh toát rỉ ra trên trán Mai, chảy dài xuống gò má tái nhợt. Nỗi đau đớn và bóng ma ám ảnh mười tám năm qua không còn là một giấc mơ chập chờn hay tiếng gõ cửa ma quái lúc nửa đêm nữa. Nó đang phơi bày trần trụi, lạnh lùng và tàn nhẫn dưới lưỡi dao cạo của người lính hình sự, biến thành những rãnh máu khô và những mảnh móng tay găm thẳng vào lịch sử đen tối của tòa nhà này.

“Lập biên bản cố định dấu vết cơ học trên bề mặt vách tường ngay tại chỗ,” Quân cất giọng, âm thanh trầm xuống nhưng đanh chắc như thép nguội. “Đưa đối tượng Phạm Văn Khang vào phòng sinh hoạt chung tầng trệt. Tiến hành lấy lời khai tố tụng đặc biệt.”

Căn phòng sinh hoạt cộng đồng ở tầng trệt ẩm mốc và nồng nặc mùi giấy tờ mục nát. Quân ngồi đối diện với Phạm Văn Khang qua chiếc bàn gỗ dài ọp ẹp. Bên cạnh Quân, vị kiểm sát viên mở cuốn sổ ghi biên bản điều tra, cẩn trọng đặt chiếc máy ghi âm kỹ thuật số chuyên dụng màu đen vào chính giữa bàn. Nút bấm cơ học phát ra tiếng cạch nhỏ, chiếc đèn led màu đỏ nhấp nháy đều đặn, báo hiệu mọi âm thanh trong căn phòng này từ giây phút này đều trở thành chứng cứ trước tòa.

Khang ngồi rúm ró trên chiếc ghế đẩu gỗ thấp, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối, các khớp ngón tay run rẩy liên hồi. Ánh mắt lão đảo như rang lạc, từ gương mặt sắt đá của Quân sang tập hồ sơ hoàn công năm 2006 đang mở toang trước mặt.

“Ông Phạm Văn Khang,” Quân mở đầu, từng lời nói rành rẽ, nặng trịch như từng nhát búa nện xuống mặt bàn. “Hồ sơ hoàn công cải tạo ngày 28 tháng 8 năm 2006 thể hiện rõ việc xóa bỏ căn phòng kho kỹ thuật ba mươi lăm mét vuông để biến thành 'khoảng móng đặc chịu lực'. Ông giải thích thế nào về việc toàn bộ căn phòng biến mất hoàn toàn trên thực tế sau trận ngập lụt lịch sử năm đó?”

Khang nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng lão nghẹn đắng, yết hầu giật lên từng chặp. Lão hắng giọng, cố gượng nở một nụ cười mếu máo, chiếc áo khoác gió sờn rách trên vai rung lên bần bật:

“Báo... báo cáo cán bộ, chuyện này... chuyện này đã trôi qua mười tám năm có lẻ rồi, một ông già lẩm cẩm như tôi làm sao mà nhớ hết từng chi tiết kỹ thuật được. Hồi đó là trận bão số hai, nước tràn vào ngập trắng cả tầng hầm ngập lên nửa tầng một, nền móng khu nhà cũ xây từ thời bao cấp bị lún nứt, rạn vỡ nghiêm trọng khắp nơi. Đơn vị thi công ngoài họ vào khảo sát hiện trường, họ đánh giá phía đông có nguy cơ sụt móng cục bộ, đe dọa làm nghiêng đổ cả tòa nhà chữ U, nên họ yêu cầu phải đổ vữa, xây gạch chặn lại để bù lún kết cấu. Mọi việc kỹ thuật là do bên nhà thầu xây dựng họ tự ý làm, tự ý vẽ lại sơ đồ cho phù hợp với thực tế thi công chứ tôi... tôi dân hưu trí, có biết gì về kết cấu xây dựng hay bê tông cốt thép đâu cán bộ!”

“Đơn vị thi công tự ý làm?” Quân nhếch mép, một nụ cười lạnh buốt không chút hơi ấm. Anh đưa ngón tay trỏ lật mạnh trang hồ sơ cuối cùng, ấn mạnh đầu ngón tay vào ô chữ ký phê duyệt hoàn công. “Nếu là đơn vị thi công tự ý làm, vậy thì chữ ký bằng mực bút bi xanh mang tên Phạm Văn Khang, kèm theo con dấu tròn đỏ của Ban đại diện cư dân đóng giáp lai từng trang bản vẽ sửa đổi này là ai ký? Ai đóng dấu? Ai cho phép ông ký nghiệm thu một khối móng đặc không có thiết kế kết cấu, không có cốt thép chịu lực, che lấp toàn bộ lối vào phòng kho kỹ thuật?”

Mặt Khang cắt không còn một giọt máu. Lão nhìn chằm chằm vào chữ ký uốn lượn sắc sảo, tự tin của chính mình từ mười tám năm trước — nét chữ của kẻ nắm quyền lực tuyệt đối trong khu tập thể, kẻ từng đinh ninh rằng tội ác của mình sẽ vĩnh viễn ngủ yên dưới đáy tủ lưu trữ đầy bụi bặm và mạng nhện.

“Tôi... tôi chỉ ký thủ tục hành chính... theo đề nghị của tổ dân phố...” Khang lắp bắp, những giọt mồ hôi hột to như hạt ngô thi nhau rỉ ra trên trán, lăn dài qua khóe mắt cay xè rồi rơi tõm xuống mặt bàn gỗ.

“Ông không hề chỉ ký thủ tục hành chính!” Quân đập mạnh tập tài liệu xuống mặt bàn nhôm, âm thanh chát chúa vang lên làm Khang giật nảy mình thon thót. “Chính ông đã chỉ đạo ông Vũ Đức Tự dập cầu dao nhánh CD-04 vào lúc ba giờ mười bảy phút sáng để vô hiệu hóa máy bơm thoát nước cưỡng bức! Chính ông đã dùng sợi xích sắt này khóa chặt cánh cửa thoát hiểm phía đông, tước đoạt lối thoát duy nhất của ba nạn nhân! Và sau khi họ chết ngạt trong bùn đen, chính ông đã trích tiền từ khoản hai trăm bốn mươi lăm triệu chiếm đoạt của quỹ cư dân để thuê thợ xây bức tường gạch hai mươi phân bịt kín cửa phòng kho, rồi làm giả hồ sơ biến nó thành móng đặc nhằm chôn vùi thi thể họ vĩnh viễn dưới lòng đất! Con dấu này, chữ ký này là chứng cứ vật chất đanh thép chứng minh ý chí chủ quan và hành vi che giấu tội ác man rợ có tổ chức của ông! Ông có quyền im lặng, nhưng mọi lời chối quanh, gian dối của ông lúc này đều đang được ghi nhận vào biên bản để phục vụ truy tố trước tòa án nhân dân!”

Khang gục hẳn đầu xuống mặt bàn, hai bàn tay gầy guộc ôm chặt lấy mái đầu bạc trắng, miệng lẩm bẩm những câu rời rạc vô nghĩa. Lớp vỏ bọc đạo mạo, nhân từ của một người cả đời vì tập thể, vì sự yên bình của bốn mươi hộ dân, đã hoàn toàn sụp đổ tan tành trước những trang hồ sơ và lý lẽ đanh thép của pháp luật.

Dưới tầng hầm ngập ngụa mùi ẩm mốc, Vũ Minh An đang cùng hai kỹ sư công binh quỳ gối trên nền đất nhớp nháp bùn lầy ngay trước bức tường gạch ngụy trang. Cổ chân An vẫn quấn băng gạc trắng toát, những vết bầm tím mang hình mười ngón tay rớm dịch từ đêm qua vẫn nhói buốt theo từng nhịp đập của mạch máu, nhưng ánh mắt anh chưa bao giờ tập trung cao độ đến thế.

Chiếc máy kiểm tra khuyết tật bê tông bằng sóng siêu âm chuyên dụng phát ra những tiếng *bíp... bíp...* ngắt quãng, đều đặn vang vọng trong không gian kín mít. Đầu dò siêu âm được An và người lính công binh áp chặt vào bề mặt lớp vữa trát cát thô ráp. Trên màn hình huỳnh quang của máy đo, biểu đồ sóng âm liên tục dao động với những bước sóng gãy khúc.

“Vận tốc truyền sóng âm giảm đột ngột từ ba nghìn tám trăm mét trên giây xuống còn một nghìn hai trăm mét trên giây ở độ sâu hai mươi mốt xăng-ti-mét,” người kỹ sư công binh tháo một bên tai nghe chuyên dụng, quay sang đối chiếu số liệu với An. “Hoàn toàn không có hiện tượng phản xạ sóng của khối bê tông đặc hay kết cấu móng đá chịu tải. Bức tường này chỉ là tường gạch chỉ xây chèn hai lớp, tổng chiều dày đúng hai mươi phân.”

An cầm chiếc thước kẹp kim loại và máy đo khoảng cách laser, lia vệt sáng đỏ rực dọc theo các mạch vữa đã mục rỉ: “Khớp hoàn toàn với bản vẽ gốc năm 1998. Bức tường này là một vách ngăn giả tạo, được xây bít kín vào đúng khuôn cửa vòm cũ của phòng kho kỹ thuật. Phía sau lớp tường gạch hai mươi phân này là một khoảng rỗng thể tích ước tính trên tám mươi mét khối.”

Một người lính cứu hộ đeo mặt nạ dưỡng khí cầm máy đo đa khí cầm tay, cẩn thận cắm đầu kim dò bằng thép qua một khe nứt nhỏ sát chân tường, nơi lớp vữa đã bị rữa nát do ngấm nước ngầm. Chiếc máy trên tay anh lập tức hú lên một hồi còi báo động chói tai, màn hình tinh thể lỏng nhấp nháy liên tục những dòng chữ màu đỏ rực cảnh báo: *Nồng độ khí Methane (CH4) và Hydro Sunfua (H2S) vượt ngưỡng an toàn cho phép năm trăm phần trăm. Nồng độ Dưỡng khí (O2) dưới tám phần trăm.*

“Khoảng không gian kín bên trong tích tụ toàn bùn hữu cơ thối rữa và khí độc đậm đặc suốt mười tám năm qua,” người lính cứu nạn báo cáo lớn tiếng khi thấy bóng Quốc Quân bước xuống bậc thang cuối cùng. “Nếu chúng ta dùng búa tạ đập phá cơ học diện rộng ngay lập tức, áp suất khí độc nén bên trong thoát ra đột ngột có thể gây ngạt tức thì cho toàn bộ lực lượng thi công trong bán kính hẹp. Chưa kể đến việc rung chấn cơ học mạnh có thể làm sụp đổ các dầm bê tông cốt thép đã bị xói mòn nghiêm trọng ở trần tầng hầm.”

Quân đứng lặng trước bức tường gạch xám xịt, nơi những vệt nước đen rỉ ra từ chân tường tạo thành những rãnh ố kéo dài ra tận rãnh thoát nước hành lang. Anh nhìn quanh kết cấu trần hầm chằng chịt những vết nứt hình mạng nhện, rồi dứt khoát đưa ra mệnh lệnh tác chiến:

“Toàn đội chốt phương án thi công ban ngày, tuyệt đối không hành động theo cảm tính! Chúng ta triển khai thi công theo ba giai đoạn nghiêm ngặt: Giai đoạn một, sử dụng hệ thống cột chống thủy lực gia cố toàn bộ trần buồng bơm và chiếu nghỉ cầu thang phía đông để chống sụt lún cục bộ. Giai đoạn hai, dùng máy khoan rút lõi bê tông đường kính mười lăm xăng-ti-mét khoan hai lỗ thông khí ở góc trên cùng của bức tường, lắp đặt ngay hệ thống quạt hút công nghiệp công suất lớn nối ống mềm chịu áp lực dẫn toàn bộ khí độc thẳng ra ngoài khoảng sân bàng. Chỉ khi nồng độ dưỡng khí bên trong đạt ngưỡng an toàn sinh mạng và áp suất khí độc giải tỏa hoàn toàn, tổ phá dỡ mới được phép dùng kìm cắt thủy lực mở rộng cửa toàn phần.”

Quân rút từ trong túi ni lông niêm phong vật chứng ra chùm chìa khóa sắt ba chiếc mà Mai đã bàn giao ban sáng. Dưới ánh đèn pin rọi thẳng, lớp phấn gạo mốc trắng và vệt bùn khô bám chặt trên thân chìa ánh lên màu đen sẫm của kim loại già nua. Anh bước tới trước cánh cửa sắt hoen rỉ ngăn cách hành lang hầm với buồng kho — cánh cửa sắt đã bị xích chặt suốt mười tám năm qua.

Chiếc ổ khóa cơ khí khổng lồ bằng đồng đúc phủ đầy mạng nhện và vảy rỉ sắt dày cộp. Quân tra chiếc chìa khóa sắt lớn nhất vào khe khóa.

*Tách.*

Một tiếng khấc cơ học đanh gọn vang lên, khô khốc và chuẩn xác đến từng rãnh then bên trong. Ổ khóa xoay nửa vòng, chốt hãm mười hai milimét thụt sâu vào trong thân khóa nhẹ nhàng như thể nó vừa được người thợ tra dầu bảo dưỡng ngày hôm qua. Không có một chút kẹt rít hay sượng sùng nào. Chiếc chìa khóa mà người thợ cơ khí Nguyễn Văn Dũng mang theo bên mình, chiếc chìa mà người vợ đã giấu dưới đáy thùng gạo suốt gần hai thập kỷ trong câm lặng và đớn đau, đã mở khớp hoàn toàn ổ khóa của tấn thảm kịch năm 2006.

Sự khớp nối cơ học hoàn hảo ấy như một cái tát trời giáng vào mọi sự ngụy biện của quá khứ. Cánh cửa sắt kẽo kẹt rên rỉ rồi hé mở một khe hẹp chừng mười phân, để lộ bức tường gạch hai mươi phân xám xịt nằm sừng sững ngay phía sau, chặn đứng hoàn toàn lối vào phòng kho như một tấm bia mộ khổng lồ không văn tự.

Mai đứng lặng bên hiên sảnh tầng trệt, tựa lưng vào cây cột bê tông tróc lở trơ cả sỏi đá. Gió mùa đông bắc mang theo hơi ẩm lạnh buốt thổi qua vạt áo mỏng của cô, nhưng trong lồng ngực cô lúc này lại là một sự tĩnh lặng đến rợn ngợp.

Dưới sân, tiếng máy nổ công nghiệp bắt đầu gầm vang rền rĩ. Những người lính cứu nạn trong bộ trang phục màu cam dạ quang đang thoăn thoắt lắp ráp hệ thống chiếu sáng công nghiệp. Bốn dàn đèn halogen công suất năm nghìn watt được dựng lên ở bốn góc sân, ánh sáng trắng chói lòa xé toạc bóng tối nhờ nhờ của buổi sớm ẩm ướt, rọi sáng rực từng ngóc ngách u ám dưới chân cầu thang phía đông. Những bình dưỡng khí nén bằng thép sơn vàng xếp thành từng hàng ngay ngắn cạnh máy hút mùi công nghiệp. Những ống dẫn khí màu cam khổng lồ ngoằn ngoèo trườn từ lòng hầm lên mặt đất như những con trăn khổng lồ.

Mai nhìn những người lính cứu hộ cẩn trọng kiểm tra van thở, nhìn các kỹ thuật viên hình sự đánh số từng chiếc cọc tiêu hiện trường màu vàng, nhìn kiểm sát viên lật từng trang biên bản ghi lời khai tố tụng.

Một cảm giác dịch chuyển sâu sắc dâng lên trong lòng cô, rõ ràng, dứt khoát và không thể nào đảo ngược.

Bóng ma của mười tám năm qua — những nhịp gõ cửa hai ngắn một dài lúc 3 giờ 17 phút sáng, mùi bùn rỉ sắt quẩn quanh trong bóng tối, tiếng xích sắt lê lết vô hình trên sàn gạch hành lang, và nỗi dằn vặt kinh hoàng về người mẹ đã câm lặng ôm chùm chìa khóa sống mòn qua nửa đời người — tất cả những thứ siêu nhiên, mộng mị và u uất ấy đang dần tan biến. Chúng không còn là những ảo ảnh trôi dạt trong cõi vô hình để người sống phải run rẩy cầu xin hay làm những nghi thức trì hoãn mê muội. Chúng đã bị kéo tuột ra ngoài ánh sáng mặt trời, biến thành một vụ án hình sự trần trụi, có biên bản khám nghiệm, có máy móc đo đạc, có con dấu pháp lý, có những vết máu cơ học trên tường và có những kẻ thủ ác đang phải cúi đầu nhận tội trước pháp luật.

Cô không còn phải đối diện với nỗi sợ hãi đơn độc trong căn phòng 407 mỗi khi đồng hồ điểm canh ba. Sự thật đã được giao lại cho công lý trần thế.

“Chuẩn bị khởi động máy khoan lõi!” Tiếng người chỉ huy cứu nạn vang lên đanh gọn từ dưới tầng hầm, dội ngược qua hệ thống loa truyền thanh nội bộ.

Mai bước lại gần mép cầu thang, ánh mắt cô hướng thẳng xuống khoảng tối nơi đội công binh đang vào vị trí tác chiến. An đứng cạnh cô, hai bàn tay buông thõng, ánh mắt anh nhìn chăm chú vào dải băng niêm phong màu vàng rực. Giữa họ không còn những lời oán trách, hờn giận hay những toan tính hàn gắn vụn vặt, chỉ còn sự chia sẻ thầm lặng của hai đứa trẻ năm xưa nay đã cùng nhau đi đến tận cùng sự thật đau đớn của gia đình mình.

Dưới lòng đất sâu, tiếng động cơ diesel của máy khoan rút lõi rồ lên dữ dội. Mũi khoan hợp kim kim cương công nghiệp sắc bén xoay tròn với tốc độ hàng nghìn vòng một phút, phát ra tiếng rít xé tai khi chạm vào lớp gạch chỉ đầu tiên của bức tường ngụy trang.

Bụi vữa đỏ bắn tung tóe theo dòng nước làm mát. Mũi khoan nghiến sâu vào tâm bức tường, xuyên thủng lớp gạch mười phân ngoài cùng.

Và rồi, một tiếng *phì* sắc lẹm vang lên khi mũi khoan chạm vào khoảng rỗng sâu thẳm bên trong. Từ lỗ khoan tròn hoắm vừa mở ra, một luồng khí lạnh ngắt như băng tuyết, bốc mùi bùn đọng nồng nặc và tanh tưởi đến nghẹt thở xộc thẳng ra hành lang. Luồng khí ấy mang theo một áp lực u uất dồn nén suốt mười tám năm ròng rã, phả thẳng vào mặt những người lính đang cầm đèn, làm chao đảo cả những bóng đèn công nghiệp đang rực sáng.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories