Mùa Mưa Ở Đà LạtCh.11 / 36
Chapter 11

Hạt Mầm Bản Địa

Sáng sớm ở Trại Mát, sương mù từ dưới đáy thung lũng dâng lên như một dòng sông trắng đục, cuộn trào qua những rặng thông ba lá rồi ập vào xóm núi. Cơn mưa dầm rả rích suốt đêm qua vừa kịp ngơi hạt, để lại những giọt nước nặng trĩu đọng trên đầu ngọn cỏ dại và mép mái tôn rỉ sét của căn nhà gỗ Mộc Miên. Không khí lạnh buốt đặc trưng của cao nguyên luồn qua khe cửa liếp, mang theo cái lạnh thấu xương ngấm dần vào từng khớp ngón tay.

Nguyên đứng ở mép hiên sau, nơi bậc tam cấp bằng đá chẻ đã phủ một lớp rêu xanh trơn trượt. Trên tay cô là tờ công văn khẩn có dấu mộc đỏ tươi của Đội Quản lý Trật tự Đô thị thành phố, mép giấy nhăn nhúm vì hơi ẩm ban mai. Người cán bộ địa chính đã tống đạt tờ giấy này vào tận tay cô lúc chập tối hôm qua, kèm theo cái nhìn ái ngại và một lời nhắc nhở lạnh lùng về thời hạn bốn mươi tám giờ.

Từng dòng chữ in hoa, sắc lạnh và chuẩn mực của ngôn ngữ hành chính như những nhát búa nện đều đặn vào màng nhĩ cô: *Yêu cầu tạm đình chỉ toàn bộ hoạt động cải tạo, gia cố công trình; xuất trình hồ sơ khảo sát địa chất, giải pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn mái dốc taluy âm và giấy phép xây dựng theo quy định hiện hành trong vòng 48 giờ kể từ khi nhận văn bản; quá thời hạn nêu trên, lực lượng chức năng sẽ tiến hành lập biên bản vi phạm và niêm phong hiện trường.*

Bốn mươi tám giờ. Chiếc đồng hồ cát vô hình đang dốc cạn từng hạt buốt giá xuống gáy Nguyên. Cô đưa tay day mạnh hai bên thái dương đang giật lên từng cơn đau buốt. Trong đầu cô lúc này là một mớ bòng bong không lối thoát. Tài khoản ngân hàng sau khi thanh toán tiền gạch vỡ và thuê máy múc mini mở mương đón nước chỉ còn sót lại vỏn vẹn hơn năm mươi triệu đồng. Đó là tất cả những gì cô gom góp được sau khi công ty kiến trúc cảnh quan ở Sài Gòn tuyên bố phá sản vì dự án kè sinh thái ven sông Đồng Nai bị hủy bỏ giữa chừng. Nhưng kinh khủng hơn cả là món nợ bảo lãnh hơn ba trăm triệu đồng mà cô đã dại dột đứng tên thay cho đối tác cũ, những tin nhắn đòi nợ với lãi phạt mỗi ngày vẫn đều đặn nhảy lên màn hình điện thoại như những lời đe dọa trực tiếp.

Ở dưới phố, mẹ cô liên tục gọi điện, giọng bà gay gắt xen lẫn than vãn, đòi cô phải buông tay, bán đứt mảnh đất Trại Mát này cho Khải Minh để lấy tiền thanh toán nợ nần trước khi bị ngân hàng phát mãi tài sản. Khải Minh – kẻ từng là đồng nghiệp, từng đứng chung trên một bản vẽ phối cảnh – giờ đây đang ngồi ở văn phòng đại diện trên đường Trần Phú, chực chờ cô kiệt sức để thâu tóm Mộc Miên với cái giá rẻ mạt của một khu đất sạt lở nguy hiểm.

Giữa lúc tâm trí Nguyên đang rơi vào hố sâu của sự cùng quẫn, một tràng còi hơi sắc nhọn bỗng xé toạc màn sương đặc quánh ngoài ngõ. Tiếng máy nổ xình xịch của chiếc xe đò chạy tuyến Bảo Lộc – Đà Lạt rồ lên rồi tắt lịm ở mép đường đất đỏ.

Nguyên giật mình, vội nhét tờ công văn vào túi áo khoác gió, bước vội ra cổng. Bác tài xế trùm chiếc áo mưa cánh dơi tiện lợi đã bạc màu, hai ống quần xắn cao để lộ đôi bắp chân đầy bùn sình, đang hì hục đón lấy một kiện hàng từ khoang hành lý trên nóc xe xuống.

“Có phải cô Thảo Nguyên không? Nhận hàng từ bến xe Lộc Sơn gửi lên này!” Bác tài thở phì phò, hơi thở phả ra thành luồng khói trắng giữa trời lạnh. “Ông cụ dặn kỹ lắm, bảo phải chở chuyến sớm nhất, giao tận tay trước chín giờ sáng để cây không bị héo rễ.”

Nguyên vội vã đưa hai tay đỡ lấy một đầu kiện hàng. Đó là một kiện hàng hình khối chữ nhật dài gần mét rưỡi, nặng trịch, được bọc kín bằng nhiều lớp bao tải gai ẩm ướt và chằng néo bằng dây đay thắt nút chữ thập vô cùng chắc chắn. Khi hai người phối hợp khiêng kiện hàng qua cánh cổng gỗ rêu phong, đặt ngay ngắn xuống khoảng sân gạch trước hiên, một làn hương nồng nàn lập tức bốc lên, át đi cả mùi ẩm mốc của xóm núi.

Đó là một mùi hương quá đỗi quen thuộc đối với tuổi thơ của Nguyên: mùi đất đỏ bazan ẩm ướt của vùng đồi Bảo Lộc sau cơn mưa rào, mùi bùn non ngai ngái nơi ngã ba suối, và mùi mục thơm của lá rừng nhiệt đới ủ lâu ngày dưới tán cây rậm rạp. Bác tài xế quẹt mồ hôi trán, nhận lấy tờ tiền lẻ Nguyên đưa rồi vội vã nổ máy quay đầu xe để tránh đoạn đường lầy lội dưới dốc Trại Mát.

Sân nhà trở lại với vẻ tĩnh lặng cô quạnh. Gió núi lại thổi qua, làm những tàu lá chuối dại bên bờ rào va vào nhau sàn sạt.

Nguyên ngồi xổm xuống bậc thềm đá, rút chiếc kéo bấm chuyên dụng trong túi đồ nghề ra, cẩn thận cắt từng nút thắt dây đay. Bàn tay cô khẽ run rẩy. Lớp bao tải gai ướt sũng được lột ra, để lộ một khung nan tre ken dày, đan lượn sóng như một chiếc lồng bảo vệ, bên trong lót xốp giữ ẩm. Và khi những tàu lá chuối rừng tươi rói được gạt sang hai bên, một thế giới thực vật thu nhỏ hiện ra trước mắt cô, nguyên vẹn và tràn trề nhựa sống.

Từng bọc cây được phân loại ngăn nắp, bầu đất còn sẫm màu nước suối nguồn. Có năm bó lớn cỏ vetiver bản địa với hệ rễ chùm dài hơn gang tay đã được cắt tỉa tỉ mỉ, bọc kín bằng xơ dừa ẩm và lưới mắt cáo mỏng; hàng chục khóm rễ dương xỉ rừng thân bò, trên những cành non còn cuộn tròn lớp lông tơ màu nâu óng ánh như tơ tằm; những chùm cây cốt khí thân thảo dẻo dai, vài khóm rau ráng nước ưa bóng râm và cả những bầu thủy trúc xanh mướt được chọc lỗ thông khí cẩn thận trên thân túi nylon.

Tất cả đều không phải là những loại hoa cảnh kiểng đắt tiền bán trong các nhà kính nông nghiệp công nghệ cao của Đà Lạt, mà là những giống cây hoang dại, bền bỉ nhất của núi rừng Nam Tây Nguyên. Chúng là những loài cây có khả năng đâm rễ xuyên qua tầng đá phiến sét, sống sót qua những mùa mưa xối xả và những đợt khô hạn nứt nẻ chân chim, giữ chặt lấy từng tấc đất sườn đồi bằng chính mạng lưới sinh học kiên cường của mình.

Nằm kẹp giữa hai bó rễ vetiver lớn nhất là một cuốn sổ tay nhỏ cỡ bàn tay, bọc bìa da màu nâu sờn rách ở bốn góc. Bìa da đã cũ, vương vài vệt bùn khô và một vết xước sâu dài vắt ngang.

Nguyên run rẩy mở trang đầu tiên. Dưới ánh sáng nhờ nhợ của buổi sớm vùng cao, nét chữ nghiêng nghiêng, gầy guộc nhưng vô cùng cứng cỏi của ba cô – ông Vũ Quốc Nam – hiện lên rõ mồn một trên nền giấy kẻ ô đã ố vàng:

*“Gửi Thảo Nguyên của ba.* *Mấy giống này ba nhờ mấy đứa học trò cũ ở trạm kiểm lâm Đambri gom trên các sườn đồi dốc và dưới lòng suối mấy hôm trước. Đất dốc Trại Mát tầng mặt nhiều sét pha đá phiến sét mỏng, ngậm nước thì nhão như cháo mà khô lại nứt nẻ chân chim, rất dễ trượt từng mảng lớn nếu gặp mưa kéo dài. Rễ vetiver chịu cắm sâu ba bốn mét sẽ đan thành mạng lưới cơ học tự nhiên giữ taluy không bị xói lở; dương xỉ rừng và rau ráng thì con dùng phủ mặt để giữ ẩm, tán lá xòe của chúng sẽ ngăn hạt mưa rơi tự do không xối trực tiếp làm trôi tầng đất màu hữu cơ. Con tuyệt đối đừng dùng phân hóa học để kích rễ, cứ lấy mùn thông hoai mục trộn với đất mặt mà giâm cành. Đất ở đâu thì nuôi cây ở đó, thuận theo tự nhiên thì đất không bao giờ phụ lòng mình đâu con.”*

Mắt Nguyên nhòe đi. Từng con chữ, từng nét gạch chân cẩn trọng của ba như chạm vào phần sâu kín nhất, yếu mềm nhất mà cô đã cố chôn giấu suốt những ngày qua. Giữa lúc cô thấy mình cô độc nhất giữa bốn bề áp lực, giữa những công văn pháp lý lạnh lùng đe dọa niêm phong ước mơ cuối cùng, và giữa nỗi hoài nghi cay đắng về chính năng lực của bản thân, sự thấu hiểu thầm lặng của người cha già tàn tật nơi quê nhà như một bờ vai vững chãi chìa ra đỡ lấy cô.

Không kìm nén được cảm xúc đang dâng trào nơi lồng ngực, Nguyên đưa mu bàn tay quẹt vội vệt bùn dính trên gò má, rút chiếc điện thoại trong túi ra bấm cuộc gọi video về số máy của ba.

Tiếng chuông tút dài vang lên ba hồi chuông khô khốc. Màn hình điện thoại chớp giật vài lần vì sóng chập chờn rồi sáng lên.

Khuôn mặt sạm đen vì nắng gió rừng thông của ông Nam hiện ra trong khung hình hẹp. Mái tóc ông đã bạc trắng quá nửa, những nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu thành từng rãnh rẽ quạt. Ông đang ngồi ở chiếc bàn trà bằng gỗ thông xẻ thô ngoài hiên căn nhà nhỏ ở Bảo Lộc, trên người khoác chiếc áo len dệt kim màu ghi xám đã sờn cổ áo – món quà đầu tiên Nguyên dùng tháng lương làm thêm thời sinh viên năm thứ hai để mua gửi về.

Phía sau lưng ông, dựa hờ vào vách ván thông xẻ, là đôi nạng gỗ tiện tròn bóng loáng vì ma sát lâu năm. Đôi nạng ấy là chứng tích nghiệt ngã của vụ tai nạn thảm khốc mười năm trước trên cung đèo dốc sương mù, biến một kỹ thuật viên lâm nghiệp sung sức, cả đời gắn bó với việc đo vẽ những cánh rừng đại ngàn, vĩnh viễn trở thành một phế nhân với đôi chân teo tóp, liệt hoàn toàn từ đốt sống thắt lưng trở xuống.

Nhìn thấy đôi chân bất động buông thõng dưới ống quần rộng thùng thình của ba qua màn hình lóa sáng, cổ họng Nguyên nghẹn ứ lại, sống mũi cay xè.

“Nguyên hả con? Xe đò nó chở tới nơi rồi đó hả?” Giọng ông Nam vang lên trầm ấm, đục ngầu vì chứng ho lạnh kinh niên mỗi khi mùa gió chướng tràn về.

“Dạ… con vừa nhận được rồi ba,” Nguyên cố nén tiếng nấc nghẹn ngào, nâng ống kính điện thoại quét một vòng qua những bọc rễ còn ướt đẫm bùn non đang nằm trên sân gạch. “Ba gom nhiều thế này… chân cẳng ba đau nhức suốt ngày trở trời, sao ba không bảo con tự đi tìm kiếm trên này…”

“Mấy đứa nhỏ bên trạm kiểm lâm tụi nó đi tuần tra rừng, tiện lối mòn thì đào giúp ba thôi, ba chỉ ngồi ở hiên nhà tỉa bớt rễ già với bó xơ dừa, có tốn bao nhiêu sức lực đâu mà con lo,” ông Nam cười hiền hậu, ánh mắt nheo lại ấm áp sau cặp kính lão dày cộp đã mờ hơi nước. Nhưng rồi, khi nhìn kỹ hơn vào màn hình, thấy hai quầng mắt thâm đen và gương mặt hốc hác, nhợt nhạt của con gái, nụ cười trên môi ông chùng xuống. Ánh mắt ông trĩu nặng âu lo: “Trông con mệt mỏi quá, Nguyên. Mấy hôm nay trên đó mưa dầm dề lắm phải không con? Căn nhà của bà ngoại… có làm con vất vả quá sức không?”

Bao nhiêu kiên cường, bao nhiêu lớp vỏ bọc sắt đá mà Nguyên cố gồng gánh dựng lên trước mặt mẹ, trước những lời đay nghiến đòi bán đất, trước ánh mắt soi mói của đám thợ và sự tự ái nghề nghiệp trước mặt Phong, trong giây phút này bỗng chốc vỡ òa tan biến. Những giọt nước mắt kìm nén suốt bao ngày qua lặng lẽ trào ra, lăn dài trên đôi má lấm lem bùn đất.

“Ba ơi… con thấy mình bất lực quá,” Nguyên nghẹn ngào, giọng vỡ vụn ra như một đứa trẻ lạc giữa cánh rừng rậm rạp. “Hôm qua Đội Quản lý Đô thị vừa gửi công văn khẩn, họ ép con phải nộp hồ sơ địa chất với giấy phép cải tạo trong vòng hai ngày nữa, nếu không họ sẽ cưỡng chế niêm phong nhà. Mẹ thì ngày nào cũng gọi điện ép con bán khu này đi để trả nợ. Con… con cứ ngỡ mình mang mớ kiến thức học được dưới Sài Gòn, mấy cái giải pháp cảnh quan bền vững về đây là có thể cứu được căn nhà của bà, có thể chứng minh cho mọi người thấy con không thất bại. Nhưng cái dự án ven sông Đồng Nai sụp đổ, công ty phá sản, con gánh nợ thay người ta… giờ lên đến đây, ngay cả một khoảng taluy sau nhà của bà con cũng giữ không nổi. Con thấy mình dở tệ… con bất lực quá ba ơi…”

Ông Nam lặng lẽ lắng nghe từng lời ruột gan của con gái. Gương mặt khắc khổ của người cha già chìm trong nỗi xót xa vô hạn, nhưng tuyệt nhiên không hề có lấy một tia trách móc hay bi quan. Ông đưa bàn tay gầy guộc, nổi đầy những đường gân xanh ngoằn ngoèo lên quẹt nhẹ vào màn hình như muốn lau đi giọt nước mắt của con, rồi khẽ thở dài một tiếng thật sâu, thật êm ái.

“Nguyên này,” ông chậm rãi cất lời, giọng nói trầm tĩnh mang theo sức nặng của một đời từng lăn lộn qua trăm con dốc, ngàn vạt rừng. “Ngày xưa khi mới tốt nghiệp trường trung cấp lâm nghiệp, chân ướt chân ráo bước vào ngành, ba cũng từng nghĩ con người có thể khuất phục thiên nhiên. Ba từng tự hào mang bê tông cốt thép lên đổ kè suối, đắp đập ngăn lũ, nghĩ rằng làm như thế là kiên cố, là muôn đời. Rồi một trận lũ quét tràn qua trong đêm, bê tông nứt toác như bánh tráng, đất đá từ trên đỉnh núi đổ ụp xuống cuốn phăng tất cả công sức mấy năm trời. Khi ấy ba mới hiểu, mảnh đất sườn dốc nó có tính nết, có sinh mệnh của nó, con à.”

Ông dừng lại một chút, ho húng hắng vài tiếng rồi nhìn thẳng vào mắt Nguyên qua ống kính:

“Con càng ép nó phải chịu tải những khối bê tông nặng nề, con càng dùng những giải pháp cứng nhắc để bịt kín mạch ngầm của nó lại, thì đến một lúc nào đó, khi nước ngầm tích tụ đủ lớn ở bên trong, nó sẽ bục tung ra để tự giải phóng. Con là kiến trúc sư cảnh quan, con học về quy luật tự nhiên thì con phải đặt niềm tin vào tự nhiên. Đừng đối đầu với dòng nước, hãy học cách nương theo nó mà sống. Con mở rãnh thoát nước sinh thái, con cắm rễ cây bản địa xuống tầng đất sâu để đất tự thở, tự đan kết lấy mình. Còn chuyện công văn giấy tờ, con cứ đem giải pháp kỹ thuật thực tế ra làm việc đàng hoàng với họ. Chỉ rõ cho cán bộ đô thị thấy rằng con không xâm hại kết cấu địa chất, mà con đang dùng thảm thực vật bản địa để bảo vệ mái dốc tự nhiên. Đời người hay mảnh đất cũng thế thôi con, khi cơn bão tràn qua, cái cây nào cố gồng mình đứng thẳng ngạo nghễ sẽ bị bẻ gãy đầu tiên, chỉ có loài lau sậy biết rạp mình nương theo chiều gió mới giữ được bộ rễ mà tồn tại.”

Từng lời răn dạy mộc mạc của người cha như dòng nước mát lành tưới vào tâm hồn khô héo, hoang mang của Nguyên. Những nút thắt căng thẳng trong lồng ngực cô dường như được tháo dỡ từng chút một. Cô hít một hơi thật sâu, cảm nhận vị đất ẩm và mùi lá thông xộc vào lồng ngực, khẽ gật đầu:

“Dạ, con hiểu rồi ba. Chú Bảo kỹ sư địa chất cũng đồng ý với phương án đào rãnh thấm bậc thang kết hợp giếng tiêu năng của con. Giờ có thêm hệ rễ vetiver với dương xỉ của ba mang lên giữ mặt đất nữa, con tin là mái taluy này sẽ cầm cự được qua mùa mưa.”

“Ừ, làm được như vậy là rất tốt,” nét mặt ông Nam giãn ra, trong ánh mắt ánh lên vẻ tự hào kín đáo. Nhưng rồi, đột nhiên ông ngập ngừng. Ánh mắt ông trượt khỏi màn hình điện thoại, lơ đãng nhìn ra khoảng vườn chè mờ mịt sương mù trước hiên nhà Bảo Lộc. Giọng ông chùng hẳn xuống, trở nên trầm đục và phảng phất một nỗi day dứt khôn nguôi: “Hồi xưa… có một người bạn cũ của ba… chú ấy cũng từng chạy xe tải đường dài trên mấy cung đèo này. Chú ấy từng nói với ba, lái xe hạng nặng chở gỗ trên đường dốc trơn trượt mùa mưa gió, cái sai lớn nhất là khi gặp sự cố lại hoảng loạn mà đạp chết phanh. Đạp chết phanh thì bánh xe trượt rê trên bùn, xe sẽ mất lái hoàn toàn mà lao thẳng xuống vực. Phải bình tĩnh nhả ga, ghìm số thấp mà nương theo con dốc… Người ta phạm sai lầm trong đời, đôi khi không phải vì người ta ác độc hay toan tính, mà vì người ta bị dồn vào bước đường cùng, không còn đường nào để thắng xe lại được nữa…”

Nguyên khẽ giật mình, ngơ ngác nhìn gương mặt đượm buồn của ba qua màn hình. Lời chia sẻ của ông mang một âm hưởng lạ lùng, xa xăm, như thể ông không chỉ đơn thuần nói về kỹ thuật lái xe, mà đang tự vấn lương tâm về một vết thương sâu kín nào đó trong quá khứ mà ông chưa bao giờ hé lộ với cô.

Nhưng trước khi Nguyên kịp cất tiếng hỏi thêm, ông Nam đã chớp mắt, vội vã hắng giọng như muốn xua đi sự lỡ lời của mình:

“À thôi, chuyện cũ rỉ cũ râu từ thời nào rồi, ba già lẩm cẩm lại nói lan man. Mấy cái rễ rau ráng với thủy trúc đó, con đem giâm ngay xuống rãnh nước ngầm nhé. Nhớ cắt bớt ngọn lá úa đi, ngâm ngập phần rễ chùm vào nước suối khoảng một tiếng cho nó hồi sức rồi hẵng vùi xuống bùn sét. Mau đi làm đi kẻo trưa trời lại đổ mưa dầm dề đấy con.”

“Dạ ba, ba nhớ giữ ấm ngực nghen, trời Bảo Lộc dạo này ẩm lạnh lắm đó ba,” Nguyên dặn dò rồi khẽ ngắt kết nối.

Màn hình điện thoại tối lại, chỉ còn phản chiếu khuôn mặt hốc hác của chính cô. Lời nói lấp lửng của ba về người bạn lái xe tải cũ và câu chuyện “không còn đường nào để thắng lại” cứ vương vất mãi trong tâm trí Nguyên, tạo nên một sự hoài nghi mơ hồ. Nhưng thực tế nghiệt ngã trước mắt không cho phép cô chìm đắm trong suy tưởng. Thời gian của lệnh đình chỉ bốn mươi tám giờ đang cạn dần từng phút.

Cô cất điện thoại, đứng dậy thu dọn những mảnh xơ dừa vương vãi trên thềm. Vừa ôm đống nan tre bước ra góc sân, một tiếng bước chân nện êm trên nền đất mùn ướt sũng phía sau bờ rào hoa cúc quỳ dại kéo Nguyên quay đầu lại.

Phong đang đứng ở đó.

Anh mặc chiếc áo khoác bằng vải thô màu nâu sẫm bạc phếch hai bên vai, ống quần kaki dày xắn cao qua bắp chân, để lộ đôi ủng cao su lấm lem bùn đỏ bazan. Trên hai cánh tay săn chắc, nổi rõ những đường gân xanh của một người lao động thủ công lâu năm, anh đang ôm một chồng bốn chiếc khay ươm bằng gỗ thông tái chế. Mỗi khay dài chừng một mét, rộng bốn mươi phân, thành khay phẳng phiu và các đường nét vô cùng vuông vức.

Thấy Nguyên nhìn mình, Phong khẽ gật đầu chào theo thói quen ít nói. Ánh mắt trầm tĩnh, sâu thẳm của anh lướt qua gò má còn vương vệt nước mắt chưa khô hẳn của cô, nhưng anh không hề cất tiếng hỏi han tò mò. Sự tế nhị câm lặng ấy của Phong khiến Nguyên thấy lòng mình bớt đi phần nào sự bối rối.

Anh bước lại gần, đặt nhẹ chồng khay gỗ xuống khoảng sân khô ráo dưới mái hiên chái sau, nơi không bị nước từ máng xối tạt vào.

“Tôi thấy cô đang cần ươm phân nhánh mấy giống cỏ rễ chùm với cây thủy sinh trước khi cắm xuống rãnh thoát,” Phong cất giọng trầm ấm, hòa vào tiếng gió xào xạc trên ngọn thông già. “Mấy khay này tôi tận dụng gỗ thông ba lá dỡ từ trần nhà cũ ra đóng lại. Gỗ này đã ngâm dầu lanh tự nhiên chống mục rữa, thành khay có xẻ rãnh thoát nước ở đáy để rễ non không bị úng sét.”

Nguyên bước tới, cúi người quan sát những chiếc khay gỗ. Tim cô bất giác rung lên một nhịp khẽ khàng, nghẹn lại nơi lồng ngực.

Đó hoàn toàn không phải là những chiếc khay đóng tạm bợ bằng đinh sắt thông thường mà cánh thợ hồ hay chắp vá ở công trường. Bốn góc của mỗi chiếc khay đều được liên kết bằng kỹ thuật ghép mộng mang cá tinh xảo – những răng mộng hình đuôi én đan cài khít khao vào nhau đến từng milimet, phẳng lì và vững chãi đến mức không cần dùng đến một giọt keo công nghiệp hay một chiếc đinh kim loại nào. Từng mép gỗ đều được người thợ dùng bào tay vát nhẹ một góc xiên mềm mại, chà nhám nhẵn thín để không làm đứt tay người cầm. Vân gỗ thông ba lá đỏ au, dày đặc và uốn lượn tự nhiên, ánh lên vẻ đẹp trầm mặc dưới lớp dầu bảo quản bóng mờ.

Kỹ thuật ghép mộng mang cá này… và cả cái cách người thợ tỉ mỉ bo tròn từng góc nhọn để tránh xây xước cho người dùng… giống hệt như chiếc hộp đựng bút bằng gỗ thông mà mười năm trước, vào mùa hè oi ả trước kỳ thi đại học, Phong đã thức trắng mấy đêm liền để đục đẽo, khắc tên cô lên nắp rồi ngập ngừng đem tặng.

Mười năm đằng đẵng trôi qua, cậu thiếu niên thợ mộc ngây ngô năm nào nay đã trở thành một người đàn ông phong trần, trầm mặc với những nốt chai sạn dày đặc trong lòng bàn tay và những vết sẹo dài chằng chịt trên cổ tay. Thế nhưng, sự tỉ mỉ đến mức cố chấp, sự chăm chút âm thầm giấu kín trong từng thớ gỗ mà anh chạm vào dường như chưa từng thay đổi một chút nào.

Nguyên ngước mắt lên nhìn Phong. Anh vẫn đứng đó, giữ đúng khoảng cách hai sải tay theo nguyên tắc làm việc mà anh tự đặt ra từ ngày đầu nhận việc phục chế. Bàn tay phải của anh, với ngón tay cái quấn băng gạc trắng – vết thương do dằm thông đâm toạc thịt chiều hôm qua – đang khẽ co lại, lúng túng giấu vào túi áo khoác.

“Cảm ơn anh,” Nguyên khẽ nói, giọng cô dịu hẳn đi, không còn sự sắc lạnh, xa cách của những ngày đầu đối thoại công việc. “Khay đóng khít mộng và đúng kích thước lắm. Tôi đang lo nếu cắm thẳng rễ non xuống rãnh ngầm lúc này, dòng chảy mặt sẽ xối trôi mất lớp bùn mùn nuôi dưỡng ban đầu.”

“Không có gì,” Phong đáp ngắn gọn, ánh mắt anh khẽ dao động khi nhận ra sự mềm mỏng hiếm hoi trong ánh nhìn của cô. “Đất sau đồi dốc đứng, tầng phong hóa mỏng, chỉ có cách chia nhỏ từng khay giâm rễ cho bén đất rồi mới hạ thổ thì cây mới bám trụ được.”

Mưa phùn bắt đầu lất phất bay theo gió, rắc những hạt nước bụi li ti lên mái tóc đen dài của Nguyên. Không ai bảo ai, cả hai cùng lặng lẽ bắt tay vào công việc mà không cần thêm một lời phân công nào.

Phong xách chiếc xẻng sắt ra góc vườn sau, nơi có những gốc thông cổ thụ trút lá qua nhiều thập kỷ, xúc từng xẻng mùn thông hoai mục màu nâu sẫm. Đó là thứ mùn tự nhiên tơi xốp, nhẹ tênh và giàu dinh dưỡng nhất của rừng đồi, có khả năng giữ ẩm tuyệt vời mà không gây nghẽn rễ. Anh cẩn thận sàng lọc bớt những mẩu cành khô gãy vụn rồi đổ đầy vào từng khay gỗ.

Nguyên ngồi xuống chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ thông, đặt cuốn sổ tay của ba bên cạnh mép khay. Cô dùng chiếc dao rọc giấy sắc lẹm rạch từng đường dứt khoát trên bầu xơ dừa bọc rễ vetiver. Bàn tay thanh mảnh, khéo léo của cô nhẹ nhàng gỡ từng chùm rễ dài màu trắng ngà, tỉa bỏ những đoạn rễ già bị dập nát trong quá trình vận chuyển, nhúng phần rễ cái vào xô nước suối pha loãng bùn non cho hồi sức, rồi cẩn trọng cắm từng tép cỏ vào khay mùn thông theo khoảng cách mười lăm phân một khóm, đúng như sơ đồ giâm rễ mà ba cô đã phác thảo chi tiết trong sổ.

Hai người làm việc nhịp nhàng bên nhau trong sự tĩnh lặng đặc quánh của buổi sớm Trại Mát. Thỉnh thoảng, khi Phong cúi xuống nâng giúp Nguyên một bầu rễ dương xỉ rừng cỡ lớn, các ngón tay thô ráp của anh vô tình chạm nhẹ vào mu bàn tay lạnh buốt của cô. Một luồng hơi ấm mơ hồ thoáng qua da thịt, khiến cả hai bất giác khựng lại một tích tắc. Họ nhanh chóng thu tay về, tiếp tục công việc như thể không có chuyện gì xảy ra, nhưng nhịp thở của cả hai dường như đã biến đổi. Mùi mồ hôi mằn mặn, ấm nóng của người đàn ông hòa quyện cùng mùi nhựa thông tươi, mùi đất mùn và hơi thở ẩm ướt của cây cỏ, tạo nên một bầu không khí gần gũi, ấm áp kỳ lạ giữa góc hiên nhà gió lạnh.

Khi các nhánh rễ non đã được giâm an toàn vào bốn khay gỗ thông, Nguyên và Phong bắt đầu chuyển những khóm vetiver trưởng thành và các gốc dương xỉ lớn ra khu vực rãnh thấm giật cấp phía sau nhà.

Hôm trước, dưới sự tính toán của kỹ sư Bảo và Nguyên, ba tuyến mương đón nước đã được đào uốn lượn theo đúng đường đồng mức tự nhiên của triền đồi, đổ dồn về một hố tiêu năng lót đá hộc ở góc thấp nhất. Tuy nhiên, sau trận mưa lớn đêm qua, vách đất bazan hai bên mép rãnh đã bắt đầu xuất hiện những vết nứt chân chim do ngậm quá nhiều nước ngầm rỉ ra từ sườn dốc.

Nguyên quỳ một bên gối xuống nền cỏ đẫm nước, cẩn thận đặt từng khóm dương xỉ rừng và rau ráng vào sát mép nước ngầm rỉ ra từ vách đất. Tán lá xòe rộng của chúng sẽ che chắn cho bờ đất, trong khi bộ rễ nông sẽ hút sạch lớp nước ứ đọng trên bề mặt.

Ở phía trên bờ taluy cao hơn, Phong thoăn thoắt vung chiếc cuốc chim nhỏ, đào những hố sâu chừng ba mươi phân trên vách đất sét pha đá phiến. Anh cẩn thận đón lấy từng bầu cỏ vetiver từ tay Nguyên, đặt thẳng đứng vào lòng đất rồi dùng gót ủng cao su nện chặt đất xung quanh gốc. Những chùm rễ vetiver dài và dai như những sợi dây thép sinh học, khi bám sâu vào lòng đất sẽ đan cài chéo nhau, neo chặt lớp đất mặt vào các vỉa đá mồ côi ẩn sâu bên dưới, biến toàn bộ mái dốc thành một bức tường xanh kiên cố mà không cần đến một khối bê tông nào.

Cuối cùng, Phong vác lại một bó rơm rạ khô vàng óng mà anh đã xin từ các nhà vườn trồng dâu tây dưới thung lũng. Hai người cùng nhau rải đều một lớp rơm mỏng phủ kín mặt đất xung quanh các gốc cây mới trồng. Lớp rơm này vừa giữ ấm cho bộ rễ non trước cái rét buốt thấu xương của mùa đông cao nguyên, vừa có tác dụng tán nhỏ những giọt mưa nặng hạt, ngăn không cho nước mưa xối trực tiếp làm xói lở lớp đất mặt màu mỡ.

Khi nhánh rễ thủy trúc cuối cùng được cắm sâu vào lớp bùn lắng ở đáy hố tiêu năng, chiếc đồng hồ trên màn hình điện thoại của Nguyên điểm đúng mười một giờ trưa.

Cơn mưa phùn bắt đầu nặng hạt hơn, rơi lộp độp trên những tán lá thông già và gõ lách cách trên mái tôn cũ. Gió từ thung lũng thổi thốc lên, mang theo hơi ẩm lạnh buốt xộc thẳng vào mặt.

Cả Nguyên và Phong đều đã ướt sũng hai bên bả vai áo khoác. Bùn đỏ bazan bám chặt từ đầu gối ủng cao su lên đến tận khuỷu tay và vạt áo. Nhưng khi đứng thẳng người, phóng tầm mắt nhìn lại toàn bộ triền dốc sau nhà, một cảm giác nhẹ nhõm vô bờ và niềm kiêu hãnh nghề nghiệp bỗng dâng trào trong lồng ngực Nguyên.

Mảnh đất sườn đồi này mới sáng nay còn là một bãi sình lầy nham nhở, nứt nẻ và đe dọa sạt lở nuốt chửng ngôi nhà cổ bất cứ lúc nào, thì giờ đây, ba tầng rãnh thấm sinh thái uốn lượn mềm mại đã hiện rõ hình hài, được bao bọc bởi sắc xanh kiên cường của những khóm cây bản địa và màu vàng ấm áp của lớp rơm rạ phủ mặt. Nước ngầm từ lòng đồi rỉ ra không còn chảy tràn làm xói lở đất sét nữa, mà bắt đầu ngoan ngoãn len lỏi qua từng kẽ đá, chảy chậm dần theo những đường rãnh bậc thang rồi đổ êm ả vào giếng tiêu năng. Mảnh đất đang bắt đầu tự thở, tự chữa lành những vết thương bằng chính sức sống nội tại của cỏ cây rừng núi.

“Cô vào nhà thay áo ấm đi kẻo nhiễm lạnh đấy,” Phong lên tiếng phá vỡ sự im lặng giữa hai người. Anh đưa mu bàn tay áo gạt đi những giọt nước mưa đọng trên hàng mi rậm, giọng nói trầm ấm phảng phất sự quan tâm chân thành. “Mấy thứ nông cụ với mấy cái khay gỗ thừa này cứ để đó, tôi dọn dẹp cho.”

“Tôi phụ anh một tay, mang mấy cái xẻng với khay ươm ra cất ở chái sau xưởng mộc,” Nguyên đáp, cô đứng dậy phủi nhẹ lớp đất đỏ bám trên đầu gối quần, không muốn tỏ ra yếu đuối hay nhận lấy sự ưu ái riêng biệt nào từ anh.

Cô ôm chiếc thùng nhựa đựng dao kéo, kéo bấm và cuốn sổ tay của ba, rảo bước đi theo lối mòn lát đá hộc dẫn vòng qua góc bếp ra chái sau – khu vực kho chứa gỗ tạm thời của xưởng Gió Thông nằm áp sát vách nhà Mộc Miên. Kho chứa này được ngăn cách với gian nhà chính bằng một bức vách ván thông ba lá ghép mộng dày dặn, nhưng qua nhiều năm tháng co ngót vì nắng mưa, giữa các thớ gỗ đã nứt ra vài khe hở nhỏ.

Vừa bước đến gần mép cửa kho khép hờ, bước chân Nguyên bỗng khựng lại.

Từ bên trong vách gỗ, một giọng nói già nua, khàn đặc vì khói thuốc và bụi cưa nhưng vô cùng đanh thép, giận dữ vang lên, át cả tiếng mưa đang rào rào trên mái tôn:

“... Mày tính tự chôn sống cả cái xưởng mộc này với cái thân xác mày ở đây luôn hả Phong?”

Nguyên nín thở, bất giác nép mình sau cánh cửa gỗ dày.

Qua khe nứt hẹp trên vách ván thông, cô nhìn thấy nghệ nhân Phạm Văn Tâm – người thầy mộc lớn tuổi với mái tóc hoa râm búi củ hành sau gáy, đang đứng chống hai tay lên chiếc bàn cưa đĩa. Khuôn mặt vuông vức đầy nếp nhăn của ông đỏ gay vì phẫn nộ. Đối diện với ông là Phong, người vừa bước vào từ cửa ngách, trên người vẫn còn mặc chiếc áo khoác thô ướt sũng nước mưa, bùn đất vẫn bám đầy trên đôi ủng.

Ông Tâm giơ một tập giấy báo giá và bản vẽ kỹ thuật lên, ngón tay gầy guộc chai sạn run run chỉ thẳng vào mặt người học trò:

“Mày nhìn lại cái bảng dự toán vật tư với công thợ mày nộp cho con bé Nguyên xem! Toàn bộ phôi thông ba lá sấy nhiệt hai trăm độ mày lấy từ lô gỗ đấu giá kiểm lâm về, mày tính cho nó bằng giá gỗ củi mục! Công thợ phục chế mộng gỗ mày tự bỏ tiền túi ra trả đầy đủ từng ngày công cho thằng Lâm với chú Bảy, còn phần công của mày thì mày ghi vào sổ là không đồng! Mày thức trắng hai đêm liền xẻ từng thanh mộng mang cá, tay thì đứt gân hồi năm ngoái ở xưởng Bình Dương chưa lành hẳn, hôm qua lại bị dằm thông đâm toạc cả thịt… Mày làm thợ phục chế hay mày đang làm một thằng khổ sai tự hành xác hả con?”

Phong đứng bất động như một pho tượng đá giữa những chồng phôi gỗ thông thơm nồng mùi nhựa mới. Đầu anh hơi cúi xuống, ánh mắt nhìn dán vào sàn xưởng đầy mùn cưa ướt, hai bàn tay buông thõng siết chặt lại thành nắm đấm, không hề cãi lại người thầy một câu nào.

“Thầy… con đã hứa với bà cụ Mai trước khi bà nhắm mắt,” giọng Phong trầm đục, nghẹn lại nơi đáy họng như bị một tảng đá đè nặng. “Ngôi nhà này là tất cả những gì bà gom góp cả đời để lại cho Nguyên. Con phải cứu lấy nó bằng mọi giá. Con không thể để người ta siết nợ hay san phẳng nó được.”

“Bà Mai thuê mày vì bà quý cái tài năng, trọng cái tâm đức của một người thợ mộc chân chính, chứ bà không bảo mày đem cả mạng sống với danh dự của mày ra mà thế chấp cho ngôi nhà này!” Ông Tâm gắt gao ngắt lời, giọng ông nghẹn lại vì xót xa, cay đắng cho đứa học trò mà ông coi như con ruột trong nhà: “Mười năm trước mày dại dột tự gánh vác một lần chưa đủ hay sao hả Phong? Mười năm trời mày bỏ xứ mà đi, mày lăn lộn từ mấy xưởng mộc độc hại ở Bình Dương ra tới các công trình ngập mặn ngoài miền Trung, mày làm ngày làm đêm như trâu như ngựa để chắt bóp từng đồng gửi về trả những món nợ không thuộc về mày… Mày nghĩ mày tự đày đọa bản thân như thế là chuộc được lỗi lầm hay sao hả con?”

Từng lời, từng chữ của nghệ nhân Tâm như những nhát búa nện thẳng vào tâm can Nguyên, khiến cô chết lặng tại chỗ sau cánh cửa chái sau.

Đôi chân cô như bị đóng đinh xuống nền đá lạnh buốt. Chiếc thùng nhựa trên tay cô run lên bần bật, những chiếc kéo bấm va vào nhau lách cách, nhưng tiếng mưa rơi đều đều ngoài mái hiên đã nuốt trọn âm thanh run rẩy ấy. Cổ họng Nguyên đắng ngắt, một cơn ớn lạnh dọc từ sống lưng chạy thẳng lên gáy.

“Mày nghe cho rõ đây,” ông Tâm bước lại gần hơn, hai bàn tay thô ráp nắm chặt lấy hai bên bả vai áo ướt sũng của Phong, lắc mạnh, giọng ông đanh lại đầy cảnh báo và đau xót: “Chuyện cũ năm xưa, lỗi lầm là của người lớn! Mày không được tiếp tục nhận thầu với cái giá rẻ mạt này để tự hành xác mình nữa! Mày đã nai lưng ra làm việc quần quật suốt mười năm nay rồi, mày không có nghĩa vụ phải tiếp tục cắn răng gánh nợ thay cho sai lầm của người khác đến hết cả cuộc đời này!”

Sau bức vách gỗ thông ẩm ướt, tiếng gió rít qua những khe ván nứt nghe buốt giá như một tiếng thở dài trĩu nặng của quá khứ.

Nguyên đứng chôn chân trong bóng tối lạnh lẽo của góc hiên nhà, lồng ngực thắt nghẹn lại. Những lời cảnh báo gay gắt của ông Tâm xoáy sâu vào tâm trí cô như những đợt sóng ngầm buốt nhức. Mười năm trước Phong bỏ đi biệt tăm không một lời giải thích... và giờ đây, từng manh mối mơ hồ về những năm tháng anh đày đọa thân xác nơi xứ người, về những món nợ và lỗi lầm của người khác mà anh đang âm thầm gánh vác thay, bỗng chốc dấy lên trong lòng cô một nỗi hoang mang, bàng hoàng khôn xiết.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories