Kiếm Tâm Vấn ĐạoCh.9 / 40
Chapter 9

Bậc Thềm Tụ Nghĩa

Mộc An thở không ra hơi, hai tay chống gối đứng khom người trước bậc thềm Tàng Kinh Các, khuôn mặt tròn trĩnh đỏ gay vì tức giận và hoảng hốt. Gió núi Vân Phong cuối thu thổi qua rặng trúc xào xạc, từng đợt gió rít mang theo cái lạnh se sắt của sương sớm chưa tan, hất tung những lọn tóc mai bết dính mồ hôi trên trán cậu ta, làm chiếc túi vải thô đeo chéo bên hông lắc lư dữ dội. Mấy nhánh Dạ Ninh Thảo khô kẹp vội nơi nắp túi rơi lả tả xuống phiến đá xanh xám, gãy vụn dưới sức gió, nhưng Mộc An lúc này chẳng buồn cúi xuống nhặt. Lồng ngực cậu ta phập phồng liên hồi, tiếng thở dốc kéo dài nghe như tiếng ống bễ rách nát trong một gian lò rèn bỏ hoang.

Lục Thanh vừa quét xong đợt lá trúc đầu tiên nơi chân bậc thềm, tay cầm chổi cán tre hơi khựng lại. Cậu ngẩng đầu, nhìn thấy đôi môi run rẩy cùng ánh mắt thất thần của bạn mình, liền dựng cán chổi vào góc tường đá rêu phong, bước nhanh tới đỡ lấy bả vai Mộc An. Bàn tay Lục Thanh thô ráp, các khớp xương ngón tay nổi rõ nhưng ấm áp và vững chãi, khẽ ấn vào một huyệt vị sau lưng bạn để giúp hơi thở đang nghẽn ứ lưu thông:

"Mộc An, hít sâu một hơi đã. Chuyện năm mươi điểm công tích sáng nay ngươi báo vẫn chưa nguôi, lại có biến cố gì nữa sao?"

Mộc An nuốt nước bọt đánh ực một cái, cổ họng khô khốc như có cát cào xước. Cậu ta nắm chặt lấy cổ tay Lục Thanh, năm ngón tay bấu chặt vào lớp vải thô áo tạp dịch, giọng run lên vì nghẹn ứ:

"Không chỉ có vụ năm mươi điểm vào bí cảnh đâu Lục Thanh... Bọn họ... bọn họ thật sự muốn dồn chúng ta vào chỗ chết! Lệnh mới vừa được dán bổ sung ở cửa Kiếm Đường và cổng lớn Điện Khảo Công. Lần này không phải tin đồn miệng nữa, mà là do đích thân giáo tập Trần Chấp Ngôn đệ trình lên Chấp Sự Viện, được đóng dấu phê chuẩn bằng mực đỏ tươi ngay trong giờ Thìn!"

Lục Thanh khẽ nhíu mày, ánh mắt trầm xuống: "Quy chế gì?"

"Quy chế điểm công tích cho việc mượn thư tịch và sử dụng phòng luyện công!" Mộc An nghiến răng, hai mắt đỏ hoe, những tia máu li ti hằn rõ nơi tròng mắt vì thiếu ngủ và phẫn uất. "Từ ngày mai, đệ tử ngoại môn muốn mượn bất kỳ cuốn kiếm phổ cơ bản nào từ tầng một Tàng Kinh Các, hoặc muốn xin một canh giờ ngồi trong Tụ Khí Thất để dẫn khí, số điểm công tích phải nộp sẽ tăng gấp đôi! Ngươi có hiểu gấp đôi nghĩa là gì không? Trước kia mượn một bản sao chép tay của «Thanh Vân Cơ Bản Kiếm Thức» chỉ tốn hai điểm mỗi tuần, nay tăng vọt lên bốn điểm. Vào phòng luyện có tụ linh trận cấp thấp trước kia tốn năm điểm một buổi, nay vọt lên mười điểm!"

Lục Thanh sững sờ. Mười điểm công tích cho một buổi luyện công?

Con số ấy như một cú giáng mạnh vào tâm trí. Là một đệ tử tạp dịch quét lá ở Sân Lá Rụng và làm phụ việc dưới tầng ngầm Tàng Kinh Các, Lục Thanh hiểu quá rõ cái giá của từng điểm công tích ở chốn tông môn này. Một đệ tử tạp dịch như Mộc An ở Dược Viên, sáng tinh mơ đã phải thức dậy gánh nước suối lạnh ngắt tưới cho hàng trăm luống linh dược, trưa còng lưng nhổ cỏ dại dưới cái nắng hanh khô, chiều tối lại phải tỉ mỉ bắt từng con sâu ăn lá, ròng rã suốt một tháng trời không quản mưa gió. Sau khi trừ đi chi phí ăn ở bần hàn và những khoản khấu trừ vô lý cho dụng cụ hư hao, một tháng gom góp cật lực cũng chỉ tích cóp được vỏn vẹn năm đến sáu điểm.

Con số mười điểm kia tương đương với cả hai tháng làm lụng quần quật không dám nghỉ ngơi lấy một buổi, không dám để xảy ra một chút sai sót nào làm chết một ngọn cỏ thuốc. Tăng gấp đôi, đồng nghĩa với việc toàn bộ đệ tử tạp dịch và ngoại môn nghèo khó hoàn toàn bị tước đoạt quyền bước chân vào Tụ Khí Thất.

"Lý do bọn họ đưa ra là gì?" Lục Thanh trầm giọng hỏi, giọng nói bình thản đến lạ thường nhưng sâu trong đáy mắt đã hiện lên một tia lạnh lẽo.

"Lý do ư?" Mộc An cười cay đắng, tiếng cười khô khốc vỡ vụn giữa khoảng sân vắng, khóe mắt ứa ra hai giọt lệ uất ức. "Trần giáo tập phê rõ rành rành trên bảng cáo thị bằng giấy điều viền vàng, dùng toàn lời lẽ hoa mỹ của kẻ đứng trên cao nhìn xuống: 'Tài nguyên tu luyện của tông môn có hạn, không thể tiếp tục lãng phí vào những kẻ tư chất kém cỏi, tiến cảnh chậm chạp. Việc tăng mức điểm công tích là nhằm thanh lọc trật tự, tập trung tinh hoa, loại bỏ thành phần trì trệ đang bám víu làm tiêu hao linh khí của Vân Phong'. Ngươi nghe có nực cười không? Bọn họ gọi chúng ta là 'thành phần trì trệ'!"

Hai bàn tay Mộc An siết chặt lấy nhau đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến rướm máu.

"Ai chẳng muốn tiến bộ? Ai chẳng muốn một lần bước vào Tụ Khí Thất để cảm nhận linh khí dồi dào chảy qua kinh mạch, để không phải chịu đựng cảnh nghẽn khí đau đớn mỗi đêm? Nhưng đệ tử thế gia như đám người Phùng Đại Xảo bước chân vào cửa núi đã có gia tộc chu cấp linh thạch hạ phẩm, điểm công tích đối với bọn họ chỉ là con số tiêu vặt, ném ra lúc nào cũng được. Còn chúng ta... sáng quét sân, trưa bửa củi, chiều gánh nước, tối về chỉ dám thắp ngọn đèn dầu lén nhìn mấy nét vẽ kiếm chiêu nguệch ngoạc trên mảnh giấy vụn. Nay tăng gấp đôi điểm, chẳng khác nào đóng sập cánh cửa duy nhất để chúng ta tự cứu lấy mình!"

Cơn gió thu thốc qua kẽ nách hành lang Tàng Kinh Các, cuốn theo một đám lá khô bay xoay tròn trên nền đá rồi tấp vào chân cột. Cảm giác lạnh lẽo ấy dường như không chỉ thấm qua lớp áo gai mỏng manh vào da thịt, mà còn len lỏi vào tận tâm can, làm tê buốt từng đường gân thớ thịt của những kẻ đứng dưới đáy tông môn.

Bọn họ không sợ khổ, không sợ mệt nhọc, không sợ phải cuốc đất dọn phân hay gánh nước leo dốc đá dựng đứng. Thứ làm bọn họ tuyệt vọng nhất chính là hy vọng bị tước đoạt một cách trắng trợn, khi những kẻ nắm quyền trong tay chỉ cần hạ một nét bút là có thể dập tắt toàn bộ mồ hôi nước mắt của hàng trăm con người.

Lục Thanh không đáp lời ngay. Cậu vỗ nhẹ lên lưng Mộc An từng nhịp đều đặn, vận chuyển một tia lực đạo nhu hòa giúp bạn thuận khí, ánh mắt nhìn xa xăm về phía con đường đá thoai thoải dẫn xuống khu nội viện và quảng trường ngoại môn phía dưới. Nơi đó, mây mù lượn lờ quanh những mái lầu nguy nga tráng lệ, nơi những kẻ có linh căn thượng thừa đang an nhàn hưởng thụ đan dược và trận pháp cao cấp.

"Đi, chúng ta xuống xem thử." Lục Thanh nói ngắn gọn, thanh âm trầm tĩnh như mặt hồ không gợn sóng.

***

Khu vực bảng cáo thị bằng đồng nằm ngay ngã ba dẫn vào khu cư xá ngoại môn lúc này đông nghẹt người. Nhưng khác với cảnh tượng chen chúc ồn ào, tranh nhau bàn tán sôi nổi của những ngày công bố phần thưởng khảo hạch tháng hay danh sách tấn thăng, không gian nơi đây bao trùm bởi một bầu không khí u ám, nặng nề đến nghẹt thở.

Hơn một trăm đệ tử ngoại môn và tạp dịch tụ tập quanh tấm bảng đồng thau khổng lồ bám đầy vết ố thời gian. Tấm giấy điều đỏ rực mang nét chữ sắc lẹm, ngang tàng, nét bút móc lên đầy vẻ ngạo nghễ của Trần Chấp Ngôn dán ngay chính giữa, tựa như một vết chém đỏ lòm xé toạc chút hy vọng mong manh cuối cùng của những người có mặt.

Tiếng thở dài ngao ngán vang lên khắp nơi, nối tiếp nhau như những đợt sóng ngầm tuyệt vọng vỗ vào bờ đá.

"Tăng gấp đôi... Làm sao mà kham nổi đây?" Một đệ tử trẻ tuổi mặc chiếc áo xám bạc màu rách mép ở cổ tay, hai bàn tay thô ráp đầy vết chai sạn và những vết cứa sâu do xúc quặng, ngồi bệt xuống vệ cỏ ven đường, ôm lấy đầu lẩm bẩm. "Ta mang tứ linh căn khuyết Kim, ba tháng nay liều mạng cuốc đá trong hầm mỏ âm u ẩm ướt, ăn không dám ăn no, tích góp từng điểm một mới được tám điểm công tích. Vốn tính ráng thêm nửa tháng nữa cho đủ mười điểm để đổi lấy ba ngày vào Tụ Khí Thất tìm cảm giác phá cảnh Dẫn Khí trung kỳ... Giờ mười điểm chỉ vừa đủ một ngày. Một ngày thì làm được trò trống gì? Vừa ngồi ấm chỗ, dẫn khí chưa trọn một chu thiên thì trận pháp đã tắt ngấm!"

"Thôi bỏ đi huynh đệ," một người khác đứng bên cạnh chua chát vỗ vai cậu ta, giọng nói nhuốm màu buông xuôi. "Trần giáo tập đã nói thẳng thừng trên giấy là muốn 'loại bỏ thành phần trì trệ' rồi. Người ta chê chúng ta làm vướng chân, làm bẩn mắt những thiên tài như Tạ Vân Khê đấy. Người mang Canh Kim Kiếm Cốt chỉ cần ngồi thở dưới gốc cây cũng có linh khí tự động ùa vào kinh mạch, còn chúng ta còng lưng đổ máu cả tháng trời cũng không đổi nổi một canh giờ ngồi gần mắt trận."

"Nhưng không vào phòng luyện công, không mượn được kiếm phổ, thì kỳ khảo hạch bí cảnh Thung lũng Hồi Âm mười ngày nữa làm sao vượt qua? Chẳng lẽ thật sự phải cam chịu bị ghi tên vào sổ đen, đời đời kiếp kiếp làm phu dịch mỏ hắc thiết nơi biên ải sao? Vào đó rồi thì cả đời này đừng hòng thấy lại ánh mặt trời!"

Tiếng khóc nấc khe khẽ, nghẹn ngào cất lên từ phía sau đám đông. Đó là một đệ tử nữ phụ trách việc giặt giũ ở Ngoại Vụ Đường. Nàng ngồi thu lu bên gốc liễu cằn cỗi, kéo vạt áo che đi đôi bàn tay đỏ ửng, sưng phù và nứt nẻ rớm máu vì phải ngâm trong nước suối lạnh buốt quanh năm để vò giặt đạo bào cho nội môn. Những người xuất thân bình dân, không có bối cảnh gia tộc giàu có, không có linh thạch lót tay hay trưởng bối nâng đỡ, nay đứng trước bức tường thành cao ngất, lạnh lùng của thể chế tông môn, bỗng thấy mình nhỏ bé, hèn mọn và bất lực như những hạt cát vô danh trước cơn cuồng phong.

Cách đó không xa, một vài đệ tử thân tín của Kiếm Đường mặc cẩm bào xanh viền thêu chỉ bạc lướt qua. Nhìn thấy đám đông ủ rũ, tiều tụy quanh bảng cáo thị, một tên trong số đó khoanh tay trước ngực, nhếch mép cười khẩy. Hắn cất giọng oang oang, cố tình để âm thanh mang theo chút linh lực yếu ớt truyền thẳng vào tai mọi người:

"Khóc lóc cái gì mà như đưa đám thế kia? Tu tiên vốn là nghịch thiên tranh mệnh, kẻ mạnh tiến lên, kẻ yếu thoái lui, đó là thiên lý tuần hoàn xưa nay. Đã không có thiên phú lại còn tiếc mấy điểm công tích mọn, chẳng bằng sớm ngày nộp đơn xin trục xuất, xuống chân núi mua vài mẫu ruộng mà làm ăn cho thanh thản đầu óc! Cố đấm ăn xôi bám víu lấy Vân Phong chỉ làm chật chội sơn môn!"

Những lời mỉa mai cay độc ấy như những nhát dao nhọn xát muối vào vết thương đang rỉ máu. Nhiều đệ tử trẻ tuổi siết chặt nắm đấm, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau kèn kẹt, uất hận đến mức toàn thân run rẩy, lồng ngực phập phồng dữ dội. Nhưng tuyệt nhiên không một ai dám hé răng nửa lời, cũng không ai dám bước lên đối chất.

Thân phận đệ tử ngoại môn và tạp dịch thấp cổ bé họng như cỏ rác. Môn quy của Vân Phong Kiếm Phái nghiêm ngặt đến tàn nhẫn: chỉ cần một lời bất kính với giáo tập, một hành vi gây rối trật tự hay xô xát nơi công cộng, Chấp Sự Viện có thể lập tức phế bỏ tu vi, trục xuất khỏi núi ngay trong ngày mà chẳng cần xét xử.

Lục Thanh đứng lặng trong góc râm của rặng tùng già gần đó, lặng lẽ quan sát từng gương mặt nhợt nhạt, từng giọt nước mắt rơi vội, từng ánh mắt vô vọng và bi phẫn chung quanh.

Gió núi thổi qua tà áo thô xám của cậu, mang theo hương vị ẩm ướt của đất và lá mục. Ký ức của những ngày đầu tiên bước chân lên núi Vân Phong bỗng ùa về rõ mồn một trong tâm trí, sắc nét như vừa mới xảy ra ngày hôm qua.

Ngày ấy, tại quảng trường Trấn Thanh Khê ngập tràn sương núi buốt giá, hàng ngàn thiếu niên đứng chen chúc chờ đợi vận mệnh của mình. Cậu cũng từng đứng trơ trọi giữa muôn người khi bàn tay đặt lên Tầm Linh Châu mà viên ngọc quý chỉ phát ra thứ ánh sáng đục ngầu, mờ mịt rồi tắt lịm. Cậu nhớ như in từng lời phán xét lạnh lùng, vô cảm của Trần Chấp Ngôn vang lên giữa quảng trường, dập tắt mọi ước mơ ấp ủ từ lò rèn quê nhà: *Ngũ hành tạp linh căn hỗn độn, kinh mạch bế tắc, vô duyên với đại đạo.*

Cậu nhớ cả những ngày tháng đầu tiên bị ném vào Sân Lá Rụng, nếm trải cảm giác tuyệt vọng đến cùng cực khi đối diện với cuốn «Dẫn Khí Thập Nhị Khẩu Quyết». Cậu từng cố ép mình luyện theo lối chính thống của tông môn, cố nuốt trọn từng câu khẩu quyết mà người đời ca tụng, để rồi ngũ hành trong cơ thể xung khắc dữ dội, cắn xé kinh mạch như ngàn vạn mũi kim châm, khiến cậu thổ huyết ngã gục trên nền đá lạnh buốt giữa đêm khuya thanh vắng, không một ai hay biết, không một ai xót thương.

Nếu ngày đó Quý lão không tình cờ buông một câu điểm hóa bâng quơ bên ấm trà nguội, nhắc nhở cậu về nhịp búa đập sắt của người thợ rèn... Nếu cậu không tự mình cắn răng chịu đựng đau đớn, tự mày mò tìm cách nương theo ngũ hành tự nhiên qua từng nhát chổi quét lá trúc, từng gầu nước nặng trĩu gánh từ giếng sâu... thì giờ này có lẽ Lục Thanh cũng chỉ là một kẻ tàn phế kinh mạch, hoặc đã trở thành một nắm xương tàn bị tống khứ xuống núi từ lâu.

Con đường tu luyện chính thống của tông môn vốn được vạch ra cho những thiên tài ngậm thìa bạc, những kẻ sinh ra đã có linh căn tinh thuần, kinh mạch rộng mở thênh thang. Nó được xây dựng trên sự ưu việt của số ít, và nó chưa bao giờ—dường như vĩnh viễn không bao giờ—được thiết kế cho những người bình thường mang trong mình tạp căn hỗn độn. Thể chế ấy xem những người như Mộc An, như những phu mỏ, như người thợ giặt giũ kia là cặn bã, là vật hy sinh để nuôi dưỡng đỉnh cao của số ít người.

"Lục Thanh..." Mộc An khẽ giật giật góc áo cậu, giọng chán nản và mệt mỏi cùng cực. "Đi thôi. Đứng đây nhìn chỉ tổ thêm nghẹn họng, lát nữa trễ giờ tưới thuốc ở Dược Viên lại bị quản sự trừ thêm nửa điểm công tích thì khốn."

Lục Thanh không quay đầu lại ngay. Cậu nhìn một lượt những đệ tử tạp dịch đang co ro trong manh áo mỏng vá chằng vá đụp, nhìn những bàn tay nứt nẻ vì sương gió buốt giá, nhìn sự cam chịu đang dần giết chết ngọn lửa trong mắt họ. Cậu hít một hơi thật sâu, luồng không khí lạnh buốt tràn vào phổi, nhưng trong lồng ngực, nơi đan điền ngũ hành đang vận chuyển hài hòa, một ngọn lửa nhỏ bỗng âm thầm nhen nhóm, ấm áp và kiên định lạ thường.

"Mộc An, về thôi. Về Tàng Kinh Các."

***

Khoảng sân sau Tàng Kinh Các vắng vẻ khác thường. Nơi đây tách biệt hoàn toàn với sự ồn ào náo nhiệt của tiền viện và các giảng đường lớn. Những bậc thềm đá xanh dẫn lên chân tháp bám đầy rêu phong cổ kính, râm mát dưới bóng râm che phủ của những tán thông già trăm năm tuổi. Tiếng lá thông reo vi vu hòa cùng tiếng chim rừng hót thánh thót tạo nên một không gian tĩnh mịch, trầm mặc.

Lục Thanh bước tới, ngồi xuống bậc thềm đá thứ ba—chỗ ngồi quen thuộc mỗi buổi trưa sau khi quét dọn xong. Cậu tháo chiếc túi vải thô đã sờn rách đeo sau lưng xuống, cẩn thận mở nẹp tre, lấy ra một tập giấy dó dày dặn được đóng gáy cẩn thận bằng chỉ gai mộc mạc.

Đó là tập ghi chép mà cậu đã tỉ mẩn viết trong suốt hơn một tháng qua. Từng trang giấy được viết dưới ánh đèn dầu le lói của gian phòng chép sách ngầm dưới lòng đất, nơi không khí nồng mùi mực tàu và giấy cũ.

Trên mặt giấy ráp màu vàng ngà, không hề có những câu khẩu quyết thâm sâu bí hiểm trích từ kinh điển thượng thừa, cũng không có những từ ngữ hoa mỹ, huyền ảo về "đạo", về "kiếm ý" hay "hư vô" cao xa vời vợi. Thay vào đó là những nét mực đen chân phương, nét chữ cứng cáp, gãy gọn như những nhát đục trên đá, ghi lại từng chi tiết cụ thể đến mức trần trụi: nhịp hít vào khi hạ búa xuống mặt đe, nhịp thở ra khi nâng chổi quét một vệt dài trên sân gạch, cách thả lỏng khớp vai và xoay nhẹ khớp hông khi gánh hai thùng nước đầy leo dốc đá, và quan trọng nhất—cách mượn lực phản chấn của mặt đất truyền qua huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân để dẫn dòng Thổ linh khí trầm tĩnh xoa dịu dòng Hỏa khí nôn nóng, bốc đồng trong lồng ngực.

"Cầm lấy đi." Lục Thanh đưa tập giấy cho Mộc An.

Mộc An ngơ ngác chớp mắt, hai tay lúng túng đón lấy tập giấy còn vương mùi thảo mộc và mực tươi: "Cái gì thế này? Kiếm phổ à? Ngươi lén chép trộm từ trong các ra sao? Không được đâu Lục Thanh, môn quy phạt nặng lắm đấy! Nếu bị phát hiện lén truyền kiếm phổ ra ngoài, nhẹ thì đánh gãy hai tay phế bỏ tu vi, nặng thì bị trục xuất khỏi tông môn ngay lập tức!"

"Không phải kiếm phổ của tông môn," Lục Thanh mỉm cười, lắc đầu điềm tĩnh. "Đây là những thứ ta tự ghi chép lại từ những ngày quét Sân Lá Rụng và gánh nước giếng tây. Ngươi mang tứ linh căn khuyết Kim, mỗi lần dùng sức cuốc đất hay vận khí tưới thúc cho thảo dược ở Dược Viên thường hay bị hụt hơi ở đan điền, sau đó lồng ngực tức tối, đúng không?"

Mộc An trừng lớn hai mắt, há hốc mồm nhìn Lục Thanh như nhìn thấy quái vật: "Sao... sao ngươi biết rõ như vậy? Chuyện này ta chưa từng kể với ai cả! Mỗi lần ta cố vận linh lực để tưới thúc cho mẫu Dạ Ninh Thảo cấp một, lồng ngực cứ nghẽn lại như có một tảng đá ngàn cân đè nặng, thở không ra hơi, sau đó kinh mạch bắp tay đau nhức dữ dội suốt cả đêm, đến mức cầm đôi đũa ăn cơm cũng run rẩy!"

"Bởi vì ngươi đang dùng phương pháp điều tức của người mang đơn linh căn mà các giáo tập Kiếm Đường truyền dạy," Lục Thanh từ tốn giải thích, ngón tay thô ráp chỉ vào một hình vẽ người với các đường kinh mạch màu đỏ và đen được phác họa chi tiết trên trang giấy đầu tiên. "Giáo tập dạy nhập môn luôn bắt ép đệ tử phải dồn toàn bộ ý niệm gom khí về một mối ở Đốc mạch, sau đó dùng ý chí cưỡng ép nén thẳng xuống Đan điền. Với những người có linh căn thuần túy, kinh mạch thông suốt một chiều, linh khí chảy rất nhanh và êm thuận. Nhưng người mang tạp căn như chúng ta, các dòng khí mang thuộc tính khác nhau vốn dĩ có tốc độ và tính chất bài xích lẫn nhau. Khi bị ép dồn lại một chỗ trong một khoảng thời gian ngắn, chúng sẽ va chạm kịch liệt, sinh ra bế tắc cục bộ ở kinh mạch phế vị. Càng cố nén, khí càng nghẽn. Thay vì ép nó lại thành một khối, tại sao ngươi không chia nhịp nó ra?"

Lục Thanh đứng dậy, bước xuống nền đất bằng phẳng trước bậc thềm, làm mẫu một động tác chùng chân hạ tấn vô cùng giản dị. Đó không phải là tấn pháp hoa mỹ của kiếm tu, mà hệt như tư thế của một người thợ rèn đang đứng vững chãi trước đe sắt, hai chân bám chặt lấy mặt đất:

"Nhìn kỹ đây. Khi ngươi vung cuốc xuống, đó là lúc phát lực, tương ứng với thế Mộc sinh Hỏa. Lúc này tuyệt đối không được nín thở hay gồng cứng cơ ngực. Hãy thở nhẹ ra bằng mũi, buông lỏng đan điền hoàn toàn để phần trọc khí trôi tự nhiên xuống hai lòng bàn chân, tản vào lòng đất. Khi nhấc cuốc lên, kéo một hơi dài và sâu từ bụng dưới, tưởng tượng hai bàn chân như rễ cây, để Thổ khí từ đất bùn thẩm thấu ngược lên theo bắp chân, đi qua huyệt Dũng Tuyền, bù đắp và nâng đỡ cho phần Mộc khí vừa hao hụt. Ngươi thử đứng dậy làm theo nhịp thở này xem sao."

Mộc An nửa tin nửa ngờ, nhìn tập giấy trên tay rồi lại nhìn dáng đứng vững chãi của Lục Thanh. Cuối cùng, cậu ta đặt tập giấy lên bậc thềm, bước ra khoảng đất trống, hít một hơi rồi bắt đầu bắt chước động tác.

Ban đầu, Mộc An làm rất ngượng nghịu. Khớp vai cậu ta vẫn gồng cứng theo thói quen cũ, hơi thở đứt quãng, gấp gáp vì sợ sai. Nhưng Lục Thanh không hề sốt ruột. Cậu bước tới, dùng lòng bàn tay vỗ nhẹ vào đốt sống lưng thứ ba của Mộc An để chỉnh lại cột sống cho thẳng, khẽ ấn vào bả vai nhắc cậu ta hạ thấp trọng tâm, nới lỏng cơ bụng.

"Đừng dùng sức của cơ bắp để chống lại hơi thở. Thả lỏng ra. Tưởng tượng ngươi đang là một cái cây, cuốc đất không phải là việc nặng nhọc, mà là ngươi đang cắm rễ vào lòng đất." Giọng nói của Lục Thanh trầm ấm, mang theo một nhịp điệu bình ổn kỳ lạ, tựa như tiếng bễ lò rèn kẽo kẹt đều đặn trong đêm đông.

Dưới sự chỉ dẫn kiên nhẫn ấy, hơi thở của Mộc An dần dần chậm lại. Từng nhịp hít vào, thở ra bắt đầu hòa quyện với động tác vung tay hạ tấn giả định.

Một lần, hai lần, rồi mười lần hít thở liên tục trôi qua.

Khuôn mặt tròn trĩnh đang căng thẳng của Mộc An bỗng nhiên giãn ra một cách rõ rệt. Đôi mắt cậu ta trợn tròn, kinh ngạc nhìn xuống hai bàn tay mình, rồi đưa tay sờ lên lồng ngực:

"Kỳ lạ thật... Cảm giác nặng ngực biến đâu mất rồi! Khí hải không còn đau buốt âm ỉ như mọi khi nữa, ngược lại... ngược lại còn thấy âm ấm, nhẹ bẫng như vừa uống một ngụm trà gừng nóng vậy! Cả bắp tay cũng không còn cảm giác căng cứng xé rách nữa!"

"Đó là vì ngũ hành tương sinh tự nhiên thuận theo trời đất," Lục Thanh mỉm cười, bước lại ngồi xuống bậc thềm đá mát lạnh. "Lao dịch không phải là cực hình trừng phạt, nếu biết cách nương theo nó, thì từng gầu nước kéo lên, từng nhát cuốc bổ xuống đều là một lần vận chuyển chu thiên hoàn chỉnh. Ngươi giữ lấy bản chép này mà luyện tập mỗi ngày. Sau này nếu thấy có ích, hãy chia sẻ cho mấy đồng môn quen biết cùng cảnh ngộ ở Dược Viên và Tạp Dịch Xử nữa. Chúng ta không có đủ điểm công tích để vào Tụ Khí Thất xa hoa của bọn họ, nhưng chúng ta có đôi bàn tay này, có công việc hàng ngày của chính mình làm lò luyện."

Mộc An nhìn tập giấy dó mỏng manh nhưng chứa đựng tâm huyết to lớn trên tay, rồi nhìn thiếu niên thợ rèn đang ngồi bình thản trước mặt. Cổ họng cậu ta nghẹn đắng, sống mũi cay xè:

"Lục Thanh... ngươi có biết thứ này đáng giá đến mức nào không? Ngoài kia, đám đệ tử thế gia bán một viên Tụ Khí Đan phẩm chất kém nhất, lẫn đầy tạp chất cũng hét giá tới năm mươi linh thạch hạ phẩm. Còn thứ phương pháp này của ngươi... nó có thể cứu mạng bao nhiêu người mang tạp căn đang bế tắc, vậy mà ngươi... ngươi lại đem cho không ta thế này sao?"

Lục Thanh thản nhiên nhìn những rặng trúc đung đưa trong gió thu, ánh mắt trong trẻo phản chiếu nền trời xanh ngắt:

"Tri thức sinh ra là để tìm kiếm con đường sống. Tri thức để cứu người qua cơn hoạn nạn, nếu đem ra cân đong đo đếm bằng điểm công tích hay linh thạch, thì có khác gì quy chế tàn nhẫn, áp bức của Trần giáo tập và Chấp Sự Viện?"

"Nói hay lắm."

Một giọng nói thanh lãnh, trong trẻo như tiếng ngọc va vào đá bỗng nhiên vang lên từ phía sau khúc quanh hành lang bằng gỗ thông.

***

Lục Thanh và Mộc An giật mình quay phắt lại.

Từ sau bóng râm xanh mát của rặng trúc già, một bóng hình quen thuộc chậm rãi bước ra. Thiếu nữ mặc bộ đạo bào màu lam nhạt viền trắng gọn gàng, vạt áo cài khuy ngay ngắn đúng quy củ của Điện Khảo Công. Nàng mang theo bên hông một chiếc tráp gỗ mun chạm khắc tinh xảo đựng la bàn trận pháp và vài thanh thước đo linh văn bằng đồng thau, mái tóc đen mượt được buộc cao bằng dải lụa xanh biếc, để lộ vầng trán cao thông tuệ cùng khuôn mặt thanh tú toát lên vẻ nghiêm cẩn, cẩn trọng thường thấy.

Chính là Ninh Tố Tâm.

Nhìn thấy nàng, Mộc An lập tức hoảng hốt, hai má đỏ ửng lên vì xấu hổ và lo sợ. Cậu ta quýnh quáng giấu vội tập giấy dó ra sau lưng như một đứa trẻ làm việc xấu bị người lớn bắt quả tang tại trận, ấp úng nói không nên lời:

"Ninh... Ninh sư tỷ! Tỷ... sao tỷ lại ở đây? Không phải hôm nay tỷ phải cùng các vị chấp sự kiểm tra trận đồ giám định lực đạo ở Kiếm Bình sao?"

Ninh Tố Tâm không hề để ý đến sự bối rối vụng về của Mộc An. Đôi mắt phượng trong veo và sắc sảo của nàng dừng lại trên tập giấy thô sơ mà cậu ta đang cố giấu sau lưng. Nàng bước từng bước nhẹ nhàng qua bậc thềm đá rêu phong, tà áo khẽ lay động, mang theo hương thơm thanh khiết của mực thảo mộc và bột chu sa thoang thoảng trong gió thu:

"Hôm nay đến phiên ta đi kiểm tra định kỳ hệ thống trận văn phòng hỏa trên các giá sách tầng một của Tàng Kinh Các. Tình cờ đi ngang qua hành lang phía sau này, nghe thấy hai người nói chuyện."

Nàng dừng lại cách hai người chừng ba bước chân, khẽ nghiêng đầu nhìn Lục Thanh, ánh mắt hiện lên vẻ tò mò sâu sắc:

"Vừa rồi ngươi nói... nương theo lao dịch hàng ngày để vận chuyển chu thiên ngũ hành? Lại còn mượn lực phản chấn của huyệt Dũng Tuyền để bổ trợ kinh mạch? Có thể cho ta xem tập ghi chép đó một chút được không?"

Mộc An run rẩy nhìn sang Lục Thanh với ánh mắt đầy vẻ lo âu và cầu cứu. Trong mắt đệ tử tạp dịch, người của Điện Khảo Công luôn đại diện cho quy củ, cho luật lệ khắt khe của tông môn. Việc tự ý sáng tạo và truyền bá phương pháp tu luyện không qua phê duyệt của Chấp Sự Viện hoàn toàn có thể bị quy vào tội truyền bá tà pháp hoặc làm loạn môn quy.

Thế nhưng, Lục Thanh chỉ khẽ mỉm cười, ánh mắt bình thản gật đầu, ra hiệu cho Mộc An đưa tập giấy ra. Đối với Ninh Tố Tâm, từ sau lần cùng nhau dùng đòn bẩy cứu giá sách ngàn cân sắp sập trong tầng ngầm Tàng Kinh Các, cho đến vụ nổ hộ tâm phù đầy uẩn khúc ở Kiếm Bình, Lục Thanh luôn có một niềm tin vững chắc vào sự công tâm, tính cách ngay thẳng và niềm đam mê học thuật thuần khiết của nàng. Nàng là người duy nhất ở tông môn này nhìn nhận mọi việc bằng đôi mắt của một người thợ thủ công chân chính, chứ không phải bằng định kiến linh căn.

Mộc An ngập ngừng một thoáng rồi cũng rụt rè chìa tập giấy dó ra phía trước.

Ninh Tố Tâm khẽ gật đầu cảm ơn, nhận lấy tập giấy. Đôi ngón tay thon thả, trắng trẻo nhẹ nhàng lật giở từng trang giấy thô ráp màu vàng ngà. Ban đầu, ánh mắt nàng chỉ mang vẻ tò mò thuần túy của một khảo sát viên chuyên đi thẩm định các bản thảo linh văn. Nhưng càng lật giở sang các trang sau, đôi mày thanh tú của nàng càng nhíu chặt lại, hơi thở vô thức trở nên dồn dập hơn.

Ánh mắt nàng dán chặt vào từng nét vẽ nguệch ngoạc, từng dòng chú thích mộc mạc, chuyển dần từ vẻ kinh ngạc tột độ sang sự thán phục sâu sắc không thể che giấu.

"Nét vẽ vụng về, cách dùng từ cũng toàn là khẩu ngữ thô kệch của phường thợ rèn..." Ninh Tố Tâm lẩm bẩm một mình, nhưng thanh âm trong trẻo lại run lên một nhịp rất khẽ, khó mà nhận ra nếu không chú ý. "Thế nhưng... điểm phát lực ở huyệt Lao Cung khi cầm chổi lại hoàn toàn trùng khớp với góc độ chuyển tiếp linh lực trong Bát Quái Trận Khảm - Cấn. Còn

"...cách hạ trọng tâm này... nó giải tỏa triệt để áp lực nén lên kinh mạch Phế Kim, chuyển hóa thành lực đẩy cho Tỳ Thổ..."

Ninh Tố Tâm thốt lên, thanh âm vốn dĩ luôn giữ chừng mực của một khảo sát viên bỗng vỡ ra một thoáng rung động. Nàng ngẩng phắt đầu lên nhìn Lục Thanh, đôi mắt vốn phẳng lặng như mặt hồ đầu đông nay rực sáng như hai vì sao giữa trời đêm:

"Ngươi tự mình nghĩ ra toàn bộ những thứ này sao?"

Lục Thanh khẽ lắc đầu, nụ cười trên môi mang theo vẻ mộc mạc chất phác của một thiếu niên lớn lên bên bễ than:

"Một nửa là kinh nghiệm rèn sắt mà cha ta truyền lại thuở nhỏ, một nửa là do ta tự mày mò trong những ngày quét lá ở Sân Lá Rụng. Ta chỉ thấy nếu làm theo cách thông thường của các giáo tập giảng giải—ép thẳng lưng, ngưng thần tụ khí vào đan điền rồi dùng lực cánh tay để quét dọn hay vác nặng—thì người mang tạp căn như ta và Mộc An sẽ lập tức bị đau thắt ngực, khí tức nghẽn lại ở chấn thủy. Ta thử đổi góc độ phát lực, hạ thấp eo, lấy lực từ lòng bàn chân truyền qua gối rồi mới dẫn lên cổ tay xem sao, không ngờ lại thấy lồng ngực thông thoáng, hơi thở dễ chịu hơn rất nhiều."

"Không chỉ là dễ chịu hơn đâu," Ninh Tố Tâm nghiêm túc nói, giọng điệu bất giác trở lại với sự sắc bén, cẩn mật mang đậm tính chuyên môn của đệ tử Điện Khảo Công. "Ngươi có biết ngươi vừa làm được điều gì không? Ngươi đã vô tình giải quyết được một bài toán hóc búa mà các vị chấp sự viện nghiên cứu trận pháp cùng diễn võ đường bấy lâu nay luôn ngó lơ. Bọn họ sinh ra với thiên linh căn, dị linh căn, từ nhỏ đã quen dùng linh lực thuần khiết hùng hậu để cưỡng ép thông quan, lấy lực đè pháp. Khi biên soạn nhập môn quy tắc, bọn họ chỉ mải mê tối ưu hóa đường đi của linh khí cho những kẻ có thiên phú tuyệt đỉnh, dùng linh lực thuần túy để áp chế sự xung đột của trận văn và cơ thể, mà hoàn toàn quên mất một điều căn bản nhất: cơ thể con người vốn dĩ là một tiểu thiên địa ngũ hành."

Nàng đứng dậy, bước nửa bước quanh bậc thềm, ngón tay vẫn miết nhẹ lên mép giấy ráp:

"Kẻ mang ngũ hành tạp căn thì linh khí vốn hỗn loạn, thuộc tính tương khắc lẫn nhau ngay trong huyết mạch. Nếu bắt họ vận khí theo lối cương mãnh của đệ tử đơn linh căn, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào chảo lửa, khiến kim khắc mộc, thủy dập hỏa, kinh mạch không rách nát mới là chuyện lạ. Phương pháp này của ngươi... tính thực tế cực kỳ cao, lại vô cùng an toàn vì nó không cưỡng cầu dẫn khí từ hư không, mà vận động đồng bộ giữa cơ bắp, xương khớp và nhịp thở tự nhiên. Cơ thể cử động đến đâu, khí huyết nương theo đến đó, mượn ngoại lực của lao dịch để nắn chỉnh nội khí!"

Nói đoạn, nàng không hề câu nệ sự dơ bẩn của bùn đất sau cơn mưa, dứt khoát ngồi xổm xuống ngay bên bậc thềm đá xanh. Nàng đặt chiếc tráp gỗ mun nhỏ nhắn mang bên mình lên đùi, ngón tay thon thả thuần thục gạt then cài bằng đồng thau. Nắp tráp mở ra, để lộ những ngăn nhỏ xếp ngay ngắn các loại dụng cụ khảo sát tinh xảo: thước đo kinh vĩ bằng ngọc, la bàn trận pháp thu nhỏ, cùng ba cây bút lông trận pháp đầu nhọn hoắt và một lọ mực chu sa đỏ thẫm chuyên dùng để vẽ linh phù định vị.

"Tuy nhiên, tập ghi chép này của ngươi có một nhược điểm rất lớn." Ninh Tố Tâm ngước nhìn Lục Thanh, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên trang giấy dó thô kệch. "Ngươi viết hoàn toàn theo bản năng và thói quen của một người thợ rèn: 'hạ búa ba phần lực', 'giữ than đỏ hồng', 'thở đều như kéo bễ'... Đối với ngươi, những khái niệm đó hiển nhiên như cơm ăn nước uống mỗi ngày. Nhưng người ngoài đọc vào sẽ chẳng thể nào hiểu nổi bễ lò rèn kéo thế nào là đều, độ nặng của búa sắt ba phần lực là nặng bao nhiêu cân, than đỏ hồng là độ nhiệt ra sao. Những đệ tử ngoại môn khác xuất thân làm nông, làm thợ may, hay những người phụ việc cắt tỉa dược thảo như Mộc An, khi cầm tờ giấy này lên sẽ hoàn toàn mờ mịt, rất khó để nắm bắt chính xác độ nông sâu của từng hơi thở."

Mộc An đứng bên cạnh nghe vậy thì gật đầu lia lịa như gà mổ thóc, khuôn mặt tròn trĩnh lộ rõ vẻ đồng tình sâu sắc:

"Đúng! Đúng là như vậy đó Ninh sư tỷ! Ban nãy Lục Thanh phải đứng sát bên cạnh, cầm tay nắn từng ngón, chỉnh từng thế chân, nhắc ta hít vào thở ra từng nhịp ta mới lờ mờ cảm nhận được luồng hơi ấm chạy dưới rốn. Chứ lúc đầu nhìn mấy chữ 'thở như kéo bễ' của hắn, đầu óc ta cứ quay mòng mòng, chẳng biết phải phình bụng hay thót ngực ra sao cả!"

"Vậy nên, cần phải chuẩn hóa nó bằng sơ đồ kinh mạch tuần hoàn."

Ninh Tố Tâm dứt khoát nói. Nàng lấy ra một tờ giấy dó trắng tinh, phẳng phiu từ đáy tráp, trải rộng lên bề mặt nắp gỗ mun nhẵn bóng. Nàng dùng đầu ngón tay khéo léo mở nút lọ chu sa, chấm nhẹ mũi bút lông vào thứ mực đỏ thẫm sóng sánh ánh kim thô. Bàn tay nàng trắng muốt, thon dài, khi cầm bút lại toát lên vẻ vững chãi lạ thường, các khớp xương cổ tay uyển chuyển lướt đi thoăn thoắt trên mặt giấy trắng.

Ngòi bút mảnh mai như râu tôm lướt đi không một tiếng động. Chỉ trong khoảng mười mấy hơi thở ngắn ngủi, dưới ngòi bút sắc sảo của nàng, hình vẽ một nhân thể đồ giản lược nhưng chuẩn xác đến từng phân tấc đã hiện lên rõ mồn một. Nàng không vẽ rườm rà ngũ tạng hay toàn bộ ba trăm sáu mươi lăm đại huyệt, mà chỉ chấm phá khung xương then chốt. Kế đó, bằng những nét mực chu sa đỏ tươi mảnh như sợi tơ nhện, nàng vạch ra các lộ tuyến khí tức, kèm theo những mũi tên nhỏ li ti định hướng rõ ràng cho từng luồng chuyển dịch.

"Đây là sơ đồ tuần hoàn ba nhánh cơ bản," Ninh Tố Tâm vừa thoăn thoắt đưa bút vừa giải thích, giọng nói khẽ hạ thấp xuống một tông đầy cẩn trọng, như sợ gió núi cuốn lời nói bay xa. "Ta dựa trên mô hình phân tán áp lực linh lực mà Điện Khảo Công chúng ta vẫn thường dùng để bảo vệ các trận thạch trung tâm khỏi nguy cơ nứt vỡ khi quá tải... Nhìn vào đây, ta đã lược bỏ toàn bộ những nhánh kinh mạch phụ phức tạp và dễ gây rối loạn. Ta chỉ giữ lại một vòng tuần hoàn an toàn nhất, tạo thành tam giác khép kín qua ba điểm mấu chốt: huyệt Khí Hải ở đan điền, huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân, và huyệt Lao Cung nơi lòng bàn tay. Người không có căn cơ thâm hậu, chưa từng được học qua kinh lạc đồ của tông môn, chỉ cần nhìn vào hình vẽ này là có thể hiểu ngay điểm bắt đầu phát lực, điểm luân chuyển khí tức, và nơi luồng khí dừng lại lắng xuống."

Lục Thanh nín thở, chăm chú dán mắt vào từng nét vẽ chu sa đang dần khô lại trên mặt giấy trắng. Từng đường nét, từng góc gấp khúc của ngòi bút dường như đang khai thông những nút thắt mơ hồ trong tâm trí cậu. Nét vẽ chuẩn xác và tư duy hình học của Ninh Tố Tâm đã bổ khuyết một cách hoàn hảo cho những chỗ vụng về, khiếm khuyết xuất phát từ kinh nghiệm mò mẫm bản năng của một người thợ rèn. Những cảm giác vô hình, những kinh nghiệm truyền miệng mông lung nay đã được chuyển hóa thành những quy luật thị giác mạch lạc, rõ ràng, dễ tiếp cận hơn gấp trăm lần.

Thế nhưng, nhìn những ký hiệu phân bổ áp lực đặc thù cùng cách đánh dấu phân lưu trận pháp trên tờ giấy, Lục Thanh chợt giật mình nhận ra một điều. Nàng đang dùng chính những cấu trúc giải tỏa linh áp tối mật—vốn chỉ được lưu hành nội bộ trong các tài liệu khảo sát công trình của Điện Khảo Công—để ghép vào cơ thể người.

Đây là điều cấm kỵ. Các đường lối trận pháp của tông môn đều có ấn ký bảo mật, việc tự ý trích xuất nguyên lý để truyền thụ ra bên ngoài, dù là cho đệ tử đồng môn, hoàn toàn có thể bị Chấp Sự Viện khép vào tội tiết lộ bí thuật.

"Ninh cô nương..." Lục Thanh ngập ngừng, giọng trầm xuống đầy ái ngại. "Những sơ đồ phân tán áp lực này... đều là kiến thức thuộc hệ thống lưu trữ của Điện Khảo Công. Tỷ đem ra dùng thế này, lại còn chuẩn hóa cho đệ tử tạp dịch tu luyện, liệu... liệu có vi phạm môn quy không? Nếu Chấp Sự Viện hay Hình Đường tra xét tới..."

Ngòi bút lông trên tay Ninh Tố Tâm khẽ khựng lại giữa không trung trong một nhịp thở rất nhỏ. Một giọt chu sa đỏ tươi đọng lại nơi đầu bút, nhưng nàng không hề run rẩy. Nàng hạ bút, dứt khoát hoàn thành nét vẽ cuối cùng nối về huyệt Khí Hải, rồi mới ngẩng đầu lên. Ánh mắt nàng nhìn thẳng vào Lục Thanh—một ánh nhìn trong trẻo, kiên định và lạnh lùng như lưỡi dao thép vừa tôi qua nước lạnh, không hề có lấy một tia do dự hay nao núng:

"Môn quy của tông môn lập ra từ buổi sơ khai là để bảo vệ, hướng dẫn và bồi dưỡng đệ tử, chứ không phải để dựng lên những rào chắn vô lý nhằm bóp nghẹt đường sống của những người đang ngày đêm dốc lòng nỗ lực. Giáo tập Trần Chấp Ngôn có thể vin vào quyền hạn của Kiếm Đường để tự ý tăng gấp đôi định mức điểm công tích, công khai tuyên bố muốn dùng kỳ khảo hạch này để 'thanh lọc những kẻ trì trệ, loại bỏ rác rưởi không có tiền đồ'. Vậy thì ta—với tư cách là một khảo sát viên chính thức của Điện Khảo Công—cũng hoàn toàn có quyền ứng dụng kiến thức cân bằng lực và trận pháp vào đời sống thực tế, nhằm bảo đảm an toàn thân thể cho đồng môn trong quá trình lao dịch nặng nhọc. Ta chỉ đang giúp họ không bị gãy xương, không bị thổ huyết khi làm việc cho tông môn. Nếu có ai muốn bắt bẻ, cứ để bọn họ đến Điện Khảo Công tìm ta chất vấn."

Lời nói của nàng bình thản nhưng đanh thép, mang theo cái ngông nghênh ngầm của một học giả chân chính, người chỉ tôn trọng chân lý và sự thật chứ không cúi đầu trước quyền uy giáo điều.

***

Ánh hoàng hôn dần buông xuống, nhuộm một màu đỏ ối như máu lên khắp các sườn núi phía tây Vân Phong. Những rặng mây ráng đỏ rực rỡ phản chiếu xuống những mái ngói rêu phong của các điện thờ nguy nga phía trên đỉnh núi, nhưng khi rọi xuống khoảng sân sau Tàng Kinh Các này, nó chỉ còn là những vệt sáng vàng vọt, ảm đạm len lỏi qua kẽ lá thông cằn cỗi. Gió núi cuối chiều bắt đầu nổi lên, mang theo hơi sương lạnh buốt thổi xào xạc qua những tán thông già xù xì, cuốn theo những đám lá khô bay là tà trên mặt đất.

Trên bậc thềm đá lạnh buốt, ba bóng người trẻ tuổi vẫn ngồi quây quần bên nhau. Ở giữa họ, những tờ giấy dó vẽ hình kinh mạch bằng chu sa đỏ rực cùng những dòng ghi chú bằng mực đen mộc mạc đã được phân loại, xếp ngay ngắn thành từng xấp nhỏ.

"Chỉ còn mười ngày nữa là đến kỳ khảo hạch ở Thung lũng Hồi Âm," Mộc An nhìn chăm chú vào những hình nhân thể đồ đỏ rực, hai bàn tay đan chặt vào nhau, trong ánh mắt vừa có sự bồn chồn lo lắng, lại vừa ánh lên một tia hy vọng mãnh liệt chưa từng thấy. "Nếu... nếu chúng ta thực sự có thể giúp những huynh đệ mang tạp căn khác nắm được phương pháp điều hòa hơi thở này, họ sẽ không còn bị vắt kiệt sức lực sau mỗi buổi vác đá, gánh nước. Họ có thể vừa làm việc vừa tích lũy từng chút linh lực nhỏ nhoi vào kinh mạch mà không cần phải nhịn ăn nhịn mặc để thuê Tụ Khí Thất đắt đỏ của tông môn nữa. Nhưng mà... Lục Thanh, tỷ Ninh, chúng ta phải làm cách nào để đưa những tờ giấy này đến tay họ? Hiện tại người của Kiếm Đường và Chấp Sự Viện tuần tra rất gắt gao, nếu để bọn họ bắt gặp chúng ta lén lút tụ tập truyền bá thứ này..."

"Chúng ta tuyệt đối không thể hành động đơn độc," Lục Thanh chậm rãi lên tiếng, giọng nói trầm ổn như tiếng đe gõ nhịp trong đêm. "Càng không thể để từng người bọn họ tiếp tục tự mò mẫm trong bóng tối như những kẻ cùng đường. Trần giáo tập muốn dùng điểm công tích cắt cổ và định kiến về linh căn để chia rẽ chúng ta, biến các đệ tử ngoại môn thành những kẻ vì tranh giành miếng ăn mà giẫm đạp lên nhau. Hắn muốn cô lập những người yếu thế, biến họ thành những kẻ bất lực tự nguyện bỏ cuộc. Cách duy nhất để chúng ta không bị nghiền nát dưới cỗ xe tàn nhẫn đó... là chúng ta phải đứng cạnh nhau, tựa lưng vào nhau mà bước."

"Ngươi muốn lập một nhóm học tập sao?" Ninh Tố Tâm nghiêng đầu nhìn cậu, khóe mắt lộ vẻ hứng thú.

"Phải," Lục Thanh gật đầu thật mạnh, ánh mắt nhìn thẳng về phía ráng chiều xa xăm. "Một nhóm kín đáo nhưng gắn kết, cùng nhau chia sẻ ghi chép, trao đổi kinh nghiệm thực chiến để đối phó với địa hình hiểm trở trong Thung lũng Hồi Âm. Chúng ta sẽ hỗ trợ nhau gom góp vật liệu, chia sẻ từng điểm cống hiến một cách chính trực, quang minh chính đại. Người xuất thân thợ rèn như ta có thể chỉ dẫn cách chịu lực của cơ bắp và nguyên lý va chạm; người phụ việc dược thảo như Mộc An có thể giúp mọi người nhận biết độc thảo, phối thuốc giải và điều dưỡng khi kiệt sức; còn người am hiểu cơ quan, địa hình và trận pháp như tỷ Ninh có thể giúp mọi người định hướng đường đi, nhận biết hiểm cảnh. Gom góp từng mảnh vụn yếu ớt lại, chúng ta sẽ có một tấm khiên đủ vững."

Mộc An nghe đến đâu, lồng ngực phập phồng đến đó. Cậu ta không kìm được xúc động, vỗ mạnh bàn tay chai sạn xuống đùi một cái bốp, phấn khích reo lên:

"Ý hay! Tuyệt vời lắm Lục Thanh! Vậy nhóm của chúng ta nên đặt tên là gì đây? Kiếm Minh nhé? Hay là... Nghịch Thiên Các? Nghe cho nó oai phong lẫm liệt, để đám đệ tử nội môn nghe thấy cũng phải giật mình!"

"Đừng đao to búa lớn như vậy," Lục Thanh bật cười, nụ cười hiền hậu làm dịu đi những đường nét khắc khổ, chai sạn trên gương mặt phong trần của cậu thiếu niên thợ rèn. "Chúng ta tụ họp lại đâu phải để nghịch thiên, cũng chẳng màng tranh đoạt danh vọng hay xưng bá với ai. Thiên đạo quá rộng lớn, còn chúng ta chỉ là những hạt bụi nhỏ nhoi. Chúng ta chỉ là những kẻ đồng cảnh ngộ, cùng chung một nỗi đau, muốn dìu dắt nhau bước đi trên con đường hẹp đầy chông gai này mà thôi."

Ninh Tố Tâm khẽ mỉm cười. Nàng đưa tay vuốt lại lọn tóc mai đang bị gió núi thổi bay lòa xòa trước trán, ánh mắt dịu lại, nhìn hai thiếu niên trước mặt:

"Vậy gọi là... Hội Đồng Hành đi. Khóe môi nàng thoáng nở một nụ cười hiếm hoi, thanh thoát như một nhành lan rừng nở muộn giữa vách đá: "Hội Đồng Hành—cùng chung chí hướng, cùng bước qua gian khó, không bỏ rơi bất kỳ ai chỉ vì thiên phú của họ tiến chậm hơn người khác. Dù đi nhanh hay đi chậm, chỉ cần còn muốn bước tiếp, thì luôn có người đồng hành bên cạnh."

"Hội Đồng Hành..." Mộc An lẩm bẩm nhắc lại từng chữ, rồi hai mắt sáng bừng lên như bắt được vàng. "Được! Tên này hay lắm tỷ ơi! Vừa mộc mạc, gần gũi, lại ấm áp vô cùng!"

Lục Thanh nhìn hai người bạn bên cạnh mình dưới ánh tà dương đang tắt dần. Trong lồng ngực cậu, một luồng nhiệt lưu ấm áp bỗng dâng trào, xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương của gió núi Vân Phong. Cùng lúc đó, thanh đoản kiếm gãy đúc bằng Tâm Minh Thiết đang được bọc vải bố cẩn thận sau lưng cậu dường như cũng cảm ứng được đạo tâm chân thật, kiên định không chút vụ lợi của chủ nhân, thân kiếm bên trong khẽ run lên một nhịp cực kỳ êm dịu, phát ra một tiếng ngân trầm thấp chỉ mình cậu nghe thấy.

Thế nhưng, ngay giữa khoảnh khắc niềm hân hoan vừa nhen nhóm ấy, một tiếng "rắc" giòn tan của cành cây khô gãy bất ngờ vang lên từ phía sau gốc tùng cổ thụ cách bậc thềm đá chừng vài trượng.

Âm thanh tuy nhỏ nhưng giữa khoảng sân vắng lặng chẳng khác nào một tiếng sét đánh ngang tai.

"Ai đó?!"

Ninh Tố Tâm lập tức biến sắc, phản ứng nhanh như chớp. Nàng đứng phắt dậy, bàn tay theo bản năng chụp thẳng vào chiếc la bàn trận pháp bằng đồng gắn bên hông, ánh mắt sắc như dao găm phóng thẳng về phía lùm cây rậm rạp dưới gốc tùng già.

Từ sau thân cây tùng xù xì mốc meo, một bóng người lúng túng lùi lại nửa bước. Kẻ đó dường như muốn quay đầu bỏ chạy, nhưng gót chân lại vướng vào rễ cây nhô lên trên mặt đất, khiến thân hình lảo đảo, buộc phải gượng gạo bước ra khỏi bóng tối.

Ánh tà dương đỏ quạch rọi nghiêng qua những kẽ lá thông thưa thớt, chiếu rõ mồn một vạt áo gấm lụa xa xỉ màu tím nhạt được thêu viền chỉ bạc, cùng chiếc ngọc bội chạm khắc hình hồ lô tụ bảo bằng ngọc bích tinh xảo đang đung đưa nơi thắt lưng của kẻ nọ.

Là Phùng Đại Xảo.

Gương mặt Phùng Đại Xảo lúc này méo mó, co giật một cách kỳ lạ. Những vết bầm tím và vết rách da do vụ nổ pháp khí ở Kiếm Bình vài ngày trước tuy đã được chữa lành nhờ những viên linh đan đắt tiền mua từ Chấp Sự Viện, nhưng sắc mặt cậu ta vẫn còn đôi phần tái nhợt, bủng beo. Cậu ta đứng chôn chân tại chỗ, đôi mắt ti hí trợn trừng nhìn chòng chọc vào những xấp giấy dó vẽ hình kinh mạch chu sa đỏ rực đang trải la liệt trên bậc thềm đá, rồi lại đảo mắt nhìn sang ba người Lục Thanh, Mộc An và Ninh Tố Tâm.

Trong ánh mắt đảo liên hồi của Phùng Đại Xảo, có sự khinh miệt quen thuộc, thâm căn cố đế của một thiếu gia nhà giàu lắm tiền nhiều của đối với đám cùng đinh bần hàn. Thế nhưng, sâu thẳm bên dưới sự khinh miệt giả tạo ấy, lại cuộn trào một nỗi ghen tị hằn học và bứt rứt không tài nào che giấu nổi.

Cậu ta ghen tị đến phát điên khi thấy Lục Thanh—một tên thợ rèn hạ đẳng mang ngũ hành tạp căn rác rưởi, kẻ mà cậu ta luôn coi là sâu kiến—lại có thể đường hoàng ngồi đàm đạo ngang hàng, cùng nhau nghiên cứu pháp môn với một nữ đệ tử nội môn xuất chúng, kiêu hãnh và thanh cao của Điện Khảo Công như Ninh Tố Tâm. Cậu ta bứt rứt và cay đắng nhận ra rằng, dù bản thân có ngập trong linh thạch, có nuốt hàng vốc linh đan thượng hạng, có khoác lên mình những thứ pháp khí hộ thân đắt giá nhất, thì chưa bao giờ cậu ta có được sự bình thản tự tại nơi ánh mắt của Lục Thanh, và càng không bao giờ có được những người bằng hữu sẵn sàng ngồi kề vai sát cánh, chia sẻ sinh tử một cách chân thành như thế.

Bắt gặp ánh nhìn thẳng thắn, không chút gợn sóng của Lục Thanh, Phùng Đại Xảo giật mình thót một cái. Cậu ta vội vã đưa tay chỉnh lại vạt áo gấm xộc xệch để lấy lại vẻ bề trên, hếch cằm lên thật cao, cố nặn ra một điệu cười khinh khỉnh đầy cay độc:

"Hừ! Ta tưởng là ai, hóa ra là một lũ tạp dịch hạ đẳng dơ dáy cấu kết với một ả khảo sát viên rỗi việc của Điện Khảo Công! Đêm hôm không lo đi gánh phân quét rác, lại tụ tập ở cái xó xỉnh ẩm thấp này lén lén lút lút mưu đồ chuyện xằng bậy gì? Đừng tưởng vẽ mấy cái hình nhân nguệch ngoạc, tà môn ngoại đạo đó mà qua mặt được tai mắt của các vị giáo tập Kiếm Đường! Để xem cái thứ gọi là 'Hội Đồng Hành' rách nát, chắp vá của các ngươi có thể cầm cự được mấy ngày trước kỳ khảo hạch Thung lũng Hồi Âm! Đến lúc bước vào bí cảnh, bị yêu thú xé xác hay bị đuổi cổ khỏi tông môn thì đừng có quỳ xuống chân ta mà van xin!"

Buông ra một tràng nguyền rủa hằn học xong, dường như sợ Ninh Tố Tâm ra tay trừng trị hoặc không chịu nổi ánh mắt bình thản đến lạnh lùng của Lục Thanh, Phùng Đại Xảo hậm hực quay ngoắt người, vung mạnh tay áo rồi rảo bước thoăn thoắt xuống chân dốc thoai thoải, bóng lưng vội vã như thể đang cố trốn chạy khỏi sự hèn kém đang bị phơi trần trong chính tâm can mình.

Mộc An nhìn theo bóng lưng gã, tức tối nhổ mạnh một bãi nước bọt xuống rãnh nước bên thềm đá:

"Nhổ vào! Cái tên trọc phú hợm hĩnh này, lúc nào cũng rình mò như chuột cống trong xó bếp! Chỉ giỏi cậy tiền đè người, nếu không có đống đan dược của cha hắn nhồi vào họng thì căn cốt của hắn cũng chẳng hơn gì một con lợn ỉ!"

"Kệ hắn đi," Lục Thanh điềm tĩnh ngồi xuống, cẩn thận thu dọn từng trang giấy dó lại thành một xấp ngay ngắn, ánh mắt phẳng lặng như giếng cổ. "Hắn nói gì, nghĩ gì không quan trọng. Chúng ta không làm điều gì khuất tất, không hại người đoạt của, chẳng có gì phải bận lòng hay hổ thẹn. Điều quan trọng duy nhất bây giờ là thời gian của chúng ta không còn nhiều nữa."

Ninh Tố Tâm nhìn bóng áo tím của Phùng Đại Xảo đã hoàn toàn khuất sau những rặng trúc xanh ngắt dưới chân đồi, khẽ thở dài một tiếng, đôi mày thanh tú hơi nhíu lại:

"Hắn tuy đê tiện, nhưng có một điều hắn nói không sai: thời gian của chúng ta chỉ còn vỏn vẹn mười ngày. Nếu muốn những người mang tạp căn kịp thích nghi với sơ đồ tuần hoàn này trước khi bước vào Thung lũng Hồi Âm, chúng ta buộc phải sao chép những bản thảo này ra ngay trong đêm nay để kịp phân phát."

***

Đêm khuya thanh vắng, sương lạnh mùa đông buông xuống dày đặc, phủ một lớp màng trắng mờ mờ lên những mái ngói cong cổ kính của Tàng Kinh Các và những ngọn thông cô độc trên vách đá.

Trong căn phòng nhỏ chật hẹp, tồi tàn nằm ở cuối dãy nhà gỗ dành cho đệ tử tạp dịch ngoại môn, một ngọn đèn dầu hạt lạc leo lét tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, ấm áp giữa màn đêm u tịch. Mùi dầu hăng hắc cháy khét nhè nhẹ quyện với hương thơm thanh đạm, hơi ngai ngái của ấm trà Dạ Ninh Thảo đang sôi lăn tăn, bốc khói nghi ngút trên chiếc bếp lò đất nung nhỏ đặt nơi góc tường.

Lục Thanh và Mộc An ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn gỗ thông thô ráp, mặt bàn loang lổ những vết dao khía và vết mực cũ mòn theo năm tháng.

Hai bóng người đổ dài lên vách nứa xiêu vẹo. Trong phòng không có tiếng trò chuyện ồn ào, chỉ có tiếng ngòi bút lông cọ sột soạt đều đặn trên mặt giấy dó thô ráp, cùng tiếng thở nặng nhọc cố kìm nén sau một ngày dài lao dịch cực nhọc. Ninh Tố Tâm trước khi quay trở về viện đệ tử nội môn ở sườn núi phía bắc đã cẩn thận để lại bản vẽ mẫu chuẩn xác nhất, cùng với một nghiên mực chu sa đặc chế của Điện Khảo Công—loại mực được pha chế bằng khoáng thạch nghiền mịn, có khả năng bám giấy cực chắc và không bao giờ bị nhòe mờ dù gặp phải sương đêm hay nước ẩm.

Mồ hôi lấm tấm rỉ ra trên sống mũi và vầng trán rộng của Mộc An. Cánh tay phải cầm bút của cậu ta sau nhiều canh giờ liền không ngơi nghỉ đã bắt đầu mỏi nhừ, run rẩy từng chặp. Cậu ta phải dùng tay trái bóp chặt lấy cổ tay phải để giữ cho ngòi bút không bị chệch hướng, nhưng đôi mắt nhỏ hẹp vẫn mở to, sáng quắc lên dưới ánh đèn dầu:

"Lục Thanh... bản này là bản thứ chín rồi. Ta vừa chép xong toàn bộ phần lưu ý về nhịp thở ngắt quãng khi vận chuyển đồ nặng cho người mang Thủy linh căn."

Lục Thanh cẩn thận gác cây bút lông thô của mình lên giá gỗ mộc, với tay cầm lấy bản thảo vừa ráo mực của Mộc An đưa lên gần ngọn đèn dầu. Cậu tỉ mỉ soi từng đường dẫn khí màu đỏ, kiểm tra cẩn thận từng điểm nút giao nhau nơi huyệt Khí Hải tỏa ra các nhánh kinh mạch phụ chạy xuống hai bên bắp chân:

"Rất tốt. Chữ viết tuy còn hơi nguệch ngoạc nhưng nét vẽ kinh lạc rất dứt khoát, các điểm nút cần nín thở và xả khí đều được khoanh tròn ba lớp cẩn thận. Mười bản thảo này, cộng với bản gốc của tỷ Ninh, tổng cộng là mười một bản. Rạng sáng mai, trước giờ Dần, khi sương mù dày nhất và đội tuần tra của Chấp Sự Viện đổi ca, chúng ta sẽ chia nhau đi luồn qua các dãy lán, nhét bí mật vào khe cửa phòng của những huynh đệ đang có nguy cơ bị đào thải cao nhất ở Tạp Dịch Xử và khu mỏ đá phía đông."

Mộc An nhìn chồng giấy dó vuông vức, phẳng phiu đã khô mực được xếp ngay ngắn ở góc bàn, khẽ thở phào một hơi dài trút bỏ gánh nặng. Cậu ta ngửa cổ ra sau, tựa trọn lưng vào vách nứa lạnh ngắt, hai mắt nhìn lên mái tranh ám khói bếp, lẩm bẩm với giọng điệu đầy bất an:

"Ngươi bảo... bọn họ sáng mai thức dậy, nhặt được thứ này ở bậu cửa, liệu có dám tin không? Liệu... liệu có ai dám liều mạng thử luyện theo một phương pháp vô danh không có ấn triện của Chấp Sự Viện thế này không?"

"Một người đang chới với giữa dòng nước xiết, toàn thân kiệt lực, chỉ cần nhìn thấy một khúc gỗ mục trôi ngang qua tầm tay thì dù là gỗ mục hay cành gai, họ cũng sẽ liều mình bám lấy để tìm một tia hy vọng sống sót," Lục Thanh chậm rãi rót một chén nước trà Dạ Ninh Thảo nóng hổi, đẩy nhẹ sang phía trước mặt bạn mình. Hơi nước ấm áp bốc lên, phản chiếu ánh mắt kiên định của cậu thiếu niên thợ rèn: "Huống chi, thứ chúng ta trao cho họ đêm nay không phải là một khúc gỗ mục vô căn cứ, mà là một chiếc bè cứu sinh được đóng bằng sự chân thành, bằng mồ hôi và cả sự an nguy của chính chúng ta."

Mộc An nhìn chén trà bốc khói, rồi nhìn sang gương mặt điềm tĩnh của Lục Thanh. Cậu ta bưng chén trà lên uống một ngụm lớn, cảm nhận dòng nước ấm xua đi cái buốt giá đang ngấm vào da thịt, trên môi nở một nụ cười mệt mỏi nhưng thanh thản lạ kỳ giữa đêm đông lạnh giá.

***

Sáng hôm sau, khi tiếng chuông đồng cổ kính trên đỉnh núi chính vừa gióng lên ba hồi ngân vang báo hiệu giờ Mão bắt đầu, màn sương mù dày đặc mang theo hơi lạnh buốt giá vẫn còn phủ kín những con đường mòn khúc khuỷu quanh co dẫn xuống các thung lũng ngoại môn.

Tại dãy nhà trọ lụp xụp, tồi tàn của đám đệ tử phụ trách khai thác mỏ đá ở góc đông nam chân núi, nơi tường vách nứt nẻ và gió lùa hun hút, những tờ giấy dó gấp tư ngay ngắn, bọc cẩn thận trong một lớp vải dầu chống ẩm đã lặng lẽ nằm yên trên bậu cửa sổ gỗ mục, hoặc kẹt chặt trong khe then cài của mười căn phòng nghèo nàn nhất.

Không một ai nhìn thấy người đưa thư là ai. Không có bất kỳ dấu hiệu hay chỉ dẫn nào về danh tính của người gửi. Trên góc mép ngoài cùng của lớp vải dầu, chỉ có vỏn vẹn bốn chữ viết bằng mực đen mộc mạc, nét chữ vuông vức, thẳng thắn như nhát búa đập trên đe sắt:

*Hội Đồng Hành gửi.*

Đến đầu giờ Thân ngày hôm đó, mặt trời đã lên cao quá đỉnh núi nhưng không xua tan nổi cái lạnh buốt của mùa đông. Thế nhưng, tại các khu vực lao dịch nặng nhọc nhất của ngoại môn—từ bãi chẻ đá xanh, xưởng cưa gỗ thiết mộc, cho đến những bậc thang dốc đứng dẫn nước lên đỉnh núi—một làn sóng ngầm kỳ lạ bắt đầu âm thầm lan truyền. Nó giống như những đốm than hồng âm ỉ cháy dưới lớp tàn tro lạnh ngắt, lặng lẽ nhưng mãnh liệt trong giới đệ tử ngoại môn thấp kém nhất.

Những người đầu tiên bạo gan làm theo hình vẽ kinh mạch trên tờ giấy dó đều ngỡ ngàng, bàng hoàng nhận ra sự biến chuyển kỳ diệu trong cơ thể mình. Khi họ hạ thấp eo theo góc độ đã vẽ, hít sâu bằng bụng dưới rồi mới dùng lực cơ bắp đẩy tảng đá ngàn cân, lồng ngực không còn đau nhói như bị kim châm nữa. Đôi chân vốn bủn rủn sau vài canh giờ làm việc nay lại vững chãi bám chặt vào mặt đất. Luồng linh lực hỗn tạp vốn luôn xung đột dữ dội trong kinh mạch của những kẻ mang tạp căn dường như đã tìm được một lối thoát hiểm an toàn, ngoan ngoãn chảy xuôi theo từng nhịp thở, không còn cắn xé tạng phủ của họ.

Niềm hy vọng tưởng chừng đã hoàn toàn lụi tàn trước kỳ khảo hạch khắc nghiệt nay bỗng chốc bùng cháy trở lại mãnh liệt hơn bao giờ hết trong mắt những kẻ cùng đường.

Thế nhưng, thế sự ở đời vốn dĩ chẳng bao giờ bằng phẳng và thuận buồm xuôi gió như người ta mong đợi. Con người khi đứng trước bờ vực diệt vong, lòng khao khát được sống sót đôi khi lại biến thành sự mù quáng nguy hiểm nhất.

Khoảng giữa giờ Dậu, khi những tia nắng cuối cùng vừa tắt ngấm sau rặng núi phía tây, ráng chiều sập xuống mang theo màn đêm đen đặc quánh, một tiếng kêu la thất thanh, xé lòng từ phía hành lang khu nhà trọ tạp dịch số ba bất ngờ xé toạc bầu không khí yên bình của buổi chạng vạng.

"Cứu người với! Có ai không, mau tới cứu người với! Trương Đống hộc máu ngất lịm rồi!"

Tiếng gào thét hoảng loạn vang vọng khắp sườn dốc.

Lục Thanh lúc này đang cùng Mộc An gánh đôi thùng nước rỗng trở về sau một ngày dài quét dọn và dọn dẹp tại chân núi Tàng Kinh Các. Vừa nghe thấy tiếng thét kinh hoàng phát ra từ dãy phòng số ba—nơi ở của những đệ tử phụ việc tưới tiêu—hai mắt Lục Thanh co rút lại. Cậu dứt khoát buông phịch đòn gánh xuống đất, hai chiếc thùng gỗ lăn lông lốc bên vệ đường, rồi cùng Mộc An điên cuồng lao thục mạng ngược dốc về phía phát ra âm thanh hỗn loạn.

Trước cửa căn phòng số ba ọp ẹp, bảy tám đệ tử tạp dịch mặt mày cắt không còn hột máu đang vây kín thành một vòng tròn hỗn loạn. Không một ai dám bước tới gần, tất cả đều run rẩy chỉ trỏ vào thân ảnh đang nằm co quắp, giãy giụa dữ dội trên nền đất ẩm ướt đầy bùn đất.

Đó là Trương Đống.

Trương Đống là một đệ tử ngoại môn đã ở lại tông môn gần bốn năm, chuyên phụ trách việc gánh nước từ suối sâu lên đỉnh núi để tưới cho các vườn dược thảo tại Linh Thú Uyển. Cậu ta vốn mang thể chất thiên về Thủy linh căn, nhưng bẩm sinh Phế kinh lại bị khuyết tật, kinh mạch nhỏ hẹp chỉ bằng một nửa người thường, khiến hơi thở lúc nào cũng khò khè, đoản hơi.

Lúc này, cảnh tượng trước mắt khiến bất cứ ai nhìn vào cũng phải rùng mình ớn lạnh.

Toàn thân Trương Đống đang co giật từng hồi kịch liệt như một con cá bị ném lên chảo lửa. Khuôn mặt cậu ta xám ngoét như tro tàn, hai tròng mắt trợn ngược lên tận nóc, chỉ còn trơ lại lòng trắng dại dại. Từ khóe miệng và hai lỗ mũi cậu ta, máu tươi đỏ thẫm lẫn bọt mép trào ra òng ọc, nhuộm đỏ cả vạt áo vải thô rách rưới.

Điều kinh hoàng hơn cả là trên bề mặt da thịt trần trụi ở cổ, mu bàn tay và hai cánh tay gầy guộc của cậu ta, những đường gân máu và kinh mạch màu xanh đen đang phồng rộp lên cuồn cuộn, giật nảy tanh tách như những con giun đất khổng lồ đang ngọ nguậy đòi xé toạc lớp da chui ra ngoài! Từ lồng ngực cậu ta tỏa ra những luồng hàn khí buốt giá đến mức đóng thành một lớp sương mỏng trên cổ áo, nhưng ngược lại, từ đỉnh đầu và hai bên thái dương, từng làn khói nhiệt hỏa khí lại bốc lên nghi ngút, tạo nên một sự xung đột âm dương dị thường, tà dị đến tột cùng!

Và ngay bên cạnh bàn tay đang co quắp, cào cấu xuống nền đất bùn của Trương Đống, một tờ giấy dó bọc vải dầu đã bị xé rách tả tơi đang nằm vương vãi trong vũng nước đục ngầu. Trên trang giấy ướt sũng, những nét vẽ hình nhân bằng chu sa đỏ tươi của Hội Đồng Hành vẫn còn hiện rõ mồn một dưới ánh chiều tà.

"Hắn... hắn vừa mới nhận được tờ hướng dẫn này sáng nay thôi!" Một đệ tử cùng phòng đứng bên cạnh sợ hãi đến mức hai hàm răng va vào nhau lập cập, giọng lắp bắp nghẹn ngào trong cổ họng. "Hắn muốn nhanh chóng tích tụ đủ linh khí để gánh thêm mười chuyến nước nữa... hắn muốn kiếm đủ năm mươi điểm công tích trước kỳ hạn khảo hạch bí cảnh! Hắn thấy thở theo hình vẽ này không bị mệt, nên... nên hắn đã tự ý ép nhịp thở dồn dập gấp ba lần bình thường để hút thêm linh khí! Hắn vừa gánh xong chuyến nước thứ mười, vừa đặt thùng xuống thềm thì bỗng hét lên một tiếng rồi ngã gục xuống đất... Toàn thân hắn lạnh ngắt như băng trôi, nhưng trong bụng lại bốc hỏa dữ dội..."

Lục Thanh không màng đến bùn đất hay máu tươi, quỳ sụp một bên gối xuống ngay cạnh Trương Đống. Cậu vươn hai ngón tay chai sạn, dứt khoát ấn mạnh vào huyệt Thốn Khẩu nơi cổ tay đang run bần bật của người đệ tử xấu số.

"Oanh!"

Ngay khoảnh khắc đầu ngón tay chạm vào mạch môn của Trương Đống, một luồng xung lực linh khí hỗn loạn, cuồng bạo và buốt giá như dòng nước lũ vỡ đê từ trong cơ thể Trương Đống lập tức phản phệ, giáng thẳng vào kinh mạch của Lục Thanh!

Cú va đập dữ dội khiến toàn bộ cánh tay phải của Lục Thanh tê rần, huyết khí trong lồng ngực cậu chấn động mạnh, suýt chút nữa bật thốt ra ngoài. Cậu phải cắn chặt răng, vận chuyển một luồng kình lực từ bàn chân truyền lên vai mới miễn cưỡng triệt tiêu được luồng phản chấn tàn bạo đó.

Dưới đầu ngón tay cậu, mạch đập của Trương Đống hỗn loạn như ngựa đứt cương. Dòng Thủy khí ngoại lai bị cưỡng ép hút vào quá mức, dồn dập tích tụ trong thời gian quá ngắn đã hoàn toàn vượt quá ngưỡng dung nạp của Phế kinh vốn đã khiếm khuyết. Thủy khí lạnh buốt tích tụ không lối thoát đã va chạm trực diện với ngọn hư hỏa đang bùng cháy dữ dội do kiệt sức bên trong ngũ tạng, tạo thành một khối u khí nghẽn tắc trí mạng, cứng như bàn thạch ngay tại huyệt Đản Trung trước ngực!

Khối u khí tắc nghẽn ấy đang phình to ra từng khắc, như một quả cầu lửa bị bọc trong tảng băng ngầm, đe dọa sẽ nổ tung và xé rách toàn bộ hệ thống kinh lạc mỏng manh của người đệ tử tạp dịch chỉ trong vài nhịp thở nữa!

Đứng trước thân thể đang co giật bên bờ vực cái chết của Trương Đống, nhìn tờ giấy dó vẽ hình kinh mạch dính đầy bùn máu dưới đất, Lục Thanh sững sờ. Một cảm giác lạnh buốt từ sống lưng chạy thẳng lên đỉnh đầu cậu.

Cậu bàng hoàng nhận ra một sự thật nghiệt ngã đến tàn nhẫn: kinh nghiệm cá nhân của một người thợ rèn như cậu, dù có chân thành đến đâu, dù có xuất phát từ thiện tâm muốn cứu giúp đồng môn đến mức nào, thì nó vẫn chưa bao giờ là một phương pháp phổ quát tuyệt đối có thể áp dụng an toàn cho tất cả mọi người. Mỗi một con người là một tiểu thiên địa khác biệt, với những khiếm khuyết và giới hạn chịu đựng hoàn toàn riêng biệt.

Sự chia sẻ thiếu đi những cảnh báo nghiêm ngặt về giới hạn chịu đựng của cơ thể, sự hào phóng trao đi hy vọng mà không lường trước được sự tuyệt vọng mù quáng của những kẻ cùng đường... đôi khi lại vô tình trở thành một lưỡi dao đoạt mạng.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories