Ngày Mai Chưa Lên SóngCh.16 / 35
Chapter 16

Bức Rèm Riêng Tư

Tiếng quạt trần quay kẽo kẹt trên trần gác xép Thanh Khê không xua bớt được không khí ngột ngạt khi bà Nguyễn Thị Sương bước lên từng bậc cầu thang gỗ dốc đứng, tay cầm chiếc nón lá còn ướt nước mưa rào giữa trưa.

Mỗi bước chân của bà làm những thanh ván sàn bên dưới rung lên khe khẽ, truyền một chấn động khô khốc dọc theo xà gồ gỗ tạp. Căn phòng rộng chưa đầy hai mươi mét vuông nồng mùi keo dán vỏ hộp, mùi ẩm mốc của tường vôi lâu năm bị ngấm nước mưa rỉ rả qua kẽ nứt chân tường, và hơi nóng hầm hập tỏa ra từ hai chiếc màn hình máy tính đang chạy hết công suất của trạm làm việc dã chiến. Trên góc bàn, chiếc quạt bàn con cóc bằng nhựa màu xanh lá thổi phù phù từng luồng gió nóng ran vào ống quần jean bạc màu của Duy. Yến vừa buông cốc nước lọc đóng váng cặn vôi xuống mặt bàn gỗ dán, toan đứng dậy đón lấy chiếc nón lá dầm dề nước mưa thì bà Sương đã kéo chiếc ghế nhựa màu xanh thấp tè, ngồi phịch xuống đối diện cô và Duy.

Gương mặt sạm nắng của người phụ nữ ngoài năm mươi tuổi không giấu được nét mệt mỏi sau chuyến chợ trưa tất bật, nhưng đôi mắt bà lại sắc lạnh khác thường. Vệt nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu thành từng rãnh tối sẫm, kéo dài xuống gò má gầy guộc cháy nắng gió biển. Bà không tháo đôi ủng cao su màu xám còn dính vệt bùn non vàng quánh từ con ngõ trũng rẽ vào hẻm số 8, chỉ tiện tay đặt phịch chiếc nón lá sũng nước xuống sàn ván ép, để mặc những giọt nước đục ngầu nhỏ tí tách xuống khe hở giữa hai mảnh gỗ. Rồi, bằng một động tác dứt khoát pha lẫn bực dọc, bà lôi từ túi áo khoác chống nắng dày cộp bằng vải dù bạc màu ra một chiếc điện thoại thông minh cũ kỹ. Chiếc máy rẻ tiền đã sứt mẻ bốn góc viền nhựa, mặt kính cường lực nứt một đường chéo sắc lẹm ngang thân máy, phản chiếu ánh đèn tuýp nhấp nháy trên trần nhà.

— Hai đứa mở máy ra dòm giùm cô cái này, — bà Sương nói, giọng ráo hoảnh nhưng từng âm tiết nén chặt sự bực bội dồn ứ suốt từ trưa đến giờ. Ngón tay trỏ thô ráp, chai sần vì nhiều năm cầm dao thái thịt, bốc vảy cá và nấu cỗ thuê của bà quẹt mạnh vào màn hình cảm ứng đang bám dính mồ hôi và vệt nước mưa, đẩy mạnh chiếc điện thoại về phía Yến. — Bản thử nghiệm này thằng Duy gửi vô nhóm Zalo cộng tác viên hồi mười giờ trưa đúng không? Nói ngay cho cô nghe coi!

Yến nhìn xuống. Màn hình điện thoại rung rinh dưới ánh sáng xanh le lói. Đó là bản xem trước của giao diện web ứng dụng Thuỷ Kế chạy trên máy chủ nội bộ mà Duy vừa đóng gói xong sáng nay để nhóm mười lăm cộng tác viên nòng cốt ở địa bàn An Khê và Thanh Khê kiểm thử tính năng báo tin thực địa. Một liên kết dạng nội bộ `staging.thuyke.vn` màu xanh biển nằm gọn trong ô nhập liệu của trình duyệt di động.

Trên nền bản đồ số hóa chi tiết đến từng mái nhà, từng khoảng sân gạch và khúc quanh của rãnh thoát nước, Duy đã dồn hết tâm huyết kỹ thuật để lập trình một lớp dữ liệu điểm cực kỳ trực quan. Cậu đã cẩn thận dùng hệ thống ký hiệu phân loại theo bảng màu tiêu chuẩn công nghiệp: xanh lam cho các hộ đã gia cố xong bao cát, vàng cho các vị trí có người già cần hỗ trợ di chuyển, và màu đỏ rực cho các điểm có biến động lớn về trạng thái tài sản. Nhưng đập ngay vào mắt Yến lúc này không phải là các thông số cao độ tuyệt đối so với mực nước biển, lượng mưa tích lũy đo bằng milimét hay thời gian lưu đỉnh triều của kênh Phú Lộc, mà là một chuỗi các chấm tròn màu đỏ rực nhấp nháy liên hồi dọc theo con hẻm ngoằn ngoèo nối từ đường Điện Biên Phủ vào sâu trong khu dân cư An Khê.

Bà Sương chìa ngón tay thô ráp, móng tay còn đọng một vệt than đen mờ, chạm mạnh vào một chấm đỏ rực nằm sát ngã ba cống lộ thiên. Một khung thông tin màu trắng viền đỏ lập tức bật nảy lên sắc nét, phơi bày từng dòng chữ in hoa rõ ràng:

*“Tiệm tạp hóa Bảy Len — Số 48/12 An Khê: Đang sơ tán tài sản lên gác lửng (Cập nhật 11:15).”*

Chưa dừng lại ở đó, ngón tay bà lướt thô bạo sang chấm đỏ thứ hai bên cạnh, nằm sâu hơn trong một ngách cụt tối tăm chỉ rộng chưa đầy một mét hai:

*“Kho đồ khô Ba Đạt — Hẻm 52 An Khê: Đã ngắt cầu dao tổng, khóa cửa sắt bên ngoài, chủ cơ sở vắng mặt (Cập nhật 11:32).”*

Duy ngồi bên cạnh khẽ hắng giọng. Cậu dịch gọng kính cận dày cộp lên sống mũi, vẻ tự hào hồn nhiên của một kỹ sư trẻ vừa hoàn thành một tính năng phức tạp tích hợp giữa cơ sở dữ liệu thời gian thực và giao diện phản hồi nhanh vẫn còn vương nguyên trên gương mặt hốc hác vì thức đêm:

— Dạ cô Sương, cái này là tính năng báo trạng thái tức thời tụi cháu mới dựng xong đêm qua. Tụi cháu làm vậy để bà con trong hẻm nhìn vô là biết ngay tình trạng xung quanh mình diễn biến ra sao. Ai chuyển hàng xong rồi, ai đã khóa kho thì hiển thị rõ mồn một trên bản đồ. Như vậy vừa tránh việc người trong tổ phải lội nước đi gõ cửa từng nhà hỏi thăm trùng lặp, vừa giúp người khác biết điểm nào đã an toàn, điểm nào đã di dời để lực lượng thanh niên tập trung sức qua chỗ trũng hơn mà khiêng vác giùm…

— An toàn cái con khỉ mốc! — Bà Sương đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn gỗ ép khiến chiếc cốc thủy tinh của Yến nảy lên kêu lách cách, nước bên trong sóng sánh bắn cả ra mép bàn dính đầy bụi giấy. Ánh mắt bà quắc lên, tia nhìn tóe lửa găm thẳng vào Duy rồi xoáy trừng trừng sang Yến. — Mấy đứa học hành kỹ sư trên trời dưới đất, bằng cấp đóng khung treo đầy vách mà dưới đất người ta sống sao mấy đứa hổng hay một chút nào hết trơn! Có mắt mà như mù, có chữ mà như đui!

Căn gác xép bỗng chốc im bặt như tờ. Tiếng quạt trần rỉ sét phía trên dường như cũng chùng xuống, chỉ còn tiếng cánh quạt đảo gió kẽo kẹt từng vòng rời rạc, khô khốc trên trần vôi nứt nẻ. Ngoài trời, tiếng sấm xa xa từ phía vịnh Đà Nẵng vọng về rền rĩ, báo hiệu một đợt mây dông đen kịt đang cuộn từ chân đèo Hải Vân áp sát vào lòng chảo Thanh Khê. Yến cảm thấy sống lưng mình lạnh toát, một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ thắt lưng lên tận chân tóc. Cô vươn tay, chầm chậm kéo chiếc điện thoại vỡ màn hình về gần mình hơn. Từng ngón tay cô bất giác cuộn chặt lại, móng tay bấm sâu vào lòng bàn tay đến mức tê rát.

— Cô nói cho mấy đứa nghe, — bà Sương hạ giọng xuống, nhưng độ gay gắt không hề giảm đi mà chùng xuống thành một sự cảnh báo đanh thép, lạnh lùng như nhát dao lam cứa vào da thịt. — Mấy đứa làm cái trò này chẳng khác nào vẽ đường cho hươu chạy, mở toang cửa cho quân trộm cắp nó mò vô hốt trọn ổ trong lúc mưa gió hỗn loạn! Mấy đứa tưởng trong hẻm sâu này người ta sống bình yên, hiền lành như trên cái màn hình vi tính của mấy đứa hả?

Bà chồm người tới, ngón tay cùi cụt gõ chan chát vào chấm đỏ nhấp nháy ghi rõ kho đồ khô của ông Ba Đạt:

— Cái kho này chứa cái giống gì trong đó? Mực khô một nắng, tôm khô loại một, mấy chục thùng dầu ăn Cái Lân với cả trăm cây thuốc lá ba số, toàn đồ nhẹ, nhỏ gọn mà đáng giá tiền triệu, tiền chục triệu bạc! Bình thường nhà ổng có hai con chó béc-giê dữ dằn như cọp, cửa sắt kéo khóa ba lớp xích to bằng cổ tay. Giờ nước vừa ngập tới bắp chân, cống trào bọt lên hôi rình, người ta hoảng hồn chạy đi gửi xe máy ngoài đường lớn, đưa mấy bà già con nít đi sơ tán, cúp cầu dao điện để chống chập cháy nổ bình ga. Mấy đứa ngon ơ gắn cái bảng to tướng lên mạng: *‘Kho đã ngắt điện, khóa cửa ngoài, vắng chủ’*. Trời đất quỷ thần ơi! Mưa to gió lớn, sấm chớp đùng đùng, nước dâng ngập lút đầu gối, hàng xóm nhà nào lo tát nước nhà nấy còn chưa xong, ai rảnh đâu mà ló đầu ngó ra ngõ canh chừng giùm? Quân xì ke dưới chân cầu, quân trộm vặt ngoài bãi tha ma nó chỉ cần cầm cái điện thoại lướt một vòng là biết ngay căn nào không có người, căn nào đồ đạc đã gom sẵn lên cao chỉ việc bẻ khóa thò tay vô bốc gọn trơn!

Từng lời, từng chữ của bà Sương như những nhát búa tạ nện thẳng vào lồng ngực Yến.

Một cảm giác bàng hoàng buốt nhói dâng lên, khiến cổ họng cô nghẹn đắng. Suốt cả một tuần lễ vừa qua, khi Yến ngồi cắm cúi trong căn gác ngột ngạt này, viết hàng chục trang tài liệu mô tả yêu cầu sản phẩm, hối thúc Duy tối ưu hóa từng hàm xử lý dữ liệu và trau chuốt giao diện người dùng sao cho mượt mà nhất, tâm trí cô chỉ chăm chăm hướng về một mục tiêu duy nhất: tính minh bạch tuyệt đối của dữ liệu. Cô muốn bản đồ phải có độ phân giải siêu cao, muốn chứng minh với ban giám đốc khó tính của Đông Bờ và những tiểu thương hay nghi ngại rằng Thuỷ Kế không phải là một món đồ chơi quan trắc vẽ vời trên giấy. Cô muốn từng mái nhà, từng điểm nghẽn phải có danh tính, phải hiển thị chân thực trạng thái vận hành theo thời gian thực để chứng tỏ năng lực quan trắc của mình vượt trội hơn hẳn cái nhìn tổng quan nhưng mù mờ, chậm trễ cả nửa ngày trời của các trạm khí tượng công cộng.

Thế nhưng, trong cái say sưa đầy ngạo mạn của tư duy kỹ thuật thuần túy, Yến đã mù quáng bỏ quên một sự thật trần trụi, khốc liệt của đời sống thực địa. Dữ liệu càng chi tiết bao nhiêu thì tính dễ bị tổn thương của người dân nghèo càng phơi bày trần trụi bấy nhiêu. Trong phòng làm việc gắn máy lạnh hay trong các slide thuyết trình bóng bẩy nộp cho nhà đầu tư ở Sài Gòn, thông tin là tài sản số, là nguồn lực tối ưu hóa; còn ở những con kiệt ẩm thấp, chằng chịt dây điện võng xuống như mạng nhện và ngập ngụa rác rưởi của Đà Nẵng mỗi khi bão về, một dòng trạng thái thiếu cẩn trọng có thể biến thành một mẩu tin chỉ điểm tội phạm không hơn không kém.

— Tiệm tạp hóa con Lành, quán cơm con Bảy cũng y chang như vậy, — bà Sương tiếp tục, giọng đượm vẻ xót xa lẫn nỗi cay đắng của người đứng mũi chịu sào trong xóm. — Nước vào ngập hàng, hư bao đường, mốc bao bột ngọt người ta đã đứt từng khúc ruột, vừa khóc vừa kê kích từng thùng mì tôm, giờ lại còn nơm nớp lo mất trộm mất cắp. Sáng nay lúc mười một giờ, mấy chị em trong tổ phụ nữ mở cái đường dẫn thằng Duy gửi qua Zalo, người ta hoảng hồn gọi điện mắng vốn cô quá trời quá đất. Người ta bảo cô Sương ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, rủ rê người ta làm tình nguyện viên báo tin ngập cho công ty mấy đứa, rốt cuộc là đi điểm mặt chỉ tên để thiên hạ biết tỏng nhà người ta neo đơn, trống hoác lúc chạy lụt hay sao? Cô muối mặt, không biết giấu cái mặt già này đi đâu cho hết nhục với bà con lối xóm!

Duy ngồi sững sờ, hai bàn tay buông thõng trên phím bấm cơ kêu lạch cạch một tiếng khô khốc. Đôi mắt sau tròng kính cận mở to, ánh lên sự bối rối và hoảng loạn tột độ:

— Dạ… cô Sương… cháu… cháu chỉ nghĩ là mình phân quyền truy cập nội bộ trong nhóm cộng tác viên mười lăm người thôi mà… Mình đâu có gửi cho người lạ đâu cô…

— Mười lăm người, nhưng mười lăm người đó bấm chia sẻ cái đường link đó cho chồng con, cho hàng xóm dòm thử xem ngập tới đâu, rồi người ta chụp cái màn hình quăng lên mấy nhóm Zalo mua bán đồ cũ, nhóm chợ đồ bãi, lúc đó mày phân quyền cho ai, cấm ai hả con? — Bà Sương ngắt lời bằng một giọng the thé, đanh thép như chém đinh chặt sắt. — Mạng internet nó không có cánh cổng rào bằng sắt như cái cổng xóm đâu mà mày bảo đóng là đóng, mở là mở! Một khi cái tin đã lọt ra ngoài là coi như trần trùng trục giữa bàn dân thiên hạ!

Yến hít một hơi thật sâu. Không khí oi nồng, sực mùi kim loại và nhựa cháy nghẹn ứ nơi cuống họng cô. Sự thật phơi bày trước mắt trần trụi và nhức nhối đến mức không có bất kỳ một lý do kỹ thuật hay thuật ngữ học thuật nào có thể che đậy được. Sai lầm nghiêm trọng này là của cô — người giữ vai trò kiến trúc sư trưởng của hệ thống, người đã trực tiếp rà soát và ký duyệt vào tài liệu phân rã ca sử dụng mà không một lần thực sự đặt mình vào vị thế của người đàn bà bán tạp hóa gầy guộc, phải bỏ lại cả gia tài tích cóp cả đời trong căn nhà vắng chủ giữa đêm dông bão mù mịt.

— Cô Sương, — Yến nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ và giận dữ của bà Sương. Giọng cô trầm xuống, dứt khoát và không hề né tránh. — Cháu sai rồi. Lỗi này hoàn toàn là do cháu chủ quan. Cháu chỉ nghĩ đến việc hiển thị thông số đo đạc, nghĩ đến hiệu quả kỹ thuật mà không lường hết nguy cơ an ninh tài sản và sự an toàn thực tế của bà con. Cháu thành thật nhận lỗi với cô và các cô chú trong tổ dân phố.

Không để lãng phí thêm một giây nào, Yến quay phắt sang Duy. Ánh mắt cô sắc lạnh, giọng cô chuyển ngay sang tông lệnh dứt khoát của một người chỉ huy đang đứng trước tình huống khủng hoảng hệ thống:

— Duy, dừng toàn bộ tiến trình đẩy mã nguồn lên máy chủ staging ngay lập tức. Thu hồi toàn bộ quyền truy cập của đường link thử nghiệm phiên bản v0.4.2 vừa phát hành trưa nay. Đưa cổng web về trang thông báo bảo trì toàn diện trong vòng ba phút. Làm ngay đi!

Duy giật thót người, nhưng phản xạ nghề nghiệp lập tức kéo cậu trở lại thực tế. Những ngón tay gầy guộc, tái nhợt của cậu lập tức lướt như bay trên bàn phím cơ. Tiếng gõ phím lách cách dồn dập vang lên ròn rã, phá tan không gian nặng nề. Trên màn hình máy tính bên phải, dòng chữ xanh lè của tiến trình `git push` đang đồng bộ dở dang các nhánh dữ liệu lập tức bị ngắt phụt bởi tổ hợp phím `Ctrl + C`. Duy nhanh chóng mở cửa sổ dòng lệnh dòng lệnh quản trị, gõ một chuỗi lệnh dài để vô hiệu hóa toàn bộ các mã khóa truy cập API công khai, đóng toàn bộ luồng truyền phát dữ liệu thời gian thực và trỏ bản ghi DNS nội bộ về một trang HTML tĩnh với dòng chữ thông báo bảo trì hệ thống.

— Đã ngắt hoàn toàn máy chủ thử nghiệm rồi chị Yến, — Duy thở hổn hển, báo cáo bằng giọng run rẩy. Trán cậu lấm tấm những giọt mồ hôi hột dù chiếc quạt bàn con cóc vẫn đang thổi phần phật vào mặt. — Toàn bộ phiên đăng nhập từ bên ngoài đã bị hủy hiệu lực. Cơ sở dữ liệu trạng thái tài sản đã bị khóa ở cấp độ bảng, hiện tại không một ai từ bên ngoài có thể xem được bất kỳ bản ghi nào nữa.

Bà Sương nhìn những thao tác nhanh như chớp của Duy và cử chỉ nhận lỗi thẳng thắn, không một lời biện bạch của Yến. Nét mặt căng thẳng của bà khẽ giãn ra đôi chút, vệt gân xanh nơi thái dương bớt giật, nhưng đôi lông mày hoa râm vẫn nhíu chặt lại đầy âu lo:

— Rồi giờ tính sao đây hai đứa? Bỏ hết hả? Hay là giấu nhẹm hết trơn rồi không ai biết đường nào mà lần? Nói cho cùng thì nước ngập lên, người ta vẫn phải cần biết chỗ nào sâu chỗ nào cạn, chỗ nào cống nghẹt để mà tránh chứ. Giờ dẹp sạch trơn thì khác chi bịt mắt đi trong đêm tối?

— Dạ không bỏ, cô ạ, — Yến kéo chiếc ghế tựa của mình lại sát bàn làm việc, mở tập tài liệu kỹ thuật đóng gáy lò xo dày cộp ra trước mặt. — Nhưng chúng cháu phải đập đi xây lại toàn bộ phần hiển thị cho cộng đồng. Chúng cháu sẽ xóa bỏ hoàn toàn các chấm định vị cá nhân, làm mờ tọa độ và gom toàn bộ dữ liệu thành các vùng rủi ro chung của lòng đường, tuyệt đối không để lộ bất kỳ số nhà, tên tiệm hay tình trạng vắng chủ nào nữa. Chiều nay tụi cháu sẽ tập trung làm xong và mở lại cho một mình cô kiểm tra kỹ lưỡng trước khi phát hành lại cho mọi người trong tổ.

Bà Sương nhìn đồng hồ đeo tay cũ kỹ, thở dài một tiếng nặng trĩu rồi với tay cầm lấy chiếc nón lá còn ướt:

— Được rồi. Mấy đứa ngồi làm cho cẩn thận giùm cô. Giờ cô phải tất tả chạy về đun ấm nước sôi sắc ấm thuốc bắc cho chú mày uống, rồi đúng hai giờ chiều phải đưa ổng qua bệnh viện quận bên Hải Châu để chạy thận nhân tạo theo ca. Bốn giờ rưỡi chiều cô quay lại đây. Lúc đó mà trên cái máy vi tính này còn thấy tên tiệm của con Lành hay cái kho của ông Ba Đạt thì cô gom hết mười lăm người rút khỏi cái nhóm Thuỷ Kế này đó, nghe chưa? Lúc đó đừng có trách cô Sương cạn tàu ráo máng!

— Dạ, cháu nhớ rõ rồi. Cô đi đường cẩn thận, kẻo ngoài đường Điện Biên Phủ xe đông mà trời lại sắp đổ mưa dông lớn, — Yến đứng dậy, cẩn thận bước từng bước tiễn bà Sương xuống hết các bậc cầu thang dốc đứng dẫn ra cửa tiệm sửa xe máy ở tầng trệt.

Khi tiếng lẹp xẹp của đôi ủng cao su và tiếng nổ lẹt đẹt của chiếc xe máy cà tàng của bà Sương khuất hẳn sau góc phố xám xịt, Yến quay ngược trở lên căn gác xép. Căn phòng dường như chật chội, oi nồng và nghẹt thở hơn gấp bội phần. Không khí nén chặt mùi ozone từ các linh kiện điện tử nóng ran và mùi ẩm ướt của vách tường ngấm nước.

Duy ngồi dựa ngửa lưng vào chiếc ghế xoay gãy một bên tay vịn, đưa hai bàn tay lên ôm chặt lấy mặt, thở hắt ra một hơi dài não nề:

— Em sơ suất quá chị Yến… Thật sự em không nghĩ tới chuyện đó. Em cứ nghĩ trong đầu là làm sản phẩm thì người dùng cần thông tin càng chi tiết, càng cụ thể thì họ càng dễ phối hợp, dễ tin tưởng hệ thống của mình…

— Không phải lỗi của riêng em đâu Duy, — Yến kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống sát bên cạnh Duy, ánh mắt cô dán chặt vào sơ đồ cơ sở dữ liệu quan hệ đang hiển thị trên màn hình lớn. — Chị mới là người duyệt khung giao diện mẫu mà chị cũng không nhìn ra cái lỗ hổng chết người này. Chúng ta ngồi trong phòng kín, có quạt, có máy tính cấu hình cao, chúng ta quen nhìn đời sống xã hội dưới dạng các điểm tọa độ x-y vô hồn, với các trường dữ liệu kiểu chuỗi và kiểu số nguyên. Nhưng bước chân ra ngoài con hẻm kia, mỗi cái chấm đỏ nhấp nháy đó là một khối tài sản mồ hôi nước mắt, là vốn liếng tích cóp chắt bóp suốt mấy chục năm trời của người ta. Một khi thông tin bị bóc tách khỏi ngữ cảnh xã hội thực địa, nó không còn là dữ liệu nữa, nó trở thành một thứ vũ khí nguy hiểm chống lại chính những người yếu thế nhất.

Yến cầm cây bút chì, gõ nhẹ lên sơ đồ cấu trúc bảng dữ liệu `location_status` đang hiển thị trên màn hình:

— Bây giờ, chúng ta phải viết lại toàn bộ module hiển thị bản đồ phục vụ cộng đồng. Nguyên tắc số một, mang tính sống còn: Tách rời tuyệt đối tầng dữ liệu vận hành nội bộ và tầng dữ liệu hiển thị công khai. Tuyệt đối không bao giờ được dùng chung một điểm cuối API trả về dữ liệu cho hai mục đích này nữa.

Duy lập tức ngồi thẳng dậy, kéo bàn phím cơ lại gần, mở tập tin mã nguồn xử lý không gian địa lý:

— Ý chị là mình sẽ dùng thuật toán phân cụm không gian như DBSCAN hay là dùng hệ thống mắt lưới lục giác H3 của Uber để gom điểm?

— Không cần đao to búa lớn và nặng nề đến mức H3, — Yến lắc đầu, giọng cô rành rọt, từng luận điểm kỹ thuật được vạch ra sắc sảo. — Địa hình hẻm kiệt ở Thanh Khê và An Khê không phát triển theo dạng ô cờ đồng nhất mà phân hóa ngoằn ngoèo theo từng con lạch cũ và các nhánh kiệt tự phát. Nếu dùng mắt lưới lục giác, chúng ta sẽ cắt ngang qua các vách nhà của dân, nhìn rất kỳ cục và thiếu tự nhiên. Chúng ta sẽ áp dụng phương pháp làm mờ tọa độ kết hợp với phân đoạn lòng đường theo mạng lưới giao thông thực tế. Lấy đơn vị hiển thị tối thiểu là từng phân đoạn hẻm dài hai trăm mét. Cứ mỗi đoạn kiệt hai trăm mét, hệ thống sẽ chỉ tổng hợp đúng hai chỉ số duy nhất: mức độ ngập trung bình ước tính từ các cảm biến lân cận và ngưỡng nguy cơ của dòng chảy xiết.

Cô kéo tờ giấy nháp trắng về phía mình, dùng bút bi vạch ra ba dải màu rõ rệt:

— Toàn bộ các nhãn trạng thái tài sản cá nhân — từ ‘đang dọn hàng’, ‘đã ngắt điện’, cho tới ‘vắng nhà’ — phải bị xóa sạch hoàn toàn khỏi payload gửi về phía máy khách của ứng dụng công khai. Không phải là dùng CSS để ẩn đi, cũng không phải là mã hóa tạm bợ, mà là loại bỏ triệt để ngay từ tầng truy vấn dữ liệu từ backend. Bất kỳ ai mở bản đồ Thuỷ Kế lên sẽ chỉ thấy những dải màu bao phủ toàn bộ lòng đường: Màu Vàng là nước bắt đầu mấp mé vỉa hè từ mười đến mười lăm phân; Màu Cam là nguy cơ tràn vào ngưỡng cửa nhà dân từ hai mươi phân trở lên; và Màu Đỏ là dòng nước xiết nguy hiểm, tuyệt đối cấm người đi bộ và phương tiện qua lại.

— Còn vị trí thực tế của các cảm biến gắn trên cột điện và các hộ gia đình cộng tác viên báo tin thì xử lý sao chị? — Duy hỏi, ngón tay đã bắt đầu gõ những dòng mã đầu tiên để cấu trúc lại bộ lọc GeoJSON.

— Áp dụng thuật toán làm mờ tọa độ ngẫu nhiên trong bán kính một trăm mét đối với các điểm báo tin cộng đồng, và ẩn hoàn toàn biểu tượng điểm trên giao diện, — Yến quả quyết. — Người dùng chỉ thấy một vùng nhiệt rủi ro loang đều trên mặt đường, tuyệt đối không thể nhấp chuột hay phóng to bản đồ để soi ra điểm đó xuất phát từ số nhà nào hay tiệm của ai. Mọi báo cáo chi tiết của từng hộ chỉ được lưu trữ tạm thời trong cơ sở dữ liệu nội bộ được mã hóa hai lớp bằng chuẩn AES-256. Chỉ có tài khoản của người trực ca điều phối mới có quyền truy cập để liên lạc cứu hộ khi có sự cố sập đổ hay điện giật, và toàn bộ các bản ghi trạng thái chi tiết đó phải được lập trình tự động hủy sạch sau đúng bốn mươi tám giờ kể từ khi nước rút hoàn toàn.

— Em hiểu ý chị rồi, — Duy chăm chú nhìn vào màn hình, gõ thoăn thoắt các đoạn mã tái cấu trúc. — Em sẽ viết một hàm lọc `sanitize_public_features` nằm ngay trước tầng nén dữ liệu gửi ra ngoài. Mọi trường thông tin cá nhân như `owner_name`, `contact_phone`, `evacuation_status` sẽ bị gạt bỏ hoàn toàn khỏi bộ nhớ tạm. Đồng thời, em sẽ dùng thư viện PostGIS để chạy phép gộp không gian `ST_Buffer` kết hợp với `ST_Union` nhằm biến các điểm rời rạc thành một đa giác vùng nguy cơ duy nhất bám chặt theo tim đường bê tông.

Cả hai người bắt tay ngay vào công việc mà không nghỉ lấy một phút.

Tiếng lách cách đều đặn, gấp gáp của bàn phím cơ hòa cùng tiếng gió rít qua khe cửa sổ và tiếng quạt trần quay kẽo kẹt trên đầu. Nắng chiều bắt đầu dịch chuyển chầm chậm qua khung kính nhỏ mờ đục của căn gác xép. Mái tôn mỏng bên trên hấp thụ toàn bộ nhiệt lượng gay gắt của buổi trưa muộn miền Trung, phả xuống một luồng nhiệt ngột ngạt như trong lò sấy khiến chiếc áo sơ mi màu xám tro của Yến ướt đẫm mồ hôi, dính chặt vào sống lưng. Cô tập trung cao độ, mắt không rời khỏi các dòng truy vấn SQL phức tạp, cẩn thận kiểm tra từng điều kiện lọc để chắc chắn rằng không có bất kỳ một lỗ hổng logic nào có thể làm rò rỉ dù chỉ là một mẩu dữ liệu cá nhân ra môi trường web công cộng.

Khoảng mười ba giờ ba mươi lăm phút, khi Duy bấm tổ hợp phím để lưu lại một tập tin cấu hình hệ thống, góc dưới bên phải màn hình máy tính của cậu khẽ nháy lên một thông báo đẩy từ ứng dụng thư điện tử cá nhân. Tiêu đề bức thư hiện lên rõ mồn một trong vài giây ngắn ngủi:

*“Thư mời phỏng vấn — Vị trí Kỹ sư Dữ liệu Toàn thời gian (Full-time Data Engineer) — Công ty Phần mềm Enigma Solutions (Hải Châu, Đà Nẵng).”*

Bàn tay đang cầm chuột của Duy khẽ khựng lại một nhịp. Cơ mặt cậu hơi giật nhẹ, ánh mắt lộ vẻ bối rối. Cậu liếc nhanh sang phía Yến rồi vội vã rê chuột, bấm nút ẩn thông báo xuống thanh tác vụ phía dưới đáy màn hình. Cậu không nói một lời nào, chỉ khẽ hắng giọng rồi cúi gập người sát hơn vào bàn phím, tiếp tục gõ mã nguồn dồn dập như để xua đi sự bối rối vừa thoáng hiện.

Yến vờ như không nhìn thấy khoảnh khắc ấy. Mắt cô vẫn dán chặt vào biểu đồ luồng dữ liệu trên màn hình của mình, nhưng trong lòng cô, một cảm giác chông chênh, hụt hẫng khẽ dâng lên.

Cô hiểu rất rõ hoàn cảnh hiện tại của Duy. Thuỷ Kế lúc này chỉ là một dự án khởi nghiệp non trẻ, đang vật lộn từng ngày để sinh tồn giữa mùa bão lũ. Mức thù lao bán thời gian mà cô có thể chi trả cho Duy chỉ là một khoản tiền còi cọc tính theo từng đầu việc, không có bảo hiểm y tế, không có hợp đồng lao động dài hạn, càng không có bất kỳ một phúc lợi nào đảm bảo cho tương lai của một kỹ sư công nghệ. Khoản thanh toán tạm ứng sau khi ký được hợp đồng dịch vụ dữ liệu với Đông Bờ dù đã giúp công ty tạm thời thoát khỏi nguy cơ đóng cửa trong hai tuần tới, nhưng đó vẫn chỉ là một chuỗi ngày đếm ngược đầy căng thẳng và bấp bênh. Duy là một kỹ sư có năng lực thực sự, tỉ mỉ, chịu khó và cực kỳ nhạy bén với các hệ thống phân tán. Việc một người trẻ như cậu tìm kiếm một bến đỗ ổn định, một mức lương xứng đáng tại một công ty công nghệ lớn có vốn đầu tư nước ngoài ở quận trung tâm Hải Châu là điều hoàn toàn hiển nhiên, chính đáng và không thể trách cứ. Yến không có quyền đòi hỏi sự hy sinh vô điều kiện từ cậu. Nhưng nghĩ đến viễn cảnh những trận lũ lớn sắp đổ bộ vào miền Trung mà thiếu đi bàn tay kỹ thuật vững vàng của Duy, một nỗi lo âu thầm lặng, nặng trĩu lại bóp nghẹt lồng ngực cô.

Gạt mối bận tâm riêng tư đó sang một bên, Yến hít sâu một hơi, kéo sự chú ý trở lại bài toán cấp bách trước mắt:

— Duy, em kiểm tra lại độ trễ xử lý sau khi thêm tầng `ST_Union` xem thế nào. Thuật toán gộp không gian này ngốn CPU rất dữ. Chúng ta không thể để bản đồ bị treo cứng hay phản hồi chậm khi có vài trăm người cùng truy cập đồng thời giữa lúc mưa bão hỗn loạn được đâu.

— Dạ, em đã tính trước chuyện đó rồi, — Duy đáp, giọng cậu lấy lại vẻ tự tin vốn có khi nói về chuyên môn. Cậu gõ một lệnh kiểm thử tải tự động. — Em đã tạo chỉ mục không gian `GIST` cho toàn bộ bảng phân đoạn đường bộ và lưu kết quả gộp vùng vào bộ nhớ đệm Redis với thời gian sống sáu mươi giây. Thời gian xử lý truy vấn cho toàn bộ phân khu Thanh Khê hiện tại chỉ mất đúng bốn mươi lăm mili-giây. Dữ liệu GeoJSON trả về nhẹ hơn bản cũ gần sáu mươi phần trăm vì chúng ta đã cắt bỏ toàn bộ các chuỗi ký tự mô tả trạng thái rườm rà. Bản đồ tải rất mượt, ngay cả khi giả lập kết nối mạng 3G chập chờn.

Yến trực tiếp thao tác thử nghiệm trên máy của mình. Con trỏ chuột lướt nhẹ trên màn hình. Giao diện mới tải lên êm ru, mượt mà và thanh thoát hơn hẳn phiên bản cũ.

Đúng mười sáu giờ ba mươi phút, tiếng bước chân quen thuộc lại vang lên dưới chân cầu thang. Đôi ủng cao su màu xám lẹp xẹp từng bước nặng nhọc trên các bậc ván ép. Bà Sương bước lên gác xép. Chiếc áo khoác chống nắng của bà đã được thay bằng một chiếc áo sơ mi cũ sờn vai, mái tóc hoa râm bết lại vì mồ hôi và những giọt mưa phùn bay lất phất ngoài ngõ. Gương mặt bà lộ rõ vẻ bơ phờ sau hơn hai tiếng đồng hồ túc trực bên giường bệnh viện nhìn chồng lọc máu, nhưng ánh mắt sắc sảo thì vẫn vẹn nguyên sự dò xét cẩn trọng.

Yến đứng dậy, kéo chiếc ghế nhựa mời bà ngồi rồi xoay chiếc màn hình máy tính hai mươi bốn inch về phía bà:

— Cô Sương, tụi cháu đã làm xong bản cập nhật mới rồi ạ. Cô ngồi xuống xem thử bản đồ này đã đáp ứng đúng yêu cầu của cô và bà con chưa.

Bà Sương nheo mắt lại, đưa bàn tay sạm nắng lên dụi nhẹ khóe mắt rồi ghé sát mặt vào màn hình. Yến nhẹ nhàng cầm chuột, phóng to khu vực ngã ba An Khê và các hẻm nhánh chằng chịt xung quanh kiệt 126.

Toàn bộ những chấm tròn màu đỏ rực từng nhấp nháy đầy đe dọa trưa nay — những chấm đỏ ghi rõ tên tiệm tạp hóa Bảy Len, kho đồ khô của ông Ba Đạt hay sạp hàng của chị Mai — đã hoàn toàn biến mất không còn một dấu vết. Thay vào đó, toàn bộ lòng con hẻm 126 và các ngách phụ nối dài ra cống hộp kênh Phú Lộc được phủ lên bởi một dải màu cam nhạt bán trong suốt, ôm khít theo ranh giới mặt đường bê tông. Dải màu ấy mềm mại, làm nổi bật không gian công cộng mà không hề xâm phạm vào bất kỳ một ranh giới thửa đất hay mái nhà nào. Khi Yến nhấp chuột vào dải màu cam đó, một khung thông tin nhỏ hiện ra vỏn vẹn hai dòng chữ ngắn gọn, rõ ràng và trung tính:

*“Đoạn hẻm kiệt 126 An Khê (Chiều dài 250m)* *Tình trạng: Nguy cơ ngập cục bộ mức trung bình (15–25cm) khi mưa lớn kéo dài trên 45 phút.* *Khuyến cáo: Chú ý kê cao tài sản sát nền; hạn chế di chuyển xe máy gầm thấp.”*

Tuyệt nhiên không có một chữ nào nhắc đến việc nhà ai đang dọn đồ, tiệm nào đã đóng cửa, cơ sở nào đã ngắt điện hay ai đang vắng mặt. Toàn bộ thông tin chỉ thuần túy mô tả mức độ rủi ro khách quan của khối nước trên mặt đường công cộng.

Bà Sương nhìn trừng trừng vào màn hình suốt gần một phút. Rồi bà tự tay với lấy con chuột máy tính từ tay Yến. Những ngón tay thô ráp, vụng về bấm lách cách, kéo bản đồ qua lại, phóng to rồi lại thu nhỏ. Bà cố tình rê chuột đến đúng vị trí kho đồ khô của ông Ba Đạt ở ngách số 52, bấm liên tục vào khoảng đất trống nơi đặt nhà kho. Nhưng con trỏ chuột không kích hoạt bất kỳ hộp thoại nào; bản đồ chỉ hiển thị một dải màu cam đồng nhất bao trùm cả đoạn ngõ, hoàn toàn không có cách nào để một người ngoài biết được kho hàng nằm ở đoạn nào, quy mô ra sao hay chủ nhà có mặt ở đó hay không.

Một nụ cười nhẹ nhõm, hiếm hoi khẽ nở trên khóe môi người phụ nữ luống tuổi, làm mờ đi những vết chân chim khắc khổ nơi đuôi mắt. Bà buông con chuột xuống bàn, ngả lưng ra sau chiếc ghế nhựa màu xanh, thở dài một hơi nhẹ nhõm:

— Ừ… làm vầy ngó nó thuận con mắt hơn nhiều rồi đó. Nhìn vô cái bản đồ này thì ai cũng chỉ biết cái hẻm này nước sắp lên tới đầu gối, để người ta liệu đường mà kê kích đồ đạc, chứ tuyệt đối không ai biết nhà nào có người hay nhà nào đi vắng. Cái này mới đúng là kỹ sư làm việc vì dân nè! Phải như vầy chứ trưa nay tụi mày làm cô hú vía, giận sôi cả máu!

— Dạ, cháu cảm ơn cô đã chỉ thẳng ra chỗ sai cho tụi cháu, — Yến khẽ thở phào, tảng đá vô hình đè nặng trong lồng ngực cô suốt từ trưa đến giờ như vừa được dỡ bỏ. — Nhưng thưa cô Sương, chiều nay trong lúc ngồi viết lại mã nguồn, cháu cứ suy nghĩ mãi về một chuyện mà cô nói ban trưa. Cháu muốn bàn kỹ lại với cô chuyện này.

— Chuyện chi nữa con? — Bà Sương quay sang, ánh mắt đầy vẻ tò mò nhưng đã dịu đi rất nhiều, mang theo sự ấm áp chân tình của một người lớn tuổi trong xóm.

Yến ngồi xích lại gần bà, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên bàn, giọng cô trở nên trầm tĩnh, mang theo nỗi trăn trở sâu xa đã tích tụ suốt nhiều ngày qua:

— Chiều nay, lúc đập đi xây lại cái bản đồ này, cháu nhận ra một điều rất cay đắng: Ứng dụng Thuỷ Kế này, dù chúng cháu có làm mờ tọa độ khéo léo đến đâu, có bảo mật thuật toán tối tân cỡ nào, thì rốt cuộc nó cũng chỉ phục vụ được những người có điện thoại thông minh đời mới, có tiền đăng ký gói cước 4G và biết cách mở trình duyệt để xem. Nhưng trong cái hẻm sâu An Khê này, đâu phải ai cũng có điều kiện như vậy. Những người lớn tuổi neo đơn như bà cụ Lành, mấy bác thương binh già bán vé số dạo, mấy mụ bán rau bán cá ngoài đầu chợ… người ta làm gì có điện thoại xịn. Mà dẫu có ai đó cho một chiếc máy cũ, thì những lúc mưa gió tối tăm mặt mũi, sấm chớp đùng đùng, nước dâng ngập chân giường, ai rảnh tay mà cầm điện thoại lên vuốt vuốt bản đồ? Nếu chúng cháu chỉ biết tự mãn với cái màn hình cảm ứng này, thì chính những người nghèo nhất, yếu thế nhất trong xóm sẽ là những người bị bỏ rơi đầu tiên khi nước lũ tràn về.

Bà Sương lặng người đi. Đôi mắt bà nhìn Yến thật sâu, ánh nhìn không còn một chút phòng bị hay nghi ngại nào nữa. Sự bực dọc, gay gắt của buổi trưa đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho một sự thấu hiểu sâu sắc và bao dung của một người đàn bà đã dành trọn cả cuộc đời mình để gắn bó với từng mái tôn, từng khúc ruột của con xóm nghèo ven kênh:

— Con nói được câu đó là cái đầu con đã bắt đầu chạm được vô cái ruột của xóm nghèo này rồi đó Yến. Mấy bà già cỡ bà Lành, mắt mờ chân run, có đưa cái điện thoại cảm ứng này cho bả thì bả cũng tưởng cái thớt nhựa cắt hành chứ biết đường nào mà bấm với vuốt. Mưa gió đổ xuống một cái là bả cuống cuồng lo dọn mấy hũ mắm, cất mấy bao đường dưới gầm giường. Lúc đó, chỉ có người bằng xương bằng thịt chạy tới đập cửa rầm rầm, hoặc nghe tiếng loa gầm lên trên nóc cột điện thì người ta mới giật mình tỉnh hồn ra mà lo chạy thôi con ơi!

— Dạ, chính vì vậy nên cháu muốn nhờ cô và mạng lưới mười lăm cộng tác viên của cô giúp Thuỷ Kế thiết lập một kênh liên lạc khẩn cấp bằng con người, dành riêng cho những hộ không dùng điện thoại thông minh, — Yến nói, ánh mắt cô sáng lên vẻ kiên định và khẩn khoản. — Chúng cháu cam kết tuyệt đối không bao giờ đưa số điện thoại cá nhân của bà con lên hệ thống công cộng để bán dữ liệu hay làm bất kỳ mục đích thương mại nào. Danh bạ đó cô giữ, hoặc chỉ lưu nội bộ trên máy cá nhân của cháu và cô. Khi hệ thống cảm biến ngoài cống hộp báo động mực nước vượt ngưỡng an toàn, phần mềm sẽ tự động kích hoạt một quy trình gọi điện khẩn cấp theo mô hình phân tầng: Cháu sẽ nhận cảnh báo đầu tiên để kiểm tra lỗi cảm biến, sau đó hệ thống tự động báo cho cô. Cô chỉ cần bấm một nút là gọi cho năm nhóm trưởng của năm nhánh hẻm, và từng người sẽ dùng điện thoại bàn hoặc điện thoại bấm số 'cục gạch' để gọi trực tiếp, hoặc chạy bộ tới đập cửa cho các hộ lớn tuổi trong danh sách theo dõi đặc biệt.

Bà Sương gật gù, ngón tay gõ nhịp nhịp từng tiếng trầm đục xuống mặt bàn gỗ ép:

— Cái này thì được. Nghe có lý và chắc ăn hơn nhiều. Tổ phụ nữ của cô có sẵn danh sách từng hộ khó khăn, mấy cụ già neo đơn đau ốm liệt giường và mấy tiệm tạp hóa nhỏ nằm sâu trong ngách cụt rồi. Nhưng mà cô dặn trước, gọi điện thoại cũng có lúc nghẽn mạng đó nghe con. Trận lụt lịch sử hồi tháng mười năm ngoái, mưa to gió giật cấp tám một hồi là cái trạm thu phát sóng di động BTS ngoài ngã tư Điện Biên Phủ bị cúp điện, bình ắc-quy dự phòng xả hết sạch. Lúc đó điện thoại tịt ngòi hết trơn, gọi đi đâu cũng chỉ nghe tiếng tò tí te tút tút, mạng bốn gờ bốn rét chi là biến sạch bách!

Duy ngồi bên cạnh nghe vậy liền ngước lên, gật đầu lia lịa xác nhận:

— Dạ đúng đó chị Yến, cô Sương nói chuẩn xác thực tế luôn. Khi dông bão lớn đổ bộ, mạng viễn thông di động của các nhà mạng rất dễ bị nghẽn cục bộ do quá tải lưu lượng hoặc mất trạm thu phát sóng diện rộng. Tin nhắn SMS hay cuộc gọi thoại đều bị dồn ứ vào hàng đợi của tổng đài, độ trễ có thể kéo dài từ ba mươi phút tới cả tiếng đồng hồ, không thể nào đảm bảo tính tức thời trong tình huống khẩn cấp được.

— Vì vậy cháu muốn kết hợp thêm một kênh truyền tin truyền thống nữa, — Yến tiếp lời, giọng cô rành rọt từng phương án tác chiến. — Kênh loa phát thanh của tổ dân phố. Cháu muốn nhờ cô dẫn cháu đến làm việc trực tiếp với chú tổ trưởng tổ 12 và ban điều hành khu dân cư. Mỗi khi hệ thống Thuỷ Kế xác nhận nguy cơ ngập vượt mức báo động hai từ ít nhất ba trạm đo độc lập, hệ thống sẽ tự động soạn sẵn một bản tin ngắn gọn, chuẩn hóa câu từ và gửi trực tiếp đến máy của chú trực loa truyền thanh, để chú ấy lập tức bật cụm loa phát thanh của tổ phát thanh cho toàn bộ các ngóc ngách trong hẻm cùng nghe.

— Nội dung thông điệp phát lên loa phải thật ngắn, thật rõ, và cấm tiệt không được dùng chữ nghĩa kỹ thuật nghe chưa! — Bà Sương nghiêm giọng dặn dò, phong thái của bà lúc này trở nên sắc sảo, dày dạn kinh nghiệm như một người chỉ huy dân phòng thực thụ. — Đừng có vác ba cái từ ngữ đao to búa lớn như ‘mô hình thủy văn dự báo’, ‘xác suất ngập sáu mươi phần trăm’ hay ‘lưu lượng đỉnh triều’ lên cái loa đó nghe hôn. Người dân lao động người ta nghe mấy chữ đó người ta không hiểu cái giống gì hết trơn mà lại đâm ra hoang mang, đồn thổi bậy bạ rồi nháo nhào cả lên. Cứ nói thẳng thừng, rành rẽ từng câu: *‘Nước đầu cống kênh Phú Lộc đang dâng cao, hẻm 126 chuẩn bị ngập ba mươi phân trong ba mươi phút tới, bà con kê đồ khô lên cao và ngắt cầu dao điện ngay lập tức’*. Cứ ngắn gọn, dân dã, rành rọt như vậy là người ta nghe một cái là hiểu liền, tự giác tay xách nách mang làm rột rột liền!

— Dạ, cháu hoàn toàn đồng ý với cô! — Yến mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ và nhẹ nhõm hiếm hoi sau chuỗi ngày dài căng thẳng tột độ. Cô nhanh chóng với tay lấy cuốn sổ tay bìa da, cẩn thận dùng bút bi ghi chép từng lời dặn dò mộc mạc nhưng vô giá của bà Sương. — Chúng cháu sẽ lập trình sẵn đúng ba mẫu tin nhắn ngắn tương ứng với ba cấp độ nguy cơ, gửi cho ban cán sự tổ dân phố phê duyệt trước từng câu từng chữ. Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng báo động sai hay dùng từ ngữ mơ hồ gây hoảng loạn như trận mưa dông bất ngờ hồi đầu tháng ở ngã ba An Khê nữa.

Bà Sương nhìn cuốn sổ tay dày đặc những dòng ghi chép cẩn thận của Yến, rồi lại đưa mắt nhìn sang Duy — người kỹ sư trẻ nãy giờ vẫn đang chăm chú lắng nghe từng lời của bà với vẻ hối lỗi chân thành và sự tôn trọng tuyệt đối. Không khí trong căn gác xép dường như đã dịu lại, không còn cái oi nồng ngột ngạt của buổi trưa, mà nhường chỗ cho một sự gắn kết âm thầm nhưng bền chặt giữa những người trẻ làm công nghệ và những con người bám rễ nơi thực địa gian lao.

Bà Sương khẽ thở dài một tiếng thật êm, thọc tay vào chiếc túi vải dù bạc màu đeo bên hông. Bà lôi ra một chiếc bút bi Bến Nghé màu xanh đã mòn vẹt cả phần vỏ nhựa, đặt cẩn thận lên mặt bàn gỗ ép, ngay cạnh tờ biên bản ghi nhớ phối hợp thông tin cộng đồng mà Yến đã in sẵn từ đầu tuần nhưng suốt mấy ngày qua vẫn nằm im lìm trong góc bàn vì chưa ai dám đặt bút ký.

Bà Sương cầm cây bút lên, ngón tay thô ráp miết nhẹ dọc thân bút. Nhưng bà chưa vội đặt ngòi mực xuống mặt giấy ngay. Bà khẽ ngước mắt lên, nhìn lại chiếc màn hình máy tính hai mươi bốn inch một lần nữa.

Trên bản đồ số của Thuỷ Kế lúc này, con hẻm An Khê thân thuộc với bao mái nhà tôn rỉ sét, bao kiệt sâu ngoằn ngoèo hiện lên thật êm ả dưới ánh sáng xanh dịu mát. Toàn bộ những chấm đỏ nguy hiểm từng phơi bày tên tuổi, tài sản và sự vắng mặt của những người hàng xóm cơ cực đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là một dải màu cam ấm áp, mềm mại bao bọc lấy toàn bộ tuyến đường như một tấm lá chắn vô hình, bảo vệ trọn vẹn cả sự an toàn của tài sản lẫn sự riêng tư thiêng liêng của những mảnh đời lam lũ phía sau những cánh cửa sắt đóng kín.

Bà Sương khẽ gật đầu, đặt ngòi bút xuống tờ giấy trắng và nắn nót ký từng nét chữ đậm đà vào dòng chữ *Đại diện mạng lưới cộng tác viên cộng đồng*: *Nguyễn Thị Sương*.

Nhìn chấm đỏ đại diện cho tiệm tạp hóa biến mất, thay bằng một vùng cảnh báo màu cam rộng lớn trên bản đồ, bà Sương mới gật đầu đồng ý ký vào biên bản hợp tác.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories