Năm Ấy Hoa Phượng NởCh.8 / 40
Chapter 8

Ảnh Không Cần Chỉnh Quá Sáng

Ánh hoàng hôn hắt qua những khung kính bám bụi của phòng truyền thống, soi rọi hàng chục tấm ảnh chân dung được Na xếp cẩn thận dọc theo mặt bàn họp dài.

Những vệt nắng muộn mang sắc cam đỏ của buổi chiều tà Nam Định quét qua mặt gỗ gụ nâu sẫm đã lên nước bóng lộn, làm nổi bật từng góc cạnh, từng gam màu và từng gương mặt học trò được in trên khổ giấy mười mười lăm láng mịn. Không gian nơi đây lúc nào cũng tĩnh lặng khác hẳn với vẻ ồn ào ở dãy phòng học bên kia sân trường. Nó phảng phất mùi vecni cũ, mùi giấy khen lâu năm đóng trong khung kính viền nhũ vàng đã ngả màu ố, cùng mùi ẩm mốc nhè nhẹ đặc trưng của những căn phòng ở tầng một dãy nhà hiệu bộ cũ kỹ. Từng hạt bụi li ti lơ lửng bồng bềnh giữa những dải sáng xiên khoai, như những mảnh vụn thời gian lắng đọng lại sau bao nhiêu thế hệ học sinh từng đi qua mái trường này. Dãy cờ thi đua bằng nhung đỏ treo sát vách tường phía sau tủ kính khẽ lay nhẹ mỗi khi có cơn gió thu len lỏi qua khe cửa sổ khép hờ, làm phát ra những tiếng cọt kẹt khô khốc, cô liêu.

Na quỳ gối trên chiếc ghế gỗ bọc nỉ đỏ, hai tay thoăn thoắt phân loại các bức ảnh thành từng cụm ngay ngắn. Dáng vẻ cô bạn lúc làm việc tập trung toát lên một nét cuốn hút rất riêng, hoàn toàn tách biệt khỏi danh xưng “hoa khôi 12 Văn” mà đám con trai khối tự nhiên thường xì xào tán tụng mỗi giờ tan học dưới chân cầu thang. Mái tóc đen nhánh của Na được kẹp gọn gàng ra sau gáy bằng một chiếc kẹp càng cua giản dị, để lộ chiếc cổ cao thanh tú và vầng trán thông minh. Chiếc máy ảnh kỹ thuật số bán chuyên nghiệp vỏ kim loại màu bạc—vật báu mượn được từ tủ kính phòng truyền thống sau khi lớp trưởng Tít phải nộp đủ ba bản cam kết bảo quản có chữ ký xác nhận của cô Hà—đang nằm im lìm trên mặt bàn bên cạnh một xấp phong bì giấy xi măng khổ lớn. Ống kính của nó đã nguội ngắt sau một ngày dài làm việc hết công suất, phản chiếu những chấm sáng le lói cuối ngày.

“Toàn bộ ba mươi tám thành viên, không thiếu một ai,” Na nói, giọng trong trẻo nhưng giữ âm lượng vừa đủ để không phá vỡ sự tĩnh mịch của căn phòng. Cô dùng đầu ngón tay thon dài đẩy nhẹ một hàng ảnh về phía Miên và Quân. “Mỗi người tớ chụp chừng bốn đến năm kiểu ở các góc độ khác nhau. Đây là những tấm tốt nhất tớ đã lọc ra sau buổi tối hôm qua để duyệt cho mục ‘Gương mặt 12 Văn’.”

Miên ngồi tựa lưng vào mép bàn, cẩn thận đón lấy từng tấm ảnh từ tay Na. Tờ báo tường kích thước một mét hai nhân hai mét tư mà cô Hà giao phó đang dần thành hình trên giấy phác thảo, và mục chân dung này chính là một trong những mảnh ghép quan trọng nhất để hiện thực hóa chủ đề “Những điều bình thường bị lãng quên”. Miên cảm nhận được độ trơn láng của giấy ảnh dưới đầu ngón tay, mùi hóa chất in rọi còn vương vấn khen khét pha lẫn mùi giấy mới. Đó là thứ cảm giác hữu hình, chân thực đến mức khiến tim cô khẽ run rẩy.

Miên lật giở từng bức hình. Ống kính của Na không hề giống những thợ ảnh dịch vụ ngoài cổng trường—những người luôn bắt học sinh phải đứng thẳng lưng trước phông bạt vẽ cảnh hàng cây giả tạo, nhoẻn miệng cười gượng gạo và chớp mắt đúng ba giây trước khi đèn flash chói lòa bùng lên làm gương mặt phẳng lì không cảm xúc.

Dưới góc nhìn của Na, các thành viên lớp 12 Văn hiện ra trong những khoảnh khắc đời thường nhất, dung dị nhất mà đôi khi chính bản thân họ cũng không hề hay biết mình từng có những giây phút như vậy.

Đây là Mai “khoai” đang cắn chặt môi dưới, hai đầu mày nhíu lại thật sâu khi cố giải một phương trình hóa học hữu cơ hóc búa, lọn tóc mai lòa xòa rơi xuống bên gọng kính cận dày cộp; kia là Thành “béo” ngồi ngủ gật ở góc lớp trong giờ tự quản, một bên má in hằn đường kẻ ca-rô của cuốn vở bài tập, khóe miệng còn hơi hé mở vẻ bình yên đến tội nghiệp; hay cái khoảnh khắc lớp phó học tập Thu Thủy vội vã đưa mu bàn tay quệt vệt mực tím vô tình dính ngang sống mũi trong giờ kiểm tra một tiết môn Địa lý, ánh mắt vẫn không rời khỏi biểu đồ tròn đang vẽ dở. Có tấm chụp bạn Hương đang cặm cụi gọt từng mẩu bút chì màu vụn vặt dưới gầm bàn, vỏ gỗ xoăn tít vương trên tà áo trắng; có tấm lại bắt được nụ cười kín đáo của một cô bạn vốn ít nói nhất lớp khi lén chuyền cho bạn bên cạnh một phong kẹo cao su hương quế.

“Cậu bắt được nhiều khoảnh khắc tự nhiên thật đấy,” Miên khẽ reo lên, ánh mắt lấp lánh sự khâm phục chân thành. “Nhìn vào từng tấm ảnh là thấy ngay không khí của lớp mình, thấy được hơi thở của những buổi học căng thẳng lẫn những lúc mệt nhoài, không hề bị gượng gạo một chút nào.”

Trịnh Đông Quân kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống đối diện Miên. Chiếc ghế phát ra tiếng ken két trên nền gạch hoa cổ điển. Cậu rút chiếc bút chì kim bấm lách cách một tiếng quen thuộc, rồi mở cuốn sổ tay bìa da đen đặt ngay ngắn bên cạnh. Khác với vẻ say sưa đầy cảm xúc của Miên, ánh mắt Quân lướt qua từng bức ảnh với sự cẩn trọng, sắc lạnh và đo lường của một người quen làm việc với các thông số kỹ thuật, các sơ đồ tiến độ và ma trận rủi ro. Cậu không để cảm xúc dẫn dắt, mà nhìn tấm ảnh như một sản phẩm truyền thông chuẩn bị được xuất bản rộng rãi trước công chúng. Cậu nhặt lên một tấm ảnh chụp cận cảnh Thảo Anh—cô bạn tổ phó tổ ba—rồi đưa lại gần luồng sáng hoàng hôn chiếu qua khung cửa sổ để quan sát từng chi tiết nhỏ nhất.

“Ánh sáng và bố cục thì không có vấn đề gì,” Quân lên tiếng sau vài chục giây im lặng, giọng trầm, đều và phẳng lặng như mặt nước không gợn sóng. “Độ tương phản tốt, bắt nét chuẩn vào con ngươi. Nhưng Na này, cậu có nghĩ góc chụp này đang vô tình phóng đại những thứ không cần thiết không?”

Na dừng tay xếp ảnh, ngước mắt nhìn Quân, ánh mắt hơi nheo lại: “Ý cậu là sao?”

Quân đặt tấm ảnh xuống giữa hai người, đầu ngón tay trỏ gõ nhẹ lên góc mặt của nhân vật trong ảnh: “Vùng trán và má phải của Thảo Anh dính rất nhiều vết sẹo mụn đỏ đang tấy lên. Ánh sáng tạt ngang từ cửa sổ hướng tây của phòng học vô tình tạo ra bóng đổ ở các hõm da, làm các vết gồ ghề nổi rõ hơn bình thường rất nhiều. Nó thu hút ánh nhìn đầu tiên của người xem thay vì biểu cảm của cậu ấy. Còn đây nữa,” Quân nhặt tiếp một tấm ảnh khác đặt cạnh tấm của Thảo Anh, “là tấm của Tít. Quầng thâm dưới mắt cậu ấy sẫm màu đến mức nhìn như bị chấn thương phần mềm. Dáng vẻ mệt mỏi trong giờ trực nhật quét lớp cuối buổi chiều trông rất bệ rạc. Áo đồng phục thì nhăn nhúm ở phần ngực, một bên cổ áo bị lật vào trong và còn vương bụi phấn trắng xóa.”

Quân ngẩng lên, nhìn thẳng vào Na với vẻ mặt hoàn toàn khách quan, không hề có ý chê bai ác ý mà chỉ đơn thuần nêu ra một vấn đề kỹ thuật dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá thị giác: “Mục tiêu của tờ báo tường này là trưng bày ở phòng truyền thống vào ngày lễ bế giảng, trước toàn thể thầy cô trong hội đồng sư phạm, đại diện hội phụ huynh và học sinh toàn trường, thậm chí có cả các đoàn đại biểu của Sở Giáo dục về dự. Nếu đưa những khuyết điểm quá rõ ràng này lên mặt báo, liệu chúng ta có nên can thiệp bằng phần mềm chỉnh sửa trên máy tính không? Tớ có thể dùng Photoshop để làm mịn da, xóa các đầu mụn, khử bớt sắc đỏ và nâng sáng vùng mắt. Chỉ mất khoảng mười lăm phút mỗi ảnh trên máy tính ở nhà tớ. Hình ảnh khi in ra sẽ chỉn chu, sạch sẽ và đẹp mắt hơn rất nhiều.”

Một khoảng im lặng đột ngột rơi xuống giữa căn phòng.

Miên nhìn sang Na, nhận thấy sống mũi của cô bạn khẽ giật nhẹ—dấu hiệu quen thuộc mỗi khi Na chạm phải một điều gì đó đi ngược lại với nguyên tắc thẩm mỹ và niềm tin cốt lõi của mình. Nắng chiều rọi xiên qua khung cửa, hắt lên một bên gò má thanh tú của Na, làm ánh mắt cô trở nên sắc sảo và kiên quyết lạ thường. Bàn tay đang cầm xấp ảnh của Na siết chặt lại, mép giấy hơi cong đi một chút dưới áp lực của những ngón tay.

“Can thiệp phần mềm?” Na lặp lại, thanh âm không giấu nổi sự bất bình dù cô vẫn cố giữ được vẻ điềm tĩnh lịch thiệp bên ngoài. “Ý cậu là gọt giũa cho da mặt họ láng bóng như búp bê sáp, tẩy sạch quầng thâm rồi đẩy độ sáng lên hết cỡ để ai nhìn vào cũng giống như vừa bước ra từ một tấm áp phích quảng cáo sữa rửa mặt hay một bìa tạp chí tuổi mới lớn được tô vẽ cẩu thả?”

“Tớ không nói là làm quá đà như quảng cáo thương mại,” Quân bình thản giải thích, giọng điệu vẫn giữ nguyên sự chừng mực lý tính, ngón tay vẫn giữ trên mép tấm ảnh của Thảo Anh. “Nhưng đây là ảnh chân dung công khai, được dán ở nơi trang trọng nhất của trường. Con người ta khi nhìn vào bức ảnh của chính mình dán trên bảng tin chung, điều đầu tiên họ để ý không phải là nghệ thuật ánh sáng hay thông điệp cao siêu nào cả, mà là họ trông có ưa nhìn hay không. Chẳng ai muốn những khuyết điểm cơ thể, sự tự ti về nhan sắc hay vẻ tiều tụy vì thức khuya ôn thi bị phơi bày mồn một cho hàng trăm cặp mắt xa lạ bình phẩm, xì xào sau lưng. Đó là tâm lý bình thường của bất kỳ ai, nhất là lứa tuổi học sinh tụi mình.”

“Đó là sự giả tạo, Quân ạ,” Na dứt khoát đáp trả, không hề nhượng bộ dù chỉ nửa bước. Giọng cô bạn đanh lại, từng từ thốt ra đều mang sức nặng của một quan điểm nghệ thuật đã được tôi luyện. Cô cầm tấm ảnh của Tít lên, giơ thẳng ra trước mặt Quân. “Cậu nhìn kỹ đi. Cái quầng thâm này của Tít là gì? Là kết quả của việc nó phải cày nát ba tập đề thi thử môn Toán đến hai giờ sáng, vừa lo công việc của một lớp trưởng phải đôn đốc từng phong trào vừa sợ điểm số của chính mình tụt lại phía sau bảng xếp hạng của khối. Chiếc áo đồng phục vấy bụi phấn và mồ hôi này là lúc nó một mình ở lại sau giờ tan trường, lặng lẽ bê mười chồng ghế gỗ nặng trịch từ kho ra sân khấu để chuẩn bị cho buổi sinh hoạt dưới cờ sáng mai. Đó là con người thật của Tít trong những ngày tháng lớp 12 này! Cậu muốn tớ dùng vài cú click chuột để xóa sạch quầng thâm đó đi, là phẳng nếp nhăn trên áo nó, biến nó thành một cậu nam sinh bóng bẩy, cười toe toét vô tư lự như thể cuộc đời học sinh cuối cấp này là một chuỗi ngày màu hồng nhung êm ái sao?”

Na đặt mạnh tấm ảnh trở lại mặt bàn gỗ, tiếng giấy đập vào mặt gỗ gụ vang lên lách tách khô khốc giữa không gian im ắng: “Giá trị của nhiếp ảnh nằm ở sự chân thực của từng khoảnh khắc thanh xuân, chứ không phải vẻ hoàn hảo nhân tạo được nhào nặn ra từ các bộ lọc kỹ thuật số. Bọn mình mười bảy, mười tám tuổi, đang quay cuồng trong áp lực thi cử nghẹt thở, mặt nổi mụn vì ăn mì tôm đêm, mắt thâm quầng vì thiếu ngủ triền miên, áo xộc xệch vì chạy vội cho kịp giờ trống điểm. Đó là sự thật! Đó là thanh xuân thực sự của chúng ta! Nếu ngay cả một tờ báo tường nội bộ của lớp Văn làm ra để lưu giữ ký ức cho chính chúng ta mà bọn mình cũng phải tô hồng, phải bóp méo hình ảnh cho vừa mắt đám đông ngoài kia, thì cái gọi là chủ đề ‘Những điều bình thường bị lãng quên’ chỉ là một khẩu hiệu sáo rỗng và đạo đức giả!”

Miên nín thở lắng nghe từng câu từng chữ của Na, lồng ngực cô khẽ phập phồng theo từng nhịp tranh luận. Ngồi bên cạnh Quân, cô cảm nhận được sự đối lập gay gắt giữa hai luồng tư duy, hai cách nhìn nhận thế giới hoàn toàn khác biệt. Quân tiếp cận tờ báo tường bằng sự chuẩn xác, trật tự, tính toán thực dụng và nỗi lo có cơ sở về những rủi ro giao tiếp hay sự phán xét tàn nhẫn của xã hội học đường. Cậu muốn bảo vệ các thành viên khỏi sự tổn thương bằng chiếc khiên của sự chuẩn mực, an toàn. Trong khi đó, Na lại bảo vệ tính nguyên bản của nghệ thuật bằng một niềm kiêu hãnh tuyệt đối, một khát vọng giữ lại sự sống trần trụi và chân phương nhất của ký ức, không chấp nhận bất kỳ sự thỏa hiệp nào làm loãng đi bản chất của đời sống.

Quân không hề tỏ ra giận dữ hay lúng túng trước phản ứng gay gắt của Na. Cậu chỉ khẽ chớp mắt, nét mặt vẫn lạnh băng như một mặt hồ mùa đông không một gợn sóng. Sự điềm tĩnh của Quân đối chọi chan chát với ngọn lửa nhiệt huyết đang bốc cháy trong mắt Na:

“Cậu nói đúng về mặt cảm xúc và lý tưởng thẩm mỹ,” Quân chậm rãi nói, từng âm tiết đều được gọt giũa cẩn thận. “Nhưng Na này, cậu đã bao giờ thực sự đặt mình vào vị trí và cảm giác của người trong cuộc chưa? Nghệ thuật của cậu có thể rất cao thượng, rất kiêu hãnh, nhưng Thảo Anh có thể sẽ phải khóc cả buổi tối trong phòng riêng nếu thấy bức ảnh chụp cận cảnh những nốt mụn bọc tấy đỏ của mình bị đem ra làm tâm điểm cho học sinh lớp khác chỉ trỏ, cười cợt khi đi ngang qua bảng tin. Cậu có thể thanh thản vì mình đã trung thành với nghệ thuật chân thực, nhưng nỗi xấu hổ của một đứa con gái mười bảy tuổi khi bị phơi bày khuyết điểm trước đám đông là một vết thương có thật. Sự chân thực mà không đi kèm với sự thấu cảm thì rất dễ trở thành một sự tàn nhẫn vô ý thức.”

Câu nói của Quân như một mũi kim sắc nhọn, chạm đúng vào điểm yếu nhất, nhạy cảm nhất trong toàn bộ lập luận của Na.

Na thoáng sững sờ. Đôi môi cô bạn mím chặt lại thành một đường chỉ mỏng, ánh mắt kiêu hãnh ban nãy chợt dao động dữ dội. Cô nhìn trân trân vào tấm ảnh của Thảo Anh đang nằm im lìm trên mặt bàn, nơi những vết mụn đỏ hiện lên rõ nét dưới vệt nắng tà. Những ngón tay thanh mảnh của Na vô thức siết nhẹ vào mép váy đồng phục, các đốt ngón tay hơi trắng bệch ra vì dùng lực. Na không phải là người vô tâm; ngược lại, chính vì quá nhạy cảm nên cô mới chụp được những bức ảnh có chiều sâu như thế. Nhưng sự va chạm giữa lý tưởng nghệ thuật thuần khiết và thực tế tâm lý nghiệt ngã của con người dường như đã dồn cô vào một góc bối rối chưa từng lường trước.

Miên nhìn thấy rõ sự giằng xé dữ dội trong đáy mắt Na, và hơn ai hết, Miên hiểu sâu sắc từng lời mà Quân vừa phân tích. Với một người luôn mang trong mình nỗi sợ hãi mơ hồ về ánh nhìn của đám đông như Miên, một người từng bao lần muốn thu mình lại vào bóng tối vì mặc cảm tự ti, cô thấu hiểu đến tận cùng cảm giác co rúm lại, muốn biến mất khỏi thế giới khi một khuyết điểm hay một sự yếu đuối của bản thân bị đưa ra ánh sáng công cộng. Nhưng đồng thời, với tư cách là một người cầm bút, người luôn trăn trở tìm kiếm vẻ đẹp ẩn giấu đằng sau những điều vụn vặt và bình dị, Miên cũng rung động mãnh liệt trước khát khao gìn giữ sự thật trần trụi mà thiêng liêng của Na. Làm sao có thể kể câu chuyện về “những điều bình thường” nếu chúng ta vội vã phủ lên nó một lớp phấn sáp dối lừa?

Không khí trong phòng truyền thống chùng xuống một cách nặng nề. Nắng chiều bên ngoài đã bắt đầu rút dần khỏi những khung kính, nhường chỗ cho sắc tím thẫm của buổi hoàng hôn buông xuống. Tiếng tích tắc khô khốc, đều đặn của chiếc đồng hồ quả lắc treo tường cũ kỹ vang lên rõ mồn một trong sự im lặng đặc quánh, cùng với tiếng gió thu luồn qua khe cửa kính làm rung rinh những mép giấy ảnh nằm rải rác trên bàn.

Miên hít một hơi thật sâu, luồng không khí mát lạnh mang theo mùi giấy cũ tràn vào phổi. Cô đặt hai bàn tay lên mặt bàn gỗ gụ, cảm nhận sự vững chãi của chất gỗ trăm tuổi. Cô biết lúc này mình không thể tiếp tục im lặng, không thể chọn cách an toàn là núp sau lưng người khác như thói quen tự vệ bấy lâu nay. Tờ báo tường này là công sức của cả nhóm, và cô là người phụ trách phần hồn văn chương của nó.

“Tớ nghĩ... cả Na và Quân đều có lý do xác đáng của mình,” Miên cất giọng. Ban đầu âm thanh còn hơi khẽ, hơi run rẩy, nhưng khi nhìn vào mắt hai người bạn, giọng nói của cô dần trở nên tròn trịa và vững vàng hơn.

Cả Quân và Na đều khẽ giật mình, đồng loạt quay sang nhìn Miên.

Miên nhìn thẳng vào mắt Na, rồi lại chuyển ánh nhìn sang gương mặt nghiêm nghị của Quân:

“Quân nói đúng ở khía cạnh nhân văn sâu sắc nhất: chúng ta không bao giờ có quyền nhân danh bất kỳ thứ nghệ thuật hay sự chân thực nào để làm tổn thương người khác. Người ta có thể âm thầm tự hào về sự vất vả, hy sinh của mình, nhưng không phải ai cũng có đủ dũng khí để phơi bày những vết sẹo, những quầng thâm hay sự mệt mỏi tiều tụy ra trước mắt hàng trăm con người xa lạ. Sự tự ti của tuổi học trò là có thật, nó rất nhạy cảm và vô cùng mong manh. Chỉ một lời xì xào ác ý vô tình ở hành lang cũng có thể ám ảnh một người suốt cả học kỳ.”

Na khẽ cụp mắt xuống, bờ vai hơi chùng lại như đang đón nhận một sự thật đắng cay. Nhưng Miên lập tức nói tiếp, giọng nói trở nên ấm áp, tràn đầy sự trân trọng hướng về phía cô bạn hoa khôi:

“Nhưng Na nói lại càng đúng hơn về bản chất của tờ báo này. Nếu chúng ta dùng máy tính để tẩy xóa hết những tì vết ấy, làm mịn màng mọi gương mặt, tờ báo tường này sẽ lập tức đánh mất đi linh hồn sống động của nó. Nó sẽ chỉ là một phiên bản sao chép vô hồn của những ấn phẩm thương mại ngoài kia. Mười năm hay hai mươi năm sau nhìn lại, chúng ta sẽ chỉ thấy những bức ảnh thẻ trắng trẻo, vô cảm và giống hệt nhau, chứ không còn tìm thấy một tập thể 12 Văn đã từng sống thực sự, từng vật lộn với từng bài toán khó, từng nỗ lực đến kiệt cùng sức lực cho những kỳ thi như thế nào nữa. Chúng ta không thể đánh đổi ký ức chân thật lấy một sự hoàn hảo giả tạo.”

“Vậy giải pháp cụ thể của cậu là gì?” Quân hỏi, ngón tay ngừng gõ lên mặt bàn. Ánh mắt cậu ánh lên vẻ tò mò thực sự, muốn xem cô bạn cùng bàn vốn dĩ hiền lành, ít khi tranh cãi sẽ đưa ra một phương án dung hòa mâu thuẫn này ra sao.

Miên gom tấm ảnh của Thảo Anh và tấm ảnh của Tít lại, đặt ngay ngắn vào lòng bàn tay mình như nâng niu một vật quý giá:

“Chúng ta sẽ tuyệt đối không chỉnh sửa phần mềm để bóp méo bức ảnh. Không bôi xóa, không làm mịn da, không biến ai thành một con người khác. Nhưng chúng ta cũng không được phép tự ý quyết định thay cho họ. Tớ đề xuất một nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp đầu tiên cho tổ báo tường của tụi mình: Mọi bài viết chân dung và mọi hình ảnh cá nhân trước khi đưa lên trang báo đều phải được chính chủ nhân xem trước và nhận được sự đồng thuận tuyệt đối của họ.”

Miên nhìn Na, ánh mắt chan chứa sự khích lệ: “Na sẽ đem những bức ảnh này đến cho từng bạn xem trước khi chúng ta dán vào ma-két. Cậu hãy nói với họ lý do vì sao cậu chụp khoảnh khắc đó, vẻ đẹp mà cậu nhìn thấy đằng sau những quầng thâm hay vết sẹo mụn là gì. Hãy nói cho Tít hiểu rằng quầng thâm ấy là minh chứng cho sự tận tụy đáng kính của một người lớp trưởng; hãy nói cho Thảo Anh hiểu rằng góc nghiêng tập trung của bạn ấy đẹp hơn bất kỳ lớp phấn son nào. Nếu Thảo Anh vẫn cảm thấy không thoải mái, chúng ta sẽ chọn một góc chụp khác mà bạn ấy tự tin hơn, hoặc chỉ dùng góc nghiêng che bớt phần da bị mụn nhưng vẫn giữ nguyên ánh mắt kiên định của bạn ấy. Tuyệt đối không dùng phần mềm để vẽ nên một con người xa lạ. Tương tự như vậy, với các bài viết của tớ và Bảo, nhân vật phải là người đầu tiên đọc, gật đầu và mỉm cười đồng ý, chúng ta mới có quyền đưa họ lên mặt báo.”

Căn phòng truyền thống dường như bừng sáng lên một luồng sinh khí mới. Na ngước mắt lên nhìn Miên, ánh hoàng hôn sót lại nơi đáy mắt cô như vừa được nhóm lại, rực rỡ, ấm áp và trong trẻo hơn bao giờ hết. Một nét nhẹ nhõm, thanh thản lướt qua gương mặt thanh tú, xóa tan đi vẻ căng thẳng gồng mình ban nãy.

“Đồng thuận trước khi công bố...” Na lẩm bẩm lặp lại từng từ, như đang nếm trải ý nghĩa sâu xa của cụm từ ấy. Khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười kín đáo, rạng rỡ: “Được. Tớ hoàn toàn đồng ý với Miên. Tớ sẽ nói chuyện riêng với từng người, bằng tất cả sự chân thành của tớ. Nếu họ hiểu được góc nhìn và sự trân trọng của tớ dành cho họ, tớ tin họ sẽ không còn sợ những khuyết điểm đó nữa. Và nếu ai đó thực sự không muốn, tớ sẵn sàng chụp lại cho họ một bức ảnh khác mà họ thấy an tâm nhất.”

Quân nhìn Miên một hồi lâu không chớp mắt. Chiếc bút chì kim trong tay cậu ngừng bấm lách cách. Trên gương mặt lạnh lùng thường ngày của cậu nam sinh chuyên Toán thoáng hiện lên một tia nể phục rất kín đáo. Cuối cùng, Quân lật mở một trang giấy trắng tinh trong cuốn sổ tay bìa da đen, nắn nót ghi lại bằng những nét chữ sắc sảo, dứt khoát:

*“Quy tắc 1: Quyền riêng tư và sự đồng thuận của nhân vật. Kiểm duyệt nội bộ trước khi lên layout chính thức.”*

Gấp cuốn sổ lại với một tiếng “tách” giòn giã, Quân ngẩng lên nhìn hai cô gái, gật đầu tán thành: “Rất hợp lý. Phương án này vừa bảo vệ được tính nguyên bản của nội dung, vừa triệt tiêu được rủi ro khiếu nại hay xung đột nội bộ sau này. Tớ sẽ bổ sung thêm một cột ‘Xác nhận của nhân vật’ vào bảng tiến độ Gantt ngay tối nay.”

Không khí căng thẳng bao trùm căn phòng nãy giờ bỗng chốc tan biến như làn khói mỏng gặp gió. Ba người bắt đầu bắt tay vào việc rà soát lại từng tấm hình theo tiêu chí mới, kiểm tra lại danh sách tên tuổi, lớp lang và các ghi chú đi kèm.

Nắng ngoài sân trường lúc này đã tắt hẳn. Bóng tối của buổi chập tối nhanh chóng bao phủ lên không gian, nhường chỗ cho ánh nhá nhem mờ ảo. Những ngọn đèn đường thủy ngân bên ngoài cổng trường bắt đầu bật sáng, tỏa ra những vệt sáng vàng vọt, run rẩy qua những tàng cây xà cừ cổ thụ xum xuê.

“Thôi, tớ phải về trước kẻo bà ngoại đợi cơm,” Quân đứng dậy, cẩn thận thu dọn sổ bút, thước kẻ và chiếc ba lô vải dù sờn cũ vào người. Cậu kéo khóa ba lô cẩn thận rồi quay sang dặn dò: “Mai là thứ Sáu, hạn chót nộp bản thảo thô của Bảo và Tít đấy. Miên nhớ nhắc Bảo cẩn thận, đừng để bài viết trượt ra ngoài khuôn khổ chủ đề nữa. Cậu ấy rất dễ cao hứng viết lan man sang chuyện bóng đá.”

“Tớ biết rồi. Cậu về cẩn thận nhé, đường tối đấy,” Miên mỉm cười gật đầu.

Tiếng bước chân đều đặn, đĩnh đạc của Quân vang lên dọc theo hành lang sâu hun hút của dãy nhà hiệu bộ, rồi nhỏ dần và khuất hẳn sau khúc quanh cầu thang. Căn phòng truyền thống rộng lớn lúc này chỉ còn lại Miên và Na. Những tấm ảnh rải rác trên bàn cần được gom lại, phân loại cẩn thận và cất vào phong bì chuyên dụng có gói chống ẩm để tránh cho giấy ảnh bị mốc hay dính vào nhau do thời tiết ẩm ướt của miền Bắc.

Miên cúi xuống, tỉ mẩn nhặt những bức ảnh nằm ở góc bàn bên trái. Bất chợt, cô thấy Na đứng sững lại ở phía đối diện, hai ngón tay kẹp lấy một tấm ảnh nằm khuất sâu dưới xấp giấy vẽ kỹ thuật và mấy tờ giấy can trong suốt.

Nhận thấy dáng vẻ ngập ngừng khác lạ của bạn, Miên tò mò bước chậm lại gần.

Đó là một bức ảnh không hề nằm trong danh sách ba mươi tám thành viên được chụp trực diện theo kế hoạch ban đầu. Bức ảnh được chụp từ một khoảng cách khá xa, từ trên tầng hai nhìn xéo xuống sân bóng xi măng nứt nẻ của trường trong một buổi chiều nắng gắt oi ả. Trong khung hình, Vũ Quốc Bảo đang đứng một mình trơ trọi bên đường biên, một tay chống vào đầu gối, lưng áo số mười ướt đẫm mồ hôi dán chặt vào da thịt, phơi bày những đường gân lưng gầy guộc. Ánh mắt cậu dán chặt vào khoảng không vô định giữa sân bóng vắng ngắt không một bóng người, đôi lông mày rậm cau lại thật chặt. Gương mặt Bảo trong khoảnh khắc ấy vừa mang vẻ kiệt sức thể xác, vừa phảng phất một nỗi hoang mang, cô độc đến nao lòng—một góc khuất u tối mà ngày thường không bao giờ người ta có thể nhìn thấy ở một cậu bạn luôn ồn ào, bắng nhắng và thích pha trò làm hề cho cả lớp.

Na nhìn bức ảnh ấy rất lâu. Đầu ngón tay thon nhỏ của cô khẽ miết nhẹ qua mép giấy ảnh, cử chỉ ngập ngừng, dịu dàng và cẩn trọng đến mức khiến Miên phải thầm chú ý.

“Cậu chụp Bảo lúc nào thế?” Miên khẽ hỏi, giọng cô nhẹ như một hơi thở thoảng qua, sợ rằng chỉ một âm thanh lớn cũng sẽ làm vỡ tan khoảnh khắc tĩnh lặng thiêng liêng của bạn mình.

Na giật mình thảng thốt, vội vàng úp tấm ảnh xuống mặt bàn như một đứa trẻ vừa bị bắt quả tang đang giấu giếm điều gì đó vụng trộm. Nhưng rồi nhận ra người đứng cạnh mình là Miên—cô bạn cùng lớp luôn có ánh mắt thấu hiểu và kín đáo—Na khẽ thở dài một tiếng, đôi vai buông lỏng xuống.

“Hôm thứ Ba,” Na nói khẽ, ánh mắt hướng ra khoảng tối mịt mùng ngoài cửa sổ. “Lúc đội bóng trường tan tập để chuẩn bị cho giải thành phố. Mọi người thu dọn đồ đạc về hết rồi, chỉ còn cậu ấy đứng lại một mình giữa sân. Tớ thấy cậu ấy khập khiễng bước từng bước khó nhọc ra mép sân, đứng bám vào cột cờ rồi cứ đứng như thế mãi... Trông cậu ấy lúc đó chẳng giống cái tên Bảo ‘cò’ ngốc nghếch suốt ngày lảm nhảm chuyện bóng bánh, trêu chọc mọi người chút nào.”

Miên nhớ lại những miếng cao dán salonpas chằng chịt trên đầu gối của Bảo mà cô vô tình nhìn thấy ở góc lớp, nhớ lại bài viết thô đầy trăn trở mà cậu vừa hoàn thành đêm qua về Kiên “gầy”. Hóa ra không chỉ có mình cô và Quân nhận ra nỗi sợ hãi chấn thương và áp lực vô hình đang đè nặng lên vai Bảo; Na, bằng sự nhạy cảm tinh tế của một người quan sát qua ống kính nhiếp ảnh, cũng đã bắt trọn được góc khuất đầy tổn thương ấy từ rất sớm. Ống kính của Na không chỉ ghi lại hình ảnh, mà dường như đã nhìn thấu vào tận đáy lòng của cậu bạn bốc đồng.

“Cậu có định đưa tấm này vào mục thể thao hay góc ký ức không?” Miên hỏi, ánh mắt dừng lại trên mặt sau của bức ảnh.

Na lắc đầu dứt khoát, nhưng bàn tay lại nâng niu cầm tấm ảnh lên, nhẹ nhàng nhét nó vào sâu trong ngăn khóa kéo bí mật của chiếc cặp da cá nhân của mình: “Không. Tấm này... tớ giữ riêng cho mình thôi. Đưa lên báo, Bảo sẽ xấu hổ và giận mất. Cậu ấy là con trai, lại là đội trưởng, cậu ấy sợ nhất là bị người khác nhìn thấy mình yếu đuối và bất lực.”

Miên mỉm cười, cảm nhận được một luồng hơi ấm dịu ngọt len lỏi trong lồng ngực mình. Người ta ở trường này vẫn thường đồn thổi, thêu dệt nên hình ảnh một Lê Khánh Na kiêu kỳ, xa cách, cậy mình có nhan sắc xinh đẹp và gia cảnh khá giả để nhìn người khác bằng nửa con mắt. Đám con gái lớp khác thường ghen tị với làn da trắng, chiếc mũi cao và phong thái tự tin của cô, còn đám con trai thì e dè không dám tiếp cận vì sợ bị từ chối lạnh lùng. Nhưng chỉ khi cùng ngồi lại trong căn phòng bụi bặm, ngập mùi thời gian này, Miên mới thấu hiểu rằng cái vẻ ngoài lạnh lùng, chỉn chu đến từng nếp áo ấy thực chất chỉ là một chiếc vỏ ốc tự vệ vụng về của một tâm hồn quá đỗi nhạy cảm, dễ rung động và luôn lo sợ những phán xét cay nghiệt của thế gian.

Hai cô gái tiếp tục gom những tấm ảnh còn lại trên bàn. Trong lúc phân loại những mẩu giấy can, thước kẻ và bút chì màu, Miên tình cờ nhìn thấy cuốn sổ phác thảo khổ A4 bìa cứng màu xám tro của Na đang mở he hé ở góc cặp. Trên trang giấy trắng dày dặn là những nét vẽ kỹ thuật số được in thử bằng mực màu: những nhân vật hoạt họa mang phong cách hiện đại, đường nét thanh thoát, biểu cảm sống động phi thường. Bên cạnh từng hình vẽ là những dòng ghi chú chi tiết bằng nét chữ nhỏ nhắn của Na về hệ màu in ấn CMYK, độ phân giải DPI, cùng các tỷ lệ phân chia bố cục đồ họa theo nguyên tắc một phần ba.

“Đẹp quá, Na ơi,” Miên thốt lên đầy kinh ngạc, đôi mắt mở to trước những nét vẽ điêu luyện và đầy tính thẩm mỹ hiện đại. “Cậu tự tay vẽ những nhân vật này sao? Trông chuyên nghiệp chẳng kém gì tranh vẽ trên các tạp chí truyện tranh Nhật Bản hay sách báo nước ngoài!”

Gương mặt Na hơi ửng hồng dưới ánh đèn huỳnh quang vừa bật sáng trên trần phòng truyền thống. Cô không vội vàng đóng cuốn sổ lại như lúc giấu tấm ảnh của Bảo, mà chỉ khẽ đưa ngón tay chạm nhẹ vào bề mặt trang giấy vẽ, như vuốt ve một ước mơ thầm kín.

“Ừ, tớ vẽ đấy,” Na ngập ngừng một thoáng, dường như đang đắn đo xem có nên mở lòng hay không, rồi cô khẽ thở dài, thanh âm chùng xuống mang theo những nỗi trăn trở nặng nề đã giấu kín bấy lâu: “Miên này... cậu có bao giờ cảm thấy mình đang phải sống theo một kịch bản do người khác viết sẵn cho mình không? Một kịch bản hoàn hảo, an toàn, nhưng lại không có lấy một dòng chữ nào thuộc về chính cậu?”

Miên khựng lại. Câu hỏi của Na chạm thẳng vào vết thương sâu kín nhất trong tâm tư cô. Miên nghĩ đến bố Thành, nghĩ đến ánh mắt nghiêm khắc nhưng chan chứa kỳ vọng của bố mỗi khi nhắc đến ước mơ muốn cô thi vào ngành Sư phạm tỉnh nhà để có một cuộc đời công chức an phận, ổn định và bình lặng như bao người phụ nữ ở thị xã này. Miên nghĩ đến xấp tài liệu ôn thi môn Báo chí và tập bài viết văn học mà cô phải lén lút giấu kỹ dưới đáy ngăn kéo bàn học, chỉ dám mở ra đọc trộm vào lúc nửa đêm khi cả nhà đã chìm vào giấc ngủ.

Cô nhìn Na, gật đầu thật chậm, giọng nghẹn lại: “Có chứ. Lúc nào tớ cũng cảm thấy như vậy. Cảm giác như mình đang bước đi trên một con đường được lát gạch bằng phẳng sẵn, nhưng mỗi bước đi đều khiến mình nghẹt thở vì biết phía cuối con đường không phải là nơi mình muốn đến.”

Na kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống thật sát cạnh Miên. Hai cô gái ngồi bên nhau, hai đầu gối chụm lại, đôi mắt cùng nhìn vào những nhân vật hoạt họa rực rỡ sắc màu do chính tay Na tạo ra trên trang giấy trắng:

“Mẹ tớ muốn tớ thi vào Học viện Ngân hàng,” Na bắt đầu tâm sự, giọng cô nhỏ nhẹ nhưng chất chứa bao nỗi niềm u uất. “Mẹ bảo con gái có chút nhan sắc, lại là con một, chỉ cần học một trường kinh tế có tiếng rồi ra trường xin về làm giao dịch viên ở ngân hàng tỉnh là nhàn hạ nhất. Ngồi phòng máy lạnh, ăn mặc đẹp đẽ, công việc nhàn nhã, sau này lấy một tấm chồng môn đăng hộ đối, có địa vị là xong một đời êm ấm, sung sướng. Mỗi lần mẹ thấy tớ cầm cọ vẽ, hí hoáy bên bàn máy tính hay cầm máy ảnh đi chụp vẩn vơ, mẹ đều mắng tớ là viển vông. Mẹ bảo đó là thứ nghề phù phiếm, bấp bênh, ‘xướng ca vô loài’, không bao giờ có thể tự nuôi sống nổi bản thân trong cái xã hội này.”

“Nhưng cậu thực sự muốn gì?” Miên hỏi, lòng tràn ngập sự xót xa và đồng cảm mãnh liệt.

“Tớ muốn học Thiết kế Truyền thông,” Na nói, và ngay khoảnh khắc ấy, ánh mắt cô bạn bừng sáng lên một ngọn lửa kiên định, rực rỡ đến mức khiến Miên phải choáng ngợp. Đó không còn là vẻ đẹp kiêu sa, xa cách của một cô hoa khôi trường học nữa, mà là vẻ đẹp lộng lẫy của một con người đang cháy hết mình vì đam mê. “Tớ muốn tạo ra những ấn phẩm hình ảnh có thể kể chuyện, có thể truyền tải thông điệp và lay động lòng người. Tớ muốn học cách làm cho những trang sách, những tấm áp phích, những bộ nhận diện thương hiệu trở nên sống động và có linh hồn. Tớ không muốn cả đời phải ngồi sau một quầy kính bóng loáng, đếm những cọc tiền không bao giờ thuộc về mình, rồi mỉm cười xã giao với những người xa lạ theo một quy trình được lập trình sẵn.”

Na lật giở từng trang của cuốn sổ phác thảo cho Miên xem. Từng trang giấy là một thế giới hoàn toàn khác: những biểu tượng đồ họa tinh xảo, những bản vẽ phối cảnh không gian, những bản phác thảo logo và những nhân vật mang đầy cá tính:

“Để chứng minh cho mẹ thấy tớ không hề nói suông, không phải là một đứa trẻ con bốc đồng thích đua đòi, từ đầu năm lớp 11 đến giờ, tớ đã âm thầm nhận vẽ minh họa tự do cho mấy diễn đàn văn học và trang web trực tuyến trên mạng. Tiền nhuận bút họ trả qua đường bưu điện hoặc gửi vào tài khoản tiết kiệm mang tên chị họ tớ. Tớ giấu mẹ gom góp từng đồng một, chắt chiu từng năm mươi nghìn, một trăm nghìn đồng tiền thù lao thức đêm vẽ thuê. Chiếc máy ảnh của phòng truyền thống này chụp rất tốt, nhưng tớ không thể mượn mãi được, sau tờ báo tường này là phải trả lại tủ kính rồi. Tớ đang dành dùm tiền để tự mua một chiếc máy ảnh kỹ thuật số cũ của riêng mình. Tớ đã nhắm được một chiếc Canon cũ ở một cửa hàng máy ảnh trên phố Hàng Nón rồi. Chỉ cần mua được nó, tớ sẽ có công cụ để tự chụp hình, tự xây dựng một bộ hồ sơ năng lực hoàn chỉnh để nộp thẳng vào khoa Mỹ thuật ứng dụng của trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp trên Hà Nội. Tớ sẽ tự thi, tự đi bằng đôi chân của mình, dù mẹ có ủng hộ hay không.”

Lắng nghe Na chia sẻ từng lời ruột gan, Miên cảm thấy sống mũi mình cay cay, khóe mắt ngân ngấn nước. Hóa ra, đằng sau vẻ ngoài rực rỡ khiến bao người ngưỡng mộ, đằng sau sự tự tin, kiêu hãnh và phong thái đài các tiểu thư mà người đời thường ghen tị, Na cũng đang phải âm thầm trải qua một cuộc chiến đơn độc, nhẫn nại và kiên cường đến nghẹt thở để bảo vệ ngọn lửa ước mơ của chính mình. Sự kiêu kỳ, lạnh lùng mà người ta vẫn gán cho Na thực chất chỉ là một bức tường thành vững chắc mà cô gái mười bảy tuổi ấy tự dựng lên quanh mình, nhằm ngăn không cho những định kiến hẹp hòi, những lời phán xét cay độc của người đời làm vấy bẩn và dập tắt niềm đam mê thuần khiết đang âm ỉ cháy bỏng bên trong.

Họ giống nhau đến kỳ lạ. Miên với những trang viết giấu dưới đáy ngăn kéo, Na với những bản vẽ minh họa giấu trong cặp da; Miên đối diện với kỳ vọng an phận của bố Thành, Na đối diện với kịch bản nhàn hạ của mẹ. Hai cô gái tưởng chừng như ở hai thế giới hoàn toàn đối lập—một bên là đóa hoa rực rỡ giữa đám đông, một bên là nhành cỏ dại nép mình trong bóng râm—hóa ra lại đang cùng chung một nhịp đập, cùng mang trong mình một vết thương và một lòng kiêu hãnh âm thầm như nhau.

“Cậu nhất định sẽ làm được, Na ạ,” Miên đưa bàn tay ấm áp của mình sang, nắm chặt lấy mu bàn tay thon nhỏ nhưng hơi lạnh của bạn, siết nhẹ với tất cả niềm tin từ đáy lòng. “Những bức vẽ này của cậu thực sự rất có hồn, nó có sức lay động mạnh mẽ lắm. Góc nhìn qua ống kính của cậu cũng vậy, nó có sự thấu cảm và tình yêu thương sâu sắc mà không phải người cầm máy chuyên nghiệp nào cũng có được. Cậu sinh ra là để làm nghệ thuật. Cậu nhất định sẽ trở thành một nhà thiết kế xuất sắc, tớ tin chắc chắn như thế.”

Na ngước nhìn Miên. Đôi mắt đen láy, to tròn của cô bạn hoa khôi ngân ngấn một màng nước mỏng manh, lung linh dưới ánh đèn. Nhưng ngay lập tức, Na khẽ chớp mắt để xua đi sự xúc động đang dâng lên, không để giọt nước mắt nào rơi xuống. Một nụ cười rạng rỡ, chân thật và ấm áp nhất từ trước đến nay bừng nở trên gương mặt thanh tú của cô. Đó không phải là nụ cười xã giao lạnh lùng ngoài sân trường, mà là nụ cười của một tâm hồn vừa tìm thấy tri kỷ.

“Cảm ơn cậu, Miên,” Na nói, giọng nghẹn ngào nhưng tràn đầy sức sống. “Thực sự cảm ơn cậu rất nhiều. Chưa từng có ai ở cái trường này, thậm chí cả những người bạn thân nhất của tớ, chịu lắng nghe tớ nói những điều đó mà không cười cợt, bảo tớ là đứa viển vông, thích làm màu cả.”

Na hít một hơi thật sâu, lấy lại vẻ hoạt bát thường ngày. Cô cẩn thận gấp cuốn sổ vẽ lại, cài chiếc kẹp kim loại vào mép bìa rồi xếp toàn bộ số ảnh chân dung đã được duyệt vào chiếc phong bì lớn bằng giấy xi măng. Cô dùng băng dính dán kín miệng phong bì lại, bên ngoài nắn nót ghi dòng chữ: *“Gương mặt 12 Văn – Ảnh gốc chưa qua chỉnh sửa – Bản lưu trữ”*.

Hai cô gái thu dọn đồ đạc trên bàn, cất chiếc máy ảnh vỏ bạc vào hộp nhung có khóa cẩn thận. Na với tay tắt công tắc đèn điện. Căn phòng truyền thống một lần nữa chìm vào bóng tối tĩnh lặng của đêm thu, chỉ còn ánh trăng non đầu tháng rọi qua khung cửa kính, phủ một lớp bạc mỏng manh lên những chiếc cờ thi đua và mặt bàn gụ sẫm màu.

Miên xoay chìa khóa trong ổ khóa đồng, tiếng “cạch” khô khốc vang lên báo hiệu công việc của một buổi chiều đã hoàn tất. Cả hai sóng bước bên nhau bước ra ngoài hành lang dài của dãy nhà hiệu bộ.

Đêm mùa thu Nam Định mát rượi, không khí mang theo chút hanh hao dịu nhẹ đặc trưng của những ngày cuối tháng Chín. Gió heo may thổi qua tàng cây phượng vĩ già nua giữa sân trường làm những chiếc lá nhỏ li ti rơi xào xạc xuống mặt sân lát gạch đỏ đã rêu phong. Từ phía cổng trường xa xa, tiếng chuông xe đạp lách cách vang lên từng hồi thưa thớt của những tốp học sinh tan ca học muộn, hòa cùng tiếng rao đêm trầm ấm, quen thuộc của những người bán bánh khúc dạo đầu ngõ: *“Ai... bánh khúc nóng đây...”*

Đứng dưới bóng mát của cây phượng cổ thụ, trước khi dắt chiếc xe đạp mini ra cổng trường để trở về nhà, Na ôm tập phong bì đựng những bức ảnh chân dung chưa hề qua chỉnh sửa vào lòng. Ánh trăng non đầu tháng mờ ảo rọi xuống gương mặt thanh tú, mộc mạc không một chút son phấn của cô bạn, làm toát lên một vẻ đẹp trong trẻo, tự nhiên và thuần khiết đến nao lòng.

Na nhìn những vòm lá phượng đung đưa trong gió đêm, khẽ mỉm cười, một nụ cười an yên tự tại:

“Đẹp nhất là khi người ta không phải gồng mình để trông giống ai khác.”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories