Kiếm Tâm Vấn ĐạoCh.2 / 40
Chapter 2

Chổi Trúc Sân Lá Rụng

Lão nhân quét sân Quý Thủ Chuyết thong thả bước đến trước cổng sơn môn với cán chổi trúc gác hờ trên vai, ánh mắt đùng đục như nước giếng cạn lướt qua vẻ phong trần lem luốc và bọc vải thô xám đen buộc chéo sau lưng Lục Thanh.

Ánh trăng non đầu tháng mỏng manh tựa một lưỡi liềm rỉ sét, treo chênh chếch trên ngọn cổ tùng ngàn năm, rọi thứ ánh sáng bàng bạc lành lạnh xuống phiến ngọc thạch khổng lồ trước sơn môn Thanh Vân Kiếm Tông. Trên phiến đá ấy, hai tên thị vệ hộ sơn thân vận huyền y nẹp chỉ bạc đang lăm lăm trường kiếm trong tay, linh quang sắc bén màu lam nhạt nơi đầu mũi kiếm rung lên khe khẽ theo từng nhịp thở dồn dập. Không khí vốn dĩ căng như dây cung sắp đứt bỗng chốc chùng xuống bởi tiếng bước chân lẹp xẹp, chậm chạp của một đôi hài cỏ rách mũi, từng ngón chân già nua khẳng khiu lộ cả ra ngoài, bám lấy từng thớ đá phủ đầy sương lạnh.

Hai tên thị vệ vừa nhận ra bóng người từ trong màn sương mù bước tới, cổ tay đang vận kình phát lực liền bất giác khựng lại giữa chừng. Ánh kiếm sắc lạnh hơi hạ thấp xuống nửa tấc. Tên thị vệ bên tả có khuôn mặt vuông vức thô kệch, râu quai nón lởm chởm, chân mày lập tức nhíu chặt lại thành một búi; vẻ hung hăng, sát khí nơi đáy mắt hắn trong chớp mắt biến thành nỗi bực dọc xen lẫn vài phần kiêng dè khó tả. Hắn hếch cằm lên, giọng điệu gắt gỏng:

“Quý lão đầu? Nửa đêm nửa hôm, lão không ở lại phía sau Tàng Kinh Các mà nhóm lò hong mớ sách mục dính nước ẩm, lặn lội mò mẫm ra tận cổng tiền sơn này làm cái gì?”

Quý Thủ Chuyết không vội mở miệng. Thân hình lão còng rạp xuống như một thân cây khô bị bão tuyết đè oằn qua năm tháng, chiếc áo vải thô màu xám tro khoác trên người đã vá chằng vá đụp, nhiều chỗ sờn rách đến mức trơ cả sợi gai thô. Lão thong thả dừng bước ngay cạnh chân cột đồng trụ khắc phù văn trấn sơn, nhẹ nhàng hạ cán chổi trúc già xuống, tựa vào bệ đá hoa cương nhẵn bóng. Một bàn tay gầy trơ xương, nổi đầy những đốm đồi mồi thò vào trong vạt áo trước ngực, lục lọi sờ soạng hồi lâu mới lôi ra một chiếc tẩu thuốc bằng đồng thau dài chừng nửa thước. Chiếc tẩu thuốc kia rõ ràng đã theo lão qua không biết bao nhiêu mùa đông lạnh giá, nước đồng ngả sang màu nâu bóng loáng, nhẵn thín.

Lão đưa đầu tẩu gõ nhẹ lên thân cán chổi trúc ba tiếng *cọc, cọc, cọc* giòn tan, âm thanh khô khốc vang vọng giữa đêm vắng:

“Làm gì à? Đi tuần chứ còn làm gì nữa. Đêm nay khí ẩm từ thung lũng phía sau bốc lên nồng quá, mấy giá sách đóng bằng gỗ đàn hương đỏ ở tầng trệt Tàng Kinh Các lại bắt đầu đổ mồ hôi hột. Mấy cuộn kiếm phổ chép tay từ thời ba trăm năm trước nếu để ngấm phải cái thứ sương muối này thì mục rữa thành bột hết. Lão già này tính rảo bước ra mượn Chấp sự viện hai bao vôi sống đem về rải tạm quanh chân tường, nào ngờ đi ngang qua đây lại nghe thấy tiếng quát tháo rền vang như sấm sét giữa trời quang của hai vị sư đệ.”

Nói đoạn, mi mắt nặng trĩu của lão khẽ nâng lên. Ánh mắt đùng đục, lờ đờ như người ngái ngủ ấy lại một lần nữa lướt qua thân hình gầy guộc của Lục Thanh. Lần này, điểm nhìn của lão dừng lại rất lâu, gần như găm chặt vào chiếc bọc vải thô xám đen buộc chéo qua ngực thiếu niên. Lớp vải bố thô dày dặn ấy bọc kín mít từ đầu đến đuôi, giấu kín cả phần cán kiếm lẫn vết bẻ gãy nham nhở, chỉ lộ ra một hình thù thô kệch, dài ngắn bất thường. Dưới ánh trăng mờ, khóe mắt chằng chịt nếp nhăn của Quý Thủ Chuyết chợt giật nhẹ một nhịp rất khẽ, nhanh đến mức hai tên thị vệ đứng đối diện tuyệt nhiên không thể phát giác. Nhưng chỉ trong một cái chớp mắt, vẻ mặt lão lại trở về sự uể oải, lười nhác thường ngày, như thể thứ sau lưng cậu thiếu niên kia chẳng qua chỉ là một thanh củi mục nhặt nhạnh bên bờ suối.

Tên thị vệ gầy gò đứng bên hữu thấy vậy liền hừ lạnh một tiếng, cổ tay rung lên, thu kiếm vào vỏ nghe một tiếng *cách* dứt khoát. Hắn khoanh hai tay trước ngực, giọng mỉa mai:

“Lão đừng có ở đây mà bao đồng, xen vào việc không đâu. Thằng nhãi ranh này vốn là một kẻ phàm phu tục tử dưới chân núi Thanh Khê, mang cái thân ngũ hành tạp linh căn phế phẩm, ban sáng đã bị Trần giáo tập ở Kiếm Khảo Đường đích thân loại bỏ, đuổi thẳng cổ xuống núi. Thế mà nửa đêm nửa hôm nó lại lén lút trèo vách đá mò lên đây, không lệnh bài trúng tuyển, không thân phận ngọc bài, dám trơ tráo nằng nặc đòi xin một chân làm đệ tử tạp dịch ngoại môn. Tông môn ngàn năm quy củ nghiêm ngặt hơn sắt thép, đệ tử tạp dịch ngoại môn dù thấp kém cũng phải do Chấp sự viện xét duyệt lai lịch, tuyển chọn định kỳ ba năm một khóa. Đâu phải cái thứ xó xỉnh ô hợp, rác rưởi nào cũng có thể tùy tiện nhét người vào!”

“Quy củ của Chấp sự viện?” Quý Thủ Chuyết nhếch khóe môi nứt nẻ, phì ra một ngụm khói thuốc nhạt thếch, mang theo mùi lá thảo dược đắng ngắt, cay nồng xộc thẳng vào mũi hai tên lính gác. “Mấy lão già bụng phệ bên Chấp sự viện kia ba năm nay có thèm đặt nửa bàn chân tới cái xó Tàng Kinh Các hôi hám của lão không? Từ mùa thu năm ngoái, lão đã chống gậy lên tận cửa viện xin cấp thêm hai chân tạp dịch quét dọn phụ bưng nước, hong sách mục. Lần nào lên bọn họ cũng khất lần khất lữa, bảo rằng nhân lực ngoại môn khan hiếm, phải ưu tiên dồn hết cho Dược Viên chăm linh thảo với Kiếm Luyện Đường bửa củi nhóm lò luyện kiếm. Giờ thì hay rồi, lá trúc rụng ngập cả ba mẫu sân đá hoa cương, rêu xanh đóng dày cả tấc trên bậc thềm dẫn lên cửa các. Tuần trước mấy vị trưởng lão cùng khách quý lên mượn sách suýt trượt chân ngã sấp mặt mấy bận, những lúc ấy Chấp sự viện có phái người tới vác chổi quét thay cho cái lưng còng này của lão không?”

Lão quay đầu lại, ánh mắt rơi xuống người Lục Thanh, giọng điệu cộc lốc, khô khốc tựa như đá sỏi va vào nhau:

“Này tiểu tử, ngươi tên họ là gì?”

Lục Thanh đứng chôn chân trên phiến đá lạnh buốt. Trải qua một đêm dài bám vào những khe đá hiểm trở để leo ngược lên đỉnh Vân Phong, hai bắp chân cậu lúc này đã căng cứng, run rẩy không ngừng vì kiệt sức. Cổ họng cậu khô rát như có than hồng thiêu đốt, nhưng trước ánh nhìn của lão nhân coi giữ Tàng Kinh Các, sống lưng cậu bất giác thẳng tắp trở lại. Cậu chắp hai bàn tay thô ráp, chai sần đầy những vết xước rớm máu lại trước ngực, khom mình hành một lễ thật sâu:

“Tiểu nhân họ Lục, tên một chữ Thanh. Quê quán ở trấn Thanh Khê dưới chân núi. Thuở nhỏ theo cha phụ việc bên bễ lò rèn, sức vóc từ nhỏ đã quen gánh nặng đập búa, dọn xỉ than, chịu thương chịu khó. Bất kể việc nặng nhọc, dơ bẩn nào trong tông môn tiểu nhân cũng đều có thể làm được, tuyệt đối không dám nửa lời than vãn.”

“Biết cầm búa rèn sắt thì đôi bàn tay cũng còn có chút gân cốt, không đến nỗi mềm èo ẻo như lũ thư sinh ăn trắng mặc trơn chỉ biết ngâm thơ vịnh nguyệt.” Quý Thủ Chuyết gật gù, chiếc tẩu thuốc lại gõ lộc cộc vào thân trúc, rồi lão quay ngoắt sang nhìn hai tên thị vệ, khóe mắt nheo lại: “Được rồi, Tàng Kinh Các của lão theo quy chế do vị tổ sư khai sơn đời thứ hai định ra từ tám trăm năm trước, trước nay vẫn luôn giữ lại danh ngạch ba tên tạp dịch lặt vặt do người coi các tự quyền tuyển dụng, tự quản lý. Nay lão dùng danh nghĩa người coi các thu nhận thằng nhóc này vào chân phụ việc quét dọn sân sau, gánh nước tưới cây. Sáng mai lão sẽ tự mình viết một tờ giấy báo mang sang Chấp sự viện đóng dấu lưu hồ sơ là xong xuôi. Khỏi phiền nhị vị kiếm tu oai phong lẫm liệt nơi đây phải bận tâm bẩm báo rườm rà lên trên làm gì cho nhọc sức.”

Tên thị vệ mặt vuông nghe vậy thì sắc mặt biến đổi liên tục, lúc xanh lúc trắng. Hắn siết chặt chuôi kiếm, bước lên nửa bước, cất giọng ngăn cản:

“Quý lão, ngài làm vậy là cố tình làm khó chúng ta! Dù cho Tàng Kinh Các có danh ngạch tự tuyển người, nhưng thằng nhóc này rõ ràng mang ngũ hành tạp linh căn hạ đẳng, kinh mạch toàn thân bế tắc hoàn toàn, không có nửa điểm tiên duyên! Loại phế vật này ngay cả tư cách quét rác ở ngoại môn cũng không xứng, nếu chuyện này truyền tới tai các vị trưởng lão Chấp pháp...”

“Nếu truyền tới tai ai, lão già này sẽ tự mình vác cái thân tàn này ra gánh vác, nói là do lão tự ý dung túng, tuyệt đối không liên lụy đến nửa sợi lông chân của hai vị kiếm tu giữ cổng oai vệ.” Quý Thủ Chuyết phất phất ống tay áo rộng thùng thình, cáu bẩn vì bụi than và mạng nhện. Giọng nói của lão già tuy không lớn, vẫn trầm đục, khàn khàn như tiếng cối đá xay lúa, nhưng trong từng câu từng chữ lại ẩn chứa một thứ áp lực vô hình, nặng trĩu đè nặng lên không gian xung quanh, khiến lời cãi cọ của tên thị vệ nghẹn ứ ngay nơi cổ họng: “Một đứa nhỏ mang tạp linh căn làm chân quét lá rụng, bổ củi gánh nước thì có thể làm loạn được cái sơn môn rộng vạn mẫu này chắc? Hay là sáng sớm ngày mai, hai vị sư đệ đây muốn tự mình vác chổi trúc lên Tàng Kinh Các, quét sạch ba ngàn bậc đá phủ rêu trước giờ Thìn thay cho tấm thân già này?”

Hai tên thị vệ đưa mắt nhìn nhau. Đáy mắt tên mặt vuông lóe lên sự bực bội tột cùng, nhưng sâu thẳm trong đó lại là nỗi kiêng dè không dám bộc phát. Ở cái tông môn Thanh Vân Kiếm Tông này, ai mà chẳng biết lão già Quý Thủ Chuyết là một kẻ tính khí cổ quái, gàn dở bậc nhất. Quanh năm suốt tháng lão chỉ giam mình trong cái xó Tàng Kinh Các bụi bặm, làm bạn với đống sách rách nát và những đống lá khô mục rữa. Lão không có chức sắc thực quyền, không dạy dỗ đệ tử, nhưng nghe các bậc tiền bối truyền tai nhau, lão già này đã cắm rễ ở Tàng Kinh Các từ trước cả khi vị chưởng môn đương nhiệm tiếp quản tông môn. Không ai nhìn thấu được tu vi nông sâu của lão, cũng chẳng có kẻ nào dại dột vì một tên tiểu tử phàm nhân mà đi chuốc lấy phiền phức với một lão quái vật sống thọ đến mức sắp hóa thạch.

Tên thị vệ gầy gò khẽ kéo nhẹ vạt áo đồng bạn, rồi cả hai hậm hực nghiêng người, lùi lại một bước né sang bên mép đường đá, nhường ra một lối đi hẹp.

“Đa tạ nhị vị sư huynh đã khoan dung mở lối.” Lục Thanh cúi đầu, giọng nói trầm tĩnh nhưng kiên định. Cậu cẩn thận nhấc từng bước chân tê dại, lặng lẽ theo sau gót đôi hài cỏ rách mòn vẹt của Quý Thủ Chuyết, bước qua cánh cổng vòm bằng đá ngọc thạch khổng lồ.

Vừa bước qua ranh giới vô hình của đại trận hộ sơn, một luồng thanh khí mát rượi, tinh khiết như sương sớm lập tức ùa vào khoang mũi, len lỏi qua từng lỗ chân lông, xua tan đi phần nào sự mệt mỏi rã rời sau một đêm dài leo núi hiểm trở. Trước mắt Lục Thanh, dãy hành lang bằng đá hoa cương uốn lượn men theo vách núi sừng sững của ngọn Vân Phong, chìm sâu vào sự tĩnh mịch của màn đêm. Phía xa xa, những ngọn lầu các nguy nga, những đỉnh núi mờ ảo trong mây bồng bềnh khẽ phát ra những luồng linh quang ngũ sắc huyền ảo, tựa như chốn bồng lai tiên cảnh tách biệt hoàn toàn với trần thế gió bụi.

Lục Thanh cúi gầm mặt, im lặng đi sau lưng Quý Thủ Chuyết chừng mười trượng. Cậu nhìn chăm chú vào từng viên đá lát đường gồ ghề dưới chân, lắng nghe tiếng bước chân lẹp xẹp đều đặn của lão nhân phía trước. Đi được chừng nửa dặm, khi bóng dáng của cổng sơn môn và hai tên thị vệ đã hoàn toàn biến mất sau những rặng tùng cổ thụ, Lục Thanh khẽ hít một hơi, toan cất tiếng cảm tạ.

Thế nhưng, Quý Thủ Chuyết phía trước bỗng nhiên dừng phắt lại. Lão đứng sững bên một ngã rẽ lát đá xanh hẹp và dốc đứng, hai bên đường mọc đầy những bụi trúc gai rậm rạp dẫn sâu xuống một hẻm núi tối tăm.

Lão nhân quay ngoắt người lại. Chiếc cán chổi trúc chống thẳng xuống mặt đá phát ra một tiếng *cộp* khô khốc. Dưới bóng tối nhập nhoạng của rặng trúc, ánh mắt Quý Thủ Chuyết bỗng trở nên sắc lẹm như hai lưỡi đoản đao vừa tuốt khỏi vỏ, găm thẳng vào từng đường nét trên khuôn mặt non nớt của Lục Thanh. Trong đôi mắt ấy, tuyệt nhiên không còn sót lại nửa phần lười biếng, nhếch nhác hay uể oải như lúc đối đáp với đám lính gác ngoài cổng môn.

“Tiểu tử, chớ vội mừng thầm trong bụng.” Giọng nói của Quý Thủ Chuyết trầm hẳn xuống, lạnh lùng và khô khốc tựa như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ xát vào nhau giữa ngày đông giá rét. “Lão già này nhận ngươi vào Tàng Kinh Các không phải vì nổi lòng trắc ẩn với cái xuất thân thợ rèn bần hàn của ngươi, càng không phải vì muốn chống đối hay làm trái lời phán xét của tên nhãi Trần Chấp Ngôn bên Kiếm Khảo Đường kia.”

Lục Thanh hơi khựng lại, nhưng ánh mắt không hề né tránh. Cậu ngẩng cao đầu, đón nhận cái nhìn sắc như dao cạo của lão nhân:

“Tiểu nhân hiểu rõ điều đó. Ơn cứu vãn nửa đêm nay của tiền bối, giúp tiểu nhân có được một chỗ dung thân nơi tông môn, tiểu nhân đã khắc cốt ghi tâm.”

“Hiểu thì tốt. Nhưng hiểu thì phải nghe cho thật rõ ba điều kiện sau đây của lão.” Quý Thủ Chuyết giơ một ngón tay gầy guộc, đen đúa với móng tay cáu bẩn lên trước mặt Lục Thanh. “Điều thứ nhất: Ngươi vào đây chỉ với thân phận là một tên tạp dịch ngoại môn phụ việc lặt vặt thuộc quyền Tàng Kinh Các. Phạm vi làm việc và đi lại mỗi ngày của ngươi chỉ vỏn vẹn giới hạn ở khoảnh Sân Lá Rụng phía sau các, gian nhà kho chứa củi mục, miệng giếng nước bên sườn tây và những bậc đá dẫn lên cửa sau của các. Tuyệt đối không được bén mảng bước chân vào nội các ba tầng trên, không được lén lút dòm ngó dù chỉ nửa chữ trong các pho điển tịch kiếm phổ, và càng không bao giờ được phép tò mò, lai vãng đến những nơi các đệ tử nội môn tu luyện, luyện kiếm. Nếu để lão bắt gặp ngươi vượt qua ranh giới nửa bước, lão sẽ đích thân bẻ gãy hai chân ngươi rồi ném thẳng xuống vực sâu vạn trượng.”

Lão nhân gập ngón tay thứ nhất lại, giơ tiếp ngón tay thứ hai lên:

“Điều thứ hai: Công việc hàng ngày của ngươi chỉ gói gọn trong ba việc: quét sạch lá trúc ở Sân Lá Rụng, gánh nước từ giếng tây tưới cho gốc trà cổ thụ bên sườn đông, và dùng đá vụn sửa sang lại những bậc thang nứt vỡ do sương muối bào mòn. Mỗi ngày làm không xong việc, sẽ không có nửa hạt cơm vào bụng, tối phải ngủ ngoài thềm đá. Tự làm tự chịu, không ai hơi đâu mà thương xót ngươi.”

Đến ngón tay thứ ba, ánh mắt của Quý Thủ Chuyết bỗng nhiên nheo lại thật hẹp. Ánh nhìn của lão dừng lại rất lâu trên ngực áo Lục Thanh, nơi bọc vải thô xám đen đang áp sát vào lồng ngực cậu:

“Điều thứ ba, cũng là điều cốt tử nhất: Lão già này trước sau chỉ là một kẻ quét sân, giữ kho sách cũ nát của tông môn, tuyệt đối không phải bậc cao nhân ẩn dật, càng không bao giờ truyền thụ cho ngươi bất kỳ một chữ khẩu quyết, một đường kiếm chiêu hay nửa phần công pháp tu chân nào cả. Ngươi mang ngũ hành tạp linh căn, kinh mạch bế tắc bẩm sinh, nếu trong lòng vẫn còn nuôi cái ảo tưởng hão huyền rằng nương tựa vào lão để học lén tiên pháp cầu trường sinh hay nghịch thiên cải mệnh, thì mau mau dẹp bỏ cái mộng tưởng hão huyền ấy đi cho rảnh nợ. Bằng lòng chấp nhận ba điều kiện đó thì bước tiếp theo lão, còn nếu không, ngay sáng mai khi trời vừa hửng sáng, tự giác thu dọn bọc nải cút xéo xuống núi!”

Từng lời, từng chữ của Quý Thủ Chuyết thốt ra tựa như những nhát búa tạ giáng thẳng xuống đe sắt, lạnh lẽo, tàn nhẫn và dứt khoát. Ba điều kiện ấy khép chặt mọi cánh cửa hy vọng, chẳng khác nào một bản án chặt đứt mọi ảo mộng viển vông về con đường tu tiên đắc đạo của một thiếu niên phàm trần. Nếu là một đứa trẻ bình thường mang mộng tưởng cưỡi gió ngự kiếm bay lượn chín tầng mây, khi nghe thấy những lời phũ phàng này, hẳn tâm can đã nguội lạnh như tro tàn, thất vọng đến mức suy sụp gục ngã.

Nhưng Lục Thanh vẫn đứng sừng sững như một tảng đá ngâm dưới dòng suối lạnh. Cậu hít một hơi thật sâu, luồng khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi khiến đầu óc cậu trở nên tỉnh táo lạ thường. Hai bàn tay buông thõng bên hông khẽ siết chặt lại rồi từ từ thả lỏng.

Từ giây phút ôm thanh kiếm gãy bước chân ra khỏi tiệm rèn Lục Ký, cậu chưa bao giờ dám mơ tưởng đến chuyện một bước lên mây, hay gặp được kỳ ngộ kinh thiên động địa nào nơi tiên môn. Người thợ rèn sắt muốn rèn nên một lưỡi dao sắc bén, một mũi cuốc kiên cố, cũng phải trải qua ngàn vạn lần búa đập chan chát, trăm lần vùi mình vào lửa đỏ rồi ngâm vào nước lạnh thấu xương; tạp chất trong sắt có bị loại bỏ hết thì thép mới thành hình. Đạo lý nơi trần thế bình dị vốn dĩ là như vậy, chốn tiên gia huyền diệu há lại có con đường tắt êm ái hơn sao?

Lục Thanh chắp tay, khom lưng thật sâu, giọng nói bình thản không chút gợn sóng:

“Tiểu nhân xin ghi lòng tạc dạ ba điều kiện của tiền bối. Chỉ cần được ở lại nơi Tàng Kinh Các quét sân, gánh nước, sửa đá, tiểu nhân tuyệt đối an phận thủ thường, không dám tơ hào bất cứ điều gì vượt quá bổn phận của một kẻ phàm phu.”

Quý Thủ Chuyết chăm chú quan sát nét mặt tĩnh lặng như mặt hồ không gió của cậu thiếu niên. Khóe miệng nứt nẻ của lão hơi giật nhẹ một cái, trong đáy mắt đùng đục thoáng qua một tia dao động cực kỳ mơ hồ, nhưng rồi vẻ mặt lão lại nhanh chóng trở về nét thờ ơ, lãnh đạm cố hữu. Lão quay ngoắt người, vác chiếc chổi trúc lên vai, sải bước đi xuống con đường dốc:

“Biết điều thì tốt. Đi theo lão, đêm nay về chỗ ngủ trước đã.”

***

Con đường mòn dốc đứng đưa hai người vòng qua vách núi hiểm trở phía bắc, bỏ lại sau lưng những tòa cung điện nguy nga, những đỉnh lầu gác rực rỡ linh quang của Kiếm Luyện Đường và Nội Môn, tiến sâu vào một thung lũng lòng chảo khuất gió, nằm lọt thỏm giữa chân núi. Càng đi xuống sâu, không khí càng trở nên ẩm thấp, sương mù ngưng tụ thành từng hạt nước đọng trĩu trịt trên những cành cây ngọn cỏ, phảng phất mùi ngai ngái nồng nặc của vỏ thông mục và đất ướt sau mưa.

Hiện ra trước mắt Lục Thanh là một dãy nhà gỗ dài ngoằng, mái lợp bằng tranh dày cộp đã ngả sang màu đen thẫm vì ẩm mốc. Những bức vách bằng nứa đan trát đất sét lâu năm đã tróc lở từng mảng lớn, để lộ ra những thanh tre khẳng khiu bên trong. Gió đêm lùa qua những khe hở phát ra những tiếng rít u u ghê người. Đây chính là khu cư xá dành riêng cho đám tạp dịch và đệ tử phụ việc ngoại môn – những con người hèn mọn, vô danh làm những công việc chân tay nặng nhọc, bẩn thỉu nhất để duy trì sự vận hành trơn tru cho một đại tông phái danh tiếng ngàn năm.

Quý Thủ Chuyết bước đi thoăn thoắt, dẫn Lục Thanh dừng lại trước một căn phòng gỗ nằm ở mép ngoài cùng của dãy nhà, giáp mép rừng trúc. Lão chẳng thèm gõ cửa, đưa mũi hài cỏ rách đá nhẹ vào cánh cửa gỗ khép hờ một tiếng *cạch*:

“Mộc An! Ngủ chưa đấy?”

Cánh cửa gỗ kẽo kẹt mở toang ra. Một cái đầu với mái tóc búi củ tỏi hơi lệch sang một bên thò ra ngoài. Đó là một thiếu niên có khuôn mặt tròn trĩnh, hai má phúng phính nhưng lấm lem bùn đất. Thiếu niên ấy trạc tuổi Lục Thanh, vóc người tầm thước, hai ống tay áo vải thô màu nâu xắn cao tận khuỷu, để lộ đôi cẳng tay chi chít những vết trầy xước nhỏ do gai nhọn cào rách, nhiều vết đã đóng vảy đen. Trên người cậu ta tỏa ra một mùi hương ngai ngái, nồng đậm rất đặc trưng của các loại rễ cây rừng và thảo mộc phơi khô.

“Ủa, Quý lão đầu? Nửa đêm hôm khuya khoắt ngài không ngủ mà dắt ai tới xó này thế?” Thiếu niên tròn mắt ngạc nhiên, đưa mu bàn tay quệt ngang mũi rồi chớp chớp mắt nhìn sang Lục Thanh với vẻ tò mò không hề giấu giếm.

“Người mới của Tàng Kinh Các. Chỗ phòng ngươi còn trống một cái phản gỗ mục bên góc tường, cho nó ở tạm.” Quý Thủ Chuyết buông một câu cộc lốc, chẳng buồn giải thích thêm nửa lời, rồi quay ngoắt sang nhìn Lục Thanh: “Nghỉ ngơi đi. Giờ Dần canh năm sáng mai, có mặt ở Sân Lá Rụng nhận việc. Nếu đến muộn dù chỉ một khắc, tự giác thu dọn bọc nải xách gói rời khỏi núi.”

Dứt lời, thân hình còng còng của lão già lướt đi thoăn thoắt trên nền đất ẩm, bóng áo xám hòa lẫn vào làn sương đêm dày đặc, nhanh đến mức Lục Thanh vừa chớp mắt một cái đã không còn thấy tăm hơi đâu nữa.

“Này, huynh đệ, còn đứng ngây phỗng ra đó làm gì nữa, mau vào đi chứ!” Thiếu niên trong phòng vội vàng né người sang một bên, niềm nở vẫy tay gọi. “Ngoài đó sương núi độc lắm, đứng ngâm một lúc là hàn khí nó ngấm sâu vào tận khớp xương, sáng mai thức dậy là hai vai cứng đơ không nhấc nổi tay lên đâu đấy!”

Lục Thanh khẽ gật đầu tạ ý. Cậu cởi đôi giày vải rách tơi tả, dính bê bết bùn đất để ngay ngắn ngoài bậc cửa bằng gỗ rồi mới bước chân vào trong.

Căn phòng chỉ rộng chừng hai trượng vuông, bài trí vô cùng đơn sơ, thậm chí có phần bừa bộn. Hai chiếc phản gỗ thô ráp kê sát hai bên vách tường, một chiếc bàn con bằng gỗ tạp ở giữa chất đầy những bó lá thuốc khô đang được phân loại dở dang, bên cạnh là ba bốn chiếc sọt tre lớn đựng đầy những khúc rễ cây sần sùi. Ngay giữa gian phòng, một chậu than củi nhỏ đang cháy đỏ le lói, thỉnh thoảng lại nổ lách tách một tiếng, tỏa ra hơi ấm dịu nhẹ xua đi cái giá lạnh buốt da buốt thịt của thung lũng sương mù.

“Ta tên là Mộc An, năm nay mười sáu tuổi, làm chân phụ việc vặt ở Dược Viên bên sườn tây.” Thiếu niên hoạt bát vừa nói vừa nhanh nhẹn chạy lại chiếc phản gỗ trống bên góc tường trong cùng, ôm đống cành thuốc khô vứt sang một góc, rồi dùng tay áo phủi sạch lớp bụi mỏng trên mặt ván. “Ngươi tên gì? Nhìn bộ dạng phong trần, cả người dính đầy bùn đất thế này, chắc là mới từ chân núi Thanh Khê cuốc bộ trèo lên à? Lạ thật đấy, Quý lão đầu tính khí quái đởn, cứng nhắc như tảng đá ngâm dưới đáy suối ngàn năm, thế mà đêm hôm lại chịu đích thân dẫn ngươi về đây, đúng là chuyện lạ trăm năm mới thấy một lần ở cái đất ngoại môn này!”

“Ta tên Lục Thanh.” Cậu nhẹ nhàng tháo bọc vải thô xám đen sau lưng xuống, cẩn thận đặt sát vào góc trong cùng của tấm phản gỗ, giọng nói mang theo sự chân thành: “Hôm nay thi tuyển đệ tử không đỗ, may mắn được Quý tiền bối rủ lòng thương, thu nhận cho làm một chân tạp dịch quét dọn sân sau Tàng Kinh Các.”

Mộc An đang ôm bó rễ cây khô bỗng nhiên khựng lại một nhịp. Cậu ta quay phắt đầu lại nhìn Lục Thanh, ánh mắt lướt qua đôi bàn tay đen đúa, thô ráp đầy những vết chai sạn vì cầm búa đập sắt của người đối diện. Trong đôi mắt to tròn của thiếu niên Dược Viên bỗng thoáng hiện lên một nét đồng cảm sâu sắc. Nụ cười toe toét trên môi Mộc An chùng xuống một chút, nhưng rồi lại nhanh chóng nở rộ trở lại, tự nhiên, mộc mạc và ấm áp hơn:

“Không đỗ thì đã sao chứ! Ta nói cho ngươi nghe này, cái tông môn Thanh Vân Kiếm Tông này tuyển chọn đệ tử cứ như người ta lựa ngọc quý nơi phố chợ, chỉ chăm chăm nhìn vào cái thứ linh căn tinh thuần với kiếm cốt bẩm sinh gì đó thôi. Hai năm trước, ta hăm hở vác tay nải tham gia đại điển khảo hạch chính thức, kết quả trắc định ra tứ hành linh căn khuyết Kim, mấy vị chấp sự râu dài áo rộng chỉ liếc qua một cái rồi lắc đầu lia lịa, phán cho một câu ‘tư chất bình phàm, tiềm lực hữu hạn, khó thành đại khí’ rồi đuổi thẳng cổ ra khỏi sơn môn.”

Mộc An vừa nói vừa kéo một chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc lại gần chậu than, vỗ vỗ lên mặt ghế ra hiệu cho Lục Thanh ngồi xuống:

“Lúc ấy ta cũng uất ức, tức tưởi trốn vào xó đá khóc một trận cho hả dạ. Nhưng sau đó ngồi nghĩ lại, trượt thì cũng đã trượt rồi, giờ mà lủi thủi vác bọc về quê làm ruộng thì tiếc đứt ruột công sức lặn lội ngàn dặm đường rừng, thế là mặt dày chạy sang Chấp sự viện xin một chân phụ việc gánh nước tưới cây, ủ phân bón thuốc cho Dược Viên. Ngươi xem đấy, hai năm qua ở Dược Viên này, tuy ta không được học kiếm thuật ngự kiếm phi hành oai phong lẫm liệt như đám đệ tử trên đỉnh núi, nhưng ngày nào ta cũng được hít hà mùi cỏ thơm, phân biệt được rõ ràng mấy trăm loại linh thảo thần dược. Tối về ăn no bụng, đặt lưng xuống phản là ngủ một giấc thẳng cẳng không mộng mị, chẳng phải sướng hơn gấp vạn lần lũ đệ tử nội môn suốt ngày ganh ghét, so bì, tranh đoạt đan dược đến sứt đầu mẻ trán hay sao?”

Lắng nghe những lời bộc bạch vô tư lự, chất phác nhưng lại chứa đựng một sự kiên cường mộc mạc của Mộc An, tảng đá vô hình nặng trĩu đè nén trong lồng ngực Lục Thanh suốt từ chiều tối dường như vơi bớt đi phân nửa. Cậu ngồi xuống chiếc ghế đẩu, đưa hai bàn tay lạnh cóng, tím tái vì sương đêm hơ trên miệng chậu than hồng.

Bất chợt, ánh lửa than le lói rọi sáng những vết rách rớm máu, da thịt toác ra ở các kẽ ngón tay và mu bàn tay của Lục Thanh – vết tích của một đêm bám víu vào những vách đá sắc nhọn để trèo lên đỉnh núi. Mộc An vừa liếc thấy liền giật nảy mình, đứng bật dậy:

“Trời đất ơi, tay chân nát bét thế này mà còn ngồi trơ ra đó được!”

Cậu ta vội vã chạy tót lại góc phòng, lục lọi trong chiếc rương gỗ nhỏ đóng bằng ván thông, cẩn thận lôi ra một chiếc hũ sành màu xanh lục chỉ nhỏ bằng nắm tay trẻ con.

“Đưa hai bàn tay ngươi ra đây mau!” Mộc An ngồi bệt xuống cạnh Lục Thanh, dùng ngón tay cái cạy mạnh nắp sáp niêm phong miệng hũ sành. Một mùi hương thảo mộc the mát, dịu nhẹ xen lẫn vị đắng thanh lập tức lan tỏa, tràn ngập gian phòng chật hẹp. “Đây là cao Thanh Tâm Dược Nê do ta tự tay lén gom nhặt bã linh thảo thừa sau các đợt luyện đan của Dược Viên mang về chưng cất đấy. Đừng có thấy nó làm từ đồ thừa mà coi thường là rác rưởi nhé! Thứ thuốc mỡ này bôi vào những chỗ rách da, trầy xước hay phồng rộp do cầm búa quai chổi là ngày hôm sau miệng vết thương se lại ngay tắp lự, hàn khí không ngấm vào được mà lại tuyệt đối không để lại vết sẹo thâm nào đâu.”

Lục Thanh thấy vậy, theo bản năng hơi rụt tay lại:

“Cái này... chắc là quý giá lắm. Ta hiện tại hai bàn tay trắng, không có nửa viên linh thạch hay ngân lượng nào để gửi lại cho ngươi...”

“Khách sáo lôi thôi cái gì chứ!” Mộc An trừng mắt lên giả vờ giận dỗi, một tay túm chặt lấy cổ tay Lục Thanh kéo lại gần chậu than, tay kia quệt một mảng lớn cao thuốc màu xanh biếc, dẻo quánh rồi thoa đều lên những vết rách tướm máu trên bàn tay cậu. “Ở cái chốn ngoại môn khỉ ho cò gáy này, đám tạp dịch chúng ta thân phận thấp hèn như cỏ rác, không biết nương tựa, đùm bọc lấy nhau thì trông cậy vào ai? Đều là những kẻ thi trượt khảo hạch, bị người ta coi là phế vật cả, so đo tính toán mấy đồng bạc vụn làm cái gì cho bẩn bụng!”

Lớp dược mỡ vừa chạm vào da thịt rách toạc, cảm giác đau rát buốt nhói như muối xát lập tức tan biến. Thay vào đó là một luồng lương khí mát rượi, thanh khiết thấm sâu qua từng thớ thịt, len lỏi vào các đường gân đang co rút vì mỏi mệt, làm dịu đi cơn đau nhức thấu xương.

Lục Thanh ngồi lặng yên, chăm chú nhìn người bạn cùng phòng trạc tuổi mình đang cặm cụi bôi thuốc, miệng không ngừng lẩm bẩm dặn dò sáng mai thức dậy tuyệt đối không được nhúng tay vào nước lạnh ngay kẻo thuốc bay mất công hiệu. Nơi đáy lòng cậu, một dòng nước ấm áp, bình dị khẽ dâng lên.

Sau một ngày dài đằng đẵng nếm trải sự lạnh lùng tàn nhẫn của vị giáo tập Kiếm Đường Trần Chấp Ngôn, sự sỉ nhục khinh miệt của đám lính gác cổng và những lời răn đe sắt đá của Quý Thủ Chuyết, thì sự nhiệt tình vụng về, vô tư của thiếu niên Dược Viên này chính là ngọn lửa sưởi ấm đầu tiên, là điểm tựa bình yên duy nhất của cậu tại chốn tiên môn xa lạ, đầy rẫy sự phân biệt này.

***

Giờ Dần canh năm.

Khi màn sương mù dày đặc tựa như những dải lụa trắng khổng lồ vẫn còn bao phủ kín mít những rặng thông già, và hồi chuông sớm trầm hùng của Thanh Vân Kiếm Tông còn chưa kịp gióng lên trên đỉnh tiền sơn, Lục Thanh đã khẽ mở mắt. Cậu nhẹ nhàng trở mình rời khỏi tấm phản gỗ, bước chân thật êm trên nền đất nện để không làm kinh động đến Mộc An – người vẫn đang cuộn tròn trong chăn ngủ say sưa, ngáy nhè nhẹ sau một ngày dài gánh phân bón thuốc rã rời thân xác.

Men theo con đường mòn phủ đầy rêu xanh trơn trượt tối qua, Lục Thanh tìm đến khu vực hậu viện nằm khuất phía sau Tàng Kinh Các.

Đó là một khoảng sân lát đá hoa cương xám tro rộng lớn đến kinh ngạc, ước chừng phải hơn ba mẫu đất, nằm lọt thỏm giữa ba vách núi đá dựng đứng tựa như ba nhát chém của cự phủ thời khai thiên lập địa, và tòa tháp gỗ bảy tầng sừng sững, trầm mặc với những mái đao cong vút như cánh chim ưng săn mồi.

Nhưng điều kỳ dị nhất đập vào mắt Lục Thanh không phải là tòa cổ tháp ngàn năm hay vách đá dựng đứng, mà chính là cảnh tượng bao bọc xung quanh khoảng sân đá này. Đó là một rừng trúc xanh biếc bạt ngàn, thân trúc nào cũng thẳng tắp, cao vút vươn thẳng lên trời mây, tán trúc đan cài vào nhau rậm rạp như một tấm tàn lọng xanh khổng lồ che khuất cả nửa bầu trời sớm.

Khoảng sân lúc này lặng ngắt như tờ, tuyệt nhiên không có lấy một ngọn gió thoảng qua. Những thân trúc già trên cao đứng sừng sững, bất động như những bức tượng ngọc bích. Thế nhưng, từ trên khoảng không trung mờ ảo giữa rừng trúc, vô số những chiếc lá trúc xanh biếc lại không ngừng lìa cành, rơi lả tả xuống mặt đất.

Lá trúc rơi như mưa rào mùa hạ. Chúng không rơi thẳng đuột, mà xoay tròn, lượn lờ trong không gian theo những quỹ đạo kỳ quặc, gấp khúc, rồi chầm chậm đáp xuống mặt sân đá hoa cương. Lớp lá này vừa chạm đất, lớp lá khác trên cao đã rụng xuống. Cả khoảng sân rộng lớn ba mẫu lúc này đã bị phủ kín bởi một tấm thảm lá trúc dày đến nửa thốn. Màu xanh tươi rói của những chiếc lá vừa lìa cành đan xen với màu vàng úa, xám xịt của lớp lá mục rơi từ chiều hôm trước, tầng tầng lớp lớp, dày đặc đến mức không để lộ ra một tấc đá hoa cương nào bên dưới.

Tại một góc sân, dưới chân bức tường đá rêu phong, một chiếc chổi trúc cán dài và hai chiếc sọt tre lớn đan bằng nan cật đã được dựng sẵn bên cạnh bệ đá. Quý Thủ Chuyết không có mặt ở đó, nhưng trên bậc cửa sau khép hờ của Tàng Kinh Các có đặt sẵn một bình nước bằng gốm thô và một chiếc bát sành mẻ miệng.

Lục Thanh bước tới gần, đưa tay cầm lấy cán chổi trúc. Chiếc cán chổi được làm bằng một thân trúc đực già, thân cây ngả sang màu vàng sậm, nặng trịch và trơn nhẵn bóng loáng. Rõ ràng chiếc chổi này đã qua tay người quét dọn hàng ngàn, hàng vạn lần qua năm tháng dài đằng đẵng. Cậu hít sâu một hơi luồng linh khí lạnh ngắt buổi sớm đượm mùi hăng hắc của lá mục, hai chân bước rộng bằng vai, hạ thấp trọng tâm, đứng vững vàng theo thế trung bình tấn mà người cha quá cố từng truyền dạy bên bễ lò rèn năm xưa. Cậu vung tay, quét nhát chổi đầu tiên xuống mặt sân.

*Xoạt!*

Đầu chổi bằng những nan trúc già cọ xát mạnh mẽ trên bề mặt đá hoa cương, phát ra một âm thanh giòn giã, dứt khoát. Một khoảng sân đá màu xám xanh sạch bóng lộ ra dưới chân cậu. Lục Thanh khẽ mỉm cười thầm trong bụng. Cậu nghĩ rằng khoảng sân này tuy có rộng lớn thật, nhưng với sức vóc của một đứa trẻ lớn lên bên đe búa, từ năm mười tuổi đã quen quai búa tạ ba mươi cân đập sắt suốt ngày đêm như cậu, thì việc quét dọn này chung quy cũng chỉ tốn thêm chút mồ hôi công sức, chẳng có gì là ghê gớm cả.

Thế nhưng, cậu đã lầm to.

Chỉ vừa mới quét được một vạt sân chừng mười trượng vuông, cẩn thận gom lá trúc lại thành một đống nhỏ bên mép tường, Lục Thanh vừa quay đầu nhìn lại thì toàn thân đã sững sờ kinh ngạc. Khoảng sân đá hoa cương mà cậu vừa dốc sức quét sạch bong kin kít chỉ trong một tuần trà trước, giờ đây đã lại bị lấp đầy bởi một lớp lá trúc mới toanh. Những chiếc lá xanh mướt vẫn từ trên trời rơi xuống không ngừng nghỉ, lả tả đáp xuống mặt đất. Dường như mặt sân đá này có một sức hút ma quái nào đó, hoặc rừng trúc bạt ngàn kia sở hữu một nguồn lá vô tận không bao giờ có thể rụng hết.

Lục Thanh nhíu mày thật sâu. Cậu cắn chặt môi, không tin vào mắt mình, lập tức tăng nhanh tốc độ đưa chổi. Hai cánh tay rắn chắc của cậu thoăn thoắt đưa qua đưa lại, từng nhát chổi giáng xuống sàn đá nhanh như gió cuốn. Cậu dồn toàn bộ kình lực từ thắt lưng truyền lên vai, rồi phát ra hai cánh tay, quét liên hồi không ngơi nghỉ, cố gắng tạo ra tốc độ quét nhanh hơn tốc độ rơi rụng của những chiếc lá trúc ma quái kia.

Thời gian chầm chậm trôi qua theo từng nhịp chổi.

Từ giờ Thìn, khi vầng thái dương bắt đầu nhô lên khỏi rặng núi phía đông, xua tan đi màn sương mù dày đặc để lộ ra bầu trời xanh ngắt, cho đến giờ Tỵ, rồi mặt trời lên tới đỉnh đầu vào giữa trưa giờ Ngọ. Ánh nắng gay gắt rọi thẳng xuống mặt sân đá hoa cương rộng lớn, hắt lên một làn hơi nóng hầm hập như thiêu như đốt.

Lục Thanh vẫn chưa dừng tay lấy một khắc nào. Chiếc áo vải thô màu chàm trên lưng cậu đã ướt đẫm mồ hôi tự bao giờ, dính chặt vào từng thớ thịt. Mồ hôi mằn mặn chảy ròng ròng trên trán, rỉ vào khóe mắt làm mắt cậu cay xè, nhức nhối. Cơn khát cháy bỏng thiêu đốt nơi cổ họng khiến đôi môi cậu nứt nẻ, bật cả máu tươi. Thế nhưng mỗi lần ngoảnh đầu nhìn lại phía sau, thấy lớp lá trúc xanh ngắt lại phủ kín như cũ tựa như chưa từng có người quét qua, lòng tự trọng và sự bướng bỉnh, lầm lì của một đứa con nhà thợ rèn lại thôi thúc cậu siết chặt cán chổi, tiếp tục vung tay quét tiếp.

*Xoạt... xoạt... xoạt...*

Càng quét lâu, Lục Thanh càng cảm nhận rõ ràng sự bất thường đến quái dị của mảnh sân này. Những chiếc lá trúc rơi xuống kia tuyệt nhiên không hề tuân theo quy luật tự nhiên của gió thổi hay sức nặng của vật thể rơi tự do.

Mỗi khi cán chổi của cậu quét từ trái qua phải, một luồng khí lưu vô hình, mỏng manh nhưng dẻo dai từ dưới các khe nứt của đá hoa cương lại bốc lên, cuốn phăng những chiếc lá vừa gom lại bay tản mát ra bốn phương tám hướng. Đến khi cậu dồn hết sức bình sinh, vận kình vào hai cánh tay để quét mạnh một nhát nhằm tống khứ đống lá vào sọt tre, thì chiếc cán chổi trúc già lại rung lên bần bật, phản hồi lại một lực cản nặng trĩu, dai dẳng tựa như cậu đang dùng một mái chèo gỗ chống chọi lại dòng nước lũ cuồn cuộn đang đổ về hạ lưu.

Linh khí! Nơi Sân Lá Rụng này ẩn chứa một mạch linh khí ngầm cực kỳ hỗn loạn và cuồn cuộn bên dưới lòng đất! Chính dòng chảy linh khí vô hình, nghịch chuyển không ngừng đó đã chi phối toàn bộ quỹ đạo bay và rơi của rừng trúc, biến mỗi một nhát chổi quét sân tầm thường thành một cuộc giằng co sinh tử về thể lực và ý chí!

Giờ Mùi trôi qua, rồi bóng chiều ngả dần sang giờ Thân.

Ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu bắt đầu phủ dài trên các vách đá dựng đứng, nhuộm đỏ cả một góc trời phía tây. Toàn thân Lục Thanh lúc này đã rã rời đến mức mất đi cảm giác. Hai bắp đùi cậu run bần bật, co giật từng hồi như người mắc chứng phong hàn. Cột sống thắt lưng đau nhức buốt nhói tựa như sắp gãy làm đôi dưới sức ép đè nặng suốt cả ngày dài. Hơi thở của cậu trở nên dồn dập, đứt quãng, khò khè như bễ lò rèn rách bạt; mỗi một lần hít khí vào lồng ngực đều cảm thấy bỏng rát như có tàn lửa đỏ cọ xát bên trong buồng phổi.

Thế nhưng, nỗi đau đớn khủng khiếp nhất lại nằm ở hai bàn tay.

Lớp cao dược Thanh Tâm Dược Nê thần hiệu của Mộc An tối qua dù có màu nhiệm đến đâu, cũng không thể nào chống đỡ nổi sự ma sát tàn khốc, liên tục suốt gần mười canh giờ đồng hồ giữa da thịt trần trụi và lớp cật trúc thô ráp, cứng như sắt nguội. Những vết chai sần cũ kỹ bên lò rèn đã nứt toác ra từ lâu, máu tươi rỉ ra nhuộm đỏ thẫm cả một đoạn cán chổi dài.

Những mụn nước phồng rộp mới mọc đè lên những vết phồng rộp cũ, rồi dưới sức ép của từng nhát chổi lại vỡ tung ra. Chất dịch nhờn hòa lẫn với máu tươi và bụi đất bám chặt vào cán trúc, tạo nên một cảm giác đau rát thấu tận tâm can, buốt nhói lên tận óc. Mỗi một nhát quét giáng xuống mặt đá, da thịt nơi lòng bàn tay lại bị xé toạc thêm một phần, đau đớn đến mức khiến toàn thân cậu run rẩy không ngừng.

Khi vệt nắng cuối cùng của buổi hoàng hôn tắt ngấm trên đỉnh tháp bảy tầng của Tàng Kinh Các, và tiếng chuông chiều trầm đục của tông môn vang vọng từ phía tiền sơn báo hiệu giờ Thân đã điểm, Lục Thanh rốt cuộc không thể nào gượng nổi nữa.

Sức cùng lực kiệt.

Ngón tay cậu buông lỏng ra trong vô thức.

*Cạch.*

Cán chổi trúc nặng trịch rơi đập xuống nền đá hoa cương. Hai đầu gối Lục Thanh khuỵu xuống, cả thân hình cậu ngã quỵ trên mặt sân lạnh ngắt. Hai bàn tay cậu run rẩy dữ dội, những ngón tay co quắp lại thành hình móng vuốt, cứng đờ không sao duỗi thẳng ra được nữa. Từng giọt máu đỏ tươi từ lòng bàn tay rách nát tí tách nhỏ xuống, thấm ướt những chiếc lá trúc xanh mướt nằm vương vãi dưới chân.

Cậu khó nhọc ngước đôi mắt mờ đục, hoa lên vì kiệt sức nhìn ra xung quanh.

Khoảng sân đá hoa cương rộng lớn ba mẫu... vẫn ngập tràn lá trúc rụng.

Suốt từ sáng sớm tinh mơ cho đến lúc mặt trời lặn, cậu đã vắt kiệt từng giọt mồ hôi, từng chút sức lực của thân xác mười sáu tuổi này, nhưng kết quả thu lại chỉ là một khoảng sân nhỏ nhoi trơ trọi chừng ba trượng vuông xung quanh chỗ cậu đang quỳ. Còn lại, cả một khoảng sân mênh mông vẫn bạt ngàn một màu xanh biếc của lá trúc, tựa như một trò đùa tàn nhẫn, một lời giễu cợt đầy cay nghiệt của chốn tiên môn dành cho sự bất lực của một kẻ phàm phu tục tử.

Cách đó không xa, Quý Thủ Chuyết đã đứng dựa lưng vào khung cửa sau của Tàng Kinh Các từ lúc nào không hay. Trên tay lão nhân vẫn là chiếc tẩu thuốc bằng đồng thau nhả khói lững lờ vào ráng chiều ảm đạm. Lão đứng sừng sững ở đó, đưa mắt nhìn thiếu niên đang quỳ gục giữa đống lá mục, nhìn đôi bàn tay đầm đìa máu tươi đang run rẩy của cậu. Trong đáy mắt đùng đục của lão nhân không hề có lấy nửa phần xót thương hay trách cứ, chỉ lạnh nhạt buông ra một câu nói khô khốc:

“Hôm nay quét chưa xong nổi một phần mười diện tích sân. Cơm tối bị trừ đi một nửa. Thu dọn chổi lại ngay ngắn rồi cút về phòng.”

Dứt lời, lão xoay người bước thụt vào bên trong bóng tối của gian phòng. Cánh cửa gỗ dày nặng khép lại phát ra một tiếng *ầm* nặng nề, dứt khoát giữa buổi hoàng hôn tĩnh mịch.

***

Màn đêm buông xuống thung lũng ngoại môn, mang theo cái rét căm căm đặc trưng của vùng núi cao ngàn trượng. Sương muối bắt đầu ngưng tụ trên những mái tranh, biến cảnh vật xung quanh thành một màu xám xịt, lạnh lẽo như băng giá.

Lục Thanh lê từng bước chân nặng trĩu như đeo chì về đến dãy nhà gỗ của khu tạp dịch. Căn phòng vắng lặng không một bóng người; Mộc An lúc này chắc hẳn vẫn còn đang bận rộn tưới nước linh thảo ban đêm bên Dược Viên chưa thể trở về. Trên chiếc bàn con bằng gỗ tạp chỉ có một ngọn đèn dầu hạt lạc le lói, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù. Bữa tối của cậu được đặt sẵn ở một góc mép phản gỗ: chỉ vỏn vẹn một nửa chiếc bánh bao làm bằng bột ngô thô cứng ngắc như đá tảng, cùng một bát nước lã nguội ngắt đã đóng một lớp váng mỏng.

Lục Thanh không màng đến cái bụng đang sôi réo lên từng hồi vì đói lả. Cậu ngồi bệt xuống mép phản gỗ, khó nhọc cởi bỏ chiếc áo vải thô đã ướt sũng mồ hôi lạnh và dính đầy bụi bặm ra khỏi người. Từng cử động nhỏ của các ngón tay lúc này đều kéo theo những cơn đau nhức buốt nhói thấu tận xương tủy. Cậu dùng một góc chăn sạch tẩm chút nước lã, cắn răng chịu đau, cẩn thận lau đi những vệt máu khô đen kịt dính bê bết trên lòng bàn tay và các kẽ ngón tay.

Lau xong vết thương, cậu run rẩy với tay lấy chiếc bọc vải thô xám đen đặt ở góc trong cùng của chiếc phản.

Những ngón tay sưng vù, rớm máu khó nhọc gỡ từng nút thắt bằng sợi đay gai thô ráp. Lớp vải bố dày dặn từ từ mở ra, để lộ đoạn kiếm gãy dài một xích hai thốn nằm im lìm bên trong bóng tối.

Lưỡi kiếm được đúc từ quặng Tâm Minh Thiết cổ xưa, toàn thân mang một màu xám tro kỳ lạ. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu le lói, bề mặt kim loại không hề phản chiếu ánh sáng lấp lánh như các loại thép rèn kiếm thông thường, mà ngược lại, nó dường như có một sức hút kỳ dị, nuốt trọn thứ ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn vào sâu trong lòng kiếm. Bề mặt thân kiếm gồ ghề những vết búa đập thủ công chồng chéo lên nhau qua năm tháng. Một bên cạnh kiếm vẫn sắc bén, lạnh buốt thấu xương; bên còn lại mang một vết bẻ gãy nham nhở, tàn khốc, như thể đã từng trải qua một trận chiến kinh thiên động địa. Nơi chuôi kiếm, lớp dây quấn bằng da thú đã sờn rách, ngả sang màu đen bóng, lưu lại hơi ấm và dấu vết cầm nắm của người cha quá cố Lục Viễn Sơn suốt mấy mươi năm cuộc đời.

Lục Thanh cúi người, hai tay run rẩy ôm đoạn kiếm gãy áp sát vào lồng ngực trần trụi của mình. Khối kim loại lạnh ngắt như băng tuyết vừa chạm vào da thịt trước ngực khiến toàn thân cậu bất giác rùng mình một cái, từng lỗ chân lông đều co thắt lại.

Trong căn phòng vắng lặng như tờ, chỉ có tiếng gió rít từng hồi u u qua những khe nứa trát đất tróc lở, và tiếng thở dài nặng nhọc, đứt quãng của chính mình, sự kiên cường, lầm lì mà cậu cố gượng gạo duy trì suốt cả một ngày dài bỗng chốc rạn nứt từng mảng lớn.

Nỗi hoang mang, sợ hãi và nỗi tuyệt vọng bị dồn nén bấy lâu nay tựa như một con đê vỡ òa giữa mùa lũ, cuồn cuộn tràn ngập lấy toàn bộ tâm trí của thiếu niên mười sáu tuổi.

Cậu đang làm cái gì ở cái chốn tiên môn xa lạ, lạnh lùng này thế này?

Một kẻ mang ngũ hành tạp linh căn phế phẩm, kinh mạch toàn thân bế tắc hoàn toàn, bị vị giáo tập quyền uy nhất của Kiếm Đường phán xét thẳng thừng là vô duyên với tiên đạo, đời này kiếp này chỉ xứng làm sâu kiến dưới đáy trần gian. Cậu cố chấp trèo lên ngọn núi cao vạn trượng này, chấp nhận quỳ gối xin làm một tên tạp dịch hèn mọn nhất, cam chịu những nhát chổi quét sân vô vọng trên một mảnh sân đá ma quái mà lá trúc không bao giờ ngừng rơi. Liệu có phải cậu đang tự huyễn hoặc, tự lừa dối chính bản thân mình hay không?

Liệu những lời cha dặn dò trong hơi thở tàn trước lúc lâm chung bên bễ lò rèn về "kiếm tâm", về bí mật chôn giấu trên đỉnh Vân Phong ngút ngàn mây trắng này có phải chỉ là một lời an ủi hão huyền, một giấc mộng viển vông dành cho một đứa con bất tài, vô dụng không thể kế thừa gia nghiệp đúc kiếm của dòng họ? Hay chính sự cố chấp mù quáng, sự cứng đầu ngu muội của cậu đang biến bản thân thành một trò hề thảm hại, lố bịch trong mắt những người tu tiên thực thụ như Tạ Vân Khê, như Trần Chấp Ngôn?

Tạ Vân Khê... cái tên ấy như một vết dao cứa vào tâm can cậu. Lúc này đây, người thiếu niên thiên chi kiêu tử mang thiên linh căn cùng kiếm cốt trời ban ấy chắc hẳn đang ngồi xếp bằng trong những động phủ tràn ngập linh khí tinh thuần nhất, được các bậc danh sư truyền thụ những kiếm chiêu huyền diệu khôn lường, được đan dược thượng phẩm bồi bổ từng đường kinh mạch.

Còn cậu? Cậu chỉ có hai bàn tay rách nát đầm đìa máu tươi, một thân xác phàm phu kiệt quệ rã rời, một nửa chiếc bánh bao ngô khô khốc cứng ngắc, và một khoảng sân ba mẫu ngập ngụa lá rụng đang lạnh lùng chờ đợi cậu vào sáng sớm ngày mai.

Sự tự ti, nỗi mặc cảm và nỗi hoài nghi bản thân tựa như một chiếc gai độc cắm sâu vào nơi mềm yếu nhất trong tim, khiến hốc mắt Lục Thanh cay xè, nóng bỏng. Cậu siết chặt hai cánh tay, ôm đoạn kiếm gãy lạnh ngắt ghì chặt vào lồng ngực gầy guộc của mình, cúi gục đầu xuống hai đầu gối run rẩy. Cậu cắn chặt môi đến mức bật máu, cố ngăn không cho những tiếng nấc nghẹn ngào bật thốt ra ngoài giữa đêm thanh vắng.

*Mình có đang hoang tưởng không?*

Tiếng lòng cậu thầm tự hỏi trong bóng tối đặc quánh của căn phòng.

*Một kẻ mang tạp linh căn như mình... liệu có thật sự có tư cách bước đi trên con đường này sao?*

Ngay trong khoảnh khắc tăm tối nhất ấy, khi Lục Thanh đối diện trần trụi với nỗi bất an, sự yếu đuối và nỗi tuyệt vọng sâu kín nhất nơi đáy lòng mình, từ khối kim loại xám tro mang tên Tâm Minh Thiết đang áp chặt trước ngực cậu bỗng nhiên truyền đến một dao động cực kỳ khẽ khàng.

*Ong...*

Một tiếng rung mỏng manh như tiếng cánh ve sầu vỗ giữa đêm hè, vang lên ngay sát da thịt.

Đoạn kiếm gãy làm bằng Tâm Minh Thiết... bất ngờ ấm nhẹ lên một nhịp.

Hơi ấm ấy rất mỏng manh, rất mơ hồ, tựa như một đốm than hồng vùi sâu dưới lớp tro tàn lạnh lẽo nơi lò rèn cũ năm nào bỗng nhiên được một ngọn gió đêm thổi bùng lên. Nó không rực rỡ, không chói lòa, nhưng lại vô cùng kiên định, lặng lẽ lan tỏa qua lớp da thịt trần trụi, truyền thẳng vào nơi sâu thẳm nhất của trái tim cậu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories