Mùa Mưa Ở Đà LạtCh.9 / 36
Chapter 9

Bàn Tay Của Thợ

Một buổi sáng hiếm hoi trời hửng nắng giữa mùa mưa dầm dề của vùng cao nguyên.

Những vạt sương mỏng tang như khói thuốc lào bảng lảng qua triền đồi Trại Mát bắt đầu tan nhanh dưới sức ấm của luồng dương khí đầu ngày, để lộ ra khoảng sân rộng trước hiên nhà Mộc Miên đang ngổn ngang những cánh cửa chớp gỗ lá sách cũ kỹ vừa được tháo dỡ xuống từ chiều hôm trước.

Sau gần ba tuần lễ chìm trong những cơn mưa rả rích triền miên biến con dốc đất đỏ bazan dẫn vào nhà thành một lòng suối bùn lầy lội, bầu không khí sớm nay bỗng khô ráo lạ thường. Nắng sớm không gắt gỏng mà rọi xiên qua những tán thông ba lá cổ thụ trên sườn đồi phía sau, rớt xuống mặt sân gạch tàu thành từng vệt sáng dài màu hổ phách trong veo. Hơi ấm mơn man hong khô dần lớp cỏ chỉ và rêu mốc còn ngậm no nước mưa đêm qua, làm bốc lên một làn khói ẩm mờ ảo sát mặt đất.

Dưới bóng râm rộng và mát rượi của chái hiên phía đông, Vũ Thảo Nguyên ngồi bệt trên một chiếc ghế đẩu gỗ thấp đã nhẵn thín góc cạnh. Trước mặt cô, hai hàng cánh cửa sổ chớp lật bằng gỗ thông già được xếp ngay ngắn, tựa lưng vào mép thềm gạch đỏ rêu phong.

Đó là toàn bộ hệ thống cửa lá sách của tầng một căn nhà chính, vốn được tháo xuống để phục vụ cho việc kiểm tra toàn diện hệ khung chịu lực, khảo sát tình trạng lún nứt cục bộ và xử lý chống ẩm chân tường theo phương án gia cố móng mà cô cùng kỹ sư Bảo đã thống nhất.

Trải qua gần nửa thế kỷ dầm dãi dưới cái rét buốt và những mùa mưa dầm đặc trưng của xứ sương mù, lớp sơn dầu màu xanh lam pha xám nguyên bản phủ ngoài các nan chớp giờ đây đã nứt nẻ, bong tróc từng mảng lớn như vảy cá khô. Nhiều chỗ mục ải lộ ra phần thớ gỗ thông xám xịt, xốp nhẹ và bở rệu vì bị nước mưa ngấm sâu qua nhiều năm tháng bỏ hoang. Thế nhưng, ẩn sâu bên dưới những vết tích tàn tạ của thời gian ấy, chất gỗ thông ba lá đanh chắc của rừng già Lâm Viên vẫn âm thầm bảo tồn cốt cách nguyên vẹn của mình; mỗi khi có ngọn gió đồi xao xác thổi qua mé hiên, từ những thớ gỗ vừa được cạo sạch lớp da chết lại phảng phất bay lên một mùi nhựa thông khô ngai ngái, nồng đượm và thanh sạch.

Lê Hoàng Phong ngồi cách Nguyên chừng một mét rưỡi, đúng bằng tầm với của một chiếc sọt tre đựng đồ nghề mộc thủ công.

Anh mặc chiếc áo sơ mi bảo hộ bằng vải thô màu xanh công nhân đã bạc phếch ở hai vai, tay áo xắn cao quá khuỷu để lộ cẳng tay săn chắc, rám nắng và gồ ghề những múi cơ vặn xoắn của một người lao động nặng lâu năm. Chạy xiên qua cổ tay phải của anh là một vết sẹo dài lồi cộm, sắc tố da trắng bệch nổi bật trên nền da sạm màu – dấu tích co rút của một chấn thương đứt gân sâu hoắm từ một thập kỷ trước.

Trên đùi Phong đặt ngay ngắn một cánh cửa sổ lá sách loại nhỏ. Bàn tay to bè, thô ráp của anh cầm chiếc sủi thép bản mỏng, miết từng đường dứt khoát và điêu luyện dọc theo khe rãnh của từng thanh chớp lật. Lưỡi thép sắc bén đi đến đâu, lớp sơn mủn nát và nấm mốc xám xịt bị gạt phăng đến đó, rào rào rơi lả tả xuống tấm bạt dứa màu xanh trải rộng dưới chân hai người.

"Cánh này là của phòng đọc sách cũ trên gác xép," Phong cất tiếng phá vỡ sự tĩnh lặng. Giọng anh trầm ấm, âm lượng giữ ở mức vừa phải, phẳng lặng như mặt nước hồ không gợn sóng để không làm kinh động đến sự yên ả của buổi sớm mai.

Lưỡi sủi thép trên tay anh đột ngột dừng lại ngay sát mép một thanh then gỗ ngang. Đầu mũi kim loại khẽ chỉ vào một góc khuất gần bản lề đồng, nơi có vài vết rạch nhỏ li ti đã ngả màu sẫm theo năm tháng.

"Chỗ này có mấy vệt khấc dao. Nhìn khoảng cách nông sâu thế này, chắc là dấu đo chiều cao hồi nhỏ của em."

Nguyên khựng tay cạo, hơi nghiêng đầu nhìn qua. Những hạt bụi sơn khô li ti màu xanh lơ lơ lửng trong luồng nắng xiên rọi qua kẽ ngói hiên nhà.

Ở góc phải của khung bao bằng gỗ dổi, ba vết rạch ngắn chừng một đốt ngón tay, nằm thẳng hàng theo chiều dọc thớ gỗ hiện ra mờ nhạt. Một làn sóng ký ức xa xôi ngỡ như đã bị chôn vùi dưới tầng tầng lớp lớp biến cố bỗng nhiên vụt hiện về rõ mồn một trong tâm trí cô.

Đó là mùa hè năm mười một tuổi. Khi ấy, đồi Trại Mát chưa có nhiều nhà lồng ni-lông trồng hoa như bây giờ, chỉ có bạt ngàn thông reo và những luống cẩm tú cầu nở xanh biếc ven hàng rào dâm bụt. Cô bé Thảo Nguyên gầy gò, nước da trắng xanh vì còi cọc sau một trận sốt dài ở Sài Gòn, được mẹ đưa lên gửi bà ngoại Mai chăm sóc trọn ba tháng hè. Mỗi buổi sáng sớm, bà ngoại lại pha cho cô một ly sữa dê nóng béo ngậy, rồi dắt cô ra bậu cửa phòng đọc sách, bắt đứng thẳng lưng, áp sát gót chân vào bậc cửa gỗ. Bà Mai khi ấy tóc hãy còn đen nhánh, khóe mắt đầy những nếp nhăn hiền hậu, tay cầm chiếc kéo cắt chỉ bằng đồng gõ nhẹ lên đỉnh đầu cô rồi dùng mũi kéo khắc một vệt nông vào khung cửa để ghi lại từng bước lớn lên của đứa cháu gái duy nhất.

"Là bà ngoại đánh dấu cho em," Nguyên khẽ đáp, giọng cô dịu đi trong một khoảnh khắc rất ngắn ngủi ngoài tầm kiểm soát của lý trí. Nhưng rồi, như một phản xạ tự vệ đã ăn sâu vào tiềm thức, ánh mắt cô lập tức thu lại vẻ mềm mại, trở về với nét thản nhiên, phòng bị và xa cách thường nhật. Cô cúi thấp đầu, tiếp tục dùng mũi bay cạo nhẹ một mảng sơn dầu phồng rộp trên cánh cửa của mình. "Mấy cái rãnh đó nằm sát phía trong hèm cửa, không ảnh hưởng gì đến then cài hay kết cấu mộng chịu lực đâu."

"Anh biết," Phong khẽ gật đầu.

Động tác tay của anh chậm lại thấy rõ, trở nên vô cùng thận trọng và nương nhẹ. Anh nghiêng lưỡi dao cạo sang một góc thật hẹp, chỉ dám khẽ gạt đi lớp màng mạng nhện bám quanh rãnh khấc: "Anh sẽ không dùng giấy nhám thô chà qua chỗ này đâu. Lát nữa anh chỉ lấy bàn chải lông mềm quét sạch nấm mốc trong kẽ nứt, rồi chấm một lớp dầu lanh mỏng để giữ lại nguyên vẹn từng thớ gỗ và dấu khấc kéo của bà. Em thấy làm như vậy có được không?"

"Được. Cảm ơn anh."

Nguyên trả lời ngắn gọn, hai mắt không rời khỏi mảng gỗ trước mặt, nhưng sâu thẳm trong lòng cô khẽ dậy lên một thoáng chao đảo âm thầm.

Suốt từ sáng sớm đến giờ, Phong luôn giữ một thái độ như vậy. Trước khi đặt lưỡi sủi thép, mũi đục hay mảnh giấy ráp thô ráp vào bất kỳ một chi tiết nào của những cánh cửa – dù đó chỉ là một chiếc then cài bằng đồng rỉ sét đã bám một lớp xỉ xanh dày cộp, hay một thanh lá sách hơi cong vênh vì nắng mưa – anh đều chủ động dừng tay, cất tiếng hỏi ý kiến cô một cách cung kính và nhẫn nại.

Phong không hành xử như một gã thợ thầu khoán việc chỉ chăm chăm làm cho nhanh, bào cho phẳng bề mặt để kịp tiến độ rồi tính khối lượng bàn giao nhận tiền công. Anh cũng không tỏ ra vẻ bề trên của một người từng lớn lên cùng căn nhà này, một kẻ tự cho mình cái quyền thấu hiểu từng ngóc ngách của Mộc Miên hơn cả chủ nhân thực sự của nó. Cách anh chạm vào từng thớ gỗ mục, cách anh nâng niu từng chiếc ốc vít đồng han rỉ toát lên một sự cẩn trọng gần như sùng kính trước ký ức của gia đình cô. Như thể đối với anh lúc này, mỗi vết nứt, mỗi vết xước mòn vẹt vì thời gian nơi hiên nhà Mộc Miên đều là một mảnh di vật thiêng liêng cần được xoa dịu bằng cả một tấm lòng hối lỗi âm thầm và dai dẳng.

Hai người tiếp tục chìm vào sự im lặng quen thuộc.

Không gian dưới chái hiên phía đông chỉ còn lại âm thanh sột soạt đều đặn, ràn rạt của những mảnh giấy nhám chà miết trên mặt gỗ khô, xen lẫn tiếng lách cách kim loại khô khốc khi những chiếc đinh ốc vít rỉ sét được tháo ra cẩn thận, thả vào chiếc hộp sắt tây đựng đồ cũ. Mùi ngai ngái, nồng hắc của lớp sơn dầu cũ kỹ bị bóc tách hòa lẫn với hương tinh dầu thông tự nhiên ấm sực, ngòn ngọt toát ra từ lớp gỗ lõi vừa được đánh thức dưới tay người thợ mộc.

Mùi hương mộc mạc ấy quyện vào gió sớm, len lỏi qua từng kẽ áo, dần dần xua tan đi cái cảm giác lạnh ẩm, mốc meo còn sót lại trong các hốc tường của căn nhà cổ sau những ngày bão gió. Nó mang lại cho chái hiên một khoảng lặng hiếm hoi, tĩnh mịch đến kỳ lạ giữa muôn vàn giông bão đang chực chờ nuốt chửng cuộc đời của cả hai.

Nguyên cầm chiếc chổi đót nhỏ quét sạch lớp bụi mùn cưa mịn như bột phấn trên một thanh chớp lật. Đôi bàn tay cô – đôi bàn tay của một nữ kiến trúc sư cảnh quan vốn chỉ quen cầm bút vẽ kỹ thuật kim loại thanh mảnh, nắn nót từng nét chì tỉ mỉ trên giấy can hay lướt êm ái trên bàn phím máy tính trong những văn phòng máy lạnh ngột ngạt ở Sài Gòn – nay đã trở nên chai ráp, thô ráp đi trông thấy. Trên mu bàn tay trái của cô vẫn còn một vệt xước mờ đã đóng vảy thâm nâu, vết tích từ cái đêm giông bão kinh hoàng khi cô cùng Phong đội mưa leo lên chái mái phía tây để chằng néo từng tấm bạt dứa mục nát.

Thế nhưng, công việc chân tay nặng nhọc, bụi bặm và đòi hỏi sự tỉ mỉ đến từng mi-li-mét này hóa ra lại sở hữu một sức mạnh trị liệu kỳ lạ.

Nó ép chặt tâm trí đang bấn loạn của Nguyên phải neo lại vững vàng trong hiện tại. Nó buộc cô phải tập trung vào độ nhám của từng mặt gỗ, vào góc nghiêng của lưỡi dao sủi, vào lực miết của các đầu ngón tay, tạm thời kéo cô ra khỏi mớ bòng bong bế tắc của thực tại: khoản nợ khổng lồ ba trăm triệu đồng đang đè nặng lên vai, thời hạn trả nợ chỉ còn vỏn vẹn mười một ngày ngắn ngủi, những lời đe dọa siết đất lạnh lùng của tay chủ nợ dưới phố huyện, và cả bản tối hậu thư ba tháng tàn nhẫn của người mẹ ruột vẫn đang lơ lửng như một chiếc thòng lọng vô hình bóp nghẹt lồng ngực cô mỗi khi đêm về.

Ở phía đối diện, Phong với tay lấy một tờ giấy nhám số 180 – loại hạt cát mịn chuyên dùng để làm phẳng bề mặt trước khi quét lớp dầu bảo dưỡng đầu tiên. Anh gấp đôi mảnh giấy lại quanh một khúc gỗ vuông nhỏ để làm cữ, rồi đặt lên thanh khung cửa bằng gỗ dổi. Động tác của anh đều đặn, nhịp nhàng và chuẩn xác đến mức kinh ngạc, như một cỗ máy đã được tôi luyện và lập trình qua hàng vạn giờ lao động miệt mài trong bóng tối.

"Mười năm qua..." Phong bỗng nhiên lên tiếng. Mắt anh vẫn dán chặt vào từng đường vân gỗ hình xoắn ốc đang dần hiện rõ mồn một dưới lớp mùn mỏng vừa bị thổi bay, giọng anh trầm xuống, trôi đi giữa khoảng không gian ngập nắng như một tiếng thở dài kìm nén: "...lao động thủ công là thứ duy nhất giúp anh không phát điên."

Bàn tay đang cầm chiếc bay cạo của Nguyên khựng lại trong tích tắc. Lưỡi thép trượt nhẹ một đường nông trên thanh gỗ thông, nhưng cô lập tức trấn tĩnh, vờ như đang dồn hết sự chú ý vào việc cậy một mẩu rỉ sét cứng đầu bám chặt quanh chiếc lỗ khoét bản lề. Cô không ngẩng đầu lên, không đáp lời, bờ vai gầy khẽ gồng cứng lại dưới lớp áo thun cũ.

Phong dường như cũng không trông đợi một lời hồi đáp từ cô. Anh chỉ nhìn vào khúc gỗ trong tay mình, giọng nói bình thản đến lạ lùng nhưng trĩu nặng một sức nặng ngàn cân:

"Hồi mới rời Đà Lạt... những năm đầu tiên bạt mạng ở mấy xưởng mộc bóc vỏ keo tràm dưới Bình Dương, rồi dạt ra tuốt ngoài mấy công trình dựng nhà rường ở miền Trung, có những giai đoạn kéo dài hàng tháng trời anh không dám nhắm mắt ngủ. Cứ hễ vừa chợp mắt lại, trong đầu anh lại vang lên đủ thứ âm thanh hỗn loạn: tiếng còi xe cấp cứu gầm rú xé rách màn đêm, tiếng la hét chửi bới của người nhà nạn nhân, tiếng bíp bíp lạnh lẽo của chiếc máy thở trong phòng hồi sức cấp cứu... và ánh mắt của mọi người nhìn anh lúc đó. Một ánh mắt căm phẫn, khinh bỉ và ghê tởm."

Tiếng giấy nhám chà trên mặt gỗ vẫn tiếp tục vang lên sột soạt, nhẫn nại và đơn điệu. Phong hít một hơi sâu, lồng ngực vạm vỡ phập phồng sau lớp vải thô bạc màu:

"Có những đêm sau cơn ác mộng, tay anh run lẩy bẩy đến mức không cầm nổi một chén cơm nguội để ăn. Cả người anh lạnh ngắt như một xác chết trôi sông. Những lúc như thế, chỉ có một cách duy nhất để anh tìm lại cảm giác mình còn đang tồn tại là chui vào góc xưởng, cầm lấy cái bào, cái đục. Anh ghì chặt một khúc gỗ xù xì, gồ ghề vào ngàm kẹp của bàn thợ, dồn toàn bộ sức lực, toàn bộ sự uất ức và tuyệt vọng của mình vào từng nhát đẽo, từng đường bào cho đến khi nó vuông vức, phẳng phiu. Chỉ khi ngửi thấy mùi mùn cưa cay xè và cảm nhận được sự nhức mỏi rã rời nơi các khớp ngón tay, anh mới thấy lồng ngực mình có thể hít thở được bình thường."

Nguyên vẫn ngồi bất động. Lưỡi dao cạo trên tay cô đã ngừng hẳn. Từng lời nói của Phong như những giọt chì nóng rực rơi thẳng vào tâm can cô, làm bùng lên một nỗi xót xa buốt nhói mà cô đã cố công đè nén suốt bao ngày qua.

"Gỗ thật thà lắm, Nguyên à," Phong khẽ mỉm cười, một nụ cười cay đắng thoáng qua rồi tắt lịm trên đôi môi khô nứt. "Em đục một nhát sai, phạm vào thớ thịt của nó, nó hỏng ngay trước mắt em. Nó không biết nói dối, không thể che đậy hay lấp liếm bằng những lời hoa mỹ hay những lý do biện minh hèn nhát. Nếu lỡ làm hỏng và muốn sửa lại cho ngay ngắn, em chỉ có một con đường duy nhất: kiên nhẫn tìm một mẩu gỗ cùng chất, đẽo gọt mộng ghép cho thật khít khao rồi dùng keo, dùng chốt đóng chặt lại, sau đó dùng bào tay mà mài giũa từng li từng tí một. Công sức và thời gian bỏ ra để sửa chữa một lỗi lầm trên thớ gỗ luôn tốn gấp năm, gấp mười lần lúc mình phá hỏng nó."

Anh dừng tay lại, đưa bàn tay trái thô ráp phủi sạch lớp bụi gỗ bám trên bề mặt thanh chớp:

"Suốt mười năm đằng đẵng, ngày nào anh cũng tự ép mình làm việc cật lực từ tờ mờ sáng cho đến tận nửa đêm. Anh làm cho đến khi hai mắt cay xè không còn nhìn rõ đường mực vẽ, hai cánh tay mỏi nhừ không nhấc nổi chiếc búa đinh, để khi ngã lưng xuống tấm phản gỗ là mệt lả đi mà thiếp đi li bì, không còn sức lực đâu để mà mơ thấy những cơn ác mộng nữa. Nhờ có bụi gỗ phủ kín người và những vết cắt, vết dằm đâm tứa máu trên bàn tay... anh mới giữ được chút tỉnh táo cuối cùng để sống tiếp như một con người. Để làm lụng, tích cóp từng đồng cắc mà trả cho xong những món nợ máu năm xưa... và để có một ngày được quay trở lại mảnh đồi này."

Nguyên siết chặt cán dao sủi bằng thép trong lòng bàn tay. Gờ kim loại sắc lạnh và cứng ngắc cấn sâu vào lớp da thịt mỏng nơi lòng bàn tay cô đau nhói, nhưng cô vẫn không buông ra. Cơn đau thể xác ấy là điểm tựa duy nhất giúp cô không bật khóc, giúp cô giữ cho bờ mi mình không rung lên trước mặt anh.

Cô nghe rõ mồn một từng nhịp thở nặng nhọc của người đàn ông ngồi đối diện. Cô cảm nhận được cả những khoảng lặng nghẹn ngào, đau đớn bị chôn chặt giữa những câu từ mộc mạc, thô ráp ấy.

Mười năm qua, đã có hàng trăm, hàng ngàn lần trong những đêm đông lạnh giá ở căn gác trọ Sài Gòn, cô từng căm hận anh đến thấu tận xương tủy. Cô từng nguyền rủa sự biến mất tàn nhẫn, lạnh lùng không một lời từ biệt của người con trai năm mười chín tuổi mà cô đã trao trọn vẹn mối tình đầu trong sáng. Cô từng cay đắng nghĩ rằng anh là một kẻ hèn hạ, một kẻ thấy biến cố gia đình cô ập đến liền vội vã phủi sạch mọi thề non hẹn biển, rũ bỏ tất cả để chạy trốn về một phương trời xa xôi nào đó nhằm tìm kiếm một cuộc sống yên thân, dễ dàng hơn.

Thế nhưng giờ đây, bóng lưng vững chãi hơi còng xuống vì lao lực nặng nhọc của anh đang hiển hiện ngay trước mắt cô. Vết sẹo dài co rút gân cơ trên cổ tay phải của anh đang phơi bày dưới ánh nắng ban mai rực rỡ. Và những lời thú nhận trần trụi, đau đớn về chuỗi ngày lưu đày khổ ải giữa những xưởng cưa ngột ngạt mùi keo độc hại... tất cả như một sự thật tàn khốc giáng mạnh vào tâm trí cô.

Anh chưa bao giờ chạy trốn vào sự thanh thản hay an nhàn.

Mười năm qua, anh đã tự biến cuộc đời mình thành một bản án tù khổ sai không giam giữ để tự trừng phạt bản thân vì vụ tai nạn khiến ba cô bị tàn phế, vì sự tan nát của gia đình cô.

Một cảm giác chua xót trào dâng nơi cuống họng, làm cay sè hai cánh mũi và sống mắt của Thảo Nguyên. Trái tim cô như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Có một khoảnh khắc yếu mềm trỗi dậy mãnh liệt, thôi thúc cô muốn buông rơi chiếc bay cạo, muốn bước qua ranh giới một mét rưỡi kia để hỏi anh cho ra lẽ: Rốt cuộc năm đó tai nạn thảm khốc ấy đã diễn ra như thế nào? Tại sao mẹ cô lại mang một mối thù hằn sâu sắc, căm ghét anh đến tận xương tủy như vậy? Và tại sao, tại sao anh thà chọn cách câm lặng biến mất như một bóng ma, thà để cô ngập ngụa trong sự oán hận và đau khổ suốt mười năm trời, chứ nhất quyết không chịu nói với cô một lời giải thích?

Nhưng rồi, bức tường thành kiên cố của lòng tự ái tổn thương, của nỗi sợ hãi bị lừa dối thêm một lần nữa đã lập tức dựng đứng lên, ghì chặt miệng cô lại.

Không, cô không thể mềm lòng. Cô tuyệt đối không được phép để những cảm xúc riêng tư chi phối lý trí vào lúc này. Ngôi nhà Mộc Miên – chốn nương náu cuối cùng của ký ức gia đình, di sản duy nhất mà bà ngoại để lại – đang đứng chông chênh bên bờ vực bị siết nợ và san phẳng. Bản thân cô chỉ còn đúng mười một ngày để gom đủ ba trăm triệu đồng tiền gốc cho bọn chủ nợ, và bản tối hậu thư ba tháng của bà Châu vẫn đang đè nặng như một tảng đá ngàn cân. Cô đang đứng giữa lằn ranh sinh tử của danh dự và sự nghiệp. Một bước sẩy chân, một phút yếu lòng buông lơi phòng bị, cô sẽ mất trắng tất cả.

Nguyên hít một hơi thật sâu, nén chặt toàn bộ những xao động đang cuộn trào dưới đáy lòng. Khi cô ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào Phong, ánh mắt cô đã hoàn toàn đóng băng, phẳng lặng và lạnh lẽo như mặt nước hồ Tuyền Lâm giữa một đêm đông giá rét.

"Anh không cần phải kể những chuyện đó với tôi," giọng Nguyên vang lên, ráo hoảnh, từng từ từng chữ rành rọt và dứt khoát như những nhát kéo cắt đứt sợi dây liên kết vừa nhen nhóm giữa hai người. "Hợp đồng dịch vụ của chúng ta chỉ gói gọn trong việc thẩm định kết cấu và phục chế lại toàn bộ hệ khung gỗ của Mộc Miên. Quá khứ của anh, những đau khổ hay dằn vặt của cá nhân anh... xin anh hãy giữ lấy cho riêng mình."

Bàn tay đang cầm khúc gỗ chà nhám của Phong khẽ khựng lại một nhịp rất nhỏ giữa không trung. Những thớ cơ trên gương mặt góc cạnh của anh hơi co rút, ánh mắt màu hổ phách thoáng qua một tia hụt hẫng nhói buốt. Nhưng rồi rất nhanh, anh không nói thêm bất kỳ một lời nào để phân bua hay bào chữa. Anh chỉ lặng lẽ cúi đầu thấp hơn nữa, dùng mu bàn tay gạt đi lớp mùn cưa vương trên sống mũi, rồi tiếp tục miết mạnh tờ giấy ráp vào mặt gỗ với một sự nhẫn nại gần như câm lặng đến nao lòng.

Mặt trời trên cao nguyên mỗi lúc một lên cao hơn. Nắng vàng ươm rọi qua những kẽ lá thông, trải dài thành những mảng sáng rực rỡ trên khắp mặt sân và thềm gạch tàu. Nhiệt độ ngoài trời ấm dần lên, xua đi những làn hơi ẩm cuối cùng bốc lên từ lòng đất đỏ bazan.

Phong đặt cánh cửa sổ đã được chà nhẵn thín sang một bên, kéo cánh cửa lớn tiếp theo lại gần.

Đây là một trong hai cánh của hệ cửa đi mở ra ban công phía đông của gian phòng ngủ tầng một. Khung bao và các thanh chớp của cánh cửa này được chế tác bằng gỗ dổi dày dặn, bản lề bằng đồng đúc nguyên khối dày cộp. Tuy nhiên, qua nhiều thập kỷ bị nước mưa tạt thẳng vào từ hướng gió mùa đông bắc, bốn chiếc ốc vít bằng sắt bắt chặt bản lề vào khung bao đã bị oxy hóa nặng nề, rỉ sét bám thành một khối màu nâu đỏ xù xì, kẹt cứng ngắc vào thớ gỗ, không tài nào dùng tua vít xoay chuyển bình thường được.

Phong với tay lấy chiếc tua vít đầu dẹt loại lớn có cán bọc gỗ và một chiếc búa nhỏ từ trong sọt đồ nghề. Anh cẩn thận kê đầu dẹt của mũi sắt vào khe hở chật hẹp giữa bản lề đồng và thớ gỗ, dùng búa gõ nhẹ từng tiếng "cốc, cốc" giòn rụm nhằm làm rạn nứt lớp xỉ rỉ sét bám quanh ren ốc.

Thế nhưng, lớp kim loại bị biến chất sau nửa thế kỷ dường như đã kết tinh thành một khối đá rắn chắc. Chiếc ốc vít đầu tiên vẫn trơ ra, không hề nhúc nhích. Phong buộc phải đổi góc tỳ của chiếc tua vít, hạ thấp trọng tâm người xuống, tỳ cả bờ vai rộng và sức nặng của nửa thân trên vào cán sắt để tăng lực đòn bẩy. Dưới làn da rám nắng của cẳng tay phải, những đường gân xanh ngoằn ngoèo nổi rõ cuồn cuộn, vết sẹo dài co kéo căng cứng.

"Kẹt cứng ngắc rồi," Phong khẽ lẩm bẩm trong miệng, hơi thở bắt đầu dồn dập vì phải dùng sức quá mạnh. "Chắc phải kê bẩy để cạy nhẹ cái chốt bản lề này ra trước mới nới được chân ốc..."

Nguyên đang cúi đầu cạo sơn ở cánh cửa bên cạnh, nhìn thấy tư thế tỳ lực nguy hiểm của anh cùng vệt gỗ mục thâm đen ngậm nước quanh chân bản lề, cô không kìm được buột miệng cất tiếng nhắc nhở:

"Cẩn thận đấy! Chỗ mộng khung quanh góc bản lề đó bị ngấm nước mưa nhiều năm, thớ gỗ đã mủn và mục ruỗng hết rồi, không chịu nổi lực bẩy ngang đâu."

"Không sao đâu, anh ghì mộng lại được, em đừng lo..."

Lời của Phong còn chưa kịp dứt điểm thì một tiếng "tách" giòn đanh, khô khốc vang lên xé rách không gian yên tĩnh.

Dưới áp lực đòn bẩy quá lớn từ thân kim loại, phần thớ gỗ thông đã bị mục ruỗng quanh lỗ bắt vít bất ngờ vỡ toác thành nhiều mảnh vụn. Điểm tựa biến mất đột ngột khiến mũi tua vít dẹt trượt mạnh khỏi rãnh kim loại, kéo theo một mảnh dằm gỗ thông già dài hơn hai đốt ngón tay, đầu vót nhọn hoắt như một mũi tên xé gió, đâm thẳng và cắm phập vào lòng bàn tay phải của Phong.

"Chết tiệt!"

Phong nghiến chặt răng, buột ra một tiếng rủa nhỏ đầy đau đớn. Bàn tay phải của anh giật nảy lại theo phản xạ tự nhiên, chiếc tua vít rơi choảng xuống nền gạch tàu.

Máu tươi lập tức trào ra từ miệng vết thương sâu hoắm nơi mô ngón tay cái. Dòng máu đỏ tươi và đặc quánh ứa ra xối xả, nhỏ từng giọt "tách, tách" lộp độp xuống bề mặt cánh cửa gỗ dổi vừa được chà nhẵn thín. Mảnh dằm gỗ thông mục gãy gập làm đôi, một nửa sắc nhọn găm lút sâu dưới lớp thịt mềm, chung quanh miệng vết rách da thịt bắt đầu sưng tấy và chuyển sang màu tím bầm vì dằm gỗ bẩn ngậm nước mưa lâu ngày.

Chứng kiến cảnh tượng máu me bất ngờ ấy, toàn bộ lớp vỏ bọc lạnh lùng, xa cách và sự phòng bị sắt đá mà Thảo Nguyên đã dốc hết tâm lực dựng lên suốt những ngày qua bỗng chốc sụp đổ tan tành như một bức tường cát trước cơn sóng dữ.

Một nỗi hoảng loạn nguyên sơ, bản năng từ sâu thẳm ký ức mười năm trước như một cơn lốc xoáy dội ngược về, bóp nghẹt lồng ngực cô, khiến tim cô thắt lại đau đớn.

Thuở thiếu thời, ngày hai người còn quấn quýt bên nhau nơi xưởng mộc của ông Hai Tâm dưới chân đèo, Phong là một đứa trẻ ham mê đồ gỗ đến mức quên ăn quên ngủ. Mỗi lần anh lỡ tay bị lưỡi đục tiện phạt vào ngón tay, hay bị những dằm gỗ sắc nhọn đâm tứa máu, người đầu tiên hốt hoảng cuống cuồng chạy đi tìm bông băng thuốc đỏ, người vừa run rẩy lau máu vừa mếu máo mắng anh bất cẩn luôn luôn là cô. Cái phản xạ yêu thương và lo lắng ấy đã ăn sâu vào tủy sống, trở thành một phần máu thịt của cô gái mười chín tuổi năm nào, vượt qua mọi sự kiểm soát của lý trí kiên định ở tuổi hai mươi tám.

"Phong!"

Nguyên thảng thốt hét lên một tiếng thất thanh, gương mặt cắt không còn một giọt máu. Cô quẳng phăng chiếc bay cạo sơn xuống nền gạch tàu phát ra một tiếng "keng" chát chúa, chao đảo lao vội tới quỳ sụp xuống bên cạnh anh.

Hai bàn tay cô run rẩy bấn loạn, chộp chặt lấy cổ tay phải của Phong kéo giật về phía mình: "Trời đất ơi! Dằm gỗ mục cắm sâu quá rồi! Anh đừng có cử động, buông lỏng tay ra, để yên đấy cho em!"

"Không sao đâu mà Nguyên... chỉ là vết xước nhỏ ngoài da thôi..." Phong gượng nở một nụ cười méo mó, toan rút tay lại vì sợ những vệt máu tươi đang rỉ ra làm hoen bẩn chiếc áo thun sáng màu của cô. "Để anh lấy giẻ lau quấn tạm là được..."

"Anh câm miệng lại ngay cho tôi!"

Nguyên gắt lên dữ dội, giọng cô run lẩy bẩy, lạc hẳn đi vì sự pha trộn giữa nỗi tức giận tột cùng và sự sợ hãi đến nghẹt thở. Nước mắt chực trào ra nơi khóe mi.

Cô đứng phắt dậy, không kịp xỏ dép tử tế, lao bổ như bay vào trong nhà qua khung cửa chính trống hoác. Cô chạy thốc về phía góc bếp, lục tung chiếc tủ thuốc y tế gia đình bằng nhựa trắng mà cô đã cẩn thận mua sắm và trang bị từ hôm đầu tiên dọn về Mộc Miên. Những lọ thuốc, cuộn băng va vào nhau loảng xoảng.

Chỉ trong chưa đầy một phút, Nguyên đã lao trở lại hiên nhà với hộp đồ y tế trên tay. Cô ôm ghì lấy chai cồn đỏ sát trùng Povidine, cuộn băng gạc tiệt trùng, một túi bông gòn y tế và chiếc nhíp gắp kim loại bằng thép không gỉ.

Nguyên ngồi thụp xuống thềm gạch, kéo bàn tay bê bết máu của Phong đặt hẳn lên đầu gối mình. Hơi thở của cô dồn dập, đứt quãng, lồng ngực phập phồng sau làn áo mỏng.

"Ráng cắn răng chịu đau một chút," giọng cô run rẩy nhưng dồn dập, bàn tay trắng muốt mở nắp chai cồn đỏ, tẩm đẫm chất lỏng màu nâu sẫm vào một cục bông gòn lớn: "Dằm gỗ thông mục ngâm nước mưa lâu ngày chứa đầy vi khuẩn uốn ván và nấm mốc độc hại. Nếu không gắp hết sạch chân dằm ra ngay bây giờ, chỉ đến tối nay là nó sẽ mưng mủ, sưng phù và nhiễm trùng hoại tử cả bàn tay đấy!"

Miếng bông đẫm cồn chạm mạnh vào miệng vết thương hở toác làm Phong khẽ rùng mình một cái. Toàn bộ cơ bắp trên cánh tay anh siết chặt lại như dây chão, các đường gân gồ lên cứng ngắc nhưng anh không hề phát ra một tiếng rên rỉ nào, chỉ cắn chặt môi dưới đến mức bật máu để ngăn cơn đau buốt thấu xương.

Nguyên run rẩy cầm chiếc nhíp kim loại, cẩn thận ghé sát mặt xuống vết thương. Ánh nắng trưa rọi thẳng vào khoảng sân hiên, chiếu sáng từng sợi tóc tơ mai vương trên vầng trán lấm tấm mồ hôi của cô, làm nổi bật hàng mi dài đang rung rinh bối rối vì căng thẳng tột độ.

Cô nín thở, đầu ngón tay mềm mại của bàn tay trái siết chặt lấy ngón tay cái của Phong để cố định điểm tỳ, còn tay phải khéo léo, run rẩy luồn đầu nhíp nhọn hoắt kẹp chặt lấy mẩu dằm gỗ thông mục đang lút sâu trong thớ thịt rách tơi tả.

"Một... hai... ba!"

Bằng một động tác dứt khoát nhưng vô cùng nương nhẹ, Nguyên cắn chặt môi, rút phắt mảnh dằm gỗ dài gần ba phân ra ngoài.

Một tia máu nhỏ màu đỏ thẫm phụt lên kèm theo một ít dịch đen của mùn gỗ ứ đọng. Phong thở hắt ra một hơi nặng nhọc, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm hai bên thái dương.

Không để lãng phí một giây nào, Nguyên lập tức dùng một búi bông gòn sạch ấn chặt miệng vết thương để cầm máu, rồi dốc thẳng chai cồn Povidine xối xả lên vùng da thịt bị rách toác. Mùi cồn sát trùng hăng nồng bốc lên cay xè, lấn át hoàn toàn mùi tinh dầu thông ngai ngái dưới bóng hiên nhà.

Dưới áp lực đè nén kiên trì từ các đầu ngón tay của Nguyên, dòng máu đỏ tươi bắt đầu ngừng chảy, miệng vết thương dần se lại. Sự căng thẳng nghẹt thở bao trùm lấy chái hiên từ từ lắng xuống.

Và chính trong khoảnh khắc tĩnh lặng đột ngột ấy, khi hơi thở ấm nóng của hai người hòa quyện vào nhau ở khoảng cách chỉ chừng hai gang tay, Thảo Nguyên bỗng sững sờ nhận ra tình cảnh hiện tại giữa hai người.

Những ngón tay thon thả, mềm mại của cô đang nắm chặt lấy bàn tay thô ráp, chai sạn của Phong. Lòng bàn tay anh nóng rực như một hòn than, truyền qua từng thớ da thịt cô từng nhịp đập rộn ràng, dồn dập và mãnh liệt. Đầu ngón tay cô chạm vào những vết chai cứng ngắc nơi khớp ngón, chạm vào vết sẹo lồi dài biến dạng co rút gân cơ trên cổ tay anh – những dấu tích hữu hình của mười năm đằng đẵng tha hương, lao động khổ ải và lưu lạc.

Nguyên từ từ ngước mắt lên.

Ánh mắt của hai người bất ngờ giao nhau giữa luồng sáng ban mai rực rỡ.

Đôi mắt màu hổ phách của Phong đang nhìn cô chăm chú, sâu thẳm và thăm thẳm như một vực sâu không đáy. Trong đôi mắt ấy đong đầy một nỗi niềm câm nín, vừa ngỡ ngàng, vừa xót xa, lại vừa ngập tràn một thứ tình cảm nguyên vẹn, mãnh liệt và tha thiết đến mức thời gian mười năm chia lìa dường như không thể mài mòn hay làm phai nhạt dù chỉ một chút.

Trong đáy mắt của Phong phản chiếu trọn vẹn hình bóng cô – một khuôn mặt tái nhợt vì lo lắng, đôi môi cắn chặt đến rớm máu và đôi mắt to tròn long lanh ngấn nước. Khoảng cách giữa họ gần đến mức Phong có thể ngửi thấy mùi hương hoa lài thoang thoảng quen thuộc từ mái tóc cô bay trong gió, và Nguyên có thể cảm nhận rõ ràng từng luồng hơi thở ấm nóng, dồn dập của anh phả nhẹ lên gò má mình.

Trái tim Thảo Nguyên bỗng đập loạn xạ một nhịp kinh hoàng. Một cảm giác tê dại lan nhanh từ lòng bàn tay chạy dọc sống lưng, khiến toàn thân cô run lên bần bật.

Một làn sóng bối rối, hoảng hốt và xấu hổ ập đến dữ dội như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt. Cô nhận ra mình vừa bước qua ranh giới an toàn mà bản thân đã tốn bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu đêm thức trắng để dựng lên. Sự lo lắng cuống cuồng, phản xạ săn sóc thân mật, những giọt nước mắt chực trào vừa rồi... tất cả đều là của con bé Thảo Nguyên năm mười chín tuổi ngây thơ, khờ dại và tôn thờ mối tình đầu một cách mù quáng. Đó tuyệt đối không phải là hành vi của một nữ kiến trúc sư Vũ Thảo Nguyên hai mươi tám tuổi đầy vết thương lòng, kiệt quệ về tài chính và đang phải đối mặt với một thực tế nghiệt ngã đến tàn nhẫn.

Mình đang làm cái trò gì thế này?

Như bị một luồng điện giật cực mạnh, Nguyên lập tức buông phắt bàn tay Phong ra, lùi giật người lại phía sau nửa mét, lưng va mạnh vào cây cột hiên bằng gỗ thông phát ra một tiếng "cộp" đau điếng.

Gương mặt cô đanh lại trong tích tắc. Toàn bộ những xúc cảm yếu mềm, những tia lo lắng vừa lóe lên nơi đáy mắt lập tức bị dập tắt không thương tiếc bởi một lớp băng lạnh lùng, tàn nhẫn. Cô với tay chộp lấy cuộn băng gạc trắng và gói gạc tiệt trùng, đặt mạnh xuống tấm bạt dứa ngay trước mặt Phong.

"Anh tự băng lại đi," giọng Nguyên cất lên, khô khốc, sắc lạnh và tàn nhẫn như một nhát dao chém đứt sợi dây liên hệ mong manh. "Tôi sơ cứu cho anh chỉ vì anh là thợ phục chế chính của Mộc Miên vào lúc này. Nếu bàn tay phải của anh bị nhiễm trùng mưng mủ hay đứt thêm một sợi gân cơ nào nữa, tiến độ gia cố hệ khung chịu lực giai đoạn một sẽ bị đình trệ hoàn toàn. Và tôi sẽ không thể nào kịp thời hạn ba tháng để cứu ngôi nhà này khỏi tay chủ nợ."

Cô đứng thẳng dậy, phủi sạch lớp mùn cưa và bụi sơn bám trên ống quần jean bạc màu. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào Phong, không một chút gợn sóng, lạnh lùng như nhìn một người xa lạ:

"Tôi nhắc lại một lần nữa để anh nhớ rõ, anh Lê Hoàng Phong. Giữa chúng ta lúc này chỉ tồn tại một bản hợp đồng dịch vụ sửa chữa có giá trị pháp lý, được ký kết ba bên và chịu sự giám sát kỹ thuật của kỹ sư Bảo. Chúng ta ở đây, cùng làm việc dưới mái hiên này là vì công việc phục chế thuần túy. Ngoài điều đó ra, giữa tôi và anh không có, và sẽ không bao giờ có bất kỳ mối quan hệ cá nhân nào khác. Lần sau làm việc xin anh cẩn thận hơn, đừng để những sơ suất cá nhân ngớ ngẩn như vậy làm ảnh hưởng đến tiến độ chung của công trình."

Nói xong một tràng dứt khoát, không thèm chờ Phong kịp có phản ứng hay nói một lời nào, Nguyên quay phắt người, rảo bước thật nhanh về phía vòi nước rửa tay đặt bên hông nhà, để lại một khoảng không gian lạnh ngắt, ngột ngạt và nặng nề sau lưng.

Phong ngồi lặng yên trên tấm bạt dứa.

Anh nhìn bàn tay phải của mình, nơi những vệt cồn đỏ Povidine hòa lẫn với máu tươi đã bắt đầu khô quánh lại thành từng vệt sẫm màu. Rồi anh ngước mắt nhìn theo bóng lưng gầy guộc nhưng thẳng tắp, cô độc của Nguyên đang khuất dần sau khúc ngoặt chái hiên.

Trên khóe môi mỏng của anh thoáng hiện một nụ cười cay đắng, xót xa. Thế nhưng, trong đôi mắt màu hổ phách sâu thẳm của người đàn ông ấy tuyệt nhiên không hề có lấy một tia oán trách, giận dữ hay tổn thương. Chỉ có một sự im lặng nhẫn nại, bao dung đến đau lòng.

Anh hiểu rất rõ sự phòng vệ tàn nhẫn ấy của cô. Anh biết rằng vết thương lòng mười năm trước do sự hèn nhát, do mặc cảm tội lỗi và sự biến mất câm lặng của anh gây ra cho cô là quá lớn, quá sâu hoắm. Vết thương ấy đã mưng mủ suốt mười năm ròng rã, làm sao có thể được hàn gắn chỉ bằng vài hành động chăm sóc hay những lời trần tình muộn màng trong chốc lát? Cô hoàn toàn có quyền nghi ngờ anh, có quyền đối xử lạnh lùng tàn nhẫn với anh, và có quyền dùng bản hợp đồng kinh tế làm bức tường thành kiên cố nhất để bảo vệ trái tim đầy vết sẹo của mình khỏi bị tổn thương thêm một lần nữa.

Phong hít một hơi sâu, tự mình xé mở gói gạc tiệt trùng bằng ngón tay trái và răng. Bằng một tay và miệng kéo căng dải băng, anh thành thạo quấn từng vòng băng trắng tinh quanh lòng bàn tay phải, thắt nút một cách gọn gàng, chặt chẽ như thể anh đã từng tự mình băng bó những vết thương tương tự hàng trăm lần ở những góc xưởng cưa xa xôi, heo hút.

Băng bó xong xuôi, Phong không hề cho phép mình nghỉ ngơi dù chỉ một phút.

Anh nhặt lại chiếc kìm mũi nhọn, nhẹ nhàng gắp bỏ từng mẩu dằm gỗ vụn còn sót lại trong rãnh mộng của khung cửa, rồi lấy ra một tờ giấy nhám mới toanh. Bàn tay phải bị thương hơi nhói buốt và giật cục mỗi khi anh dồn lực tỳ xuống, nhưng từng động tác chà miết của Phong vẫn giữ được sự chuẩn xác, kiên định và nhịp nhàng đến lạ lùng.

Tiếng giấy nhám sột soạt, ràn rạt lại vang lên đều đặn dưới bóng râm chái hiên, nhẫn nại bào mòn từng lớp xù xì, thô ráp của thời gian, cho đến khi bề mặt gỗ thông già hiện lên mịn màng, phẳng phiu như một dải lụa dưới ánh nắng ban trưa.

Khi Thảo Nguyên từ chái hiên sau quay trở lại với một chiếc giẻ lau khô trên tay, cô khựng lại một thoáng khi thấy Phong vẫn đang cặm cụi làm việc như thể tai nạn đổ máu ban nãy chưa từng xảy ra. Bàn tay quấn băng trắng muốt của anh lướt nhẹ trên thớ gỗ, cẩn thận miết qua từng khe rãnh để kiểm tra độ phẳng của từng thanh lá sách.

Sự nhẫn nại câm lặng và sức chịu đựng phi thường ấy của anh khiến lồng ngực Nguyên dâng lên một cảm giác phức tạp khó tả bằng lời – vừa có sự nhẹ nhõm vì ranh giới an toàn của mình đã được xác lập vững chắc, nhưng lại vừa nhức nhối một nỗi xót xa mơ hồ, dai dẳng khôn nguôi.

Đúng lúc bầu không khí ngột ngạt giữa hai người đang căng như một sợi dây đàn thì từ phía con dốc đất đỏ bazan ngoài cổng rào Mộc Miên bỗng vang lên tiếng nổ "bành bành, bành bành" quen thuộc của một chiếc xe máy số cũ kỹ.

Tiếng động cơ xe tắt ngấm ngay trước cổng rào dâm bụt, tiếp theo đó là tiếng lách cách khô khốc của chiếc chân chống sắt gạt mạnh xuống mặt đường đá dăm. Một bóng người mảnh khảnh, nhanh nhẹn trong chiếc áo khoác len dệt kim màu vàng mù tạt bước thoăn thoắt vào sân, trên tay xách lủng lẳng hai chiếc cặp lồng cơm bằng inox sáng loáng.

"Nguyên ơi! Anh Phong ơi! Có ai ở nhà không đấy?"

Tiếng gọi lanh lảnh, giòn tan và tràn đầy năng lượng tích cực của Đặng Mai Anh vang lên, lập tức xua tan đi bầu không khí u uất, ngột ngạt đang bao trùm dưới chái hiên.

Cô chủ quán cà phê Dốc Sương rảo bước qua khoảng sân gạch tàu đã ráo nước, đôi giày bata màu trắng dính vài vệt bùn đất đỏ khô cong. Khi đưa mắt nhìn thấy hai hàng cánh cửa chớp bằng gỗ thông già đã được cạo sạch lớp sơn mục, xếp thành từng dãy phẳng phiu, ngay ngắn dưới hiên nhà, đôi mắt to tròn, sắc sảo của Mai Anh sáng bừng lên vẻ ngạc nhiên và thán phục tột độ.

"Chà chà, ngoạn mục quá nha hai người!" Mai Anh đặt hai chiếc cặp lồng cơm lên chiếc bàn gỗ dài ngoài hiên, chống hai tay ngang hông, nghiêng đầu ngắm nghía từng cánh cửa: "Mới có một buổi sáng hửng nắng mà hai người đã xử lý xong toàn bộ dàn cửa sổ lá sách của tầng một rồi à? Nhìn mướt rượt, phẳng phiu thế này, tí nữa chỉ cần quét lót một lớp dầu lanh mỏng lên là trông sang trọng chẳng khác gì cửa biệt thự cổ thời Pháp dưới đường Trần Hưng Đạo luôn chứ đùa à!"

Ánh mắt tinh quái của Mai Anh khẽ liếc qua hai người.

Cô nhìn thấy lớp bụi mùn cưa và sơn khô bám đầy trên vạt áo của Thảo Nguyên, rồi dừng lại thật lâu ở bàn tay phải quấn băng gạc trắng tinh của Phong và cánh cửa sổ đang được anh chà nhám dở dang. Là một người phụ nữ cực kỳ nhạy cảm, lăn lộn thương trường buôn bán nhiều năm và rất giỏi đọc vị bầu không khí, Mai Anh lập tức ngửi thấy mùi cồn đỏ sát trùng thoang thoảng bay trong gió, nhận ra ngay khoảng cách đứng cách nhau đúng hai mét đầy phòng bị và vẻ mặt gượng gạo, căng thẳng của cả hai người.

Thế nhưng, Mai Anh tuyệt nhiên không hề cất tiếng hỏi han hay trêu chọc nửa lời. Cô nở một nụ cười rạng rỡ, vỗ hai tay vào nhau bôm bốp:

"Thôi nào, hỡi hai vị kiến trúc sư kiêm thợ mộc tài hoa bậc nhất trần đời! Mười hai giờ trưa đúng rồi đấy! Làm gì thì làm, muốn cứu nhà hay muốn giữ mộng gỗ thì cũng phải nạp năng lượng cho cái dạ dày đã chứ. Hôm nay quán Dốc Sương của em có món cá bống kho nghệ đậm đà với một tô canh rau bép rừng nấu sườn non nóng hổi bốc khói nghi ngút, bảo đảm hai người ăn vào một miếng là hồi phục công lực ngay lập tức!"

Nguyên bước tới bên bàn gỗ, nhận lấy chiếc khăn giấy ăn từ tay cô bạn thân, khẽ nở một nụ cười gượng gạo nhưng đầy lòng biết ơn: "Cảm ơn cậu nhiều nhé Mai Anh. Sáng giờ hai đứa mải làm quá nên tớ cũng quên khuấy mất giờ giấc trưa."

"Quên sao được mà quên!" Mai Anh liếc xéo bạn mình một cái đầy vẻ hờn dỗi yêu thương, rồi quay sang nhìn Phong, cất giọng vô cùng tự nhiên và ấm áp: "Anh Phong lại đây ăn cơm luôn đi anh. Đừng có đứng đực ra đấy mà ngại ngùng, cơm trưa nay em nấu dư nhiều lắm, có tính cả phần của anh đàng hoàng đấy nhé. Tay đang bị thương thế kia mà còn ráng sức chà nhám gỗ, lát nữa gân cơ nó biểu tình đình công thì lấy ai làm thợ chính cho Mộc Miên đây?"

Phong ngập ngừng một thoáng, đưa mắt nhìn sang Nguyên như để dò xét thái độ. Thấy cô chỉ im lặng mở nắp chiếc cặp lồng cơm bằng inox, chia cơm vào ba chiếc bát sứ và xếp ba đôi đũa ra bàn mà không hề có ý phản đối, anh mới khẽ thở phào nhẹ nhõm. Anh đứng dậy, phủi sạch bụi gỗ bám trên quần áo rồi đi ra góc hiên rửa sạch hai bàn tay dưới vòi nước.

Cả ba người ngồi quây quần quanh chiếc bàn gỗ dài ngoài hiên.

Nắng trưa cao nguyên bắt đầu gay gắt hơn, nhưng dưới bóng râm mát rượi của mái ngói rêu phong và làn gió đồi thổi qua rặng thông rì rào, không khí vẫn giữ được sự trong trẻo, mát lành đặc trưng. Mùi cá bống kho nghệ vàng ươm, thơm lừng quyện với vị ngọt thanh, bùi bùi của bát canh rau rừng làm dịu đi những căng thẳng âm ỉ, mệt mỏi suốt một buổi sáng lao động cật lực.

Trong lúc gắp một con cá bống kho nghệ chắc nịch bỏ vào bát cơm của Nguyên, Mai Anh bỗng hạ thấp giọng xuống một tông, vẻ mặt tươi cười thường ngày nhanh chóng được thay thế bằng nét nghiêm túc của một người làm kinh doanh thực tế:

"À Nguyên này, hôm nay tớ tạt qua đây đưa cơm một phần là để tiếp tế lương thực, nhưng phần quan trọng hơn là có một chuyện rất hệ trọng muốn bàn bạc kỹ lưỡng với cậu."

Nguyên ngẩng đầu lên, nhấp một thìa canh rau bép nóng hổi: "Chuyện gì mà trông cậu nghiêm trọng thế?"

"Về vấn đề nhân sự và mô hình vận hành thực tế cho Mộc Miên," Mai Anh nói, ánh mắt ánh lên vẻ sắc sảo, tính toán của một người từng trải qua nhiều năm lăn lộn với ngành dịch vụ du lịch ở Đà Lạt. "Chiều hôm qua ở quán Dốc Sương, tớ tình cờ gặp lại một người quen cũ rất đặc biệt. Tên cô ấy là Lâm Thu Yến, nhỏ hơn tụi mình hai tuổi, người gốc gác ngay khu đồi Trại Mát này luôn."

"Lâm Thu Yến à?" Nguyên khẽ nhíu mày, lục tìm trong trí nhớ xem mình có từng nghe qua cái tên này chưa, nhưng hoàn toàn xa lạ.

"Cậu đi Sài Gòn biền biệt mười năm nên không biết là phải," Mai Anh hào hứng giải thích, tay khua khua đôi đũa: "Yến trước đây tốt nghiệp thủ khoa ngành quản trị du lịch và khách sạn của Đại học Đà Lạt. Ra trường, con bé đi làm quản lý vận hành trực tiếp cho ba khu homestay và villa nhỏ cực kỳ nổi tiếng dưới khu Thung Lũng Vàng và mạn Dốc Nhà Bò. Con bé này giỏi nghề khủng khiếp, nhanh nhẹn, tháo vát từ quy trình thiết lập hệ thống đặt phòng trên các kênh OTA, quản lý buồng phòng, kiểm soát chi phí nguyên vật liệu đầu vào, cho tới việc kết nối các tour trải nghiệm nông nghiệp hữu cơ với bà con nông dân quanh vùng. Đợt này nghe đâu chủ của khu homestay cũ dưới phố sang tay mặt bằng cho mấy đại gia bất động sản Sài Gòn lên đập đi xây khách sạn bê tông cốt thép, con bé bất đồng quan điểm làm du lịch bền vững nên vừa nộp đơn xin nghỉ việc."

Mai Anh dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Nguyên, nhấn mạnh từng từ:

"Yến đang muốn tìm một công việc quản lý lưu trú bán thời gian quanh khu vực đồi này, vừa để làm nghề, vừa có thời gian phụ gia đình chăm sóc vườn rau củ hữu cơ. Chiều qua tớ có ngồi tâm sự và kể sơ qua cho nó nghe về tình hình hiện tại của Mộc Miên – chuyện căn nhà đang được gia cố kết cấu, chuyện cậu muốn mở trước ba phòng ở tầng trệt để tự cứu mình, và cả kế hoạch làm xưởng mộc trải nghiệm thủ công của anh Phong nữa. Con bé nghe xong thì tỏ ra cực kỳ hào hứng và quan tâm sâu sắc."

Nguyên từ từ đặt đôi đũa xuống mép bát sứ, đôi lông mày thanh tú khẽ nhíu lại trong sự đắn đo, tính toán đầy âu lo.

"Một người có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản lý lưu trú bài bản như vậy... chắc chắn mức lương tuyển dụng không thể nào thấp được," Nguyên thở dài một hơi, giọng cô chùng xuống, chất chứa nỗi bất lực về tài chính. "Cậu biết rõ thực trạng ngân sách hiện tại của tớ rồi đấy Mai Anh. Toàn bộ tiền mặt tớ mang từ Sài Gòn về chỉ còn vỏn vẹn gần sáu mươi triệu đồng. Hôm qua tớ đã phải tạm ứng tiền vật tư giai đoạn một cho anh Phong hết hơn tám triệu, lại còn một khoản nợ ba trăm triệu đồng đang chờ thanh toán vào ngày hai mươi tới đây. Tớ lấy đâu ra tiền để trả lương cứng cố định hàng tháng cho một quản lý chuyên nghiệp như cô ấy?"

Phong ngồi ở phía đối diện, lặng lẽ ăn từng hạt cơm trong bát của mình. Nghe Nguyên nhắc đến con số ba trăm triệu và sự cạn kiệt về tiền bạc, bàn tay đang cầm đũa của anh khẽ siết chặt lại, khớp ngón tay trắng bệch ra dưới lớp băng gạc. Thế nhưng, nhớ lại lời cảnh cáo sắc lạnh ban nãy của cô, anh tuyệt đối giữ im lặng, không dám tùy tiện chen ngang vào câu chuyện làm ăn của hai người.

Mai Anh bật cười thành tiếng, xua tay lia lịa:

"Trời đất ơi, cậu nghĩ tớ là ai mà lại ngốc nghếch đến mức đi giới thiệu một người đòi hỏi mức lương cứng trên trời cho cậu vào đúng cái thời điểm nước sôi lửa bỏng này chứ! Tớ đã thăm dò và giao kèo sơ bộ trước với nó rồi. Yến nó sống thực tế lắm. Nó bảo nó không cần nhận lương cứng cao trong giai đoạn khởi động ba tháng đầu này, mà sẵn sàng ký hợp đồng thử việc theo mô hình thỏa thuận phân chia doanh thu theo tỷ lệ lấp đầy phòng thực tế!"

Nguyên hơi mở to mắt: "Chia doanh thu theo tỷ lệ lấp đầy?"

"Đúng vậy!" Mai Anh gật đầu lia lịa, ánh mắt lấp lánh sự tự tin: "Nghĩa là khi nào Mộc Miên hoàn thiện xong ba phòng, bắt đầu đón khách lưu trú và tạo ra dòng tiền dương thì con bé mới nhận phần trăm hoa hồng quản lý tương ứng trên doanh thu thực thu. Có khách thì cùng hưởng, vắng khách thì cùng chịu. Quan trọng hơn cả là con bé Yến nó am hiểu tường tận thị trường khách du lịch Đà Lạt hiện nay đến từng chân tơ kẽ tóc. Nó sẽ là người kéo cậu từ trên chín tầng mây của những bản vẽ phối cảnh kiến trúc lãng mạn rơi thẳng xuống mặt đất thực tế. Nó sẽ giúp cậu gạt bỏ những ảo tưởng mơ mộng về việc mở homestay chỉ cần nhà đẹp là có khách, chỉ cho cậu thấy từng con số chi phí giặt ủi, chi phí dọn phòng, chi phí bữa sáng và biên lợi nhuận thực tế nhất."

Nguyên chìm vào im lặng. Những ngón tay cô khẽ gõ nhẹ theo nhịp trên mặt bàn gỗ dổi.

Những lời phân tích thẳng thắn, sắc bén của Mai Anh như một luồng gió mới thổi bay lớp sương mù bế tắc bấy lâu nay trong đầu cô.

Kể từ cái ngày cô liều lĩnh ký vào bản cam kết ba tháng với bà Châu để giữ lại Mộc Miên, Nguyên vẫn luôn canh cánh trong lòng một nỗi bất an to lớn về khâu vận hành thực tế. Cô là một kiến trúc sư cảnh quan được đào tạo bài bản, cô có thể dễ dàng vẽ nên những không gian nghỉ dưỡng tuyệt đẹp, có thể tính toán chính xác độ dốc rãnh thấm thoát nước ngầm hay tỉ mỉ phục chế từng cánh cửa chớp gỗ... nhưng cô hoàn toàn là một kẻ mù tịt về thị trường kinh doanh lưu trú khốc liệt tại Đà Lạt.

Làm thế nào để kéo khách du lịch chịu lội bùn, lội dốc vào một căn homestay nằm sâu hút trên triền đồi Trại Mát vắng vẻ? Làm sao để tối ưu hóa chi phí điện nước, giặt giũ chăn ga, chuẩn bị bữa sáng mà vẫn đảm bảo được chất lượng trải nghiệm tinh tế cho khách? Nếu chỉ dựa vào sự lãng mạn ngây thơ của một người làm thiết kế, kế hoạch tạo ra dòng tiền dương từ ba phòng nghỉ tầng trệt để tự nuôi sống căn nhà của cô chắc chắn sẽ nhanh chóng biến thành một trò cười cay đắng.

"Chiều nay," Mai Anh thấy bạn mình đã xuôi lòng, liền bồi thêm một đòn quyết định: "Yến có hẹn ghé qua quán Dốc Sương của tớ để uống cà phê và xem qua vài bộ hồ sơ lưu trú mẫu. Tớ định bảo nó mang theo luôn bản khảo sát thị trường giá phòng thực tế ở khu vực Trại Mát này chạy thẳng qua đây gặp cậu. Cậu thấy thế nào, Nguyên? Hai bên chỉ ngồi nói chuyện, trao đổi chuyên môn thuần túy thôi, thấy hợp tư duy thì hợp tác, không hợp thì coi như biết thêm một người bạn trong nghề, cậu đâu có mất mát gì đâu nào?"

Nguyên đưa mắt nhìn ra khoảng sân ngập tràn ánh nắng trưa rực rỡ.

Trước mắt cô, hàng chục cánh cửa chớp bằng gỗ thông già đã được lột bỏ hoàn toàn lớp sơn dầu bong tróc, mục nát. Những thớ gỗ đanh chắc, vàng óng màu mật ong đang phơi mình kiêu hãnh dưới ánh mặt trời vùng cao, toát lên một sức sống mới dẻo dai và kiên cường.

Ngay cạnh thềm gạch, hệ thống rãnh thấm giật cấp lót đá cuội mà cô và Phong vừa hoàn thành vào sáng hôm qua đang phát huy tác dụng một cách hoàn hảo; những giọt nước ngầm cuối cùng rỉ ra từ vách taluy đất đỏ đang êm ả chảy xuôi theo lòng rãnh về phía hố thu, giữ cho nền móng của Mộc Miên luôn khô ráo, vững vàng và không còn dấu hiệu sụt lún.

Từng chút một, từng mảnh ghép nhỏ nhoi của sự hồi sinh đang dần dần thành hình dưới bàn tay con người, chậm rãi, nhọc nhằn nhưng vô cùng vững chắc.

"Được rồi," Nguyên khẽ gật đầu, một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản hiếm hoi nở trên bờ môi cô sau chuỗi ngày dài u ám: "Nhờ cậu liên lạc và hẹn Yến giúp tớ. Đầu giờ chiều nay, bảo cô ấy cứ cầm tài liệu qua thẳng Mộc Miên nhé."

"Tuyệt vời ông mặt trời!" Mai Anh reo lên một tiếng đầy phấn khích, hào phóng gắp thêm một miếng sườn non trong bát canh bỏ vào bát của bạn mình: "Cứ tin tưởng ở con mắt nhìn người của tớ đi, con bé Yến đó chắc chắn sẽ là mảnh ghép hoàn hảo nhất mà Mộc Miên đang tìm kiếm bấy lâu nay đấy!"

Ở bên kia mép bàn, Phong lặng lẽ đặt chiếc bát sứ đã ăn hết sạch cơm xuống mặt gỗ.

Ngước mắt nhìn thấy nụ cười nhẹ nhõm, bừng sáng như hoa nở sau mưa trên gương mặt thanh tú của Thảo Nguyên, ánh mắt màu hổ phách của người đàn ông bỗng chốc mềm lại, tràn ngập một niềm an ủi thầm lặng, ấm áp khôn cùng. Anh không nói một lời nào, chỉ khẽ nghiêng người, với tay lấy chiếc ấm đất nung trên khay gỗ, cẩn thận rót đầy một ly trà atisô nóng hổi, nghi ngút khói thơm, rồi dùng bàn tay trái không bị thương đẩy nhẹ chiếc ly sang phía trước mặt cô.

Nguyên ngước nhìn làn khói mỏng bốc lên từ ly trà atisô màu đỏ thẫm, rồi nhìn sang bàn tay phải đang quấn lớp băng gạc trắng tinh của người đàn ông ngồi đối diện.

Lần này, cô không giật mình hoảng hốt lùi lại. Cô cũng không buông ra những lời xua đuổi sắc lạnh, tàn nhẫn để dựng lên bức tường ngăn cách nữa.

Nguyên chỉ khẽ khàng đưa hai bàn tay đón lấy chiếc ly gốm, để cho hơi nóng ấm áp từ lớp đất nung truyền qua da thịt, sưởi ấm những đầu ngón tay còn vương mùi cồn sát trùng và bụi mùn cưa.

Một cơn gió đồi lộng lẫy từ thung lũng Trại Mát thổi thốc lên, xào xạc lướt qua những tán thông già trăm tuổi, mang theo hương vị ngai ngái của đất đỏ bazan và sự ấm áp nồng nàn của ánh nắng ban trưa.

Ngồi giữa khoảng sân ngổn ngang những phôi gỗ cũ và đá sỏi, Thảo Nguyên chợt nhận ra rằng, trong lòng cô đã không còn cảm thấy ngột ngạt hay thù ghét khi cùng ngồi chung một khoảng sân với Phong nữa.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories