Điểm Số Đầu Mùa
Không khí lớp 12 Văn chùng hẳn xuống trong buổi sinh hoạt đầu tuần khi cô Hà và thầy Khánh cầm trên tay bảng điểm tổng hợp kỳ thi khảo sát chất lượng đầu năm.
Tiết trời Nam Định những ngày cuối thu khô ráo và se lạnh, mang theo từng đợt gió heo may xao xác luồn qua những chấn song gỗ đã tróc sơn của dãy phòng học tầng ba trường THPT Trần Văn Lan. Thế nhưng, bên trong bốn bức tường vôi ố vàng loang lổ vết tích thời gian, không gian dường như đặc quánh lại bởi một thứ áp lực vô hình, nặng nề đến nghẹt thở. Tiếng chiếc quạt trần cũ kỹ trên trần cao vẫn quay những vòng lười biếng, phát ra âm thanh cọt kẹt đều đặn, khô khốc như tiếng gõ nhịp của chiếc đồng hồ đếm ngược từng ngày, từng giờ của năm học cuối cấp đầy cam go.
Thầy Mai Quốc Khánh – giáo viên dạy Toán kiêm người phụ trách đội bóng đá của trường – bước vào lớp trước. Thầy mặc chiếc áo khoác gió thể thao màu xanh thẫm quen thuộc, vóc dáng cao lớn vạm vỡ cùng gương mặt chữ điền nghiêm nghị vốn có càng làm tăng thêm vẻ căng thẳng bao trùm. Đi ngay phía sau thầy là cô Hà, giáo viên chủ nhiệm đồng thời là người phụ trách môn Ngữ văn của lớp. Trên tay cô ôm một tập bài thi tự luận đã chấm xong, mép giấy quăn queo vì những nét bút phê đỏ rực, cùng một tờ giấy A3 khổ lớn in danh sách tổng hợp kết quả ba môn bắt buộc của toàn thể học sinh khối mười hai.
Khi cô Hà tiến về phía bảng phụ bên cạnh cửa ra vào, dùng bốn chiếc nam châm tròn màu đỏ thắm đính bản danh sách điểm lên mặt kim loại, cả lớp vẫn ngồi im phăng phắc. Không một tiếng xột xoạt của sách vở, không một tiếng ho hèm, dường như ba mươi chín con người trong căn phòng đều đang nín thở chờ đợi một phán quyết định đoạt số phận.
Chỉ đến khi cô Hà quay lại, khẽ gật đầu một cái đầy bao dung như ngầm cho phép, sự tĩnh lặng mới vỡ òa. Gần bốn mươi học sinh đồng loạt rời khỏi chỗ ngồi, ùa về phía góc bảng như một đợt sóng ngầm bị dồn nén bấy lâu nay bỗng chốc tràn bờ. Tiếng ghế gỗ kéo lê sột soạt trên nền xi măng thô ráp, tiếng chân bước vội vã, tiếng xì xào to nhỏ, những tiếng xuýt xoa kinh ngạc xen lẫn những hơi thở phào nhẹ nhõm hay tiếng thở dài sườn sượt não nề bắt đầu bùng lên, lan khắp các góc lớp.
Hạ Miên không đứng dậy chen lấn vào đám đông ấy. Cô vẫn ngồi bất động ở dãy bàn thứ tư sát mép cửa sổ, nơi ánh nắng hanh hao của buổi sớm chỉ rọi tới một góc nhỏ trên mặt bàn gỗ xù xì. Hai bàn tay Miên giấu dưới gầm bàn, đan chặt vào nhau đến mức các đốt ngón tay trở nên trắng bệch, lạnh ngắt dù cô đang mặc chiếc áo len mỏng bên trong đồng phục. Trái tim cô đập thình thịch từng nhịp nặng trĩu nơi lồng ngực, dội thẳng lên màng nhĩ những tiếng vang bất an. Kỳ thi khảo sát chung toàn khối này không chỉ là một bài kiểm tra định kỳ bình thường; nó là tấm gương phản chiếu tàn nhẫn nhất về thực lực của từng đứa học trò trước ngưỡng cửa kỳ thi đại học đang cận kề từng ngày.
Ở chiếc ghế bên cạnh, Trịnh Đông Quân vẫn thản nhiên ngồi tựa lưng vào bức tường vôi lạnh lẽo. Một chân cậu gác hờ lên thanh ngang dưới gầm bàn, tay phải xoay tròn chiếc bút bi Thiên Long màu xanh với một nhịp điệu đều đặn đến kỳ lạ. Đôi mắt cậu hơi nheo lại, lơ đễnh nhìn qua khung cửa kính ra khoảng sân trường ngập nắng vàng vọt và tàng cây phượng già đang trút nốt những chiếc lá li ti cuối mùa xuống nền gạch đỏ. Điểm số, xếp hạng, những ánh mắt hồi hộp lo âu của đám bạn cùng trang lứa chung quanh dường như chẳng hề mảy may chạm được vào thế giới riêng biệt, kín bưng của chàng cựu học sinh chuyên Toán vừa chuyển trường từ Hà Nội về.
“Miên ơi! Cậu đứng nhất Văn toàn khối kìa!”
Tiếng hô lớn đầy phấn khích của lớp trưởng Tít từ mép bảng tin vang lên xé toạc mớ âm thanh hỗn độn trong phòng học. Tít quay ngoắt người lại, hai mắt trợn tròn sáng rực sau gọng kính cận dày cộp, giơ ngón tay cái hướng thẳng về phía Miên với vẻ mặt hân hoan tột độ:
“Chín phẩy hai lăm! Vượt xa cả bà Trang bên lớp chọn tự nhiên A1 những nửa điểm cơ đấy! Đề nghị luận văn học đợt này khó nhằn như thế, cô Hà chấm nổi tiếng là gắt gao từng dấu phẩy mà cậu vẫn ẵm trọn giải quán quân môn Văn, đỉnh thật sự đấy Miên ơi!”
Lời tán thưởng của Tít lập tức kéo theo sự chú ý của những người đứng quanh đó. Một vài bạn học quay sang nhìn Miên với ánh mắt trầm trồ, khâm phục xen lẫn chút ghen tị không giấu giếm. Na ngồi ở bàn trên cũng ngoái đầu lại, đôi mắt tròn xoe ánh lên niềm vui nhẹ nhõm, kín đáo mỉm cười giơ hai ngón tay làm dấu chữ V cổ vũ cô bạn thân.
Một tia ấm áp vừa chớm nhen nhóm nơi đáy lòng Miên. Đôi môi cô khẽ mấp máy, định nở một nụ cười đáp lại sự chúc mừng của bạn bè thì bất thình lình, tiếng nói của Quốc Bảo từ phía sau đám đông chen vào. Giọng cậu ta không còn vẻ oang oang vô tư lự thường ngày, mà chùng xuống, mang theo một vẻ ngập ngừng đầy ái ngại:
“Nhưng mà... Miên này... điểm Toán của cậu...”
Câu nói lơ lửng của Bảo rơi vào không gian như một giọt nước lạnh buốt rớt xuống chảo dầu sôi, dập tắt ngấm niềm hân hoan vừa mới hé rộ.
Cả người Miên khựng lại. Toàn bộ cơ bắp trên cơ thể cô cứng đờ, cảm giác từng dòng máu nóng trong huyết quản như đông cứng lại chỉ trong một cái chớp mắt. Nụ cười chưa kịp thành hình trên môi Miên tắt lịm, để lại một nét mặt tái nhợt, hoang mang. Cô khó nhọc nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng nơi cuống họng, hai bàn tay run rẩy bấu chặt vào mép bàn gỗ để lấy điểm tựa đứng dậy. Đôi chân cô nặng như đeo chì, bước từng bước ngắn, ngập ngừng tiến về phía góc bảng phụ. Đám bạn học đang xúm xít nhìn thấy dáng vẻ thất thần của Miên liền tự động im lặng, dạt sang hai bên nhường lối cho cô bước vào.
Miên run rẩy ngước mắt nhìn lên tấm giấy in khổ lớn. Ánh mắt cô lướt nhanh qua danh sách dài dằng dặc, rồi dừng lại ở dòng chữ in đậm mang số thứ tự hai mươi mốt: *Nguyễn Hạ Miên*.
Cột Ngữ văn: 9.25 – con số được in mực đỏ chót nổi bật, hiên ngang đứng ở vị trí cao nhất toàn khối mười hai. Cột Ngoại ngữ: 7.75 – một mức điểm khá, an toàn vừa đủ để giữ vững phong độ của một học sinh trường huyện. Nhưng khi ánh mắt cô trượt sang cột điểm môn Toán nằm ngay bên cạnh, toàn bộ đất trời dường như sụp đổ tan tành dưới chân cô.
*Toán: 3.5.*
Con số ba phẩy năm trơ trọi, nghiệt ngã, nằm lọt thỏm giữa những dãy điểm số khá giỏi của một lớp chọn trường chuyên, đỏ rực như một vết dao cứa sắc lẹm vào lòng tự trọng của cô gái mười bảy tuổi. Dưới mức trung bình rất sâu. Tổng điểm khối D của Miên trong kỳ thi thử này bị kéo sụt xuống mức thảm hại: vỏn vẹn 20.5 điểm.
Hai tai Miên lùng bùng những tiếng vo ve như có hàng ngàn con ong đang vây hãm. Trước mắt cô, những con số, những dòng tên bạn bè, những nét mực in đen đỏ bắt đầu nhòe nhoẹt đi, hòa lẫn vào nhau thành một mảng sương mù mờ mịt và u tối.
Ước mơ thi vào khoa Báo chí của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội – giấc mơ cháy bỏng, thiêng liêng mà cô luôn nâng niu gìn giữ bấy lâu nay trong cuốn nhật ký nhỏ, giấc mơ mà cô mới chỉ dám thổ lộ cùng Quân dưới mái hiên thư viện cũ rêu phong trong một chiều mưa tầm tã hôm trước – bỗng chốc trở nên xa xôi vạn dặm. Mức điểm chuẩn đầu vào ngành Báo chí khối D của trường Nhân văn hằng năm chưa bao giờ thấp hơn hai mươi tư điểm. Với con số 3.5 môn Toán nhục nhã này, cánh cửa bước chân vào giảng đường đại học danh giá tại thủ đô không còn là một thử thách khó khăn nữa, mà đã biến thành một bài toán hoàn toàn vô nghiệm, một bức tường thành kiên cố không cách nào vượt qua.
Trong đầu Miên bỗng hiện lên rõ mồn một gương mặt khắc khổ, nghiêm nghị của bố Thành. Người thợ điện già của xí nghiệp dệt Nam Định với đôi bàn tay thô ráp, chai sần luôn nồng nặc mùi dầu máy và khói thuốc lá Hải Phòng. Bố luôn nhắc đi nhắc lại bên mâm cơm đạm bạc mỗi tối rằng con gái học văn thì chỉ nên thi vào trường Sư phạm tỉnh nhà cho ổn định, ra trường đi dạy học ở một trường cấp hai gần nhà đỡ tốn kém tiền bạc ăn học đắt đỏ ở chốn phồn hoa đô hội. Nếu bố nhìn thấy con số 3.5 này, nếu bố biết con gái mình dám mơ mộng viển vông vào chốn giảng đường xa hoa ngoài Hà Nội mà lại mang về một bài thi môn Toán chưa nổi điểm bốn, bố sẽ có lý do chính đáng nhất, tàn nhẫn nhất để dập tắt hoàn toàn khát vọng văn chương của cô. Nỗi bất lực, sự tủi thân và nỗi sợ hãi tột cùng cuộn trào lên lồng ngực, đắng chát nơi đầu lưỡi.
“Xem kìa, ai dám bảo học sinh chuyên Văn là không biết giải Toán nào?”
Tiếng xì xào râm ran của đám con trai phía sau lại rộ lên, kéo Miên giật mình ra khỏi vũng lầy của sự hoảng loạn. Lần này, mọi ánh mắt thán phục lại đổ dồn vào một dòng tên nằm cách tên cô chỉ vài hàng chữ: *Trịnh Đông Quân*.
Cột Toán: 10.0.
Một điểm mười tròn trĩnh, tuyệt đối và độc nhất vô nhị của toàn thể khối mười hai trong kỳ thi khảo sát đề chung do hội đồng chuyên môn nhà trường trực tiếp ra đề. Đó là một đề thi nổi tiếng hóc búa, đánh đố học sinh với hai câu phân loại cực khó về hình học không gian đa diện và bất đẳng thức đại số ba biến số – những câu hỏi đã khiến ngay cả những tay cừ khôi nhất của lớp chọn tự nhiên A1 cũng phải trầy da tróc vảy và chấp nhận bỏ cuộc.
Thầy Mai Quốc Khánh đứng bên bục giảng, hai tay khoanh trước ngực, ánh mắt lộ rõ vẻ tự hào hiếm hoi khi hướng về phía chiếc bàn cuối lớp. Thầy hắng giọng một tiếng, cả lớp lập tức trật tự trở lại:
“Bài làm của trò Trịnh Đông Quân rất xuất sắc. Thầy đã xem lại bài thi của em tới ba lần. Lối tư duy giải tích của Quân cực kỳ mạch lạc, gãy gọn. Đặc biệt ở câu hình học không gian khó nhất đề, thay vì dựng hình phụ theo cách truyền thống rất dễ nhầm lẫn và tốn thời gian, trò Quân đã sử dụng phương pháp tọa độ hóa không gian giải tích, đưa về hệ trục Oxyz rất thông minh, giúp tiết kiệm được ít nhất hai mươi phút làm bài. Cả khối chỉ có duy nhất bài thi của Quân đạt điểm tuyệt đối mười phân vẹn mười. Các em học sinh khối Văn cần phải nhìn vào tấm gương của bạn Quân để thấy rằng Toán học không phải là một bức tường rào bất khả thi, chỉ cần chúng ta có phương pháp tiếp cận đúng đắn và tư duy logic.”
Quân khẽ cúi đầu nhận lời khen ngợi của thầy Khánh, nhưng trên gương mặt góc cạnh và trầm lặng ấy không hề xuất hiện lấy một tia kiêu hãnh hay tự mãn. Cậu vẫn giữ nguyên vẻ điềm tĩnh đến lạnh lùng, tựa như việc đạt điểm tuyệt đối trong một kỳ thi hóc búa chỉ là một phản xạ tự nhiên của một cỗ máy đã được lập trình sẵn.
Thế nhưng, bức tranh điểm số của chàng cựu học sinh chuyên Toán Hà Nội lại không hề hoàn hảo như người ta tưởng tượng.
Khi cô Hà bước xuống bục giảng, tay cầm tập bài thi Ngữ văn đi thẳng về phía dãy bàn số bốn, bầu không khí trong lớp học lại một lần nữa chùng xuống trong sự tò mò tột độ của đám học trò. Cô dừng lại trước mặt Quân, đặt bài thi của cậu xuống mặt bàn gỗ kèm theo một tiếng thở dài khe khẽ, trong ánh mắt thoáng hiện nét bất lực pha lẫn chút buồn cười tế nhị.
Miên theo bản năng liếc nhìn xuống góc bàn bên cạnh. Trên tờ giấy thi kẻ ô ly quen thuộc của Quân, con số đỏ chót hiện lên mồn một dưới nét bút mực đỏ sắc sảo của cô chủ nhiệm: *4.25*.
Một điểm số dưới trung bình, thảm hại và đối nghịch hoàn toàn với con điểm mười chói lọi của môn Toán.
“Quân này,” cô Hà lên tiếng phá tan sự im lặng, giọng cô trầm ấm, điềm đạm nhưng từng lời nói ra đều chạm thẳng vào tim đen của người nghe. “Đề thi yêu cầu phân tích tâm trạng và phẩm chất của nhân vật người lái đò trong cảnh vượt thác sông Đà hung bạo của Nguyễn Tuân. Cậu viết vỏn vẹn đúng hai mặt giấy thi. Không có một câu văn chuyển ý, không có mở bài gián tiếp, và tuyệt nhiên không có lấy một chút rung động thẩm mỹ nào của người đọc văn. Toàn bộ bài làm của cậu được chia thành ‘Luận điểm 1: Về đặc tính dòng nước’, ‘Luận điểm 2: Về phản xạ cơ học của con người’, rồi gạch đầu dòng chứng minh hành động vượt thác của ông lái đò hệt như đang giải một bài toán thực nghiệm về cơ học chất lưu và các định luật cân bằng lực.”
Cả lớp cố nín thở kìm nén những tiếng cười khúc khích đang chực bật ra, nhưng khi nhìn thấy ánh mắt nghiêm túc, nghiêm khắc của cô Hà, mọi người lại vội vàng mím chặt môi, cúi gằm mặt xuống. Cô Hà đưa ngón tay trỏ chỉ thẳng vào dòng nhận xét dài dằng dặc bằng mực đỏ chiếm trọn nửa trang giấy thi cuối cùng:
“Cô đã ghi rất rõ ở đây để em đọc lại: ‘Lập luận chặt chẽ, tư duy phân tích mang tính logic cao nhưng hành văn cộc lốc, khô khan như một bản chứng minh hình học thiếu cảm xúc. Văn chương cần hơi ấm của con người, cần sự thấu cảm của trái tim và nhịp điệu phong phú của tâm hồn, không phải là một chuỗi các phép thế công thức vô hồn.’ Nếu em tiếp tục giữ cách hành văn này bước vào kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia, phần nghị luận văn học sẽ kéo tụt toàn bộ kết quả xét tuyển khối D của em xuống đáy đấy, Quân ạ.”
Quân nhìn chằm chằm vào con số 4.25 đỏ ối trên trang giấy trắng tinh, yết hầu nơi cổ khẽ giật giật chuyển động. Đôi lông mày rậm và đen nhánh của cậu hơi nhíu lại vào nhau, khóe môi mỏng mím chặt thành một đường thẳng thừng. Cậu không hề cãi lại một lời, cũng không cố đưa ra bất kỳ lý do biện minh nào cho sự thất bại của mình, chỉ khẽ gật đầu, cất giọng trầm thấp:
“Em hiểu rồi ạ. Em cảm ơn cô đã chỉ ra thiếu sót.”
Cô Hà khẽ vỗ nhẹ vai Quân một cái rồi quay người bước trở lại bục giảng để tiếp tục phần còn lại của tiết sinh hoạt lớp. Miên lặng lẽ trở về chỗ ngồi của mình, kéo chiếc ghế gỗ sát vào mép bàn, len lén đưa mắt liếc nhìn sang người bạn cùng bàn mới chuyển đến được vài tháng. Lần đầu tiên kể từ ngày chuyển trường từ thủ đô về mảnh đất Nam Định này, cô mới nhìn thấy trên gương mặt lạnh như tiền của Trịnh Đông Quân lộ ra một vẻ lúng túng thật sự. Cậu lật đi lật lại hai trang giấy thi môn Văn với những gạch đầu dòng ngắn cũn cỡn của mình, ngón tay trỏ vô thức gõ nhẹ từng nhịp ngập ngừng lên mặt bàn, dường như đang phải đối mặt với một ẩn số hóc búa, một bài toán phi tuyến tính vượt ra ngoài mọi định lý, hệ quả mà cậu từng được đào tạo bài bản suốt những năm tháng ở trường chuyên.
Hai con người ngồi sát cạnh nhau trên cùng một chiếc bàn gỗ cũ kỹ, một kẻ đứng trên đỉnh cao chót vót của ngôn từ và hình tượng nhưng lại rơi tõm xuống đáy vực sâu thẳm của những con số vô tình; một kẻ làm chủ tuyệt đối ma trận logic của không gian và đại số nhưng lại hoàn toàn bất lực, lạc lõng trước thế giới phong phú của cảm xúc và nhịp điệu câu chữ. Hai thái cực đối lập đến trớ trêu của tạo hóa, lại cùng chia sẻ chung một góc bàn bên khung cửa sổ nhìn ra cây phượng già đang lặng lẽ trút lá trong gió thu.
***
Khi tiếng chuông báo hiệu giờ ra chơi vang lên giòn giã khắp các dãy hành lang, lớp học như được giải thoát khỏi bầu không khí ngột ngạt, lập tức rộn rã tiếng cười nói trở lại. Các nhóm học sinh túa ra hành lang sưởi chút nắng hanh vàng của buổi sớm mai.
Thầy Mai Quốc Khánh đứng ở cửa lớp, gấp lại tập hồ sơ điểm số, đưa tay ngoắc nhẹ:
“Quân, ra đây thầy gặp một chút.”
Quân hơi khựng lại một nhịp. Cậu nhanh chóng gập tờ bài thi Văn bị điểm kém nhét vội vào sâu trong ngăn bàn rồi đứng dậy, chỉnh lại cổ áo khoác, bước theo thầy Khánh ra phía cuối dãy hành lang tầng ba – nơi có ban công nhỏ nhìn thẳng xuống sân bóng rổ xi măng và khoảng trời rộng mở phía đông thành phố.
Hạ Miên đang ngồi ở bàn, dùng chiếc dao gọt nhỏ cẩn thận sửa lại những nét chì gãy trong chiếc hộp bút bằng gỗ thông cũ, bất giác đưa mắt nhìn theo bóng hai thầy trò qua khung cửa sổ kính mờ. Từ góc nhìn của cô, bóng dáng dong dỏng cao, hơi gầy của Quân đứng cạnh thân hình vạm vỡ, rắn rỏi của thầy Khánh hiện lên rõ nét dưới ánh nắng vàng nhạt của tiết trời cuối thu.
Thầy Khánh đặt một bàn tay to lớn, ấm áp lên vai Quân, giọng thầy trầm xuống nhưng mang theo sức nặng của sự kỳ vọng to lớn:
“Điểm mười môn Toán sáng nay đã chứng minh cho toàn trường thấy năng lực thực sự của em. Thầy đã xem rất kỹ cách em xử lý câu bất đẳng thức cuối đề, một cách giải cực kỳ sáng tạo và có chiều sâu toán học rất hiếm thấy ở lứa tuổi học sinh phổ thông. Sắp tới, nhà trường sẽ chính thức thành lập đội tuyển bồi dưỡng chuẩn bị cho kỳ thi chọn học sinh giỏi Toán cấp tỉnh. Thầy muốn em sẽ là hạt nhân nòng cốt, là người lĩnh ấn tiên phong cho đội tuyển khối mười hai trường mình.”
Quân im lặng lắng nghe, hai bàn tay cậu đút sâu vào túi chiếc áo khoác gió đồng phục màu xanh đen. Ánh mắt cậu nhìn xa xăm về phía những mái ngói rêu phong của khu phố cổ Nam Định bên ngoài hàng rào trường. Cậu khẽ lắc đầu, cất giọng trầm buồn:
“Dạ, em thực sự cảm ơn thầy đã tin tưởng và đánh giá cao em. Nhưng em chỉ muốn tập trung toàn bộ thời gian để ôn luyện thi đại học thôi ạ.”
“Thầy hiểu áp lực của năm cuối cấp đối với các em,” thầy Khánh mỉm cười độ lượng, nhưng nét mặt thầy nhanh chóng chuyển sang vẻ nghiêm túc hơn thường lệ. Thầy hạ thấp giọng, ghé sát lại gần Quân, ánh mắt chứa đựng sự thấu hiểu sâu xa: “Nhưng còn một việc quan trọng này nữa. Cuối tháng sau, trường chuyên ngoài Hà Nội – ngôi trường cũ nơi em từng theo học đấy – có phối hợp với một số trường chuyên trọng điểm của khu vực đồng bằng sông Hồng tổ chức một đợt thi thử nâng cao và giao lưu cọ xát cho các đội tuyển học sinh giỏi Toán. Thầy muốn đích thân đưa em đi cùng đoàn của trường mình lên đó dự thi. Đây là cơ hội rất tốt để em kiểm tra lại vị trí của mình so với các bạn học sinh chuyên ngoài thủ đô. Bố em... tuần trước cũng đã gọi điện đường dài về trường để trao đổi riêng với thầy về đợt thi thử này.”
Hai chữ “Hà Nội” và “bố em” vừa buốt ra khỏi miệng thầy Khánh, từ bên trong lớp học nhìn qua cửa sổ, Miên nhìn thấy rõ ràng toàn bộ bả vai của Quân cứng đờ lại như bị điện giật.
Gương mặt Quân thoáng chốc tái mét đi, không còn một giọt máu. Nét căng thẳng tột độ hiện rõ nơi khóe mắt và đường quai hàm siết chặt. Bàn tay đang đút sâu trong túi áo khoác của cậu cuộn tròn lại thành nắm đấm, mạnh đến mức nổi rõ từng đường gân xanh chằng chịt nơi cổ tay gầy guộc. Cái cảm giác ngột ngạt đến nghẹt thở của căn hộ chung cư cao tầng lạnh lẽo nơi phố thị sầm uất, những trận cãi vã triền miên không hồi kết của người lớn trong những đêm đông buốt giá, và bóng ma của một sự sắp đặt độc đoán, lạnh lùng từ người bố kỹ sư công trình dường như lại một lần nữa trỗi dậy từ quá khứ, bóp nghẹt lấy tâm can cậu.
Chuyến đi Hà Nội đó không đơn thuần là một kỳ thi thử hay một buổi giao lưu học thuật; đó là sợi dây thòng lọng vô hình mà bố cậu đang rắp tâm quàng vào cổ con trai mình, nhằm kéo cậu trở lại quỹ đạo cứng nhắc mà ông đã vạch sẵn từ trước ngay sau khi học kỳ một kết thúc.
“Em... xin phép thầy cho em được suy nghĩ thêm vài ngày có được không ạ?” Quân khó nhọc lên tiếng, giọng cậu khàn đặc đi, vỡ vụn, đánh mất hoàn toàn vẻ điềm tĩnh, dửng dưng thường ngày. “Dạo này... sức khỏe của bà ngoại em ở dưới quê không được tốt lắm, chứng đau khớp của bà lại tái phát khi trở trời, em không muốn đi xa vào lúc này.”
Thầy Khánh chăm chú nhìn sâu vào đôi mắt đang dao động dữ dội của Quân, nhận ra sự giằng xé nội tâm đau đớn bên trong cậu học trò mới chuyển trường về tỉnh lẻ. Là một người thầy từng trải qua nhiều biến cố cuộc đời, thầy không hề gặng hỏi hay ép buộc, mà chỉ khẽ buông một tiếng thở dài đầy trăn trở, bàn tay vỗ nhẹ hai cái lên bờ vai đang run rẩy của cậu:
“Được rồi. Em cứ suy nghĩ cho thật kỹ đi. Nhưng hãy nhớ lời thầy, trốn tránh chưa bao giờ là cách giải quyết triệt để một bài toán khó. Muốn tìm ra nghiệm số đích thực của cuộc đời mình, đôi khi chúng ta bắt buộc phải dũng cảm đối diện trực tiếp với phương trình phức tạp và đau đớn nhất.”
Thầy Khánh quay người rảo bước đi về phía văn phòng Đoàn trường ở đầu dãy hành lang. Quân vẫn đứng chôn chân một mình bên lan can ban công rất lâu sau đó. Đôi mắt cậu vô hồn nhìn chăm chú về phía dải đường Quốc lộ 10 xa xa mờ mịt khói bụi – con đường huyết mạch nối liền dải đất thành Nam với thủ đô Hà Nội ngột ngạt. Từng đợt gió thu hanh hao thổi mạnh làm tung bay những lọn tóc đen nhánh trước trán cậu, để lộ ra một ánh nhìn trĩu nặng ưu tư, cô độc và lạc lõng giữa đất trời mênh mông.
Miên từ tốn thu lại ánh mắt của mình, cúi đầu nhìn xuống trang vở học sinh trắng tinh đang mở rộng trên bàn. Cảm giác nhói buốt nơi lồng ngực cô lúc này không chỉ đơn thuần bắt nguồn từ con số 3.5 môn Toán nghiệt ngã của chính bản thân, mà còn vì cô vừa cay đắng nhận ra rằng: người bạn cùng bàn tưởng chừng như mạnh mẽ, cao ngạo và toàn năng ấy, thực chất cũng đang phải âm thầm mang trên lưng những vết thương lòng rỉ máu và những gánh nặng tâm lý đè nặng chẳng kém gì cô.
***
Buổi chiều muộn, khi hồi chuông kết thúc tiết học cuối cùng của ngày thứ Hai vang lên xé tan không gian tĩnh mịch, cả tổ làm báo tường lớp 12 Văn kéo nhau rời khỏi cổng trường. Họ rẽ vào con ngõ nhỏ lát gạch nghiêng rêu phong thân thuộc để tìm đến quán chè quen thuộc nép mình ở một góc phố yên bình.
Quán chè nằm lọt thỏm dưới bóng mát của một cây bàng cổ thụ xòe tán rộng che kín cả một khoảng trời, kê sơ sài vài bộ bàn ghế nhựa thấp màu đỏ thắm đã bạc màu và loang lổ theo năm tháng. Mùi nước cốt dừa béo ngậy, mùi đường mía thơm ngọt hòa lẫn với mùi đỗ
đen nấu chín bốc lên nghi ngút từ chiếc nồi nhôm lớn đặt trên bếp than tổ ong. Đây là nơi trú ẩn quen thuộc của nhóm sau những giờ học căng thẳng, nhưng chiều nay, bầu không khí hoàn toàn thiếu vắng tiếng cười đùa rôm rả như mọi khi.
Tít ngồi phịch xuống ghế, hai khuỷu tay chống mạnh lên mặt bàn nhựa khiến mấy chiếc thìa nhôm trong ống cắm va vào nhau lách cách, rồi cậu ôm chặt lấy trán mà than vãn:
“Trời đất ơi là trời! Lịch sử sáu điểm, Địa lý năm phẩy năm! Làm lớp trưởng mà điểm số bết bát thế này thì mặt mũi nào ăn nói với cô Hà cơ chứ! Đã thế mẹ tao sáng nay còn nhắn tin bảo nếu kỳ thi thử sau không lọt top mười của lớp thì tịch thu luôn cái máy vi tính ở nhà. Phen này chết chắc rồi!”
“Ông than thở ít thôi,” Na ngồi bên cạnh, phong thái vẫn giữ được nét thanh lịch thường nhật. Cô dùng chiếc thìa nhôm nhỏ chậm rãi khuấy đều ly chè hoa cau sóng sánh ánh vàng, nhàn nhạt nói, giọng bình thản như thể những con số trên bảng điểm chẳng mảy may làm lay động được tâm can. “Ít ra điểm Văn của ông còn được bảy phẩy, còn gỡ lại được. Nhìn sang Bảo xem, người ta còn chưa khóc đây này.”
Quốc Bảo ngồi gác một chân lên thanh giằng ngang của chiếc ghế nhựa, chiếc lưng tựa hờ vào thân cây bàng xù xì sau lưng. Bàn tay to bè của cậu theo thói quen vô thức xoa xoa quanh khớp đầu gối phải – nơi mép miếng cao dán salonpas vẫn còn cồm cộm, tỏa ra mùi dầu thông the nồng dưới lớp vải quần thể dục mỏng tang đã sờn chỉ. Cậu ta cười trừ, cố nặn ra một vẻ mặt vô tư lự để khỏa lấp đi nỗi bồn chồn đang chực trào nơi đáy mắt:
“Thôi xin các cụ! Điểm Sử bốn điểm rưỡi của tôi còn chưa lên tiếng thì ông Tít khóc lóc cái nỗi gì. Đằng nào mục tiêu của tôi cũng chỉ là khoa Giáo dục Thể chất, qua được điểm liệt tốt nghiệp là tôi thắp hương cảm tạ tổ tiên rồi. Quan trọng là bài viết về cậu Kiên gầy thủ môn dự bị sáng nay nộp cho cô Hà, cô khen lấy khen để đấy nhé! Tờ báo tường của chúng mình đợt này điểm nội dung chắc chắn ăn đứt lớp A1 của bà Trang!”
Dù Bảo đã cố gắng pha trò, vung tay vung chân để khuấy động lại tinh thần ủ rũ của cả nhóm, Miên vẫn ngồi thu lu ở một góc bàn, thu hẹp sự hiện diện của mình lại như một chiếc bóng. Hai bàn tay nhỏ nhắn của cô ôm chặt lấy thân ly thủy tinh đựng chè đỗ đen đã tan gần hết những viên đá vụn. Lớp sương nước lạnh ngưng tụ bên ngoài thành ly thấm đẫm vào lòng bàn tay cô, mang theo một cảm giác tê cóng buốt giá len lỏi qua từng kẽ gân.
Nước chè ngọt khé nơi đầu lưỡi nhưng cô chẳng cảm nhận được bất kỳ mùi vị thơm tho nào. Miên vô thức dùng chiếc thìa nhôm dầm nát những hạt đỗ đen đã ninh mềm nhũn dưới đáy ly, miết đi miết lại cho đến khi chúng hòa tan vào thứ nước đường thẫm màu, ánh mắt dán chặt không rời vào những vết xước loang lổ trên mặt bàn nhựa đỏ. Nỗi buồn sâu hoắm và sự tự ti đè nặng lên bờ vai gầy của cô hệt như một tảng đá ngàn cân vô hình. Điểm 3.5 môn Toán nhận lại từ tay thầy Khánh ban sáng như một bản án nghiệt ngã, lạnh lùng phán quyết rằng giấc mơ trở thành sinh viên Báo chí, giấc mơ cháy bỏng được một lần cầm cây bút bước ra thế giới rộng lớn bao la ngoài kia của cô chỉ là một ảo tưởng viển vông, kệch cỡm. Cô rồi sẽ phải cúi đầu chấp nhận sự an bài êm đềm nhưng ngột ngạt của bố mẹ, răm rắp nộp hồ sơ vào trường Sư phạm tỉnh nhà, rồi lặng lẽ chôn vùi cả tuổi trẻ rực rỡ trong những nỗi tiếc nuối âm thầm không bao giờ cất thành lời.
Bên cạnh Miên, chiếc ô gấp ba màu xanh lam cũ kỹ đã sờn mép của bà ngoại Hương được cô cẩn thận đặt ngay ngắn trên mặt bàn. Sáng nay cô đã xếp nó gọn gàng trong ngăn cặp, bụng bảo dạ tan học sẽ tìm cách gửi trả lại cho Quân, nhưng lúc chuông tan trường vừa điểm, bầu trời bên ngoài lại bất chợt sầm sì trút xuống một làn mưa phùn lây rây giăng mắc trắng xóa mặt sân. Khi cô ấp úng chìa chiếc ô ra, Quân chỉ liếc mắt nhìn khoảng trời xám xịt trên đầu rồi buông một câu cộc lốc, ngắn gọn: “Cầm về mà che, bao giờ nắng hẳn hẵng trả.” Sự quan tâm thầm lặng, vụng về ấy chẳng những không làm lòng cô nhẹ nhõm hơn, mà ngược lại, càng khiến tâm can Miên dấy lên một cảm giác vừa bùi ngùi biết ơn, vừa cay đắng, chua xót cho sự bất lực và yếu đuối của chính bản thân mình.
Bất thình lình, một tiếng “cạch” khô khốc vang lên giòn tan trên mặt bàn nhựa.
Miên giật mình chớp mắt, ngơ ngác ngẩng đầu lên. Quân vừa kéo khóa chiếc ba lô dù màu đen sờn mép của mình ra, lôi từ sâu bên trong một tập giấy kẻ ô ly học sinh dày cộp, mép giấy phẳng phiu không hề có lấy một nếp gấp thừa thãi. Cậu chẳng nói chẳng rằng nửa lời, dùng mu bàn tay gạt nhẹ ly chè hoa quả dầm vẫn còn đầy nguyên sang một bên góc bàn, rồi dứt khoát trải phẳng tập giấy trắng tinh ra trước mặt Miên.
Đó hoàn toàn không phải là một tập giấy nháp ghi chép bừa bãi hay những phép tính toán cẩu thả thường thấy.
Trên từng trang giấy kẻ ô vuông tinh tươm, những đường kẻ bằng mực bút bi đỏ và xanh dương được vạch ra một cách thẳng tắp, dứt khoát và chuẩn xác như thể được đo đạc bằng compa và thước kẻ cơ khí. Quân đã cặm cụi phác họa sẵn một hệ thống biểu đồ hình cột kết hợp nhuần nhuyễn với các sơ đồ cây phân nhánh vô cùng tỉ mỉ, khoa học đến từng chi tiết nhỏ.
“Cái... cái gì thế này hả Quân?” Miên ngơ ngác chớp chớp hàng mi, giọng cô lí nhí thốt lên, bờ môi khẽ run vì quá đỗi kinh ngạc.
Nghe thấy thanh âm bỡ ngỡ của cô, Tít, Na và Bảo cũng lập tức ngừng bặt cuộc trò chuyện, tò mò rướn hẳn người qua mặt bàn, dồn mắt nhìn vào những cột mốc chằng chịt các con số.
“Ma trận phân tích cơ cấu điểm thi khối D,” Quân thản nhiên trả lời, thanh âm trầm tĩnh, rành rọt và đều đặn phát ra như thể một giảng viên đại học đang đứng trước bục giảng để thuyết trình một chuyên đề học thuật. Cậu đưa tay rút chiếc bút chì bấm kỹ thuật vỏ kim loại từ túi ngực áo đồng phục ra, đầu ngòi chì mảnh mai nhấp nhẹ theo từng nhịp dứt khoát vào từng nhánh rẽ của sơ đồ. “Tôi vừa tổng hợp lại toàn bộ phổ điểm chuẩn đầu vào khoa Báo chí của Đại học Quốc gia Hà Nội trong ba năm gần đây nhất. Điểm chuẩn dao động từ 23.5 đến 24.5 điểm. Năm nay lượng thí sinh đăng ký dự thi dự kiến tăng nhẹ theo chu kỳ dân số, nên tôi lấy mức an toàn cao nhất là 24.5 điểm làm mục tiêu cố định để hoạch định chiến lược.”
Quân khẽ liếc nhìn Miên, ánh mắt cậu xuyên qua cặp kính cận, nghiêm nghị và sâu thẳm nhưng tuyệt nhiên không hề vương một chút mỉa mai hay phán xét:
“Môn Văn của cậu đạt 9.25 ở kỳ khảo sát vừa rồi, đứng đầu toàn khối. Trừ đi biên độ sai số chủ quan của các giám khảo khó tính trong kỳ thi chung quốc gia, tôi trừ hao và lấy mức sàn thấp nhất mà cậu hoàn toàn có thể nắm chắc trong lòng bàn tay là 8.5 điểm. Môn Tiếng Anh hiện tại cậu đang ở mức 7.75, với nền tảng ngữ pháp và năng lực tự học của cậu, việc duy trì phong độ và nâng nhẹ lên mức 8.0 là điều hoàn toàn nằm trong tầm tay, không cần tốn quá nhiều sức lực biến động.”
Đầu ngòi bút chì của Quân dịch chuyển, đặt trúng vào nhánh sơ đồ cuối cùng bên phải – nhánh chữ được viền bằng hai nét mực đỏ đậm nhất, nổi bật trên nền giấy trắng:
“8.5 cộng 8.0 là 16.5 điểm. Điều đó có nghĩa là, để chạm tới ngưỡng 24.5 điểm đỗ chắc chắn vào khoa Báo chí, môn Toán của cậu không cần phải đạt mức chín hay mười điểm như những đứa dân chuyên tự nhiên bọn tôi. Cậu chỉ cần đạt chính xác 8.0 điểm.”
“Tám... tám điểm môn Toán á?” Miên thốt lên thất thanh, hai mắt cô mở to hết cỡ đầy vẻ kinh hãi tột cùng, hai bàn tay nhỏ xua lia lịa trong không khí như thể vừa trông thấy một bóng ma hay một điều gì hoàn toàn phản khoa học. “Cậu đùa tớ đấy à Quân? Sáng nay tớ vừa thi được có đúng 3.5 điểm thôi đấy! Tám điểm là chuyện không tưởng đối với một đứa dốt Toán kinh niên từ trong trứng nước như tớ! Cậu không biết đâu, tớ nhìn vào hình học không gian là đầu óc quay cuồng buồn nôn, phương trình lượng giác thì công thức này cắm cằm bà kia, dấu má lộn tùng phèo, làm sao mà...”
“Cậu không hề dốt Toán,” Quân lập tức ngắt lời cô bằng một chất giọng đanh gọn, trầm tĩnh và uy lực đến lạ kỳ, chặt đứt chuỗi hoảng loạn đang chực bùng phát của Miên. “Cậu chỉ đang mắc phải hai sai lầm chết người: thứ nhất là mất gốc phương pháp luận cơ bản, và thứ hai là tâm lý hoảng loạn tự kỷ ám thị rằng mình không thể làm được.”
Không để cho Miên có cơ hội cãi lại, đầu bút chì của Quân thoăn thoắt lướt nhanh trên các ô ly giấy, vạch ra các con số phân rã cực kỳ chi tiết, rành mạch từng phân khúc:
“Nhìn thẳng vào đây. Cấu trúc đề thi tốt nghiệp và đại học môn Toán bao gồm mười câu, chia đều thành thang điểm mười tuyệt đối. Câu một: Khảo sát hàm số và các bài toán liên quan – chiếm trọn hai điểm. Dạng bài này hoàn toàn là quy trình mẫu, giải theo một thuật toán cố định từng bước một, không đòi hỏi bất kỳ sự đột phá tư duy trừu tượng nào. Tôi sẽ bắt cậu làm đủ năm mươi bài mẫu, sai một bước trừ một điểm, làm đi làm lại đến khi nào nhắm mắt lại tay cậu cũng tự động vẽ đúng bảng biến thiên và đồ thị không lệch một milimét thì thôi. Câu hai: Phương trình lượng giác cơ bản – chiếm một điểm. Chỉ có đúng năm nhóm công thức biến đổi cơ bản cần ghi nhớ, học thuộc nằm lòng và áp dụng nhuần nhuyễn phương pháp loại nghiệm trên đường tròn lượng giác là lấy trọn một điểm này trong vòng chưa đầy mười phút. Câu ba: Phương trình, bất phương trình mũ và logarit – một điểm. Thuộc tập xác định, nhớ công thức lũy thừa là xong. Câu bốn: Tích phân và nguyên hàm cơ bản – một điểm. Chỉ cần ráp bảng nguyên hàm và công thức đổi biến số, từng phần mức độ một. Câu năm: Hình học giải tích trong không gian Oxyz – một điểm. Tôi sẽ dạy cho cậu cách gắn hệ trục tọa độ vào mọi hình khối lăng trụ, chóp nón, biến toàn bộ bài toán hình không gian hóc búa với những đường kẻ phụ phức tạp thành những phép tính đại số cộng trừ nhân chia thuần túy.”
Quân hơi dừng lại một nhịp, khẽ gõ nhẹ đầu chiếc bút chì kim loại xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng đanh gọn:
“Cộng tất cả các phần cơ bản đó lại, cậu đã có trong tay trọn vẹn 6.0 điểm tuyệt đối mà không cần phải đụng đến bất kỳ câu hỏi phân loại nâng cao nào. Hai điểm tiếp theo nằm ở câu hình học phẳng thuần túy và bài toán xác suất thống kê tổ hợp của chương trình lớp mười một – những phần chỉ cần rèn luyện kỹ năng nhận diện dạng bài trong vòng hai tháng là có thể xử lý trơn tru. Tổng cộng: 8.0 điểm. Không thừa một phần mười, không thiếu một phần trăm. Đó là một lộ trình hoàn toàn khả thi về mặt số học thuần túy, không hề có bất kỳ yếu tố may rủi nào can thiệp.”
Cả bàn nước bỗng chốc rơi tõm vào một sự im lặng tuyệt đối. Tiếng gió xào xạc trên vòm lá bàng già và tiếng lách tách của bếp than tổ ong bên lề đường dường như cũng bị nén lại sau màn phân tích khúc chiết đến rợn ngườicủa Quân.
Tít há hốc mồm kinh ngạc nhìn trân trân vào tập giấy kẻ ô ly chi tiết đến từng dấu chấm, dấu phẩy, rồi cậu ngước mắt nhìn Quân bằng một ánh nhìn sùng bái xen lẫn hoang mang tột độ như thể đang đối diện với một sinh vật ngoài hành tinh:
“Quái vật... Đúng là đẳng cấp của dân chuyên Toán có khác! Rành mạch, lạnh lùng đến mức phát sợ! Nhìn vào cái bảng chia chác này, tự dưng tao cũng thấy cái môn Toán nó bớt giống một con quái vật ăn thịt người đi hẳn!”
“Vậy kế hoạch hành động cụ thể của ông là gì?” Na khẽ chống một bên cằm thon gọn lên mu bàn tay, đôi mắt sắc sảo khẽ nheo lại nhìn thẳng vào Quân, khóe môi khẽ nhếch lên hỏi một câu đầy tính thực tế và gai góc. “Vạch ra được một chiến lược hoàn hảo trên giấy là một chuyện, nhưng biến con số 3.5 thê thảm của Miên thành 8.0 tròn trĩnh trong vòng tám tháng ngắn ngủi tới lại là chuyện hoàn toàn khác. Ông định kèm Miên thế nào đây?”
Quân không buồn quay sang trả lời Na ngay lập tức. Cậu thong thả mở khóa ngăn phụ của chiếc cặp da sờn góc, rút ra tờ bài thi khảo sát Ngữ văn vỏn vẹn 4.25 điểm với chi chít những dòng nhận xét bằng mực đỏ uốn lượn nghiêm khắc của cô Hà. Cậu đặt nó nằm ngay ngắn, song song bên cạnh tờ bài thi môn Toán 3.5 điểm của Miên.
Hai trang giấy thi học trò – hai thất bại đối xứng trớ trêu của hai con người ngồi cạnh nhau – nằm phơi mình dưới ánh chiều tà hanh hao.
Quân từ tốn ngước mắt lên, ánh nhìn xuyên thẳng vào đôi mắt hạnh đang còn ầng ậng nước, đong đầy sự hoang mang và tự ti của Miên:
“Tôi sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn với điểm Toán của cậu. Bắt đầu từ tuần này, mỗi tuần ba buổi cố định sau giờ tan học: chiều thứ Ba, chiều thứ Năm và chiều thứ Bảy, tôi sẽ kèm cậu học tại góc trong cùng của phòng thư viện cũ hoặc ở gian nhà ngoài bên nhà bà ngoại tôi. Bắt đầu lại toàn bộ từ phần đại số của lớp mười, quét sạch toàn bộ mọi lỗ hổng kiến thức từ gốc rễ, chia bài tập theo ba mức độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng thấp. Tôi sẽ vạch sẵn lộ trình điểm số chi tiết cho từng tuần, kiểm tra tiến độ ngặt nghèo hệt như bảng tiến độ Gantt của tổ báo tường. Tôi bảo đảm, đến kỳ thi thử lần hai vào cuối học kỳ một này, điểm Toán của cậu sẽ không bao giờ dưới 6.5.”
Miên nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng cô nghẹn ắng lại, trái tim trong lồng ngực đập thình thịch từng nhịp hoảng loạn:
“Thế... thế còn cậu thì sao? Cậu kèm tớ như thế thì tốn rất nhiều thời gian, công sức của cậu... Cậu cũng phải ôn thi đội tuyển, ôn thi đại học nữa mà...”
“Tôi không làm không công cho ai bao giờ,” Quân dứt khoát cắt ngang lời cô, khóe môi hơi giật giật tạo thành một nét cười rất mỏng, ngón tay trỏ thon dài chỉ thẳng vào con số 4.25 đỏ chót trên bài thi Văn của chính mình. “Đổi lại, cậu phải cứu môn Văn của tôi.”
“Hả?” Miên hoàn toàn ngẩn người ra, đôi mắt mở to nhìn cậu như không tin vào tai mình.
“Tôi hoàn toàn bế tắc với môn Văn,” Quân thẳng thắn thừa nhận, thanh âm của cậu lần đầu tiên mang theo một sự bất lực chân thành, mộc mạc và trần trụi đến nao lòng, không còn chút vỏ bọc kiêu ngạo, gai góc thường thấy của một học sinh giỏi toán cấp tỉnh. “Tôi nhìn vào một tác phẩm văn học, trong đầu tôi chỉ tự động phân tích ra cấu trúc logic, nguyên nhân và kết quả. Tôi không thể nào hiểu nổi tại sao một dòng sông như sông Đà lại phải vừa ‘hung bạo’ mà lại vừa ‘trữ tình’ cùng một lúc, tôi không hiểu tại sao một ông lão lái đò vượt qua thác đá ghềnh hiểm trở lại cần phải được miêu tả bằng những tính từ hoa mỹ, bi tráng như một bản trường ca bất tận. Khi tôi đặt bút viết, chữ nghĩa trong đầu cứ tự động biến thành những gạch đầu dòng khô khốc, trơ trọi như một cái đề cương toán học. Cô Hà nói đúng, văn của tôi hoàn toàn thiếu vắng hơi ấm của con người.”
Quân nhìn sâu vào tận đáy mắt Miên, giọng cậu chùng hẳn xuống, trầm ấm và tha thiết một cách lạ lùng:
“Cậu là người đã viết ra bài tản văn ‘Những hạt cát thời gian rơi trên bậu cửa’ đăng trên báo Hoa Học Trò dưới bút danh Mộc Miên. Cậu sở hữu thứ mà tôi vĩnh viễn không thể tìm thấy trong bất kỳ công thức toán học hay định lý khô khan nào: sự thấu cảm tinh tế, nhịp điệu của tâm hồn và khả năng gọi tên những cảm xúc mong manh, vô hình nhất. Cậu phải dạy tôi cách cảm thụ một tác phẩm. Dạy tôi cách mở rộng vốn từ ngữ, cách kết nối các câu văn lại với nhau sao cho mượt mà và có hồn, dạy tôi cách diễn đạt để người chấm bài cảm nhận được rằng người viết bài thi này là một con người đang thực sự rung động trước cuộc đời, chứ không phải một cỗ máy giải toán vô tri.”
Một khoảng lặng thật dài, sâu thẳm và ngưng đọng bao trùm lấy khoảng không gian nhỏ bé giữa hai người.
Gió chiều thu se se lạnh khẽ lùa qua con ngõ hẹp, làm rung rinh những tán lá bàng đã ngả màu hoe đỏ bên trên mái hiên, rải những vệt nắng vàng hanh hao cuối cùng của một ngày tàn lên mặt bàn nhựa loang lổ. Mùi nước cốt dừa ngậy béo, mùi đường mía thơm ngọt từ góc bếp vẫn lãng đãng bay trong thinh không. Tít, Na và Bảo đều ngồi im phăng phắc, không một ai lên tiếng trêu chọc hay chen ngang vào khoảnh khắc ấy. Bằng sự nhạy cảm của những người bạn cùng lứa tuổi mười bảy, họ hiểu rằng đây không chỉ đơn thuần là một lời đề nghị học nhóm thông thường của tuổi học trò; đây là một giao ước sống còn, một sự nương tựa chân thành và thiêng liêng nhất giữa hai tâm hồn đều đang mang trên lưng những vết thương tự ti, những khiếm khuyết và cả nỗi sợ hãi mông lung trước ngưỡng cửa khắc nghiệt của cuộc đời.
Miên cúi đầu nhìn xuống tờ phân tích điểm số kẻ ô ly ngay ngắn đang trải rộng trước mặt. Từng con số nắn nót, từng nét thước kẻ bằng mực đỏ tỉ mỉ đều toát lên sự cẩn trọng, công phu và một niềm tin kiên định mà ngay cả chính bản thân cô cũng chưa từng một lần dám dành cho mình. Cậu bạn cùng bàn ít nói, lúc nào cũng mang vẻ mặt xa cách và lạnh lùng ấy đã không hề cười nhạo điểm số thảm hại đến xấu hổ của cô; cậu đã dùng chính thứ vũ khí sắc bén, kiêu hãnh nhất của bản thân để vạch ra cho cô một con đường sống giữa cơn tuyệt vọng tăm tối cùng cực.
Sự tự ti hèn mọn, nỗi sợ hãi chực trào nước mắt bấy lâu nay bỗng chốc tan biến đi đâu mất, nhường chỗ cho một luồng hơi ấm dịu dàng nhưng mãnh liệt chưa từng thấy cuộn trào lên nơi lồng ngực Miên.
Cô hít một hơi thật sâu, ngực phập phồng, rồi ngẩng cao đầu lên. Lần đầu tiên kể từ buổi sáng định mệnh ấy, cô dũng cảm nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm của Quân mà không hề có lấy nửa phần né tránh. Bàn tay nhỏ nhắn của Miên khẽ đặt lên trang giấy kẻ ô ly trắng muốt, những đầu ngón tay mềm mại khẽ miết nhẹ qua vệt mực đỏ còn thơm mùi giấy mới:
“Được. Tớ đồng ý.”
Giọng Miên vang lên trong trẻo, dứt khoát và kiên định hơn bất cứ lời hứa nào cô từng thốt ra trong đời:
“Tớ sẽ dạy cậu cách cảm nhận tác phẩm văn chương từ những điều bình dị, chân thật nhất của cuộc sống, dạy cậu cách viết văn bằng nhịp đập rung động của trái tim. Đổi lại, cậu phải kéo tớ bước qua khỏi vũng lầy môn Toán này. Chúng ta cùng nhau chiến đấu.”
Một nụ cười nhẹ nhõm, hiếm hoi và ấm áp như ánh nắng sớm mai bỗng chốc nở bừng trên gương mặt góc cạnh của Trịnh Đông Quân. Cậu giơ bàn tay phải to bản, rắn rỏi của mình ra đặt ở giữa khoảng không của mặt bàn:
“Chốt giao kèo. Tuyệt đối không được bỏ cuộc giữa chừng.”
Miên mỉm cười, đôi mắt ánh lên những tia sáng lấp lánh rạng rỡ. Cô đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình ra, dứt khoát nắm lấy bàn tay ấm áp, thô ráp đầy những vết chai tay của Quân. Cái bắt tay giữa hai người bạn cùng bàn diễn ra thật mộc mạc và trang trọng bên chiếc bàn nhựa thấp của quán chè đầu ngõ rêu phong, dưới sự chứng kiến lặng thầm của ba người bạn thân thiết, khép lại những hoang mang, lạc lối ban đầu của một mùa thi cử đầy giông bão để mở ra một hành trình đồng hành chông gai nhưng ngập tràn hy vọng.
“Hay lắm!” Tít vỗ đùi đánh đét một cái thật kêu, phá tan bầu không khí trang nghiêm đến nín thở vừa rồi. Cậu cười toe toét, hai mắt híp lại: “Thế là tổ báo tường lớp mình chính thức có đôi bạn cùng tiến Văn – Toán song toàn rồi nhé! Bà chủ ơi, cho bàn cháu thêm năm đĩa bánh gối nóng hổi với một đĩa nem chua rán nữa nào, lớp trưởng hôm nay chơi lớn bao trọn gói để ăn mừng liên minh thế kỷ được thành lập!”
Tiếng cười rộn rã, giòn tan của Bảo và Na lại đồng loạt vang lên, hòa vào tiếng xèo xèo vui tai của chảo mỡ rán bánh gối đang sôi sục bên mép vỉa hè.
Cầm bảng phân tích điểm số do Quân tỉ mỉ kẻ tay bằng cả tấm lòng, Miên chợt thấy cánh cửa bước vào giảng đường Báo chí không còn là ảo ảnh xa vời.