Mùa Mưa Ở Đà LạtCh.12 / 36
Chapter 12

Tiếng Búa Của Bác Tâm

Tiếng búa sắt gõ dứt khoát vào các thanh giằng gỗ tầng hai phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mù sương khi nghệ nhân Phạm Văn Tâm trực tiếp đến hiện trường kiểm tra chất lượng phục chế.

Từng nhát búa nện xuống mặt gỗ không hề vội vã. Cứ ba nhịp gõ đanh gọn, dằn dỗi lại có một nhịp dừng chững lại để người thợ lắng tai nghe độ dội của âm thanh truyền qua các thớ thịt bên trong. Tiếng kim loại va chạm với lõi thông già lúc thì đanh giòn như tiếng đá chạm nhau, lúc lại vang lên trầm đục, âm u, ngân dài rồi tắt lịm vào không gian ẩm ướt. Trong màn sương lam bảng lảng quấn quanh sườn đồi Trại Mát, căn nhà Mộc Miên hiện ra với vẻ trầm mặc cố hữu của một cơ thể già nua đang oằn mình chống chọi với thời gian. Từng thớ thịt, từng khớp mộng của bộ khung gỗ dường như đang bị đem ra phẫu thuật dưới con mắt xoi xét nghiêm cẩn, sắc lạnh đến nghiệt ngã của người thợ già bậc thầy xứ Quảng.

Nguyên bước vội từ con dốc đất đỏ lên sàn hiên. Gió sớm thốc qua triền thung lũng mang theo cái lạnh thấu xương đặc trưng của vùng cao nguyên cuối năm, táp vào mặt cô từng đợt buốt rát. Hai bàn tay cô vẫn còn vương chút đất mùn đỏ quánh từ luống cỏ vetiver vừa cặm cụi trồng xong ngoài mép taluy lúc tảng sáng. Mùi đất ướt ngai ngái quyện với mùi lá mục ngâm sương bám dai dẳng trên đầu ngón tay.

Đêm qua, sau khi vô tình nghe được cuộc đối thoại nghẹn ngào giữa bác Tâm và Phong ở chái sau xưởng Gió Thông, lồng ngực cô như bị chèn bởi một khối đá tảng nặng ngàn cân. Cả đêm Nguyên không tài nào chợp mắt trọn vẹn một giấc. Cứ mỗi lần chìm vào cơn chập chờn, trong tâm trí cô lại hiện lên bàn tay đầy những vết sẹo lồi lõm của Phong, hiện lên hình ảnh cổ tay phải với vết mổ nối gân biến dạng co rút lại mỗi khi chuyển trời, và văng vẳng bên tai câu nói đau đớn, uất nghẹn của người thầy mộc: *“Mười năm trời mày bỏ xứ mà đi… mày làm ngày làm đêm như trâu như ngựa để chắt bóp từng đồng gửi về trả những món nợ không thuộc về mày…”*

Món nợ ấy rốt cuộc là gì? Biến cố khủng khiếp nào của mười năm trước đã đẩy một chàng trai mộc tài hoa bậc nhất rời bỏ quê hương, chôn vùi tuổi trẻ trong những xưởng gỗ ngột ngạt độc hại ở miền Đông Nam Bộ, để rồi trở về đây với hai bàn tay trắng cùng một thân thể đầy thương tật? Câu hỏi ấy như chiếc dằm mục cắm sâu vào tâm can Nguyên, nhức nhối khôn nguôi.

Trên giàn giáo tre dựng áp sát mái hiên trước, nghệ nhân Phạm Văn Tâm đang đứng thẳng lưng. Dáng người ông quắt queo nhưng gân guốc, chiếc áo bà ba màu chàm bạc phếch cài kín cổ đến tận cằm, mái tóc hoa râm búi gọn gàng sau gáy găm một chiếc trâm tiện bằng gỗ trắc sẫm màu. Đôi mắt một mí sâu hoắm của ông nheo lại, soi mói từng đường cưa, từng góc vát của hệ vì kèo. Dưới sàn hiên, cậu thợ trẻ tên Lâm và chú Bảy đang cúi gầm đầu, hai tay buông thõng dọc theo ống quần bảo hộ cáu bẩn, vẻ mặt căng thẳng đến mức không dám thở mạnh. Phong đứng cách đó vài bước cạnh chiếc bàn cưa đĩa, chiếc thước lá bằng thép kẹp chặt bên hông, ngón tay cái bên bàn tay phải vẫn dán miếng băng gạc trắng toát từ vết thương mảnh dăm đâm trúng chiều hôm qua.

“Lâm! Lại đây.”

Tiếng ông Tâm cất lên, khàn đục nhưng nặng tựa ngàn cân, xé toạc màn sương ẩm. Cậu thợ trẻ giật thót mình như bị điện giật, lúng túng buông chiếc giũa sắt xuống sàn rồi vội vã bước lên hai bậc thang gỗ dẫn lên sàn hiên.

Ông Tâm không thèm ngoảnh đầu lại. Mũi chiếc đục thép nhọn hoắt trên tay ông chỉ thẳng vào một mối mộng đuôi én liên kết giữa thanh xà nách và cây cột hiên phía đông:

“Mày đục mộng kiểu này mà dám vỗ ngực bảo là xong hả? Nhìn vào đây! Ghé mắt sát vào mà nhìn!”

Giọng ông rít qua kẽ răng, từng thanh âm gằn xuống:

“Độ hở giữa má mộng và lỗ mộng lên tới hơn một ly rưỡi. Mày lười biếng đến mức không thèm dùng đục bạt tỉa lại chân mộng, mà lại dùng mùn cưa mịn trộn keo sữa trát vào để che mắt ai? Mày tưởng mắt thợ già này mù dở rồi sao? Gỗ thông ba lá nằm ở ngoài hiên này, sớm ngậm sương mù, trưa phơi nắng gắt, chiều hứng mưa dầm tạt xéo, nó thở, nó co giãn liên tục theo độ ẩm khắc nghiệt của cái xứ cao nguyên này. Chỉ qua một mùa mưa dầm dề cuối năm, cái lớp keo dỏm của mày sẽ trương phềnh lên rồi mủn ra như bột sắn rữa. Nước mưa theo kẽ hở một ly rưỡi đó ngấm thẳng vào tim mộng, đọng lại trong hốc cột. Ba năm nữa, chỉ cần ba năm thôi, cả cái mộng chịu lực này sẽ thối rữa từ bên trong, mục nát rỗng toét mà bên ngoài vỏ sơn vẫn trơ trơ!”

Cậu thợ trẻ tái mét mặt, hai đầu gối run run, lí nhí trong cổ họng:

“Dạ… thưa bác, con sơ ý quá… Lúc lấy dấu bằng cữ gỗ con kê hơi lệch một chút, lúc hạ đục con lỡ tay phạt sâu…”

“Làm thợ mộc phục chế mà để cái tay đi trước cái đầu, để sự cẩu thả che lấp cái tâm, thì đừng bao giờ cầm đục nữa!” Ông Tâm gắt gao ngắt lời, không để cho người học trò kịp biện bạch thêm nửa chữ. Ánh mắt ông bừng lên ngọn lửa giận dữ của một người tôn thờ sự chuẩn xác tuyệt đối. “Gỗ mới đóng bàn đóng ghế công nghiệp, người ta đóng đinh, bắt vít, bắn keo bạt mạng, hỏng thanh này thì vứt đi thay thanh khác. Nhưng gỗ nhà cổ là xương tủy của tiền nhân để lại, đục hỏng một nhát là mất vĩnh viễn một phần hồn cốt của căn nhà, không bao giờ lấy lại được! Tháo ngay thanh xà đó ra, nêm lại miếng gỗ chêm cùng thớ, cạo sạch lớp keo bẩn thỉu đó đi rồi dùng đục bạt gọt lại từng li từng tí cho bằng khít. Dung sai mối ghép quá nửa ly thì đừng hòng tao nghiệm thu cho mày đóng chốt nêm!”

“Dạ, dạ… con sửa ngay, con xin lỗi bác, con sửa ngay ạ!” Lâm vội vàng ôm thùng đồ nghề, cúi gập đầu nhận lỗi rồi luống cuống trèo lên giàn giáo tre.

Nguyên đứng sững ở chân cầu thang gỗ, cảm nhận rõ rệt sự khắt khe đến tàn nhẫn nhưng đầy chuẩn mực của người thợ già bậc thầy. Ở ông Tâm tuyệt nhiên không có chỗ cho sự thỏa hiệp, xuê xoa hay nể nang tình cảm. Với ông, mỗi thớ gỗ đều có sinh mệnh, có kỷ luật và tiếng nói riêng, và người thợ bước chân vào nếp nhà cổ phải biết kính sợ từng đường vân thớ thịt ấy.

Phong bước đến gần giàn giáo, cúi đầu thật thấp trước người thầy mộc:

“Thưa thầy, lỗi này là do con giám sát anh em chưa chặt chẽ. Con mải lo xử lý phần taluy đất dốc chái sau nên không kiểm tra kỹ đường cữ mộng của Lâm. Con xin nhận trách nhiệm. Con sẽ trực tiếp kiểm tra lại toàn bộ hệ mộng giằng hiên trước khi cho thợ đóng chốt then nêm.”

Ông Tâm không nhìn Phong. Ông chỉ hừ lạnh một tiếng qua cánh mũi, một tiếng hừ chứa đựng sự nghiêm khắc quen thuộc của một người thầy cả đời chưa từng khen ngợi học trò lấy một câu thừa thãi. Ánh mắt già nua của ông rời khỏi mối mộng đuôi én, quét dọc theo thân cột cái rồi dừng lại ở hai thanh xà ngang chịu lực vươn dài đỡ lấy toàn bộ phần mái hiên đua ra phía trước.

Đó là hai thanh gỗ thông lớn, tiết diện mười lăm nhân hai mươi phân, chiều dài hơn bốn mét, một đầu ngậm chặt vào thân cột cái gian giữa bằng mộng thắt, đầu kia vươn ra ngoài không gian để đỡ lấy hệ đòn tay và tầng tầng lớp lớp ngói móc cũ kỹ trĩu nặng rêu phong.

Ông Tâm đưa tay rút chiếc búa gõ nhỏ bằng đồng từ thắt lưng da. Ông vươn người qua lan can giàn giáo, gõ liên tiếp ba nhịp vào bụng thanh xà thứ nhất, đoạn nằm cách chân cột khoảng một sải tay.

*Bộp. Bộp. Bục.*

Tiếng gõ không hề vang lên cái âm sắc đanh chắc, ngân vang của thớ gỗ già đặc ruột. Âm thanh dội lại trầm đục, bẹt dí và nghẹn ngào, nghe y hệt như tiếng một vật cùn nện vào bao cát ướt sũng.

Đôi mày rậm bạc phếch của ông Tâm lập tức nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm. Ông không nói một lời, lặng lẽ rút từ túi áo bà ba ra một chiếc dùi thép tôi sắc nhọn hoắt. Bằng một động tác dứt khoát và chuẩn xác của mấy mươi năm nghề nghiệp, ông cắm phập mũi dùi vào mép dưới của thanh xà, ngay sát điểm liên kết mộng chịu lực.

Lưỡi dùi thép ngập sâu vào thân gỗ hơn năm phân một cách êm ru, nhẹ bẫng đến rợn người. Nó đi xuyên qua lớp gỗ như đâm vào một khối bã đậu khô khốc, không hề gặp phải bất kỳ một lực cản nào từ giác gỗ hay vòng năm của thân cây. Khi ông Tâm xoay nhẹ cổ tay rồi rút mũi dùi ra, một nhúm bột gỗ màu nâu sẫm, ẩm ướt và nồng nặc mùi hôi của nấm mốc mục rữa lả tả rơi xuống sàn đá hộc bên dưới.

Nét mặt ông Tâm đanh lại, sự gay gắt lúc nãy biến mất, nhường chỗ cho vẻ nghiêm trọng tột cùng. Ông chuyển mũi dùi sang thanh xà thứ hai nằm song song bên cạnh, gõ thêm vài nhịp búa đồng rồi dùng đầu ngón tay cái chai sạn ấn mạnh vào một đường nứt dọc chạy dài theo thớ gỗ. Lớp vỏ ngoài bằng dầu bóng cũ kỹ nứt toác ra, để lộ một khoảng rỗng đen ngòm, sâu hun hút bên trong.

“Phong,” ông Tâm gọi giật giọng, âm vang trầm hẳn xuống, nghe khô khốc như tiếng củi nỏ gãy đôi. “Hai thanh xà hiên này đã bị nấm ẩm và mối đất xông rỗng ruột từ trong lõi. Toàn bộ phần tim gỗ chịu lực đã tiêu biến, lớp thịt lành lặn bên ngoài chỉ còn mỏng dính chưa đầy hai phân, còn lại bên trong đã hóa thành đất mùn. Chúng không còn khả năng chịu tải nữa. Phải hạ giải ngay lập tức.”

Lời phán dứt khoát của người thợ cả như một tiếng sét đánh ngang tai Nguyên.

Toàn thân cô chấn động. Cô bước vội tới mép sàn hiên, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào gấu áo khoác dã chiến lấm tấm bụi đỏ:

“Bác Tâm… không thể tìm cách xử lý khác sao bác? Liệu chúng ta có thể tiêm keo epoxy chuyên dụng chịu lực vào lõi, hoặc dùng nẹp thép gia cố bên trong được không ạ? Hai thanh xà này… xin bác, không thể tháo dỡ được đâu ạ!”

Ông Tâm chậm rãi quay người lại trên giàn giáo, cúi xuống nhìn Nguyên. Đôi mắt kèm nhèm nhưng sắc sảo của ông nhìn xoáy vào vẻ hoảng hốt, bàng hoàng đang hiện rõ mồn một trên gương mặt nhợt nhạt của cô gái trẻ:

“Tại sao không thể tháo? Cô là kiến trúc sư, cô học hành trường lớp đàng hoàng, cô nhìn thấy đống bột gỗ mục rữa rơi xuống đất thế này mà cô mở miệng bảo tiêm keo chịu lực? Thứ keo nào, chất hóa học nào có thể liên kết lại một đống bột gỗ đã mục nát thành đất để chịu nổi tải trọng của cả một mái ngói móc nặng hàng tấn đang treo lơ lửng trên đầu người ta hả cô Nguyên?”

Cổ họng Nguyên nghẹn đắng lại, một cảm giác cay xè dâng lên tận sống mũi. Cô ngước nhìn lên hai thanh xà xám xịt, nhuốm màu mưa nắng của hơn nửa thế kỷ qua.

Phía dưới bụng thanh xà bên trái, ba chiếc móc sắt uốn thủ công đã rỉ sét quăn queo vẫn còn bám chặt vào thớ gỗ nứt nẻ. Đó là nơi bà ngoại cô suốt ba mươi năm qua từng tự tay móc những giò lan hoàng thảo, lan thủy tiên rừng mỗi độ xuân về. Cạnh chiếc móc sắt thứ hai, trên bề mặt gỗ xù xì vẫn còn hằn sâu một vết khắc hình chữ thập nhỏ xíu, nét khắc nông sâu không đều – dấu vết do chính bàn tay gầy guộc của bà ngoại khắc vào cái ngày ba cô được nhận vào làm việc chính thức tại Trạm bảo vệ rừng Đa Nhim xa xôi.

Những buổi chiều mưa tầm tã thời thơ ấu, Nguyên vẫn thường ngồi thu mình trên bậc thềm đá hộc dưới mái hiên này, co hai chân vào ngực, ngắm nhìn từng giọt gianh nhỏ tong tòng từ mái ngói rêu phong qua những chùm rễ lan buông thõng đung đưa trong gió núi. Những ngày ấy, bà ngoại ngồi cạnh bên, vừa chải tóc cho cô vừa rì rầm kể những câu chuyện cổ tích về cánh rừng thông nguyên sinh bạt ngàn. Hai thanh xà ấy đối với người ngoài chỉ là hai súc gỗ chịu lực đơn thuần, nhưng đối với Nguyên, chúng là bờ vai chở che cho cả một khung trời ấu thơ, là nơi lưu giữ những dấu vết ấm áp, thiêng liêng duy nhất còn sót lại của người bà đã khuất.

“Cháu xin bác…” Giọng Nguyên run rẩy, đôi mắt cô rơm rớm nước nhưng ánh nhìn vẫn tha thiết, khắc khoải khẩn cầu: “Bà ngoại cháu trước khi trút hơi thở cuối cùng đã dặn dò cháu phải giữ lại vẹn nguyên nếp nhà này. Hai thanh xà này gắn bó với bà suốt cả một đời người, trên đó còn vết tích của những giò phong lan rừng bà tự tay chăm sóc, còn dấu khắc kỷ niệm ngày ba cháu đi làm… Nếu bây giờ hạ giải, vứt bỏ nó đi, nếp hiên này đâu còn là Mộc Miên của bà cháu nữa! Chúng cháu có thể ốp thêm thép hình chữ U trợ lực giấu bên trong lòng xà, hoặc dùng phương pháp cấy cốt gỗ dán nhiều lớp… Tốn bao nhiêu chi phí phát sinh cháu cũng ráng vay mượn lo liệu được, xin bác… xin bác đừng dỡ bỏ nó…”

Nghe những lời van nài tha thiết cất lên từ tận đáy lòng đau đớn của Nguyên, khuôn mặt già nua của nghệ nhân Phạm Văn Tâm không hề dịu đi chút nào. Ngược lại, nét mặt ông càng lúc càng sa sầm, đôi mày cau chặt lại thành một búi sắt nguội, khóe môi mím chặt đầy phẫn nộ.

Ông buông chiếc búa đồng xuống mặt bàn thao tác trên giàn giáo. Chiếc búa rơi xuống phát ra một tiếng *cạch* khô khốc, lạnh lùng vang vọng khắp gian nhà trống. Ông Tâm bước từng bước chậm rãi xuống thang gỗ, đôi dép cao su đập trên sàn hiên nhịp nhàng, nặng nề. Ông dừng lại ngay trước mặt Nguyên, đứng sừng sững như một thân cây cổ thụ cằn cỗi trên đỉnh núi đá, nhìn thẳng vào mắt cô bằng cái nhìn sắc lẹm như mũi đục thép vừa tôi qua than hồng:

“Cô Nguyên, tôi hỏi cô một câu thật lòng: Cô đang muốn bảo tồn ký ức chân thực của bà cụ Mai, hay cô chỉ đang mù quáng bám víu vào một đống vật chất đã mục ruỗng để vỗ về sự yếu đuối của bản thân?”

Câu hỏi đanh gọn như một chiếc roi mây quất mạnh vào bầu không khí đặc quánh.

Nguyên bàng hoàng ngước lên, đôi môi mím chặt run rẩy, lồng ngực như thắt nghẽn lại không thở nổi.

“Cô bảo cô thương bà, cô muốn giữ gìn kỷ niệm cho gia đình,” giọng ông Tâm đanh thép, từng lời từng chữ rành rọt, dằn mạnh như đóng đinh mười phân vào vách đá. “Vậy tôi hỏi cô, nếu vì chiều theo sự hoài niệm ích kỷ và nông nổi của cô, cánh thợ già chúng tôi nhắm mắt làm ngơ, bôi bác ốp tạm vài miếng sắt chữ U che đậy cái lõi mục ruỗng rỗng toét bên trong, rồi ngày mai cô mở cửa cái homestay này ra đón khách thập phương… Đến một buổi chiều mưa bão tháng Tám, gió lốc từ thung lũng quăng quật, cái mái hiên nặng cả tấn này gãy gục xuống đè nát đầu du khách, đè lên đầu những đứa trẻ vô tội đang ngồi sưởi ấm dưới hiên, thì lúc đó cô lấy cái gì ra để đền mạng cho người ta? Cô lấy mấy cái móc lan rỉ sét, lấy mấy vết khắc kỷ niệm của bà cô ra để tạ tội trước pháp luật, tạ tội với tòa án lương tâm của một người làm nghề kiến trúc hay sao?”

Từng câu chất vấn nghiệt ngã của người thợ cả như những nhát dao phẫu thuật, bóc trần toàn bộ lớp vỏ bọc cảm xúc yếu mềm mà Nguyên đã cố công dựng lên để tự ru ngủ mình bấy lâu nay.

Một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt đến nghẹt thở bao trùm lấy toàn bộ hiên nhà Mộc Miên. Gió sớm từ đáy thung lũng sâu hun hút thốc ngược lên triền đồi, mang theo hơi nước lạnh ngắt thổi bạt qua những kẽ hở giữa các hàng cột mộc. Chú Bảy và Lâm nín thở đứng nép sát vào vách ván, hai tay bấu chặt vào túi quần, không một ai dám ho he hay cựa quậy dù chỉ một ngón chân.

Phong đứng phía sau lưng Nguyên chừng hai bước chân. Đôi mắt anh trĩu nặng nhìn bóng lưng mảnh khảnh nhưng đang run rẩy kịch liệt của cô gái. Bàn tay phải dán băng trắng của Phong khẽ động đậy, ngón tay co lại như một phản xạ tự nhiên muốn bước lên chắn phía trước để đỡ lấy cơn thịnh nộ của người thầy, nhưng rồi anh dừng lại. Anh cắn chặt môi dưới, kìm nén bước chân mình. Phong hiểu rõ hơn ai hết tính khí của thầy Tâm, và anh hiểu sâu sắc rằng, bài học tàn nhẫn này là nhát dao sắc bén vô cùng cần thiết để cắt bỏ khối u u mê của sự ảo tưởng, giúp Nguyên trưởng thành trọn vẹn trong tư cách của một người kiến trúc sư nắm giữ sinh mạng của công trình.

“Một công trình gỗ không sống bằng sự mục nát, cô Nguyên à,” ông Tâm hạ giọng xuống một tông, không còn gắt gỏng như trước, nhưng sức nặng nghìn cân của từng lời nói vẫn không hề suy giảm. “Cốt cách và linh hồn của một nếp nhà cổ nằm ở sự trung thực của kết cấu, nằm ở sự vững chãi và an toàn chở che cho những con người đang hít thở sống bên dưới nó, chứ không nằm ở việc cố sống cố chết giữ lại một khúc gỗ đã chết lâm sàng chỉ vì nó mang một vết khắc cũ. Người thợ phục chế chân chính phải biết lúc nào cần nâng niu gìn giữ từng phân gỗ mỏng, và lúc nào phải dứt khoát buông tay, chặt bỏ phần hoại tử để cứu lấy sự sống của toàn bộ ngôi nhà. Nếu cô không phân biệt được ranh giới thiêng liêng giữa lòng hoài niệm cảm tính và trách nhiệm sinh tử của nghề nghiệp, thì cô không xứng đáng gánh vác Mộc Miên, và cô cũng chẳng thể làm nghề kiến trúc thêm một ngày nào nữa!”

Nguyên đứng chết lặng giữa làn sương sớm lạnh buốt.

Từng lời thức tỉnh gay gắt của người thợ già như một luồng ánh sáng chói lòa xé toạc màn sương mù u tối đang giăng kín tâm trí cô suốt những ngày tháng qua. Cô nhớ lại dự án công viên cảnh quan thất bại thảm hại ở Sài Gòn – nơi cô từng vì nể nang chủ đầu tư, vì muốn chiều chuộng những ý tưởng hào nhoáng bề ngoài mà thỏa hiệp với những sai phạm kết cấu cốt lõi, để rồi cuối cùng chuốc lấy sự sụp đổ và nỗi cay đắng ê chề. Cô nhớ lại bức thư tay bằng mực tím của bà ngoại để lại trong hộc bàn gỗ dẻ gai trước lúc lâm chung: *“Giữ lấy cái cốt lõi thật thà của nếp nhà gỗ, không ham những nét chạm rỗng hào nhoáng khi bộ giằng bên dưới chưa vững…”*

Thật thà với vật liệu. Thật thà với kết cấu. Thật thà với sự an toàn sinh mạng của đồng loại.

Bà ngoại cô yêu từng nhành phong lan rừng, yêu từng góc hiên đón nắng sớm, nhưng bà trao lại nếp nhà này cho cô là để nơi đây tiếp tục là một mái ấm bình an chở che cho những tâm hồn lỡ bước tìm về, chứ không phải biến nó thành một cái bẫy chết người rình rập dưới lớp vỏ bọc hoài niệm giả dối. Giữ lại một thanh xà đã mục ruỗng ruột gan để tự vỗ về nỗi đau của bản thân, đó không phải là bảo tồn, đó là sự hèn nhát, vị kỷ và vô trách nhiệm tột cùng.

Nước mắt Nguyên ứa ra từ khóe mi, lăn dài trên đôi gò má tái nhợt vì lạnh gió. Từng giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống vạt áo khoác dính đất mùn. Nhưng trong đôi mắt ướt đẫm ấy, sự bàng hoàng, hoảng loạn ban đầu đã dần tan biến, nhường chỗ cho một vẻ trong trẻo, sáng rõ và kiên định đến lạ lùng.

Cô đưa mu bàn tay áo quệt ngang dòng nước mắt còn đọng trên má. Nguyên hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng không khí cao nguyên buốt giá tràn ngập lồng ngực, mang theo mùi nhựa thông nồng nàn và hơi ẩm tinh khiết của đất trời Trại Mát.

Cô ngước nhìn thẳng vào gương mặt già nua đầy nếp nhăn của nghệ nhân Phạm Văn Tâm, rồi từ tốn gập người xuống, cúi đầu một góc chín mươi độ đầy kính cẩn:

“Cháu cảm ơn bác Tâm… Lời bác dạy cháu xin ghi sâu vào tâm khảm. Cháu đã sai rồi ạ. Cháu đã để sự yếu đuối và cảm xúc riêng tư làm mờ mắt mình.”

Nguyên ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô không còn trốn tránh, cô nhìn thẳng lên hai thanh xà mục rỗng phía trên mái hiên, giọng nói dù vẫn còn nghẹn ngào nhưng từng âm tiết phát ra đã vô cùng dứt khoát:

“Cháu hoàn toàn đồng ý. Xin bác Tâm và anh Phong cho tháo dỡ, hạ giải hai thanh xà hiên này ngay trong sáng hôm nay để đảm bảo an toàn kết cấu cho ngôi nhà.”

Một thoáng ngạc nhiên lướt qua đôi mắt nghiêm nghị của người thợ già xứ Quảng. Đôi mày rậm của ông giãn ra đôi chút, và rất nhanh, nơi khóe mắt chằng chịt những vết chân chim của ông ánh lên một tia ấm áp hiếm hoi. Ông khẽ gật đầu – một cái gật đầu kín đáo nhưng chứa đựng trọn vẹn sự công nhận đối với lòng dũng cảm, sự tự trọng và bản lĩnh nghề nghiệp của người thừa kế trẻ tuổi.

“Được. Biết buông bỏ đúng lúc mới là người hiểu được đạo của gỗ,” ông Tâm quay phắt sang Phong, giọng chuyển sang khẩu lệnh công trường đanh gọn: “Chuẩn bị kích giàn giáo, cáp dù và dây tời mềm. Chúng ta hạ giải ngay bây giờ!”

Công việc hạ giải diễn ra trong một bầu không khí cẩn trọng, kỷ luật và trang nghiêm tuyệt đối. Phong lập tức trèo lên giàn giáo tre. Anh không vội vã dùng búa cậy, mà cẩn thận dùng kìm nguội nhổ từng chiếc đinh gỉ mười năm trước ghim các móc lan vào thớ gỗ. Mỗi chiếc móc sắt uốn thủ công hoen rỉ được tháo ra, anh đều nhẹ nhàng cúi người chuyền tay xuống cho Nguyên đang đứng đợi bên dưới. Bàn tay Nguyên run run đón lấy những mẩu sắt lạnh ngắt, cẩn thận đặt chúng vào một chiếc khay gỗ nhỏ như nâng niu từng mảnh ký ức vụn vỡ.

Dưới sự chỉ huy chuẩn xác từng centimet của ông Tâm, chú Bảy và Lâm cẩn thận luồn hai chiếc kích thủy lực loại năm tấn vào vị trí chịu lực tạm thời dưới mép đòn tay mái hiên. Từng tiếng *tách, tách* của tay đòn kích vang lên đều đặn. Khi kích đội lên, toàn bộ tải trọng của hệ ngói móc nặng nề được tách rời khỏi hai thanh xà mục, truyền thẳng xuống hệ giàn giáo đỡ phụ.

Phong cầm chiếc cưa tay của Nhật Bản, lưỡi cưa mỏng dính nhưng sắc ngọt như dao lam. Anh áp sát lưỡi cưa vào phần đầu mộng mục ruỗng ngậm trong cột cái. Từng nhát cưa đưa đi kéo lại nhịp nhàng, chuẩn xác theo góc vát ba mươi lăm độ. Tiếng cưa gỗ ken két vang lên đều đặn, từng vệt mùn cưa ẩm ướt, màu sẫm đen như bã cà phê rụng lả tả xuống tấm bạt dứa trải sẵn bên dưới sàn hiên.

Hai mươi phút căng thẳng trôi qua trong tiếng thở dốc của những người thợ. Dưới sự điều phối của hai sợi dây tời mềm cuốn quanh trục giàn giáo, thanh xà đầu tiên dài hơn bốn mét từ từ tách khỏi ổ mộng, trượt xuống một cách êm ái và an toàn tuyệt đối.

Khi thân gỗ chạm trọn vẹn lên mặt sàn hiên, một tiếng *rắc* khô khốc vang lên từ chính giữa thân xà. Dưới tác động của lực va chạm nhẹ, toàn bộ phần ruột bên trong vỡ toác ra.

Đúng như những gì ông Tâm đã chẩn đoán bằng chiếc dùi thép: bên trong lớp vỏ gỗ dày chưa đầy hai phân là một khoảng không đen ngòm, xốp xúp như bọt biển. Mối đất và nấm trắng đã xơi tái toàn bộ phần giác và tâm gỗ, biến chúng thành những mảng đất mùn tơi xốp, chỉ cần một ngón tay ấn nhẹ là lập tức sụp đổ thành một đống bột vụn vô dụng.

Chứng kiến cảnh tượng hoang tàn bên trong thanh gỗ tưởng chừng như vẫn còn lành lặn ấy, Nguyên bất giác rùng mình ớn lạnh. Lưng áo cô ướt đẫm mồ hôi lạnh. Nếu sáng nay cô cố chấp giữ lại, nếu không có cái tát tỉnh ngộ đầy tàn nhẫn của bác Tâm, thì chỉ vài tháng nữa thôi, khi những cơn bão lớn từ biển Đông đổ bộ lên cao nguyên, cả mái ngói này sẽ đổ ụp xuống. Một nỗi biết ơn sâu sắc và lòng kính phục dâng trào trong lòng cô dành cho người nghệ nhân già.

Phong bước xuống khỏi giàn giáo tre. Mồ hôi ướt đẫm vầng trán và hai bên mai tóc anh dù gió sáng Trại Mát vẫn đang rít từng cơn buốt giá. Anh dùng vạt áo lau vội giọt mồ hôi chảy vào khóe mắt, rồi cùng ông Tâm cúi rạp người xuống mặt sàn. Phong rút chiếc thước dây bằng thép bọc cao su và chiếc thước kẹp cơ khí, tỉ mỉ đo đạc lại từng thông số kỹ thuật của thanh xà vừa hạ xuống: chiều dài tổng thể bốn mét hai mươi lăm, tiết diện gốc mười lăm nhân hai mươi mốt phân, đầu ngọn vát nhẹ mười bốn nhân mười chín, góc vát khóa mộng ba mươi lăm độ rưỡi.

“Thầy xem,” Phong chỉ tay về phía chái sau, nơi xưởng Gió Thông đang bảng lảng mùi khói sấy: “Lô dầm thông ba lá cũ tháo dỡ từ căn biệt thự cổ đường Trần Hưng Đạo hôm trước con đưa vào lò sấy nhiệt đã hoàn tất chu kỳ bốn mươi tám tiếng ở nhiệt độ hai trăm độ C. Độ ẩm thớ gỗ hiện tại đo bằng máy cảm ứng chỉ còn dao động dưới mười hai phần trăm. Toàn bộ tinh dầu thông tạp đã bị nhiệt hóa tinh thể hoàn toàn, thớ gỗ co rút tối đa, đanh quánh lại như đá. Sáng nay con đã cho quét lót ba lớp dầu lanh nguyên chất thẩm thấu sâu, mối mọt hay bào tử nấm mốc tuyệt đối không thể nào xâm nhập được nữa. Kích thước phôi dầm đó vừa khít với khẩu độ và tiết diện của hai thanh xà này.”

Ông Tâm dùng ngón tay gõ nhẹ vào tấm bản vẽ thiết kế khai triển mộng mà Phong vừa trải ra trên mặt bàn gỗ tạm:

“Gỗ thông sấy nhiệt đanh chắc, chịu lực uốn tĩnh cực tốt nhưng nhược điểm là thớ gỗ giòn hơn thông tươi chưa qua xử lý. Khi mày xẻ mộng đầu xà để gối lên cột cái, góc cắt phải tuyệt đối chuẩn xác theo cữ dưỡng, không được phép lệch một sợi tóc. Tuyệt đối không được dùng vồ gỗ nện ép mộng vào như làm với gỗ mềm, làm thế sẽ nứt toác chân mộng ngay. Dung sai khớp nối chỉ được dao động trong khoảng nửa ly. Mộng phải ôm khít lấy thân cột, lực truyền thẳng đứng xuống đá tảng kê chân cột thì cái mái hiên này mới đủ sức đứng vững như bàn thạch qua mùa mưa bão tháng Tám.”

“Con nhớ kỹ rồi thưa thầy.”

Phong khẽ gật đầu. Đoạn, anh quay sang nhìn Nguyên. Thấy cô vẫn đang đứng lặng lẽ bên thanh xà cũ vừa hạ xuống, ánh mắt đượm buồn nhìn chăm chú vào vết khắc hình chữ thập của người bà, bàn tay anh vô thức siết nhẹ chiếc thước lá. Ánh mắt Phong chùng xuống, chan chứa sự thấu hiểu và một niềm trắc ẩn sâu kín.

Anh bước lại gần cô, giữ đúng một khoảng cách chừng mực hai bước chân, giọng anh trầm ấm, nhẹ nhàng như tiếng gió thoảng qua tán lá:

“Nguyên… Em đừng buồn quá. Phần lõi của hai thanh xà này tuy bị mục nát, nhưng đoạn gỗ ngoài cùng dài khoảng một mét sáu sát mép hiên ngoài – nơi có vết khắc của bà và ba chiếc móc treo lan – thớ gỗ dổi dại vẫn còn rất đanh chắc và lành lặn.”

Nguyên giật mình ngước lên, đôi mắt vẫn còn ngấn nước ánh lên vẻ ngỡ ngàng:

“Đoạn đó… vẫn còn dùng được sao anh Phong?”

Phong gật đầu, ánh mắt anh nhìn cô vừa kiên định vừa dịu dàng:

“Dùng rất tốt. Anh và thầy Tâm đã bàn tính kỹ phương án xử lý từ sớm rồi. Chiều nay, sau khi thay xong hai thanh dầm chịu lực mới cho mái hiên, anh sẽ tự tay dùng cưa lọng pha đoạn gỗ lành lặn này ra thành các thanh ván nhỏ dày hai phân. Sau đó anh sẽ xử lý sấy khô lại bề mặt, bào nhẵn thớ, rồi dùng đục tay khắc chìm biển tên cho ba phòng lưu trú dưới tầng trệt của Mộc Miên. Những chiếc móc sắt treo lan cũ của bà, anh sẽ dùng bàn chải đồng đánh sạch lớp rỉ sét bên ngoài, luộc qua dầu lanh nóng để tạo lớp bảo vệ chống oxy hóa, rồi gắn chúng lại làm móc treo chìa khóa hoặc móc treo áo khoác bên trong từng phòng.”

Phong ngừng lại một nhịp, nhìn sâu vào đôi mắt long lanh của cô, thanh âm trầm đục nhưng ấm áp lạ kỳ:

“Kỷ niệm của bà ngoại không hề mất đi đâu cả, Nguyên. Nó chỉ được chuyển hóa sang một hình thái an toàn hơn, hữu ích và gần gũi hơn để tiếp tục sống cùng căn nhà này, che chở cho em và những vị khách sau này.”

Một luồng hơi ấm dịu dàng, êm ái len lỏi vào lồng ngực Nguyên, xua tan đi cảm giác mất mát, hụt hẫng vừa đè nặng ban nãy. Cô nhìn những vết chai sần, những vết trầy xước rướm máu trên các khớp ngón tay của Phong, nhìn miếng gạc trắng đã lấm lem bụi cưa và dầu máy cáu bẩn. Trong lòng cô dâng lên một niềm xúc động khó tả trước sự quan tâm tỉ mỉ, chu đáo đến từng chi tiết nhỏ nhất mà người đàn ông trầm lặng này dành cho nếp nhà và ký ức của gia đình cô.

“Cảm ơn anh… Thực sự cảm ơn anh rất nhiều, Phong,” Nguyên khẽ nói, âm thanh run rẩy nhưng chan chứa ân tình giữa tiếng gió xào xạc của rặng thông sau đồi.

Đúng lúc đó, từ phía chân dốc đất đỏ dẫn vào Mộc Miên vang lên tiếng động cơ xe máy giòn giã, dồn dập. Tiếng máy nổ phá vỡ không gian tĩnh mịch của buổi trưa non. Chiếc xe tay côn bụi bặm quen thuộc của kỹ sư Trần Gia Bảo phóng vút lên, phanh kít lại ngay trước cổng gỗ.

Bảo gạt chân chống xe, vội vã tháo chiếc mũ bảo hiểm trùm kín đầu dính đầy bụi đỏ đường đèo. Trên tay anh kẹp chặt một cặp tài liệu bằng da màu nâu sẫm, dày cộp.

“Chào cả nhà! May quá, bác Tâm cũng có mặt ở đây thì không còn gì bằng!”

Bảo sải những bước chân dài, nhanh nhẹn tiến thẳng vào sàn hiên. Gương mặt vuông vức, sạm nắng của người kỹ sư trẻ bừng sáng, lộ rõ vẻ nhẹ nhõm và phấn chấn hiếm thấy. Anh đặt mạnh tập hồ sơ lên chiếc bàn mộc giữa sân, ngửa mặt cười lớn:

“Tin đại thắng cho Mộc Miên đây bà con ơi! Tôi vừa từ Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và Phòng Quản lý Đô thị thành phố phi thẳng về đây, không dám tạt ngang tạt ngửa chỗ nào!”

Nguyên hồi hộp bước nhanh lại gần bàn, hai bàn tay đan chặt vào nhau:

“Anh Bảo, hồ sơ giải trình công văn tạm đình chỉ thế nào rồi anh? Phía thanh tra đô thị… họ có chấp thuận giải pháp kỹ thuật của chúng ta không?”

Bảo không trả lời ngay. Anh mở khóa cặp da, rút ra một tập văn bản dày cộp có đóng dấu đỏ chót của Đội Quản lý Trật tự Đô thị thành phố Đà Lạt, trân trọng trao tận tay cho Nguyên:

“Chấp thuận hoàn toàn! Không một điều kiện bổ sung, không một dòng chất vấn nào nữa cả!”

Bảo hào hứng chỉ tay vào các trang phụ lục kỹ thuật đầy ắp những con số và biểu đồ đo đạc:

“Báo cáo kiểm toán thủy lực theo công thức Manning cho hệ thống rãnh thấm giật cấp lót sỏi cuội kết hợp giải pháp phủ rơm và trồng cỏ vetiver giữ taluy của cô Nguyên đã thuyết phục hoàn toàn hội đồng thẩm định độc lập. Họ đánh giá cực kỳ cao tính thực tiễn và tư duy sinh thái của giải pháp này. Kết quả mô phỏng cho thấy nguy cơ sụt trượt cục bộ chân móng chái sau đã giảm tới hơn bảy mươi lăm phần trăm, dòng chảy mặt và nước ngầm tầng nông được tiêu năng an toàn mà không phá vỡ liên kết mao dẫn của nền đất dốc.”

Bảo quay sang nhìn Phong và nghệ nhân Phạm Văn Tâm, giọng anh càng thêm hào sảng:

“Cộng thêm hồ sơ nghiệm thu an toàn chịu lực đợt một đối với mười hai chân cột đá hộc, cùng toàn bộ phương án thay thế cấu kiện chịu lực hiên bằng dầm thông sấy nhiệt của xưởng Gió Thông, Đội Quản lý Trật tự Đô thị đã chính thức ký quyết định thu hồi công văn tạm đình chỉ thi công số bốn mươi bảy! Kể từ giờ phút này, Mộc Miên hoàn toàn hợp pháp một trăm phần trăm để triển khai toàn bộ Giai đoạn một và Giai đoạn hai. Nguy cơ bị niêm phong công trình trong vòng bốn mươi tám giờ coi như đã được đập tan triệt để!”

Một tiếng thở phào nhẹ nhõm đồng loạt vang lên từ tất cả mọi người. Chú Bảy vỗ đùi đánh đét một cái, còn cậu thợ trẻ tên Lâm thì reo lên khe khẽ sau giàn giáo tre.

Nguyên cầm tờ quyết định có dấu đỏ tươi trên tay. Từng dòng chữ in rõ ràng, dứt khoát như nhảy múa trước mắt cô. Đôi bàn tay cô run rẩy bần bật. Áp lực ngàn cân đè nặng trĩu lên vai cô suốt hai ngày đêm vừa qua, nỗi sợ hãi tột cùng về việc căn nhà của bà bị chăng dây niêm phong, nỗi ám ảnh bị mẹ ruột và Khải Minh dùng công cụ pháp lý ép buộc phải bán đất gán nợ… tất cả những bóng ma u ám ấy bỗng chốc tan biến sạch trơn như làn sương mù dưới ánh nắng ban trưa rực rỡ.

“Cảm ơn anh Bảo… Thực sự không biết phải cảm ơn anh thế nào cho xiết…” Nguyên xúc động nghẹn ngào, đôi mắt cô lấp lánh ánh sáng của niềm hy vọng mới mẻ, trong trẻo.

Bảo xua tay cười sảng khoái, rồi vỗ mạnh vào bả vai rắn chắc của Phong:

“Cô đừng cảm ơn tôi vội, người cô cần cảm ơn nhất chính là cái cậu thợ cả lầm lì này kìa! Đêm hôm qua, Phong nó tự tay ôm toàn bộ các mẫu gỗ thông sấy nhiệt cùng biên bản thí nghiệm độ bền uốn tĩnh chạy xe máy vượt sương mù sang tận nhà tôi lúc mười một giờ đêm. Hai thằng ngồi rà soát từng con số đến tận hai giờ sáng để tôi kịp tích hợp vào bản thuyết minh kỹ thuật trước giờ mở cửa tiếp dân sáng nay. Cậu ta làm việc nghiêm cẩn, kỷ luật và quyết liệt đến mức làm một thằng kỹ sư ăn học bài bản như tôi cũng phải phát ngượng đấy!”

Nguyên bàng hoàng quay sang nhìn Phong.

Phong hơi lúng túng trước lời khen ngợi thẳng thắn, bộc trực của Bảo. Anh khẽ nghiêng đầu né tránh ánh nhìn của cô, rồi quay đi, vờ như đang bận rộn dùng chiếc giũa sắt kiểm tra lại độ sắc của lưỡi bào tay trên bàn nguội.

Nhìn tấm lưng rộng hơi còng xuống vì mệt mỏi của Phong, hình ảnh người đàn ông thức trắng bao đêm ròng rã, chịu đựng những cơn đau nhức buốt từ vết mổ đứt gân tay, âm thầm nhận mức thù lao không đồng, thậm chí bỏ tiền túi bù lỗ từng ngày công cho thợ chỉ để cứu giữ nếp nhà này… tất cả những hình ảnh ấy lại một lần nữa dội mạnh vào tâm trí Nguyên. Trái tim cô thắt lại trong một nhịp đập thổn thức, vừa xót xa, vừa cảm phục, lại vừa trĩu nặng một cảm giác tội lỗi khôn nguôi.

Nghệ nhân Phạm Văn Tâm đứng bên cạnh bàn mộc, nãy giờ vẫn lặng lẽ quan sát từng biến chuyển trên nét mặt, từng cử chỉ ngập ngừng của hai người trẻ tuổi. Đôi mắt già đời của ông thấu suốt tất cả. Ông không nói một lời nào về tờ quyết định hay những lời tán tụng kỹ thuật. Ông từ tốn rút từ trong túi áo bà ba ra một gói thuốc lá sợi màu vàng sẫm, dùng những ngón tay thô ráp vê một điếu thuốc nhỏ rồi bật lửa châm thuốc.

Làn khói thuốc màu xanh mờ ảo phả ra, uốn lượn trong không gian, quyện chặt vào mùi thơm hăng hắc của mùn cưa thông ba lá và mùi dầu lanh nồng ấm đang lan tỏa khắp sàn hiên.

Ông bước lại gần chiếc bàn dài, cẩn thận thu dọn từng chiếc đục bạt, đục vũm, đục tách của mình xếp ngay ngắn vào chiếc túi vải bạt cũ kỹ đã sờn rách góc. Thấy vậy, Nguyên vội vàng bước lại gần, nâng ấm nước đất nung rót thêm cho ông một chén trà atisô nóng hổi vừa nấu lúc sáng sớm:

“Bác Tâm, bác uống thêm ngụm trà nóng cho ấm giọng ạ.”

Ông Tâm đón lấy chén trà gốm mộc mạc từ tay Nguyên. Ông không uống ngay mà xoay nhẹ miệng chén trong lòng bàn tay chai sạn đầy những vết sẹo nghề nghiệp. Ánh mắt ông lơ đãng nhìn theo làn khói thuốc mỏng manh đang bay là đà ra ngoài triền đồi, nơi rặng thông già cổ thụ đang đung đưa tán lá xanh thẫm dưới bầu trời cao nguyên lộng gió.

“Cô Nguyên này,” giọng ông Tâm bỗng cất lên, bình thản, trầm đục nhưng sâu xa như tiếng đại hồng chung vọng lại từ ngôi chùa cổ dưới đáy thung lũng.

“Dạ, cháu nghe thưa bác.”

Ông Tâm nhấp một ngụm trà nhỏ, vị đắng chát nơi đầu lưỡi rồi ngọt hậu nơi cổ họng khiến đôi mắt ông khẽ chớp:

“Cái nghề mộc này, người trần mắt thịt nhìn vào thì cứ tưởng chỉ đơn thuần là chuyện cầm cưa, cầm đục đẽo gọt cho thanh gỗ nó vuông thành sắc cạnh, ăn khớp vào nhau. Nhưng thực chất, nghề mộc là sự đối thoại câm lặng với thời gian và số phận.”

Nguyên nín thở lắng nghe, trực giác nhạy bén của một người làm nghệ thuật mách bảo cô rằng, người nghệ nhân già không chỉ đơn thuần đang đàm đạo về chuyện gỗ đá tầm thường.

Ông Tâm ngưng lại một thoáng, rít thêm một hơi thuốc lá sợi:

“Một khúc thông tốt, dù có xuất thân từ một cây cổ thụ trăm năm sừng sững trên đỉnh núi tuyết, nếu vừa đốn hạ xuống mà người thợ nôn nóng đem đi xẻ ván đóng bàn, đóng ghế ngay, thì tôi đoan chắc với cô, chỉ qua vài nắng vài mưa nó sẽ cong vênh, vặn xoắn, nứt toác rồi mục ruỗng từ bên trong. Một khúc gỗ muốn thành rường cột gánh vác cả ngôi nhà, nó bắt buộc phải chịu đựng sự đày đọa nghiệt ngã nhất. Nó phải được ném vào lò sấy, phải chịu đựng nhiệt độ hai trăm độ C nung nấu suốt ngày đêm để ép cho bằng hết những chất dầu tạp bẩn thỉu ra ngoài. Nó phải ngậm đủ khói than, phải chịu đựng sự nung nấu khắc nghiệt đến cháy da xém thịt để từng thớ sợi co rút lại, đanh quánh như đồng nguội. Có vượt qua được cái lò lửa ấy thì khúc gỗ mới mong chịu nổi gió sương cuộc đời mà không bao giờ biến chất.”

Ông Tâm đặt nhẹ chén trà gốm xuống mặt bàn gỗ dổi. Ông quay người lại, nhìn thẳng vào mắt Nguyên. Ánh mắt của người thợ già lúc này không còn sự sắc lạnh nghiệt ngã của buổi sáng, mà chan chứa một sự từng trải mênh mông cùng một nỗi xót xa, thương cảm trĩu nặng:

“Gỗ tốt cần thời gian tôi luyện trong lò sấy lửa đỏ… và con người ta ở đời cũng vậy thôi, cô Nguyên à. Có những người trẻ tuổi, vì một biến cố long trời lở đất, vì những lỗi lầm và món nợ truyền kiếp của thế hệ trước giáng xuống đầu mà phải cắn răng tự chui vào cái ‘lò sấy’ của cuộc đời suốt mười năm ròng rã. Mười năm trời đằng đẵng đó, họ không mở miệng kêu ca một tiếng, không than vãn nửa lời, cắn răng chịu đựng ngọn lửa thử vàng thiêu đốt tâm can. Họ tự bào mòn da thịt mình, đày đọa bản thân bằng những gánh nặng vượt quá sức vóc của một kiếp người, chỉ để mong chuộc lại một món nợ đạo đức mà bản thân họ không hề vay mượn…”

Từng lời, từng chữ của ông Tâm như chiếc búa tạ nện thẳng vào màng nhĩ Nguyên. Hơi thở cô nghẹn lại nơi lồng ngực.

“Người đời nhìn vào,” ông Tâm tiếp tục, giọng ông run run một nỗi niềm u uẩn, “chỉ thấy họ trở nên lầm lì, gai góc, chai sạn và cộc cằn như một khúc gỗ cháy dở bị vứt bên lề đường. Người ta sợ hãi, người ta nghi kỵ, người ta oán trách sự lạnh lùng của họ. Nhưng chỉ có người thợ già từng trải qua dâu bể cuộc đời mới hiểu được rằng: bên dưới cái lớp vỏ ngoài cháy đen, sần sùi và đầy sẹo tích ấy là một khối lõi đanh thép, nguyên vẹn, trong sạch và thuần khiết đến nhường nào.”

Từng lời nói bóng gió nhưng sáng tỏ như ban ngày của ông Tâm chính là chiếc chìa khóa vạn năng mở toang cánh cửa bí mật u tối mà Nguyên vừa chạm tới đêm qua.

Trái tim cô thắt lại, đau nhói như bị ai bóp nghẹt. Cô ngước mắt nhìn sang Phong. Anh vẫn đang đứng còng lưng bên giàn giáo tre, cặm cụi dùng thước kẹp đo từng góc mộng, dường như cố tình không nghe những lời người thầy đang nói.

Mười năm ròng rã… Mười năm thanh xuân tươi đẹp nhất của một đời người!

Những năm tháng bạt mạng trong các xưởng mộc mù mịt bụi sơn độc hại ở Bình Dương, những công trình ngập mặn rát bỏng da thịt ngoài dải đất miền Trung khô cằn, vết sẹo dài mười lăm phân biến dạng vắt ngang cổ tay phải do đứt gân khi cứu một thanh dầm sập, và việc anh âm thầm quay về đây, nhận công không đồng, gánh vác mọi nhọc nhằn, tủi nhục để bảo vệ Mộc Miên…

Tất cả những điều đó không phải là sự chạy trốn hèn nhát của một kẻ phản bội năm xưa, cũng tuyệt nhiên không phải sự bố thí kiêu ngạo của một kẻ dư thừa lòng trắc ẩn. Đó là một sự nhẫn nại chuộc lỗi câm lặng, khốc liệt và tàn nhẫn nhất mà một người đàn ông có thể tự đày đọa chính bản thân mình. Anh đã tự ném tuổi trẻ của mình vào cái lò sấy nghiệt ngã của số phận suốt một thập kỷ, chỉ để ngày hôm nay có thể đứng vững chãi ở đây, làm một thanh dầm kiên cường, trung thực nhất che chắn cho cô trước những giông bão cuộc đời.

Sống mũi Nguyên cay xè, hai mắt nhòa đi vì ngấn lệ. Một giọt nước mắt nóng hổi chực trào nơi khóe mi, nhưng cô vội vàng chớp mắt, ngước mặt lên trời để ngăn nó không rơi xuống. Cô không thể khóc lúc này. Cô không được phép để sự yếu đuối làm vấy bẩn sự hy sinh cao cả của anh. Nhưng trong lòng cô, một quyết tâm mãnh liệt bùng cháy: cô phải tìm hiểu cho bằng được toàn bộ sự thật, phải biết rốt cuộc món nợ oan nghiệt của thế hệ trước là gì mà đã cướp đi mười năm tuổi trẻ của anh, cướp đi hạnh phúc và sự hồn nhiên của cả hai người suốt ngần ấy năm trời.

Ông Tâm khoác chiếc túi đồ nghề nặng trịch lên vai. Ông bước đến, khẽ đặt bàn tay thô ráp vỗ nhẹ lên vai Nguyên một cái thật êm – một cử chỉ dịu dàng hiếm hoi của người thợ cả nghiêm khắc. Đoạn, ông quay sang nói với Phong:

“Tao về xưởng đây. Chiều nay làm xong hai thanh xà hiên thì cho thợ nghỉ sớm một buổi dưỡng sức. Làm việc gì cũng phải lấy cái chuẩn mực làm đầu, đừng có cậy sức trẻ mà làm liều, nghe chưa?”

“Dạ, con nhớ rồi. Để con tiễn thầy ra dốc.” Phong vội buông chiếc giũa sắt, bước nhanh theo sau tiễn người thầy mộc ra tận con dốc đất đỏ.

Kỹ sư Trần Gia Bảo cũng thu xếp tập hồ sơ pháp lý vào cặp da, chuẩn bị nổ máy xe để quay lại trung tâm thành phố hoàn tất các thủ tục nộp lưu chiểu:

“Tôi phải chạy đi nộp bản lưu cho bên văn phòng ủy ban đây Nguyên. Hồ sơ thông suốt rồi, cô cứ yên tâm chỉ đạo triển khai theo đúng tiến độ nhé. Có bất kỳ biến động hay vướng mắc kỹ thuật nào phát sinh thì gọi cho tôi ngay lập tức!”

“Em cảm ơn anh Bảo rất nhiều. Anh đi đường cẩn thận nhé!”

Tiếng động cơ xe máy của Bảo giòn giã xa dần rồi khuất hẳn sau những rặng dã quỳ dại vàng rực nơi đầu dốc.

Không gian Mộc Miên lại chìm vào sự tĩnh lặng quen thuộc của buổi trưa vùng cao. Dưới bóng mát râm ran của cây mimosa cổ thụ ở góc sân, chú Bảy và Lâm đang ngồi bệt trên thảm cỏ, vừa uống nước chè xanh vừa rầm rì trò chuyện về những đường cưa, thớ gỗ.

Mặt trời đã lên cao quá ngọn thông già, chiếu những vạt nắng vàng ươm, ấm áp xuyên qua làn sương mù đang tan dần trên mái ngói. Hiên nhà Mộc Miên lúc này ngập tràn những mùi hương nồng nàn, sống động: mùi thơm ngọt ngào của nhựa thông mới sấy, mùi dầu lanh ấm áp, mùi đất ẩm ngai ngái và hương thơm thanh khiết của những luống cỏ vetiver vừa bén rễ trong gió sớm.

Phong tiễn ông Tâm xong quay trở lại sàn hiên. Những bước chân của anh bước đi trên nền đá hộc nghe vững chãi và dứt khoát. Anh cởi đôi găng tay bảo hộ bằng vải bạt đã sờn rách, cúi xuống nhặt bản vẽ thiết kế hệ cửa chớp lật lá sách mà lúc sáng hai người đang bàn dở trên bàn mộc.

Nhìn thấy Nguyên vẫn đang đứng lặng lẽ bên thanh xà cũ, đôi mắt sâu thẳm hướng về phía thung lũng xa xăm nơi những đụn mây trắng đang lững lờ trôi, Phong khẽ bước lại gần.

“Nguyên,” anh cất tiếng gọi. Thanh âm của anh trầm ấm, cẩn trọng và khẽ khàng như sợ làm vỡ tan bầu không khí tĩnh lặng, thanh bình hiếm hoi giữa hai người.

Nguyên giật mình quay lại. Cô vội vã chớp mắt, cố giấu đi những xao động dữ dội đang cuộn trào nơi đáy mắt:

“Sao thế anh Phong?”

Phong trải phẳng bản vẽ chi tiết các khung cửa sổ tầng trệt lên mặt bàn, đưa ngón tay trỏ chỉ vào những nét phác thảo bằng bút chì đậm nét – nơi Nguyên đã vẽ lại những ô cửa lấy sáng mang đậm phong cách kiến trúc thuộc địa Pháp thập niên 60:

“Hệ cửa sổ lá sách tầng một sau khi cạo sạch lớp sơn cũ ra để kiểm tra, có hai bộ khung bao đã bị mục chân quá nặng do ngậm nước mưa lâu ngày, thớ gỗ đã mủn hết, không thể áp dụng biện pháp cấy ghép gỗ được nữa. Nếu bây giờ chúng ta đóng mới hoàn toàn bằng gỗ thông ba lá hiện tại, thì vân gỗ non và màu sắc sau khi quét dầu sẽ bị vênh lệch rất nhiều, nhìn vào sẽ thấy chắp vá và phá vỡ tổng thể nếp nhà cũ của bà ngoại.”

Nguyên cúi xuống nhìn theo ngón tay anh trên bản vẽ, đôi mày thanh tú khẽ nhíu lại đầy trăn trở:

“Vậy chúng ta phải làm thế nào bây giờ anh? Ở các xưởng thu mua xác nhà gỗ cũ quanh Đà Lạt liệu có tìm được loại khung bao cùng chất gỗ và niên đại tương đương không?”

Phong ngước lên nhìn cô. Ánh mắt anh lúc này ánh lên một tia nhìn sâu lắng lạ thường, vừa có chút ngập ngừng, e dè, lại vừa như ẩn chứa một quyết tâm đã được nung nấu kỹ lưỡng từ rất lâu trong lòng:

“Sáng sớm nay, anh vừa nhận được tin báo từ một người bạn làm nghề mộc dưới Cầu Đất. Ở dưới đó có một ngôi nhà cổ nguyên là trạm bưu điện thời Pháp thuộc, người ta chuẩn bị tháo dỡ hoàn toàn trong hai ngày tới để giải phóng mặt bằng mở rộng đường lộ lớn. Họ đang thanh lý toàn bộ cấu kiện, trong đó có một lô khung cửa sổ và khuôn bao bằng gỗ thông đỏ nguyên khối từ thời kỳ đó. Kích thước khẩu độ và tỷ lệ phào chỉ chỉ nẹp của nó giống hệt như hệ cửa của Mộc Miên. Nếu chúng ta xuống đó kịp thời trong chiều nay, có thể trực tiếp thương lượng mua lại được với giá rất tốt trước khi cánh buôn gỗ cổ gom hết.”

Phong ngừng lại một thoáng. Hơi thở anh dường như khẽ ngưng đọng khi nhắc đến hai chữ địa danh thân thuộc ấy – nơi chôn giấu bao kỷ niệm ấu thơ của cả hai người. Rồi anh nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của Nguyên, cất lời đề xuất bằng một giọng trầm đục, tha thiết:

“Chiều nay… em có thể đi Cầu Đất cùng anh một chuyến để trực tiếp kiểm tra và chọn lô khung cửa đó không?”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories