Kiếm Tâm Vấn ĐạoCh.8 / 40
Chapter 8

Tiếng Ngân Nhầm Lẫn

Suốt đêm sau trận tỷ thí, tiếng ngân trong trẻo của đoạn kiếm gãy cứ quanh quẩn trong tâm trí Lục Thanh như một giai điệu đầy ma mị, bám riết lấy từng nhịp đập nơi lồng ngực.

Âm thanh ấy tuyệt nhiên không phải là ảo giác sinh ra từ nỗi khát khao hay sự mệt mỏi cùng cực của thể xác. Nó đã thực sự phát ra từ sâu thẳm thớ kim loại lạnh buốt, xé toạc lớp vải thô bọc ngoài, dội thẳng vào xương sườn, làm chấn động từng mạch máu và khuấy đảo toàn bộ khí hải vốn dĩ tĩnh lặng của cậu. Khi thiếu niên thiên tài Tạ Vân Khê thu lại hàn quang, nghiêm cẩn cúi đầu hành lễ kiếm khách rồi xoay người khuất dần vào bóng hoàng hôn nhuộm đỏ chân trời, Lục Thanh đã ngồi lại rất lâu trên bậc thềm đá xanh rêu phong của Sân Lá Rụng. Hai bàn tay cậu khi ấy run rẩy không sao kìm lại được, từng ngón tay thô ráp lần mò ra sau lưng, run rẩy chạm vào chuôi kiếm quấn dây gai.

Hơi ấm lan tỏa trong khoảnh khắc ấy không hề rực cháy hay hung bạo như lửa lò rèn giữa trưa hè, mà lại dịu dàng, âm ỉ và kiên định đến lạ lùng. Nó giống hệt như bàn tay chai sần, nứt nẻ vì bồ hóng và vảy sắt của cha từng đặt lên vai cậu bên bễ lửa năm nào, những đêm đông rét mướt nơi trấn Thanh Khê khi hai cha con cùng canh giữ một mẻ quặng quí.

Suốt cả đêm dài dằng dặc trong căn phòng gỗ số bảy tồi tàn của đệ tử tạp dịch, Lục Thanh không tài nào chợp mắt. Bên cạnh cậu, trên tấm phản tre ọp ẹp, Mộc An sau một ngày bửa củi nặng nhọc đã ngủ say như chết, hơi thở phả ra đều đặn cùng tiếng ngáy khò khè kéo dài. Gió đêm luồn qua những khe vách nứa hở, thổi lay lắt ngọn bấc cạn dầu trên chiếc đĩa sành cáu bẩn. Lục Thanh nằm nghiêng người, đôi mắt mở trừng trừng nhìn lên những thanh xà nhà bằng gỗ tạp đã mục mủn, mốc meo từng mảng xám xịt.

Trong bóng tối lờ mờ, vô số câu hỏi tựa như đàn tằm ăn rỗi, không ngừng gặm nhấm tâm can thiếu niên mười sáu tuổi.

Điều gì đã thực sự đánh thức thanh kiếm gãy sau chuỗi ngày dài đằng đẵng câm lặng? Có phải vì thế kiếm mộc mạc, vụng về của cậu vào buổi chiều hôm trước đã vô tình chạm tới một tầng cảnh giới huyền diệu nào đó mà người cha quá cố từng hằng mong mỏi nơi cậu? Hay chính khoảnh khắc cậu chủ động buông bỏ thắng thua, hạ mũi kiếm gỗ xuống phiến đá và thản nhiên nhận lãnh thất bại đã chứng minh rằng tâm tính của cậu xứng đáng được thừa kế di vật này? Liệu linh tính của Tâm Minh Thiết chỉ thức tỉnh khi người cầm kiếm biết cúi đầu trước cái đẹp của kiếm đạo, hay ẩn sau đó còn có một cơ duyên khác mà trí óc non nớt của cậu chưa thể nào hiểu thấu?

Những ý nghĩ hỗn loạn ấy cứ cuộn trào, dằn vặt Lục Thanh qua từng canh giờ tăm tối, khiến lồng ngực cậu bồn chồn như có lửa đốt.

Tờ mờ sáng, khi màn sương xám đục của núi Vân Phong vẫn còn trĩu nặng trên những ngọn trúc quanh Sân Lá Rụng, nuốt chửng những rặng phong cổ thụ nơi sườn non xa xa, Lục Thanh đã lặng lẽ rời khỏi chiếc chiếu cói rách nát. Cậu không mang theo cây chổi đót tre vốn là công cụ kiếm cơm và bổn phận thường nhật của mình, mà chỉ ôm theo thanh kiếm bằng gỗ tùng cũ kỹ mốc meo lượm được chiều qua ở góc sân hoang. Đoạn kiếm gãy bằng Tâm Minh Thiết vẫn được cậu cẩn thận buộc chặt sau lưng áo bằng dải vải gai xơ xác, ép chặt vào từng đốt sống lưng như một phần da thịt không thể tách rời.

Gió sớm rét buốt thấu xương luồn qua lớp áo vải thô mỏng manh đã sờn rách ở hai bên vai áo. Hơi ẩm ngưng tụ trên từng phiến đá xanh của khoảng sân rộng lớn, biến bề mặt đá nham nhở thành một lớp màng ướt át, trơn trượt vô cùng. Lục Thanh đứng sững lại giữa tâm sân, nơi ranh giới mờ ảo giữa đêm tàn và rạng đông. Cậu khép mi mắt, hít một hơi thật sâu để luồng thiên địa hàn khí buốt giá tràn ngập buồng phổi, cố gắng dùng cái lạnh buốt của buổi sớm mai để thanh lọc tâm trí, gạt bỏ hết mọi xáo động thừa thãi nhằm tìm lại cảm giác nguyên vẹn của buổi chiều hôm trước.

Cậu bắt đầu mường tượng. Từng hình ảnh, từng thanh âm, từng hơi thở của trận tỷ thí chiều qua lần lượt hiện về rõ nét mồn một trước mắt.

Tạ Vân Khê đứng ở khoảng cách ba trượng, tà áo đệ tử nội môn trắng muốt như tuyết bay phần phật trong gió lộng, khí chất thanh tao thoát tục. Thanh kiếm huyền sam sắc bén trong tay đối phương khẽ rung lên một tiếng rít mảnh, vạch ra một đường cong xé gió tuyệt mỹ trong thức khởi đầu "Bạch Hạc Lạc Tuyết", dồn ép toàn bộ không khí chung quanh tụ về mũi kiếm.

Lục Thanh mở bừng mắt. Chân phải cậu lập tức lùi nửa bước về phía sau, thân hình hơi hạ thấp xuống theo thế tấn quét lá vững chãi mà cậu đã lặp đi lặp lại hàng vạn lần trong suốt nửa năm làm tạp dịch. Cậu vung thanh kiếm gỗ tùng lên, nâng cánh tay tạo thành một góc nghiêng vừa vặn ba mươi độ để mượn phản lực từ lòng bàn chân truyền qua đầu gối, chạy dọc thắt lưng rồi dẫn thẳng lên cổ tay. Cậu nhớ rất rõ, vào khoảnh khắc đối mặt với hàn quang của Tạ Vân Khê, bản thân đã nín thở đúng một nhịp, lắng nghe âm thanh rít gió sắc lẹm của thân kiếm đối phương, rồi dùng sống kiếm gỗ điểm nhẹ vào một điểm nút dao động yếu ớt nhất của đường kiếm lướt tới.

"Vút!"

Thanh kiếm gỗ xé toạc không khí trống rỗng buổi sớm, chỉ phát ra một tiếng rít khô khốc, trơ trọi và đơn độc. Không có kiếm khí va chạm, không có luồng kình lực dội ngược rung chuyển cổ tay, càng không có cảm giác giao hòa kỳ diệu giữa hai dòng kình lực.

Lục Thanh không hề nản lòng. Cậu cắn chặt môi, lập tức chuyển đổi bộ pháp, xoay gót chân, mô phỏng lại chiêu thứ hai, rồi chiêu thứ ba. Cậu cố gắng ép các đường kinh mạch trong cơ thể căng lên hết mức để tìm lại cảm giác đón đỡ liên hoàn kiếm dồn dập như mưa rào, hồi tưởng lại từng sự chấn động truyền từ cườm tay lên bả vai, làm tê dại từng khớp xương. Và đặc biệt nhất, cậu dồn toàn bộ tâm trí vào khoảnh khắc kinh hoàng khi chiêu kiếm đỉnh cao "Lạc Diệp Truy Phong Kiếm" của Tạ Vân Khê ập đến tựa hồ một cơn bão táp cuốn phăng vạn vật.

Khi ấy, ngay trước mũi kiếm sáng lòa chỉ cách yết hầu gang tấc, cậu đã dừng lại. Cậu đã thở hắt ra một hơi dài, buông lỏng toàn bộ cơ bắp, hạ mũi kiếm xuống chạm vào nền đá, rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của thiên tài kiếm tông mà bình thản thốt lên: "Ta nhận thua."

Ngay lúc này đây, giữa làn sương lạnh mờ mịt của Sân Lá Rụng, Lục Thanh cố công làm lại y hệt từng chi tiết ấy.

Cậu hạ thanh kiếm gỗ tùng xuống, để đầu mũi kiếm chấm nhẹ vào đúng khe nứt phủ đầy rêu phong của phiến đá xanh dưới chân. Lồng ngực cậu phập phồng theo đúng tiết tấu ba dài một ngắn, đầu khẽ nghiêng sang bên một tấc, khóe môi gượng gạo thả lỏng thành một nụ cười thản nhiên, cố gắng tái hiện đúng từng góc độ, từng nhịp chớp mắt, từng sự ung dung tự tại như buổi chiều hôm qua.

Cậu nín thở chờ đợi.

Một nhịp thở trôi qua. Hai nhịp thở. Ba nhịp thở dài dằng dặc.

Khoảng sân đá rộng lớn chìm trong một sự im lìm đến rợn người, nặng nề tựa như một nấm mồ hoang phế. Không có tiếng ngân nga thanh thoát nào đáp lại. Chỉ có tiếng gió sớm rít qua những khe đá hẹp và âm thanh lá trúc khô bị gió quất bay lào xào trên mặt đất ẩm ướt.

Sau lưng cậu, đoạn tàn kiếm Tâm Minh Thiết hoàn toàn bất động. Lớp vải thô bao bọc bên ngoài vẫn xơ xác, lạnh lẽo ép chặt vào da thịt cậu qua lần áo gai ướt đẫm sương đêm. Không hề có một tia hơi ấm mong manh nào lan tỏa. Không hề có một nhịp đập phập phồng tựa hồ nhịp tim của một sinh linh sống sót sau lò luyện. Và tuyệt nhiên, không có lấy nửa tiếng ngân rung dù là nhỏ nhoi như tiếng muỗi kêu.

"Chưa đúng sao?" Lục Thanh thì thầm, hai hàng lông mày nhíu chặt lại thành một búi, ánh mắt tràn ngập vẻ hoang mang tột độ. "Góc vung kiếm chưa đủ độ nghiêng? Nhịp thở lúc buông lỏng mũi kiếm bị lệch mất một khắc? Hay là độ thản nhiên trong ánh mắt của ta chưa đủ sâu?"

Cậu giơ mu bàn tay áo gạt đi những giọt sương mai vừa đọng lại trên mi mắt làm nhòe tầm nhìn, rồi nghiến răng nâng thanh mộc kiếm lên ngang ngực một lần nữa.

Lần thứ hai. Lục Thanh cẩn thận điều chỉnh khoảng cách giữa hai gót chân rộng hơn nửa thốn, hạ thấp trọng tâm cơ thể sâu hơn một chút để Thổ linh khí từ lòng đất lạnh lẽo có thể thẩm thấu qua huyệt Dũng Tuyền nhiều hơn, vững vàng hơn. Cậu vung kiếm, xoay hông, vẽ ra những đường gạt đỡ vô hình trong không trung mù mịt, rồi lại dứt khoát buông thõng cánh tay phải, làm lại tư thế nhận thua một cách tỉ mỉ, chuẩn xác đến từng ly từng tí.

Đáp lại cậu vẫn là sự tĩnh lặng chết chóc của kim loại lạnh giá.

Lần thứ ba, lần thứ tư, rồi lần thứ mười, lần thứ hai mươi...

Lục Thanh dường như đã hoàn toàn rơi vào một cơn mê muội kỳ quặc, một nỗi chấp niệm mù quáng không lối thoát. Cậu lặp đi lặp lại chuỗi động tác ấy hàng chục lần, không ngừng nghỉ dù chỉ một giây. Cậu cố lục lọi trong ký ức xem ánh mắt mình chiều qua đã dừng lại ở ngọn núi nào phía xa, ngón tay cái khi nắm chuôi kiếm đã siết với một lực nặng bao nhiêu cân, vạt áo sau lưng đã lay động theo hướng gió đông bắc hay gió tây nam.

Mồ hôi bắt đầu rỉ ra từ chân tóc trên trán, từ hai bên thái dương, hòa lẫn với sương sớm buốt giá chảy ròng ròng xuống cằm, chảy tràn vào khóe mắt làm cay xè thị giác. Tấm lưng áo vải thô ướt đẫm mồ hôi và sương mai, dính bết vào da thịt lạnh ngắt, nhưng thanh tàn kiếm Tâm Minh Thiết sau lưng vẫn cứng đờ, băng giá như một mảnh sắt phế liệu bị bỏ quên nơi xó tối của lò rèn qua suốt ba mùa đông tuyết phủ.

Càng cố gắng bắt chước vẻ thản nhiên, cơ bắp trên toàn thân cậu lại càng căng cứng như dây đàn sắp đứt. Những đường kiếm vốn dĩ xuất phát từ bản năng mộc mạc, thuần phác như nhịp quai búa bên đe đá ngày nào bỗng chốc trở nên gượng gạo, giật cục, méo mó và thảm hại vô cùng. Cậu thở dốc từng cơn nặng nhọc, hai lá phổi bỏng rát như có người ném than hồng vào bên trong, cánh tay phải mỏi nhừ rã rời, run lên bần bật không thể giữ yên mũi kiếm.

"Tại sao chứ?" Lục Thanh tuyệt vọng chống mạnh đầu thanh kiếm gỗ xuống mặt đá xanh, hai vai sụp xuống, lồng ngực phập phồng dữ dội trong cơn suy sụp. Cậu vặn người đưa hai bàn tay ra sau lưng, nắm chặt lấy bọc vải thô quấn quanh đoạn tàn kiếm, lắc mạnh trong cơn phẫn uất nghẹn ngào. "Hôm qua chính ngươi đã ngân vang cơ mà! Ngươi đã ấm lên trong lòng bàn tay ta! Chẳng lẽ... chẳng lẽ ta đã làm sai ở bước nào? Cha ơi, người để lại thanh kiếm này, rốt cuộc là muốn con phải làm thế nào mới đúng đây?"

Cái lạnh thấu xương từ thanh tàn kiếm lập tức truyền thẳng qua lớp vải gai, ngấm sâu vào từng thớ thịt trong lòng bàn tay cậu. Cơn buốt giá ấy nhức nhối như hàng ngàn mũi kim châm đâm sâu vào từng đường kinh mạch, buốt tận chân răng. Đó hoàn toàn không phải là cái lạnh tự nhiên của kim loại khi dầm sương dãi gió, mà là một sự cự tuyệt tuyệt đối, lạnh lùng và tàn nhẫn; một bức tường vô hình ngăn cách ý chí non nớt, vụ lợi của cậu với linh hồn cổ xưa đang say ngủ bên trong khối thiết thạch.

"Muốn diễn trò cho lũ khỉ trên vách núi xem thì nên trèo lên vách đá phía sau mà diễn. Ở cái sân rách này chỉ có lá mục và gió lạnh thôi, không có ai rảnh rỗi mà vỗ tay khen thưởng cho ngươi đâu."

Một giọng nói khàn đặc, lười biếng và mang theo sự châm chọc chua chát đột ngột vang lên từ phía bóng râm mờ tối dưới hàng hiên Tàng Kinh Các.

Lục Thanh giật nảy mình, tim đập thót một cái, vội vã quay phắt người lại. Bàn tay đang run rẩy buông lỏng khiến thanh mộc kiếm tuột khỏi tầm tay, rơi cạch một tiếng khô khốc xuống nền đá ẩm.

Quý Thủ Chuyết đã đứng sừng sững ở đó từ lúc nào không hay. Lão nhân tạp dịch mặc một bộ đạo bào xám xịt, cũ nát với những mảnh vá chằng chịt bằng chỉ thô nhiều màu, lưng lão hơi còng xuống như mang theo gánh nặng của cả đời người. Một tay lão kẹp hờ hững chiếc chổi trúc cùn mòn trơ gốc, tay kia cầm một chiếc khăn vải thô màu xám tro cáu bẩn, bốc mùi ẩm mốc. Dưới nách lão kẹp chặt một chồng cổ thư dày cộp, bìa bọc bằng sợi gai đã ố vàng, mục nát, bụi bặm bám dày đến mức từng hạt bụi li ti cứ bay lơ lửng, cuộn tròn trong làn sương sớm mỗi khi lão cựa quậy bước đi.

"Quý... Quý lão," Lục Thanh ấp úng, hai má nóng bừng, vội vàng buông tay khỏi bọc kiếm sau lưng. Cậu lúng túng đứng thẳng người dậy, vẻ mặt hiện rõ nét ngượng ngùng, xấu hổ và bối rối tột cùng, chẳng khác nào một đứa trẻ vừa lén lút làm điều sai trái thì bị bậc trưởng bối bắt quả tang tại trận.

"Bắt chước cũng khéo đấy," Quý Thủ Chuyết thong thả bước xuống từng bậc thềm đá bám đầy rêu trơn, tiếng đế giày cỏ ma sát sàn sạt, khô khốc trên nền đá lạnh. "Tư thế hạ kiếm vừa rồi của ngươi, góc nghiêng hạ thấp ba mươi độ trông rất thanh nhã, vẻ mặt cúi đầu nhận thua cũng ra vẻ thản nhiên như cao nhân đắc đạo, độ cong nơi khóe miệng thả lỏng chuẩn xác đến từng ly từng tí. Nếu đưa ngươi xuống mấy gánh hát lưu động dưới trấn Thanh Khê mà diễn tuồng kiếm hiệp tam hiệp ngũ nghĩa, chắc chắn sẽ lừa gạt được khối bạc vụn của mấy bà góa phụ giàu lòng trắc ẩn."

Mặt Lục Thanh đỏ gắt lên như ráng chiều mùa hạ, lan tận xuống mang tai và cổ. Cậu cúi gằm mặt nhìn mũi giày rách ngón của mình, mười ngón tay siết chặt lấy vạt áo gai: "Đệ tử... đệ tử không hề có ý diễn tuồng để lừa gạt ai cả. Đệ tử chỉ muốn tìm hiểu xem... rốt cuộc nguyên do nằm ở đâu..."

"Tìm hiểu xem vì sao cái khối sắt vụn sau lưng ngươi sáng nay lại câm như hến, không chịu kêu lên một tiếng thật thanh tao để vuốt ve cái lòng tự mãn hão huyền của ngươi chứ gì?" Quý Thủ Chuyết lạnh lùng buông lời cắt ngang, từng câu từng chữ như lưỡi dao cạo gọt phăng đi lớp vỏ bọc ngượng ngùng của thiếu niên.

Lão vung tay ném phịch chiếc khăn lau cáu bẩn thẳng vào ngực Lục Thanh, rồi không thèm nể nang một chút nào, nhét thẳng chồng sách cổ nặng trịch, bụi bặm vào vòng tay cậu. Sức nặng bất ngờ kèm theo mùi giấy mục ẩm ướt, ngai ngái xộc thẳng vào mũi khiến Lục Thanh loạng choạng, phải lùi lại một bước dài mới có thể đứng vững.

"Lau sạch cái thứ mồ hôi nhơ nhớp trên mặt ngươi đi. Cầm hết đống này vào phòng chép sách phía tây Tàng Kinh Các cho ta." Lão nhân xoay người lại, vắt ngược chiếc chổi trúc lên bả vai còng, vừa chậm rãi lê từng bước chân quay lên thềm đá vừa càu nhàu trong miệng: "Sân đá sáng nay lá rụng đầy mặt sân như xác chết trôi sông mà không chịu quét dọn, lại đứng đây múa may quay cuồng như kẻ mất hồn mất vía. Chép cho xong chỗ sách rách nát này trước giờ Thân. Nếu chép sai một chữ, trưa nay nhịn cơm, ra sau núi mà gặm rễ cỏ."

Dứt lời, bóng dáng còng còng, lôi thôi của lão đã thong dong khuất dần sau rặng trúc rậm rạp bên hông đại điện, để lại một mình Lục Thanh đứng trơ trọi giữa khoảng sân đá thênh thang gió lộng, trên tay ôm chặt chiếc khăn ẩm và chồng cổ thư lạnh buốt tựa tảng băng.

***

Phòng chép sách nằm ở góc khuất nẻo, tăm tối nhất phía tây tầng một của Tàng Kinh Các. Nơi này dường như quanh năm suốt tháng không bao giờ đón nhận được một tia nắng mặt trời ấm áp nào rọi tới. Bầu không khí bên trong luôn luôn đặc quánh, ngột ngạt bởi mùi gỗ thông ẩm mốc mục nát từ các giá sách kê sát tường, mùi giấy bản mục rữa qua hàng trăm năm và hương thơm hắc nồng của loại mực nho rẻ tiền đã để lâu ngày biến chất. Một ô cửa sổ con con với các chấn song bằng gỗ mun chạm trổ hình mắt cáo nhìn thẳng ra vách đá dựng đứng rêu phong sau núi, chỉ hắt vào trong phòng những vệt sáng lờ mờ, xám xịt và ảm đạm như ánh tà dương sắp tắt.

Lục Thanh lặng lẽ bước vào, cẩn thận đóng hờ cánh cửa gỗ nặng nề để ngăn những cơn gió lạnh lùa qua khe cửa. Cậu ngồi xếp bằng xuống sàn gỗ trước chiếc bàn trà thấp bằng gỗ thiết mộc đã nứt nẻ chằng chịt nhiều đường sâu hoắm. Cậu đặt chồng sách cổ sang mép bàn bên trái, rồi đưa tay tháo từng vòng dây vải thô buộc thanh tàn kiếm sau lưng xuống. Cậu cẩn thận đặt thanh kiếm gãy nằm dọc theo mép bàn bên phải, ngay trong tầm mắt mình.

Thanh kiếm vẫn hoàn toàn im lìm, lớp vỏ rỉ sét màu nâu sẫm nham nhở như một kẻ câm lặng tuyệt đối, nuốt chửng những tia sáng le lói, yếu ớt hiếm hoi rọi qua ô cửa mắt cáo.

Lục Thanh khẽ thở dài một tiếng nặng nề. Cậu vươn tay trải phẳng một tờ giấy tuyên thô ráp màu vàng ngà lên mặt bàn, sau đó bắt đầu mài mực. Cậu cầm thỏi mực đen nhánh, chấm vài giọt nước giếng lạnh vào lòng nghiên đá hình nghiên cá chép, rồi bắt đầu xoay tròn. Tiếng thỏi mực cọ xát vào mặt đá ráp vang lên từng nhịp rột rẹt, rột rẹt đều đặn, đơn điệu và trầm buồn trong căn phòng vắng lặng.

Theo từng vòng mài mực chậm rãi, Lục Thanh cố ép bản thân phải hít thở thật sâu, từng chút một tống khứ những nỗi bất an, hoang mang và bức bối đang nghẹn ứ nơi cổ họng. Khi mặt mực trong nghiên đã sánh lại, đen lay láy như mắt mèo đêm, cậu mới buông thỏi mực xuống, cầm lên cuốn sách đầu tiên nằm trên đỉnh chồng cổ thư.

Đó hoàn toàn không phải là những bộ kiếm phổ hoàn chỉnh, tinh diệu của các bậc tôn sư hay những danh gia kiếm đạo lẫy lừng của tông môn. Nó thực chất chỉ là những tập bản thảo chép tay vụn vặt, chắp vá từ nhiều nguồn, nhiều trang đã bị mối mọt gặm nham nhở thủng từng lỗ lớn, mép giấy quăn queo, giòn rụm và ngả sang màu vàng vôi như những chiếc lá khô sắp rụng. Chữ viết trên đó thiên hình vạn trạng: có cuốn nét bút bay bướm, phóng khoáng như rồng bay phượng múa; có cuốn lại nguệch ngoạc, xiêu vẹo như được viết vội vã trong những cơn hoảng loạn hay tuyệt vọng.

Đây chính là những bản tâm đắc, những lời chú giải kiếm phổ của những đệ tử vô danh qua nhiều thế hệ của Thanh Vân Kiếm Tông—những kẻ cả đời có lẽ chỉ dừng lại ở cảnh giới Luyện Khí tầng ba, tầng bốn, vĩnh viễn không thể bước chân qua cánh cửa Trúc Cơ huyền diệu, chỉ có thể để lại vài dòng cảm ngộ vụn vặt hoặc những câu hỏi hoài nghi không lời giải đáp trước khi thân xác vùi sâu vào lòng đất lạnh, tan biến vào dòng chảy bất tận của thời gian.

Lục Thanh nhúng đầu ngọn bút lông thỏ vào nghiên mực, nắn nót đặt bút chép lại từng dòng chữ cổ.

"Thanh Vân thức thứ nhất: Kiếm ý như mây cuộn trên đỉnh non cao, hư thực tương sinh, dĩ nhu khắc cương, lấy khí ngự hình..."

Cậu cặm cụi chép liên tục được ba trang giấy đầy, cánh tay phải bắt đầu mỏi nhừ và các khớp ngón tay cứng đờ lại vì lạnh. Những lời chú giải này phần lớn đều chỉ nhai lại những khuôn vàng thước ngọc sáo rỗng quen thuộc trong kiếm đạo chính thống của tông môn: tất cả đều xoay quanh việc nhấn mạnh vào sự tuần hoàn linh lực trong mười hai chính kinh, độ thuần khiết của kiếm khí phát xuất từ đan điền, hay cách điều động Canh Kim chi khí sắc nhọn để gia tăng uy lực sát thương cho chiêu thức.

Chúng giống hệt như những bài giảng khô khan, cao đạo mà chấp sự giáo tập Trần Chấp Ngôn vẫn thường rao giảng tại Kiếm Đường Nội Môn cho đám đệ tử dòng dõi thế gia. Đọc và chép lại những dòng chữ ấy, Lục Thanh chỉ cảm thấy một sự xa lạ, lạnh lùng và cách biệt sâu sắc. Bản thân cậu không hề có được một đơn linh căn thuần khiết như Kim hay Thủy; kinh mạch trong cơ thể cậu là một mớ bòng bong hỗn độn của ngũ hành tạp linh căn tương khắc tương sinh lẫn nhau. Những giáo điều cao siêu, những pháp môn vận chuyển linh khí tinh thuần này căn bản là những thứ mà cả đời này cậu vĩnh viễn không bao giờ có thể chạm tới hay áp dụng được.

Cảm giác chán nản và lạc lõng lại một lần nữa dâng lên như nước thủy triều, cho đến khi bàn tay cậu lật giở đến cuốn sách thứ tư nằm ở giữa chồng thư tịch.

Cuốn sách này mỏng hơn hẳn những cuốn trước đó, bìa ngoài được bọc bằng một miếng da hoẵng khô khốc, đã nứt nẻ thành những đường vân ngang dọc xám ngoét. Bìa sách hoàn toàn trống trơn, không có lấy một dòng đề tựa tên sách, cũng không có lạc khoản hay ấn triện của người viết. Thế nhưng, điều khiến Lục Thanh lập tức sững sờ, tim đập thình thịch chính là những nét chữ hiện ra ngay nơi trang đầu tiên.

Hoàn toàn khác biệt với lối viết mềm mại, hoa mỹ, lả lướt theo phong thái của giới kiếm tu ưa chuộng sự thanh tao, nét chữ trong cuốn sách da hoẵng này vô cùng cổ quái và đặc biệt. Từng nét sổ thẳng đứng, từng nét phẩy, nét mác đều cứng cáp, góc cạnh, dứt khoát và đâm sâu vào thớ giấy bản dầy cộp, tựa hồ như người viết ra nó không phải đang dùng ngọn bút lông mềm mại tẩm mực nho, mà là đang cầm một chiếc ve sắt sắc bén đục từng nhát nặng nề, dứt khoát lên bề mặt của một khối đe sắt nguội ngắt. Lực phát ra từ cổ tay của người viết cực kỳ thâm hậu, vững chãi, mang theo một nhịp điệu dồn dập, gãy gọn đến kỳ dị.

Nét chữ ấy... sao mà giống phong thái quai búa của những người thợ rèn bên lò lửa đến thế?

Bàn tay cầm bút của Lục Thanh bất giác khựng lại giữa không trung. Một giọt mực đen nhánh ngưng tụ nơi đầu ngọn lông thỏ, run rẩy chực rơi xuống. Ánh mắt cậu dán chặt vào một trang giấy ố vàng nằm ở khoảng giữa cuốn sách, nơi có một vết cháy xém tròn nhỏ bằng đầu ngón tay ở góc dưới cùng, tựa như từng bị tàn lửa than hồng từ một bễ lò rèn nào đó bắn trúng trong lúc người viết đang ghi chép.

Ở lề bên phải của trang sách, bên cạnh lời bình giảng thông thường về chiêu thức "Đoạn Thủy Kiếm", người viết vô danh đã dùng thứ mực đen đậm đặc viết thêm một đoạn luận giải dài, những con chữ như muốn cựa quậy nhảy múa trên mặt giấy:

*"Kiếm khí phát từ cốt nhục, kiếm ý sinh tự ý niệm, duy chỉ kiếm tâm không chấp nhận sự sao chép giả tạo. Kẻ bắt chước dáng vẻ của nước thì chỉ thấy sóng vỗ lăn tăn ngoài mặt, kẻ bắt chước sự sắc bén của ngọn lửa thì chỉ chuốc lấy vết bỏng rát trên da thịt. Vật liệu có linh, bởi vật liệu sinh ra từ trời đất; lòng người có đạo, bởi đạo bắt đầu từ sự chân thật với chính mình. Một nhát búa giả dối sẽ làm nứt thỏi sắt; một kiếm chiêu vụ lợi sẽ làm đục kiếm tâm."*

"Một nhát búa giả dối sẽ làm nứt thỏi sắt..."

Lục Thanh lẩm bẩm nhắc lại từng từ một, giọng cậu run rẩy như người mê sảng. Cậu cảm thấy như có một tia sét vô hình xẹt ngang qua đỉnh đầu, đánh thẳng xuống xương sống, làm tê dại toàn bộ da đầu.

Một nhát búa giả dối... Chẳng phải cha cậu ngày xưa cũng từng cầm cây búa nặng ba mươi cân gõ mạnh vào đe, nghiêm khắc mắng cậu bên lò than hồng rực hay sao? Khi ấy, cậu vì mỏi mệt mà chỉ gõ búa hời hợt cho xong lần, giả vờ như đang dốc sức đập sắt. Cha đã giật phăng cây búa khỏi tay cậu, chỉ vào thỏi phôi sắt đang đỏ rực mà bảo: *"Sắt thép không có mắt, nhưng nó biết đau. Mày gõ một nhát búa dối trá để lừa tao, nhưng thỏi sắt dưới đe sẽ nhớ kỹ sự lừa dối ấy. Khi nhúng vào nước lạnh, nó sẽ nứt toác ra ngay tại chỗ mày dối trá."*

Bàn tay Lục Thanh run lên bần bật. Giọt mực đen tích tụ nơi đầu bút lông rốt cuộc không thể giữ được nữa, rơi tõm một tiếng nhỏ xíu xuống mặt tờ giấy tuyên trắng tinh, lập tức loang lổ ra thành một chấm tròn đen nhánh, đậm đặc và nham nhở như một vết nhọ nồi.

Cậu không buồn lau vết mực. Cậu dán mắt nhìn xuống phía dưới đoạn luận giải. Ở đó, người viết vô danh còn dùng mực đen phác họa một hình vẽ thô sơ, mộc mạc: đó tuyệt nhiên không phải là hình vẽ một kiếm tu phong nhã đang đạp gió cưỡi mây hay múa lượn những đường kiếm hoa mỹ, mà là hình vẽ mặt cắt của một thỏi phôi sắt hình chữ nhật đặt thô mộc trên mặt một chiếc đe đá lò rèn. Trên mặt cắt ấy, người đó vẽ những đường mũi tên đậm nét chỉ rõ hướng đi của phản lực khi búa tạ đập xuống bề mặt kim loại, cách thức ứng lực uốn cong, dồn nén và cách mà chấn động giải tỏa vào lòng chiếc đe đá bên dưới để giữ cho thỏi sắt không bị rạn nứt cấu trúc bên trong.

Cảm giác thân thuộc này rốt cuộc là từ đâu mà ra?

Lục Thanh nhìn trừng trừng vào vết cháy xém của tàn than nơi góc giấy, rồi lại nhìn nhịp nét chữ vuông vức, góc cạnh, đanh thép kia. Trong ký ức tuổi thơ nghèo khó nhưng ấm áp của cậu tại trấn Thanh Khê, cha cậu—Lục Viễn Sơn—cũng thường ngồi bên chiếc bàn con mộc mạc vào những đêm đông khuya khoắt sau khi lò rèn đã tắt lửa. Cha thường lật giở những mảnh giấy dầu thô ráp, ố vàng và cặm cụi ghi chép lại các thông số phối trộn quặng, nhiệt độ màu lửa của bễ than bằng những nét chữ mạnh mẽ, góc cạnh và đục sâu vào mặt giấy y hệt như thế này.

Chẳng lẽ người viết cuốn sách này... cũng từng là một người thợ rèn? Một người thợ rèn bước chân vào kiếm đạo, hay một kiếm tu đã từ bỏ hư danh để quay về làm bạn với đe búa và lửa đỏ?

Một sự thức tỉnh bất ngờ đánh mạnh vào tâm can thiếu niên. Sáng nay, khi đứng giữa Sân Lá Rụng, cậu đã làm gì? Cậu đã cố gắng sao chép lại một cách máy móc từng góc vung kiếm, từng nhịp thở, từng nụ cười và ánh mắt thản nhiên của buổi chiều hôm qua. Cậu tưởng rằng chỉ cần bắt chước đúng hình thức bên ngoài, làm lại đúng cái vỏ bọc thản nhiên ấy là có thể đánh lừa được thanh kiếm, đánh lừa được trời đất để đổi lấy một tiếng ngân vang đầy kiêu hãnh.

Nhưng kiếm tâm làm sao có thể bị lừa dối? Chiêu kiếm sáng nay của cậu tràn ngập sự vụ lợi, tràn ngập toan tính và khát khao chứng tỏ bản thân. Đó chính là một "nhát búa giả dối"! Và một nhát búa giả dối thì chỉ có thể chuốc lấy sự cự tuyệt lạnh lùng từ một khối sắt có linh tính như Tâm Minh Thiết!

Giữa lúc tâm trí Lục Thanh đang cuộn trào như sóng dữ, trên mặt bàn gỗ thiết mộc nứt nẻ, thanh tàn kiếm bọc vải thô vốn dĩ bất động từ sớm bỗng nhiên lay nhẹ một cái, phát ra một tiếng trượt vô cùng nhỏ, như thể phản ứng lại luồng suy nghĩ vừa bừng sáng trong đầu cậu, khiến lớp vải thô cọ xát vào mặt gỗ nghe thật khẽ khàng, thanh tàn kiếm Tâm Minh Thiết trên bàn khẽ

lay nhẹ một cái. Không phải tiếng ngân vang rền rĩ như chiều hôm trước, mà chỉ là một độ trượt vô cùng nhỏ của lớp vỏ vải thô ráp trên mặt gỗ thiết mộc nham nhở vết trầy, tựa như một phản ứng cơ học câm lặng trước những dòng chữ cổ xưa vừa đập vào mắt thiếu niên.

"Nhìn cái gì mà ngẩn người ra như khúc gỗ mục thế?"

Tiếng bước chân chậm chạp, kéo lê đôi hài cỏ mòn vẹt trên những phiến gạch xanh ẩm rêu vang lên, cắt đứt dòng suy tưởng đang cuồn cuộn trong tâm trí Lục Thanh. Quý Thủ Chuyết bưng một chiếc khay gỗ cũ kỹ bước vào qua khung cửa ngách. Trên chiếc khay sơn then đã tróc từng mảng lớn là một ấm trà bằng đất nung màu gan gà sứt mất một góc vòi, bên cạnh đặt hai chiếc bát sành thô mộc méo mó, men rạn chằng chịt như mạng nhện.

Lão nhân đặt khay xuống góc bàn phát một tiếng "cộp" nặng trịch, liếc mắt nhìn vệt mực chưa kịp khô trên tờ giấy dó mà Lục Thanh vừa chép dở, rồi lại lia ánh nhìn đùng đục như nước ao tù qua cuốn sách bọc da hoẵng sờn rách đang mở toang. Nơi đáy mắt già nua, một gợn sóng rất khẽ thoáng lay động, sâu thẳm và tịch mịch như giếng cạn ngàn năm bất chợt đón lấy một giọt sương mai, nhưng rất nhanh sau đó, vẻ mặt lão lại trở về nét dửng dưng, cau có và cộc cằn quen thuộc.

Lão ngồi xếp bằng xuống chiếc bồ đoàn rách đối diện với Lục Thanh, các khớp xương ở đầu gối phát ra tiếng kêu rôm rốp khô khốc. Lão thong thả nâng ấm trà, nghiêng vòi rót vào hai chiếc bát sành. Dòng nước trà màu vàng nâu sủi bọt lăn tăn, bốc lên làn khói mỏng ấm áp mang theo vị đắng chát nhưng ngòn ngọt nơi cuống họng của thứ lá chè rừng hoa lam mọc dại trên vách đá cheo leo sau núi sau mùa sương muối.

"Uống đi," Quý Thủ Chuyết hất hàm, giọng nói khàn khàn như hai hòn đá cuội cọ vào nhau. "Nước giếng tây sớm nay ngọt lắm, không uống thì lát nữa nguội ngắt lại tanh mùi rêu."

Lục Thanh vội vàng đặt chiếc bút lông thỏ xuống giá đỡ bằng đồng gỉ, hai tay nâng bát sành còn nóng ran lên: "Tạ ơn Quý lão."

Cậu nhấp một ngụm nhỏ. Dòng nước trà mang hơi ấm đậm đà trôi chầm chậm qua thực quản, thấm sâu vào lồng ngực, tạm thời xua tan đi cái lạnh ẩm bám riết lấy từng góc kẹt của gian phòng kho sách ngầm dưới lòng đất. Nhưng nỗi băn khoăn đang cuộn xoáy trong lòng cậu thì chẳng những không vơi bớt, mà trái lại càng lúc càng đè nặng. Ánh mắt thiếu niên lướt qua gương mặt đầy nếp nhăn sâu hoắm của lão nhân quét sân, rồi lại rơi xuống thanh tàn kiếm bọc vải thô nằm im lìm trên mặt bàn nứt nẻ.

Sau một thoáng ngập ngừng, ngón tay Lục Thanh miết chặt lấy thành bát sành gồ ghề, cậu không kìm được mà mở lời, giọng nói mang theo chút dè dặt thăm dò:

"Quý lão... người đã viết cuốn sách này, có phải cũng là một người từng đứng bên lò rèn?"

Quý Thủ Chuyết nâng bát trà của mình lên, đưa ngang mũi hít một hơi thật sâu, nhắm nghiền hai mắt như đang tận hưởng chút hơi ấm tàn dư, nhấp một ngụm lớn rồi mới chậm rãi hạ bát xuống. Lão nhìn cậu qua làn khói mờ ảo, khóe môi nhếch lên một độ cong mơ hồ:

"Thợ rèn thì sao, mà kiếm tu thì sao? Chung quy lại cũng chỉ là những kẻ dùng hai bàn tay trần để đối thoại với sắt đá và linh khí của trời đất mà thôi. Có kẻ rèn sắt thành kiếm sắc bén ngút trời chỉ để chém giết, tranh đoạt hư danh; lại có kẻ mài kiếm thành một tấm gương phẳng lặng cốt để soi rọi lại lòng mình xem có vướng bụi trần hay không. Kẻ viết mớ giấy vụn đó... chết rục xương từ đời thuở nào rồi, bận tâm làm gì đến lai lịch của một bóng ma?"

Lời lão nói ra bằng phẳng, thản nhiên như gió thoảng qua đồi hoang, nhưng Lục Thanh lại lờ mờ cảm nhận được một nỗi tịch mịch mênh mông, một sự hoang hoải đến buốt lòng giấu kín sau cái vẻ bất cần đời ấy.

Cậu cắn nhẹ môi dưới, lòng bàn tay bất giác siết lại: "Quý lão, sáng nay ở Sân Lá Rụng... người bảo đệ tử đang diễn tuồng. Đệ tử thực sự không hiểu, nghĩ mãi vẫn thấy bế tắc. Chiều hôm qua, khi đối mặt với Tạ Vân Khê huynh ấy, đệ tử đã dùng hết sức bình sinh để chặn đứng ba chiêu kiếm đầu, rồi tự thấy sức cùng lực kiệt mà chủ động buông kiếm nhận thua. Lúc đó, thanh tàn kiếm này đã phát ra một tiếng ngân rất ấm áp, thanh thoát và chân thực. Nhưng sáng nay, khi chỉ có một mình, đệ tử đã cố gắng làm lại y hệt từng góc vung tay, từng bước chân dịch chuyển, từng nhịp hít thở... tại sao nó lại lạnh lẽo như một khối sắt nguội ngâm dưới đáy sông băng?"

"Cạch!"

Quý Thủ Chuyết đặt mạnh chiếc bát sành xuống mặt bàn gỗ thiết mộc. Nước trà sóng sánh bắn ra ngoài vài giọt, văng trúng mép tờ giấy chép kinh. Lão ngước mắt lên, hai con ngươi đục ngầu đột nhiên lóe lên tia sáng sắc lẹm như lưỡi trảm mã đao vừa tuốt khỏi vỏ, xuyên thẳng vào tận đáy mắt thiếu niên.

"Ngươi hỏi tại sao à?" Lão cười khẩy, tiếng cười khô khốc như cành cây gãy giữa mùa đông. "Bởi vì chiều hôm qua ngươi là một con người sống bằng xương bằng thịt, còn sáng nay ngươi chỉ là một con rối gỗ mục rỗng ruột đang cố múa may theo trí nhớ!"

Lục Thanh chấn động tâm can, bờ vai khẽ run lên, ngơ ngác nhìn lão.

"Chiều hôm qua, khi Tạ Vân Khê tung ra thức kiếm thứ tư, kiếm ý của hắn áp bức đến mức nào?" Quý Thủ Chuyết thong thả nói, từng lời từng chữ đanh thép như tiếng búa tạ giáng xuống đe rèn. "Khi đó, kinh mạch cánh tay ngươi căng cứng như dây đàn sắp đứt, các thớ cơ đều đã rách toạc, ngươi thừa hiểu nếu cố chấp vung kiếm đón đỡ một chiêu bạt mạng đó thì toàn bộ xương cổ tay ngươi sẽ vỡ vụn thành từng mảnh. Vào khoảnh khắc sinh tử ấy, trong đầu ngươi đã lóe lên điều gì? Ngươi nhớ đến lời dạy của cha ngươi về việc biết dừng búa đúng lúc khi phôi sắt đã quá nhiệt! Ngươi dừng lại, ngươi buông kiếm, ngươi thản nhiên cúi đầu nhận thua. Lựa chọn đó của ngươi là chân thật từ tận đáy lòng! Ngươi dũng cảm đối diện với giới hạn yếu kém của bản thân mà không mảy may hổ thẹn, không màng đến thể diện hão huyền, không toan tính xem đám đệ tử vây quanh sẽ cười nhạo hay tán thưởng. Tâm niệm ấy thuần khiết, thanh tịnh, không vướng bận một hạt bụi trần, như một thỏi quặng nguyên chất vừa lọc sạch xỉ than!"

Lão chồm người tới phía trước, ngón tay gầy guộc khẳng khiu như rễ cây khô chỉ thẳng vào giữa lồng ngực Lục Thanh:

"Còn sáng nay thì sao? Sáng nay ngươi bước ra sân với cái tâm thế bẩn thỉu gì? Ngươi vung kiếm, ngươi xoay gót, ngươi cố tình uốn éo khóe môi để nặn ra một nụ cười thản nhiên giả tạo y hệt chiều qua. Ngươi làm tất cả những trò xiếc kệch cỡm đó để làm gì? Để cầu xin một tiếng ngân! Ngươi tham lam! Ngươi muốn chứng minh với trời đất, với bản thân rằng ngươi đã nắm bắt được huyền cơ của kiếm đạo! Ngươi muốn nghe lại tiếng ngân đó để tự ru ngủ tâm trí mình rằng người cha dưới suối vàng đang mỉm cười xoa đầu khen ngợi ngươi!"

Từng lời nói của Quý Thủ Chuyết như những gáo nước băng buốt tạt thẳng vào đầu Lục Thanh giữa đêm đông giá rét.

Toàn thân thiếu niên cứng đờ như hóa đá. Hai tai cậu lùng bùng những tiếng ong ong chói gắt, lồng ngực thắt lại nghẹt thở, trái tim đập từng hồi loạn xạ như muốn nhảy ra khỏi cuống họng.

Lão nhân quét sân tàn tạ này đã bóc trần không thương tiếc từng ngóc ngách tăm tối, yếu mềm và hèn nhát nhất mà cậu đã cố tình chôn giấu suốt đêm qua—những toan tính vị kỷ mà ngay cả chính cậu cũng không dám dũng cảm nhìn thẳng vào.

Đúng vậy... Sáng sớm nay khi thức dậy giữa màn sương lạnh, trong tâm trí cậu đâu có sự tĩnh lặng thuần khiết của người thợ đứng trước lò than, cũng chẳng có sự ung dung tự tại của một kiếm giả. Cậu chỉ bị ám ảnh bởi tiếng ngân vang chiều qua, bị ám ảnh bởi nỗi khát khao cháy bỏng muốn tái hiện lại cảm giác ấm áp đó. Cậu đã vô thức biến tiếng ngân của Tâm Minh Thiết thành một tấm huân chương danh dự, một lời phán quyết của người cha quá cố nhằm khẳng định rằng: *Lục Thanh, con làm tốt lắm, con không hề tầm thường, con xứng đáng là con trai của Lục Viễn Sơn.*

"Tâm Minh Thiết..." Quý Thủ Chuyết ngả người tựa lưng vào mép bàn, ánh mắt lướt qua tàn kiếm bọc vải thô, thanh âm chùng xuống đôi phần, mang theo một nỗi chua xót xa xăm. "...là thứ linh kim cổ quái nhất trên cõi đời này. Nó không có mắt để nhìn hình tướng, không có tai để nghe lời đường mật, nhưng cấu trúc tinh thể bên trong từng thớ kim loại lại ghi nhận chính xác đến rợn người từng dao động nhỏ nhất phát ra từ thần hồn của kẻ chạm vào nó. Nó không bao giờ bị đánh lừa bởi những chiêu thức hoa mỹ rỗng tuếch, càng không thể bị mua chuộc bởi sự bắt chước vụng về của một kẻ thích diễn trò. Ngươi chân thật với chính mình một phần, nó sẽ ấm lên một phần. Ngươi giả dối nửa khắc, nó sẽ lập tức lạnh buốt vạn năm!"

Lão khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu chán chường nhìn Lục Thanh:

"Ngươi mang theo thanh kiếm gãy này trèo lên núi Vân Phong, rốt cuộc là để tìm kiếm con đường kiếm đạo của riêng ngươi, hay chỉ là để cố gắng làm sống lại cái bóng của cha ngươi? Đừng biến di vật của người đã khuất thành một cái lồng son giam cầm chính sinh mệnh của mình. Nếu ngươi cứ tiếp tục dùng những kỳ vọng của người chết để làm chiếc thước đo bóp nghẹt từng hơi thở ở hiện tại, thì cả đời này, ngươi cũng vĩnh viễn chỉ là một thằng thợ rèn vụng dại đang cố gồng mình đóng vai một người cha hoàn hảo mà thôi."

Kho sách ngầm rơi vào một khoảng thinh lặng tuyệt đối.

Chỉ còn nghe thấy tiếng gió núi rít qua từng khe hở của cánh cửa sổ mắt cáo bằng gỗ thông phía trên cao, mang theo hơi ẩm buốt giá của sương sớm thổi bạt ngọn bấc đèn dầu lay lắt trên bàn. Muội than đen bốc lên thành một sợi khói mỏng manh, chao đảo rồi tan biến vào bóng tối mịt mờ.

Lục Thanh ngồi bất động như một bức tượng đất nung, hai bàn tay buông thõng trên đầu gối, các ngón tay siết chặt lấy lớp vải quần thô nhám. Từng lời răn dạy sắc nhọn của Quý Thủ Chuyết tựa như những nhát búa vạn cân liên tiếp giáng xuống, đập vỡ tan tành cái vỏ bọc kiêu hãnh và tự tôn mong manh mà cậu đã cẩn thận đắp nặn bấy lâu nay.

Ký ức của những năm tháng cũ tại trấn Thanh Khê ùa về như một dòng thác lũ xé toạc màn sương phủ. Từ cái ngày cha cậu trút hơi thở cuối cùng bên bễ than đang lụi tàn, mỗi lần bước chân vào xưởng rèn hoang phế, cậu đều cố ép mình phải đứng đúng vào dấu chân lõm trên nền đất mà cha từng đứng, cầm lấy chiếc búa rèn nặng trịch đúng theo góc nghiêng mà cha từng cầm. Cậu thậm chí còn cố tập cho mình dáng đi trầm mặc, chậm rãi và thói quen nheo mắt nhìn sâu vào ngọn lửa than hệt như bóng hình cao lớn của ông trong ký ức. Cậu luôn mang trong mình một nỗi sợ hãi kinh hoàng: cậu sợ rằng nếu mình sơ suất làm sai một li, nếu mình không trở thành một bản sao hoàn hảo của Lục Viễn Sơn, thì sợi dây liên kết vô hình duy nhất giữa cậu và người cha kính yêu sẽ vĩnh viễn đứt đoạn.

Và rồi khi ôm thanh kiếm gãy này gia nhập Thanh Vân Kiếm Tông, cậu đã nâng niu nó như mang theo linh hồn của cha bên cạnh. Mỗi khi tàn kiếm ấm lên, cậu mừng rỡ khôn xiết như đứa trẻ thơ nhận được phần thưởng; mỗi khi nó nguội lạnh, cậu lại chìm sâu vào hố sâu thăm thẳm của sự dằn vặt, tự trách và hoài nghi năng lực của chính mình.

Cậu đã vô tình biến di vật thiêng liêng ấy thành một khối gông cùm tinh thần ngột ngạt. Cậu vung kiếm không phải bằng ý chí, bằng nhịp tim đập chân thật của một thiếu niên mười sáu tuổi mang tên Lục Thanh, mà bằng nỗi khiếp nhược của một kẻ sợ hãi việc mình không xứng đáng mang họ Lục.

Hai giọt nước mắt nóng hổi lặng lẽ trào ra từ khóe mi, lăn dài trên gò má gầy guộc của Lục Thanh rồi rơi xuống vạt áo chàm cũ kỹ, để lại hai chấm sẫm màu trên nền vải thô.

Thế nhưng lần này, đó không phải là những giọt nước mắt của sự yếu đuối, tuyệt vọng hay oán hờn. Đó là sự giải thoát tột cùng khi khối đá tảng vô hình đè nặng lên lồng ngực suốt bao năm tháng bỗng chốc rạn vỡ và tan thành mây khói. Nỗi u mê, sự bế tắc giằng xé tâm can từ chiều qua đến nay theo từng hơi thở sâu mà tiêu tán ra ngoài không khí.

Lục Thanh từ từ ngẩng đầu lên. Đôi mắt cậu lúc này đã rửa sạch mọi nét bối rối, chỉ còn lại sự trong trẻo, trầm tĩnh và kiên định vốn có của một đứa trẻ từng lớn lên bên tiếng đe búa, từng ngồi hàng giờ liền bên lò than đỏ rực để kiên nhẫn quan sát từng sắc thái biến chuyển của quặng sắt.

Cậu vươn hai bàn tay chai sần ra, cẩn thận nâng thanh tàn kiếm Tâm Minh Thiết lên khỏi mặt bàn. Cậu không hề vận chuyển một tia linh lực nào vào thân kiếm, không nín thở hồi hộp chờ đợi bất kỳ rung động kỳ bí nào, cũng không còn mảy may mong cầu nó phải cất lên một tiếng ngân vang để xoa dịu lòng mình.

Cậu chỉ nhẹ nhàng vuốt phẳng lớp vải thô thô ráp, rồi bắt đầu cuộn từng vòng, từng vòng quanh thân kiếm gãy một cách thuần thục, cẩn trọng và trân kính, hệt như cách một người thợ nông phu lau sạch bùn đất và cất chiếc cày quen thuộc vào góc nhà sau một ngày cày ải vất vả trên đồng ruộng. Cậu thắt một nút dây đơn giản mà chắc chắn, rồi đặt thanh kiếm nằm ngay ngắn ở góc bàn, sát bên cạnh chồng sách thẻ tre bám đầy bụi bặm.

Thanh kiếm vẫn hoàn toàn im lìm. Nó không hề phát ra một tia ấm áp nào, nhưng cái cảm giác buốt giá, cự tuyệt đến gai người ban sáng cũng đã biến mất không một dấu vết. Nó chỉ đơn thuần là một thanh kim loại bình thường đã qua lửa đỏ, mang nhiệt độ mát lạnh tự nhiên của một vật thể nằm yên trong gian phòng đá.

Lục Thanh đứng dậy, lui lại nửa bước, chắp tay cúi người thật sâu trước Quý Thủ Chuyết:

"Đệ tử ngu muội u mê... đội ơn Quý lão đã dùng lời vàng ngọc thức tỉnh."

Quý Thủ Chuyết lặng lẽ nhìn từng cử chỉ hạ kiếm, gói kiếm của cậu, nơi khóe mắt chằng chịt vết chân chim khẽ nheo lại, xẹt qua một tia tán thưởng cực kỳ hiếm thấy nhưng nhanh chóng giấu đi. Lão bưng bát trà của mình lên, ực một hơi cạn sạch cả bã chè vụn, rồi đặt bát trở lại khay gỗ, đứng dậy phủi bụi mù mịt trên tà áo choàng rách rưới.

"Biết sai mà dừng lại, ấy mới là cái gốc của người thợ. Còn việc có chép xong đống sách rách này trước giờ ngọ hay không, ấy mới là việc quyết định bữa cơm trưa của ngươi có hột gạo nào vào bụng hay không."

Lão nhân xoay người, lê từng bước lẹp xẹp hướng về phía cánh cửa ngách thông ra dãy hành lang tối tăm của Tàng Kinh Các. Đi được năm sáu bước, bóng lưng gầy gò của lão chợt khựng lại. Không hề quay đầu, lão chỉ buông thõng một câu nói đều đều như nói với bức tường đá:

"Cái cuốn sách bìa da hoẵng rách nát đó... nét chữ nguệch ngoạc thô kệch như gà bới, nhưng mấy câu khẩu quyết bên trong không có nửa lời lừa gạt đâu. Chép cho cẩn thận từng nét, xong xuôi thì lau sạch bụi rồi nhét kỹ vào góc tối của giá sách số ba đằng kia, đừng để lũ mọt trên núi gặm mất."

Lục Thanh sững người, ngước mắt nhìn theo bóng lưng còng còng của lão già đang khuất dần sau khúc quanh hành lang. Cậu quay lại nhìn cuốn sách cổ trên mặt bàn, dòng chữ "Duy chỉ kiếm tâm không chấp nhận sự sao chép giả tạo" dường như đang phát ra một vầng sáng trầm mặc, gột rửa tâm can cậu thêm một lần nữa.

Thiếu niên hít một hơi thật sâu không khí ẩm lạnh, ngồi ngay ngắn lại trước án thư. Cậu cầm bút lên, nhẹ nhàng chấm ngòi bút vào nghiên mực đá đã lắng cặn, bắt đầu cẩn thận chép tiếp từng dòng chữ cổ bằng một tâm thế hoàn toàn thư thái, an nhiên.

Từng nét chữ hiện ra dưới ngòi bút lông thỏ lúc này không còn gò ép, cứng nhắc để bắt chước theo phong thái hào hùng hay đanh thép của bất kỳ ai. Nét chữ của Lục Thanh vuông vức, mộc mạc, đường nét dứt khoát và vững chãi, phản ánh trọn vẹn mười năm rèn sắt cần cù bên đe đá ở trấn Thanh Khê. Trong cơ thể cậu, luồng khí ngũ hành hỗn tạp vốn thường ngày xung đột lộn xộn nay lại tự động vận hành một cách êm ả, nhịp nhàng theo từng hơi thở sâu: Thổ khí dày dặn nâng đỡ kinh mạch, Kim khí sắc bén cô đọng nơi đầu ngón tay cầm bút, Thủy khí mềm mại xoa dịu những chỗ tắc nghẽn, Mộc khí âm thầm sinh sôi nuôi dưỡng tế bào, và Hỏa khí ấm áp ẩn sâu dưới đan điền như bễ than đang ủ trấu.

Cả gian phòng ngầm chìm đắm trong một bầu không khí tĩnh mịch, an lành hiếm có. Tiếng đầu bút lông sột soạt cọ xát trên mặt giấy dó hòa cùng mùi thơm hăng hắc của mực tàu và mùi gỗ mục ngàn năm, dệt nên một khoảng trời riêng biệt, tách rời hoàn toàn khỏi những xô bồ, toan tính nơi chín ngọn núi cao vời vợi của Thanh Vân Kiếm Tông.

"Thình thình! Thình thình! Rầm!"

Đột nhiên, một chuỗi âm thanh hỗn loạn, dồn dập vang lên từ phía cầu thang đá bên ngoài, xé toạc sự tĩnh lặng của kho sách.

Tiếng đế giày vải nện thô bạo lên những bậc thềm thông hành lang, kèm theo tiếng thở dốc đứt quãng, kinh hoàng như bị ác quỷ đuổi sát sau lưng. Cánh cửa gỗ ngách bị một lực cực mạnh đẩy phăng sang một bên, va đập vào vách đá phát ra tiếng "ầm" đinh tai nhức óc, bụi bặm và mạng nhện trên xà nhà rơi lả tả xuống mặt sàn.

"Lục... Lục Thanh! Nguy to rồi! Chuyện long trời lở đất rồi!"

Mộc An đứng tựa cả người vào khung cửa gỗ, lồng ngực phập phồng dữ dội như chiếc ống bễ quá tải, sắc mặt trắng bệch không còn lấy một giọt máu. Chiếc túi vải thô đeo chéo bên hông cậu ta bị xốc ngược, mấy nhánh Dạ Ninh Thảo khô quý giá rơi vãi ra sàn đá ẩm ướt mà cậu ta cũng chẳng buồn đoái hoài. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán, chảy ròng ròng xuống cằm, làm lem luốc cả vạt áo đệ tử tạp dịch màu xám tro.

Lục Thanh lập tức đặt bút xuống nghiên, vội vã đứng dậy bước nhanh tới đỡ lấy cánh tay đang run rẩy của bạn mình: "Mộc An, bình tĩnh lại đã! Có chuyện gì xảy ra ở Dược Viên à? Có linh thảo nào bị hỏng hay chấp sự phạt đòn? Mau ngồi xuống uống ngụm trà nóng đã."

"Không... không phải chuyện Dược Viên!" Mộc An run rẩy gạt phắt bàn tay Lục Thanh ra, ho sặc sụa một tràng dài đến mức gập cả người lại, sau đó túm chặt lấy hai bên bả vai Lục Thanh bằng mười đầu ngón tay bấu sâu qua lớp áo. Đôi mắt cậu ta đỏ ngầu, ngấn lệ vì phẫn uất và sợ hãi cùng cực: "Điện Khảo Công... vừa mới hạ thông cáo khẩn cấp xuống bảng cáo thị bằng đồng dưới chân núi! Kỳ khảo hạch bí cảnh Thung lũng Hồi Âm sắp tới... toàn bộ quy chế đã bị lật ngược hoàn toàn rồi!"

"Đổi quy chế khảo hạch?" Lục Thanh khẽ nhíu mày, trong lòng dấy lên một điềm báo chẳng lành. "Bí cảnh Thung lũng Hồi Âm là cơ hội duy nhất ba năm một lần để đệ tử tạp dịch thi thố bước vào ngoại môn, quy chế mở cửa vốn đã định sẵn từ trăm năm nay, cớ sao lại đột ngột thay đổi?"

"Bọn họ... bọn họ kiếm cớ!" Mộc An nuốt nước bọt đánh ực một cái, giọng nói the the vỡ vụn vì kích động: "Thông cáo nói rằng vùng lõi của Thung lũng Hồi Âm năm nay bất ngờ xuất hiện những đợt triều cường linh khí dị thường, dẫn đến việc kết giới phòng hộ bị suy yếu nghiêm trọng. Bọn họ bảo chi phí tiêu hao linh thạch để duy trì trận pháp hộ mạng và khắc chế ngọc phù truyền tống khẩn cấp đã tăng vọt lên gấp ba lần so với dự kiến!"

Hai hàm răng Mộc An va vào nhau lập cập, ngón tay run rẩy chỉ ra hướng cổng núi:

"Chính tên Trần Chấp Ngôn bên Kiếm Đường đã đích thân ký lệnh thông qua sáng nay! Hắn đưa ra điều kiện mới: tất cả đệ tử ngoại môn xếp hạng chót và toàn bộ đệ tử tạp dịch nếu muốn giữ lại danh ngạch bước vào bí cảnh... bắt buộc trong vòng mười ngày tới phải nộp thêm đủ năm mươi điểm công tích cho Điện Khảo Công! Nếu tới giờ Ngọ ngày mở cửa bí cảnh mà không gom đủ năm mươi điểm... toàn bộ tư cách khảo hạch sẽ bị tước đoạt triệt để! Không những thế, những kẻ thiếu điểm sẽ lập tức bị ghi tên vào sổ đen, sung thẳng vào đội phu dịch khai thác mỏ hắc thiết dưới chân núi Vân Phong... vĩnh viễn không bao giờ được phép tham gia bất kỳ kỳ thi tiến giai nào nữa!"

Năm mươi điểm công tích!

Lại còn phải gom đủ trong vỏn vẹn mười ngày ngắn ngủi!

Gian phòng chép sách ngầm dường như đông cứng lại trước con số tàn khốc ấy. Không khí bỗng chốc trở nên đặc quánh, lạnh buốt đến mức hít vào làm đau buốt cả cuống phổi.

Lục Thanh sững sờ buông thõng hai tay. Cậu hiểu quá rõ cái giá trị của một điểm công tích ở Thanh Vân Kiếm Tông này nghiệt ngã đến mức nào.

Đối với những đệ tử tạp dịch hạ đẳng mang tạp linh căn như cậu và Mộc An, bổng lộc hàng tháng sau khi còng lưng làm lụng quần quật từ tờ mờ sáng đến đêm khuya—quét dọn hàng ngàn bậc thang đá đóng băng, gánh hàng trăm thùng nước suối từ chân núi lên đỉnh, hay nhổ sạch cỏ dại cho hàng chục mẫu dược điền—nhiều nhất cũng chỉ tích lũy được vỏn vẹn từ năm đến sáu điểm công tích ít ỏi. Năm mươi điểm... đó là thành quả lao động ròng rã, chắt bóp từng chút một của gần cả một năm trời không dám ngơi nghỉ một ngày!

Bắt một đệ tử tạp dịch kiếm đâu ra năm mươi điểm công tích chỉ trong vòng mười ngày ngắn ngủi?

Đây hoàn toàn không phải là một thử thách để sàng lọc nhân tài, càng không phải là biện pháp bù đắp chi phí cho đại trận bí cảnh như những lời hoa mỹ ghi trên bảng cáo thị. Đây rõ ràng là một cái bẫy tàn nhẫn, một bức tử lệnh không đổ máu do Trần Chấp Ngôn và những kẻ nắm quyền bên Kiếm Đường giăng ra, nhằm mục đích thanh trừng toàn bộ những đệ tử xuất thân bần hàn, linh căn kém cỏi ra khỏi cánh cửa tiên duyên, biến họ thành những nô lệ khai mỏ sống không bằng chết dưới đáy sâu tăm tối của Thanh Vân Kiếm Tông.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories