Cửa Hẹp Chân Núi
Sáng sớm tại quảng trường Trấn Thanh Khê ngập tràn hơi ẩm sương núi và tiếng bàn tán xôn xao của hàng trăm gia đình đưa con em đến tham gia kỳ tuyển đồ hàng năm của các tông môn lân cận núi Vân Phong.
Màn sương lạnh từ những hẻm núi sâu thăm thẳm tràn xuống như dải lụa xám, là là là trên mặt đất lát đá dăm, quấn quýt quanh những đôi chân đang run rẩy vì giá buốt. Gió từ sườn non thổi rạt qua những ngọn cờ đuôi nheo cắm quanh đài đá, làm phần phật tấm lụa thêu hình mây lành uốn quanh một mũi kiếm dựng thẳng – biểu tượng của Thanh Vân Kiếm Tông, môn phái đứng đầu trăm dặm quanh rặng Vân Phong sừng sững. Trong không khí se lạnh buốt giá, mùi nhang trầm an thần của các vị chấp sự tỏa ra từ những lư đồng ba chân hòa lẫn với mùi mồ hôi chua nồng, mùi cỏ ướt bị giẫm nát và sự nôn nóng khôn nguôi của dòng người ken đặc. Hàng trăm đôi mắt đỏ hoe vì thức trắng đêm chờ đợi, những đứa trẻ trạc mười lăm, mười sáu tuổi đứng nép sát vào vạt áo thô của cha mẹ. Có đứa hồi hộp xoa hai bàn tay đỏ ửng vì lạnh buốt, có đứa cắn chặt môi đến rớm máu, lại có đứa cố kiễng chân rướn cổ nhìn lên bục đá cao nhất ở chính giữa quảng trường, nơi đặt pháp khí trắc định linh căn đang âm thầm tỏa ra từng luồng khí tức cổ xưa đè nặng tâm trí phàm nhân.
Lục Thanh đứng lẫn trong hàng người ở mé trái đài khảo thí, nơi bóng râm của cây tùng cổ thụ che khuất nửa thân mình. Chiếc áo vạt ngắn bằng vải thô màu chàm đã bạc phếch ở hai bên đầu vai, vạt tay áo được xắn cao quá khuỷu tay một cách gọn gàng, để lộ cánh tay săn chắc màu đồng hun và những vết chai sần dày cộp nơi lòng bàn tay – dấu ấn không thể phai mờ sau nhiều năm quai búa bên bễ than rực lửa. Thiếu niên mười sáu tuổi có dáng người tầm thước, khung xương vững chãi như gốc thông mọc trên kẽ đá, đôi mắt sáng và tĩnh lặng như đáy giếng nước đầu thu, dường như hoàn toàn lạc điệu giữa bầu không khí căng thẳng nghẹt thở và những tiếng thở dốc đầy lo âu xung quanh. Trong khi những đứa trẻ khác không ngừng cầu khấn trời phật phù hộ cho mình có được một tia linh căn để thoát ly cảnh chân lấm tay bùn, Lục Thanh chỉ lẳng lặng nhìn làn hơi nước mỏng manh phả ra từ cánh mũi, nhịp thở đều đặn và sâu lắng theo từng hồi đập của trái tim.
“Người kế tiếp: Lục Thanh, con trai thợ rèn Lục Viễn Sơn, Trấn Thanh Khê!”
Tiếng xướng danh sang sảng của vị đệ tử ghi chép mặc áo lam vang lên, xuyên qua màn sương mù dày đặc, kéo Lục Thanh ra khỏi dòng suy nghĩ miên man. Cậu khẽ chớp mắt, hít một hơi chân khí lạnh buốt của buổi sớm vào sâu tận đáy phổi, điều chỉnh lại nhịp thở cho phẳng lặng như mặt nước không gợn sóng, rồi cất bước bước lên bậc thềm đá xanh dẫn lên đài cao. Bậc đá này trải qua trăm năm mưa nắng và dấu chân của biết bao thế hệ ôm mộng cầu tiên đã mòn vẹt nơi rìa mép, trơn tuột vì lớp rêu ẩm chưa kịp khô sương sớm. Đôi giày vải thô rách mép của cậu đặt vững chãi trên từng phiến đá, không một tiếng động thừa thãi, từng bước đi trầm ổn như thể đang bước trên sàn xưởng rèn quen thuộc.
Trên bục cao, một trụ đá hoa cương xám chạm trổ những đường vân mây uốn lượn nâng đỡ một viên ngọc tròn cỡ nắm tay trẻ sơ sinh. Đó là Tầm Linh Châu – bảo vật thông dụng của các tông môn tu tiên dùng để khảo trắc sự tương thích của kinh mạch phàm nhân với linh khí ngũ hành trong trời đất. Viên châu lúc này đang lặng thinh, mặt ngọc trong suốt như nước hồ mùa đông đóng băng, không một tia gợn sóng, phản chiếu bóng hình mờ nhạt của trời mây u ám bên trên.
“Đứng vững, ngưng thần tĩnh khí, đặt trọn lòng bàn tay phải lên mặt ngọc.”
Giọng nói cất lên từ phía chiếc ghế bành bằng gỗ đàn hương ngàn năm đặt bên cạnh trụ đá. Người vừa lên tiếng mặc cẩm bào xanh thẫm viền chỉ bạc lấp lánh, khuôn mặt chữ điền nghiêm nghị với hai gò má hóp sâu, đôi mày kiếm nhíu chặt không để lộ một gợn sóng cảm xúc nào. Đó là Trần Chấp Ngôn, giáo tập của Kiếm Đường Nội Môn Thanh Vân Kiếm Tông, người nổi danh khắp vùng Vân Phong về tính tình khắt khe, lạnh lùng và sự tôn sùng tuyệt đối đối với những hạt giống có tư chất thuần khiết bẩm sinh. Ánh mắt ông ta quét qua Lục Thanh, lướt từ chiếc áo vá vai đến những khớp xương thô dày và lớp chai sần đóng tảng nơi lòng bàn tay của thiếu niên thợ rèn, khóe môi khẽ giật một cái rồi lắc đầu rất nhẹ. Đối với một kiếm tu tôn sùng sự thanh tao và kiếm khí thuần tịnh như Trần Chấp Ngôn, bàn tay thô kệch kia sinh ra là để cầm kìm sắt và quai búa nặng, chứ tuyệt đối không phải là bàn tay có thể cầm nổi thanh kiếm phiêu dật của tiên gia.
Lục Thanh thu hết những biểu cảm ấy vào mắt, nhưng nét mặt cậu vẫn không một tia biến đổi. Cậu khép hai vạt áo chàm, chắp tay cúi người hành lễ:
“Đệ tử tuân mệnh.”
Cậu bước tới trước trụ đá hoa cương, đứng cách nửa bước, chậm rãi đưa bàn tay phải lên. Những ngón tay thô ráp, chai sần vì năm tháng tiếp xúc với than hồng và sắt nguội từ từ chạm vào bề mặt trơn nhẵn, lạnh buốt như băng tuyết ngàn năm của Tầm Linh Châu.
Khoảnh khắc da thịt tiếp xúc với khối ngọc lạnh lẽo, một lực hút vô hình bỗng chốc từ trong lòng viên châu bộc phát, kéo giật lấy khí huyết trong người Lục Thanh như một cơn lốc xoáy ngầm dưới đáy nước. Cậu cảm thấy một luồng hàn ý buốt giá men theo huyệt Lao Cung ở chính giữa lòng bàn tay, chui tọt vào kinh mạch nơi cẳng tay, rồi như một đàn rắn trườn nhanh qua các nhánh mạch lạc, lan tỏa khắp tứ chi bách hải. Trong cơ thể cậu, những luồng khí tức vốn trầm mặc, ẩn sâu bấy lâu nay bỗng dưng bị ngoại lực khuấy động, dâng trào lên cuồn cuộn không theo bất kỳ một quy luật vận hành nào.
Bên trong Tầm Linh Châu, một tia sáng đỏ rực như hòn than đang độ đượm chợt lóe lên nơi tâm ngọc. Nhưng ánh đỏ của hỏa tính chưa kịp bùng phát thành một đóa hoa lửa rực rỡ thì một dải sáng màu lục mờ nhạt của mộc tính đã vội vã chen vào, quấn quýt lấy sắc đỏ như cành khô mục cố ôm lấy ngọn lửa tàn. Kế đó, một vệt vàng nhạt của thổ tính nặng nề trồi lên từ phía đáy, đè nén cả mộc lẫn hỏa xuống dưới; rồi sắc trắng kim loại sắc lạnh chớp tắt yếu ớt như ánh đom đóm trong đêm, cuối cùng bị một dòng lam nhạt nhờ nhờ như nước vẩn đục cuộn tới nhấn chìm tất cả.
Cả năm sắc màu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cùng lúc trồi sụt, đan xen, xoắn xuýt vào nhau như một cuộn chỉ rối ngàn sợi không đầu không mối. Viên linh châu không phát ra hào quang rực rỡ chiếu rọi bầu trời hay phát ra tiếng ngân vang thanh thoát như những gì đám đông bên dưới hằng mong đợi. Trái lại, nó chớp tắt liên hồi, lúc mờ lúc tỏ, hỗn loạn và tù mù như ngọn đèn dầu sắp cạn bấc trước cơn gió bão. Các luồng sáng ngũ hành cắn xé lẫn nhau, tự triệt tiêu sức mạnh của nhau, khiến cho mặt ngọc vốn trong trẻo không tì vết biến thành một khối sương mù ngũ sắc đùng đục, run rẩy bần bật vài nhịp rồi vụt tắt ngấm, trả lại màu trắng nhờ u ám ban đầu.
Không gian xung quanh đài khảo thí bỗng chốc chìm vào tĩnh lặng như tờ. Tiếng gió rít qua khe đá dường như cũng ngừng lại, nhường chỗ cho những tiếng xì xào thất vọng bắt đầu rộ lên từ đám đông ken đặc bên dưới chân đài.
“Năm màu... là ngũ hành linh căn?”
“Than ôi, đủ cả năm hành nhưng chẳng có lấy một hành nào vượt trội, mờ mịt hỗn tạp thế kia thì gom góp linh khí trời đất kiểu gì?”
“Đúng là công dã tràng. Xưa nay ngũ hành tạp linh căn tu luyện trăm năm cũng khó mà bước qua ngưỡng cửa Dẫn Khí tầng thứ nhất. Con nhà thợ rèn thì vẫn nên an phận về ôm bễ lửa thôi, trèo cao chỉ tổ ngã đau...”
Trần Chấp Ngôn khép mạnh cuốn sổ lụa đặt trên chiếc bàn trà bằng gỗ đàn hương, tiếng giấy lụa va đập vang lên khô khốc. Ánh mắt ông ta quét qua người Lục Thanh, không dừng lại quá một cái chớp mắt, dường như mỗi khắc nhìn thêm vào thiếu niên này đều là sự phí phạm tinh lực vô ích. Giọng ông ta đều đều, lạnh lùng và dứt khoát như nhát búa phạt ngang đe sắt lạnh, rõ ràng đến mức từng chữ như đinh nhọn đâm xuyên qua màn sương sớm buốt giá:
“Ngũ hành tạp linh căn. Năm khí hỗn độn, tương sinh thì ít mà tương khắc thì nhiều. Huyệt khiếu bế tắc như đá tảng, kinh mạch tạp loạn khó lòng dẫn khí nhập thể. Đời này vô duyên với đại đạo trường sinh.”
Trần Chấp Ngôn dừng lại một nhịp, phất mạnh ống tay áo bào thêu chỉ bạc, buông ra lời phán quyết cuối cùng không một chút thương hại:
“Không có căn cốt kiếm đạo, không thể nhập môn. Rút lui đi, đừng làm mất thời gian của người phía sau.”
Mấy lời ấy rơi xuống nhẹ tựa lông hồng trôi theo gió núi, nhưng đối với một thiếu niên mười sáu tuổi ôm ấp giấc mộng bước chân vào con đường tu đạo thoát tục, nó chẳng khác nào một bản án tuyệt thông nghiệt ngã chặt đứt mọi hy vọng. Tụ khí không thành thì chẳng thể Dẫn Khí, mà không thể Dẫn Khí thì tiên phàm cách biệt muôn trùng vĩnh viễn, cả đời chỉ có thể quanh quẩn nơi bờ cõi phàm trần mục ruỗng, sinh lão bệnh tử như cỏ rác ven đường.
Lục Thanh đứng sững lại trên bục đá một thoáng. Lòng bàn tay cậu vẫn còn vương lại cảm giác tê buốt, nhức nhối từ lực phản chấn của Tầm Linh Châu, nhưng hơi ấm quen thuộc từ những lớp chai sạn dày cộp – dấu ấn của ngàn vạn lần quai búa rèn sắt qua bao năm tháng – nhanh chóng sưởi ấm lại từng đầu ngón tay. Lồng ngực cậu khẽ thắt lại, một nỗi hụt hẫng mơ hồ dâng lên nơi cuống họng, đắng chát và lạnh ngắt. Thế nhưng, sâu thẳm nơi đáy mắt đen láy của cậu tuyệt nhiên không có vẻ oán hờn mù quáng hay sụp đổ tuyệt vọng. Cậu đã lường trước kết quả này từ rất lâu, kể từ cái ngày cha cậu còn sống, khi ông lặng lẽ đặt tay lên đỉnh đầu cậu và ngậm ngùi nhìn cậu dẫn thử một sợi khí tức mỏng manh rồi thở dài trong đêm vắng.
Lục Thanh chậm rãi thu bàn tay về, giấu vào trong ống tay áo thô ráp màu chàm. Cậu lùi lại nửa bước, cúi đầu, chắp tay khom lưng hành lễ đúng theo quy củ nghiêm cẩn của một kẻ vãn bối:
“Tạ ơn Trần giáo tập đã chỉ giáo.”
Lời đáp bình thản, âm sắc vững vàng không một chút run rẩy hay oán trách của cậu khiến Trần Chấp Ngôn khẽ liếc mắt nhìn lại một lần nữa. Đôi mày kiếm của vị giáo tập Kiếm Đường nhíu chặt hơn, trong mắt thoáng qua một tia ngạc nhiên rất nhỏ trước sự trầm tĩnh khác thường của một thiếu niên phàm trần vừa bị tước đoạt mộng ước. Nhưng tia ngạc nhiên ấy chỉ tồn tại trong chớp mắt rồi lập tức biến mất, nhường chỗ cho vẻ thờ ơ vốn có. Kẻ không có linh căn tốt, tâm tính dù có vững vàng đến đâu thì rốt cuộc cũng chỉ là một khối đá thô bên đường, ngàn năm không thể mài giũa thành ngọc quý.
Đúng lúc Lục Thanh vừa xoay người bước xuống bậc thềm đá xanh thứ nhất thì từ phía cuối con đường lát đá lớn dẫn từ cổng trấn vào quảng trường bỗng vang lên những tiếng reo hò rộn rã, tiếng vó ngựa dồn dập gõ trên mặt đường đá xua tan bầu không khí ảm đạm.
“Đến rồi! Mau nhìn xem, là cỗ xe của Tạ gia ở Thượng Thành!”
“Tạ Vân Khê! Vị thiên tài mười bốn tuổi đã tự mình ngộ ra một tia kiếm khí bẩm sinh kia sao?”
Đám đông đang chen chúc nghẹt thở quanh đài khảo thí bỗng dạt ra hai bên như sóng biển rẽ lối trước mũi thuyền lớn, vội vã nhường lại một khoảng trống thênh thang ở giữa lối đi.
Đi giữa lối đi ấy là một thiếu niên trạc tuổi Lục Thanh, khoác trên mình bộ trường bào màu nguyệt bạch thêu chỉ bạc lấp lánh như sương tuyết, thắt lưng khảm ngọc bích buông rủ dải thao bằng tơ tằm mềm mại đung đưa theo từng nhịp bước. Dáng người Tạ Vân Khê cao ráo, thẳng tắp như một thanh bảo kiếm thượng hạng vừa mới tuốt khỏi bao da, sống mũi cao thẳng, đôi mắt phượng sắc bén mang theo khí thế bức người tự nhiên của kẻ sinh ra nơi đỉnh cao vọng tộc quyền quý. Từng bước đi của y toát lên vẻ ngạo nghễ bẩm sinh, coi vạn vật xung quanh như cỏ rác. Đi kèm phía sau y là hai gã tùy tùng mặc giáp nhẹ ôm kiếm dài và một vị lão giả trung niên mặc áo xám với khí tức thâm trầm như biển sâu, ánh mắt sắc như ưng nhìn quét qua bốn phía.
Không cần đệ tử xướng danh mở lời, Tạ Vân Khê bước lên đài đá bằng những bước chân nhẹ bẫng tựa hồ không chạm vào lớp rêu ẩm ướt. Khí thế sắc bén vô hình tỏa ra từ người y khiến cho làn sương mù sớm quanh đài đá cũng phải dạt ra xa, không dám bén mảng lại gần.
Trần Chấp Ngôn – vị giáo tập Kiếm Đường vốn dĩ mặt lạnh như tiền, nghiêm nghị như tượng đá – nay lập tức đứng bật dậy khỏi chiếc ghế đàn hương. Hai vị trưởng lão phụ trách giám sát kỳ khảo thí vốn ngồi nhắm mắt dưỡng thần ở hai bên từ sáng sớm đến giờ cũng đồng loạt mở bừng mắt, trên gương mặt già nua đầy nếp nhăn nở nụ cười niềm nở và nhiệt thành hiếm thấy.
“Vân Khê hiền điệt, đường xa từ Thượng Thành tới đây thật vất vả.” Trần Chấp Ngôn bước nhanh lên nửa bước, thanh âm mang theo sự ôn hòa và cung kính khác hẳn vẻ lạnh lùng khi nãy: “Lão gia chủ Tạ thị gần đây thân thể vẫn an khang chứ?”
Tạ Vân Khê dừng bước trước trụ đá, chắp tay đáp lễ một cách chuẩn mực nhưng cằm vẫn hơi hất lên, không giấu được nét kiêu hãnh ăn sâu vào tủy não:
“Đa tạ Trần giáo tập quan tâm. Tổ phụ thân thể khang kiện, trước khi đi người dặn dò vãn bối phải đến đây trình diện đúng giờ, không dám chậm trễ quy củ ngàn năm của bản tông.”
“Tốt, tốt lắm! Lễ độ nghiêm cẩn, phong thái bất phàm, quả không hổ danh là kỳ tài trăm năm khó gặp của Tạ gia!” Một vị trưởng lão râu dài bạc phơ không tiếc lời khen ngợi, vuốt chòm râu dài cười lớn: “Mau, hiền điệt hãy đặt tay lên Tầm Linh Châu để tông môn ghi danh vào ngọc giản nội môn, chư vị phong chủ trên đỉnh núi đều đang nóng lòng chờ tin đấy.”
Tạ Vân Khê không nói thêm lời thừa thãi, vạt áo nguyệt bạch khẽ phất, vươn ngón tay thon dài trắng trẻo không một tì vết đặt hờ lên mặt ngọc trơn bóng.
Khác hẳn với cảnh tượng hỗn loạn, mờ mịt và bức bối của Lục Thanh khi nãy, Tầm Linh Châu vừa chạm vào đầu ngón tay Tạ Vân Khê liền phát ra một tiếng vang thanh thúy, ngân dài như tiếng kiếm reo giữa trời quang. Ngay sau đó, từ sâu trong tâm ngọc, một cột sáng màu vàng kim rực rỡ, chói lòa mang theo sự sắc bén tuyệt đối xé toạc không gian sương mù, phóng thẳng lên cao ba trượng giữa không trung, nhuộm vàng rực cả một góc quảng trường Trấn Thanh Khê. Ánh sáng thuần khiết đến mức không lẫn một hạt bụi trần, luồng kim khí sắc nhọn lan tỏa ra bốn phía khiến những kẻ đứng gần đài đá cảm thấy da mặt đau rát như bị lưỡi dao cạo qua.
“Đơn kim linh căn! Lại còn là cực phẩm Canh Kim Kiếm Cốt bẩm sinh!”
Tiếng tán thưởng, trầm trồ của các trưởng lão và giáo tập vang lên không dứt, lấn át hoàn toàn mọi âm thanh ồn ã khác trên đài khảo thí. Những lời ca tụng hoa mỹ, những ánh mắt ngưỡng mộ, ghen tị và thèm thuồng của đám đông bên dưới đổ dồn về phía thiếu niên áo trắng như một vầng hào quang chói lọi không thể nhìn thẳng. Tạ Vân Khê đứng giữa cột sáng hoàng kim, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười ngạo nghễ, đón nhận tất cả như một lẽ dĩ nhiên mà trời đất đã định sẵn cho mình từ khi lọt lòng.
Lục Thanh đứng ở chân bậc thềm đá xanh cuối cùng, dừng bước và khẽ nghiêng đầu nhìn lại cảnh tượng huy hoàng ấy. Cột sáng hoàng kim chói lòa phản chiếu trọn vẹn trong đôi mắt đen thẳm, tĩnh lặng của cậu. Cậu không cảm thấy đố kỵ hay hờn ghen, bởi từ nhỏ lớn lên bên lò lửa, cậu hiểu rất rõ rằng đe rèn có đe thép tốt đe sắt xấu, búa rèn có búa nặng ngàn cân búa nhẹ vài đồng cân, mỗi thanh kim loại sinh ra đã mang trong mình một cấu trúc khác nhau nơi thớ thép. Mỗi người sinh ra trên cõi đời này dường như cũng đã có một phần số phận được khắc ghi nơi huyết mạch và căn cốt.
Thế nhưng, nhìn thiếu niên áo trắng kiêu hãnh đứng giữa trung tâm của sự sùng kính, sâu thẳm trong lòng Lục Thanh vẫn dấy lên một câu hỏi âm ỉ như tàn than giấu dưới lớp tro dày, một câu hỏi mà cậu chưa bao giờ dám hỏi thành lời với bất kỳ ai:
*Chẳng lẽ người mang tạp linh căn, sinh ra trong bụi bặm tro than, thật sự vĩnh viễn không có tư cách bước lên con đường kiếm đạo ấy sao? Kiếm là vật vô tri do người rèn ra, hay do trời cao ban phát?*
Cậu khẽ siết chặt quai chiếc túi vải thô đeo bên hông, xoay người rảo bước rời khỏi quảng trường ồn ã, để lại sau lưng những tiếng reo hò tung hô đang vang dội cả một góc trời non nước.
***
Rời khỏi khu vực náo nhiệt và sực mùi danh vọng của đài tuyển đồ, thị trấn Thanh Khê dần hiện ra với vẻ trầm mặc, cũ kỹ vốn có của một thị trấn vùng biên viễn. Những con hẻm nhỏ lát đá gập ghềnh uốn lượn theo triền sườn đồi, rêu xanh phủ kín những chân tường đá nứt nẻ, dẫn sâu về phía góc nam của trấn – nơi tập trung những lò rèn cũ, xưởng mộc và những căn nhà xiêu vẹo chuyên phục vụ cho dân cày nghèo khổ và những phu đào khoáng từ các mỏ đá trên núi trở về.
Càng đi sâu về phía góc trấn, tiếng ồn ào của đám đông xa dần, nhường chỗ cho những âm thanh quen thuộc: tiếng búa gõ đe lách cách từ xa vọng lại, tiếng nước xèo xèo khi nhúng sắt nung vào bể tôi, và mùi khói than tổ ong nồng nặc hòa lẫn với mùi sắt rỉ ngai ngái. Đó là thứ mùi vị quen thuộc đã thấm đẫm vào từng sợi tóc, từng thớ thịt, từng hơi thở của Lục Thanh suốt mười sáu năm cuộc đời.
Cậu dừng chân trước một gian nhà gỗ ba gian lợp ngói âm dương đã nhuốm màu rêu phong xám xịt. Cột nhà bằng gỗ lim cũ kỹ đã nứt nẻ vài đường vì năm tháng dầm mưa dãi nắng. Bên hiên nhà treo một tấm biển gỗ mộc mạc khắc hai chữ “Lục Ký”, nét chữ gãy gọn, thô mộc nhưng dứt khoát như những nhát chém bằng rìu sắc. Phía trong sân đất nện, tiếng bễ than đang phì phò thở ra từng luồng gió nặng nhọc, ngắt quãng, kèm theo tiếng quét dọn lẹt xẹt của chiếc chổi tre già trên nền đất.
“Mẹ, con đã về.” Lục Thanh bước qua ngưỡng cửa gỗ thấp lè tè, cất tiếng chào khẽ khàng.
Một người phụ nữ trung niên mặc áo chẽn ngắn màu lam thẫm vá hai miếng ở khuỷu tay, đầu quấn chiếc khăn vải thô màu chàm đang cúi người gom những vụn than xỉ rơi vãi quanh chân lò. Nghe tiếng con trai, bà ngừng tay, chiếc chổi tre khẽ khựng lại trên nền đất rồi chậm rãi ngẩng đầu lên. Khuôn mặt bà gầy guộc, in hằn những nếp nhăn vất vả nơi khóe mắt, nhưng đường nét vẫn giữ được vẻ thanh tú, đoan trang của một thời con gái; đôi mắt bà đượm nét dịu dàng, trầm tĩnh và từng trải lạ kỳ. Đó chính là Lâm Tú Nương, mẹ của Lục Thanh.
Bà đưa mắt nhìn chiếc áo chàm còn vương hơi ẩm buốt giá của sương sớm trên vai con, nhìn đôi bàn tay buông thõng bên hông trống không, không hề cầm theo bất kỳ tấm thẻ gỗ hay lệnh bài nhập môn nào của Thanh Vân Kiếm Tông. Ánh mắt người mẹ chỉ thoáng lay động một chút như chiếc lá khẽ chao nghiêng trong gió sớm, rồi lập tức trở lại vẻ phẳng lặng, ấm áp như mặt hồ nước mùa thu.
“Về rồi à?” Lâm Tú Nương mỉm cười, nụ cười hiền hậu không có lấy một nét gượng gạo nào: “Nước trong ấm đất vừa sôi trên bếp sau, ra múc một gáo rửa mặt cho ấm người đi con. Bễ than hôm nay có chút nghẹt gió, mẹ kéo mãi mà ngọn lửa cứ ngún khói, không chịu bốc lên được.”
“Để con làm cho.”
Lục Thanh đặt chiếc túi vải thô lên chiếc chõng tre kê bên hiên, xắn cao hai ống tay áo bước lại gần miệng lò rèn. Cậu không nhắc một lời nào về những chuyện vừa xảy ra ở đài khảo thí trên quảng trường, không kể về lời phán xét cay nghiệt của Trần Chấp Ngôn, cũng chẳng nhắc đến sự xuất hiện chói lọi của thiên tài Tạ Vân Khê; và mẹ cậu cũng tuyệt nhiên không gặng hỏi nửa lời. Sự thấu hiểu sâu sắc giữa hai mẹ con trong ngôi nhà vắng bóng người đàn ông trụ cột này suốt năm năm qua từ lâu đã không cần đến những lời an ủi sáo rỗng hay những câu than thân trách phận.
Lục Thanh ngồi xổm xuống cạnh bễ gỗ dài đặt cạnh lò rèn, một tay vịn lấy tay đòn bằng gỗ nghiến bóng loáng mồ hôi, tay kia thò vào khe hút gió phía dưới đáy lò để kiểm tra luồng khí. Cậu khép hờ mắt, đầu ngón tay trỏ khẽ gõ nhẹ ba nhịp vào thân bễ gỗ.
*Cộc. Cộc. Cộc.*
Âm thanh trầm đục, nghẹn ngào vọng lại từ lòng bễ giúp đôi tai thợ rèn nhạy bén của cậu lập tức đoán ra vị trí bị kẹt xỉ than bên trong ống dẫn khí ngầm. Động tác của Lục Thanh thuần thục, chuẩn xác đến mức như một bản năng tự nhiên: cậu với tay rút thanh sắt thông lò dài hai thước treo trên vách đất, khẽ xoay nhẹ cổ tay luồn đầu móc vào góc chết phía sau van gió, khẽ giật mạnh một cái.
*Cộp.*
Một cục than xỉ cháy dở to bằng quả trứng gà, đen sì và bám đầy muội than rơi tọt xuống máng hứng tro bên dưới. Kế đó, Lục Thanh nắm chặt lấy tay đòn bằng gỗ, hai chân bám chặt xuống nền đất nện tạo thành thế trung bình tấn vững chãi, bắt đầu kéo ra đẩy vào theo một nhịp điệu khoan thai, nhịp nhàng và tràn đầy nội lực.
*Phì phò... phì phò...*
Từng luồng gió mạnh mẽ, đều đặn được bơm thẳng vào đáy lò than. Ngọn lửa đỏ cam vốn đang ngún khói lập tức bùng cháy dữ dội, những lưỡi lửa liếm láp quanh vỉ sắt nung, phát ra những tiếng nổ lép bép vui tai, tỏa ra luồng hơi nóng hừng hực xua tan hoàn toàn cái lạnh ẩm ướt, u ám của gian nhà ngoài.
Lâm Tú Nương đứng bên cạnh nhìn con trai thao tác, ánh mắt bà tràn ngập vẻ trìu mến đan xen một nỗi xót xa giấu kín tận đáy lòng. Bà đưa tay nhặt một chiếc lưỡi cày rèn dở đã nguội ngắt đặt lên giá gỗ bên cạnh đe rèn, cất giọng nhẹ nhàng, thanh thản:
“Hôm qua bác Trương ở xóm trên có mang chiếc bừa sắt sang nhờ sửa lại mấy cái răng bị gãy khi va vào đá ngầm. Mẹ bảo với bác ấy cứ để đấy, đợi con về xem qua mạch sắt rồi mới dám nhận lời rèn lại. Người làm ruộng thì mong đất tơi xốp đúng mùa vụ, người thợ rèn thì phải kiên nhẫn đợi sắt đủ độ chín mới hạ búa. Đời người cũng như việc rèn một con dao, cứ thuận theo nhịp bễ mà sống, nóng vội chỉ làm nứt thép chứ chẳng được việc gì, Thanh nhi à.”
Lục Thanh dừng tay bễ, nhìn ngọn lửa đang nhảy múa cuồng nhiệt trong lò, khẽ gật đầu:
“Vâng, con hiểu rồi, mẹ.”
Hai mẹ con cứ thế lặng lẽ làm việc bên nhau giữa gian xưởng rèn quen thuộc. Lục Thanh khiêng những thỏi gang thô nặng trịch xếp ngay ngắn vào góc tường, dùng kìm sắt gắp những mẩu than nguội gom lại vào sọt tre, rồi lấy chổi rơm quét dọn sạch sẽ từng lớp bụi sắt li ti trên mặt bệ đe lớn đặt ở vị trí trung tâm gian xưởng. Mặt đe bằng gang đúc bóng loáng, nhẵn thín và hơi lõm nhẹ ở chính giữa – nơi đã gánh chịu hàng chục vạn nhát búa nặng nhọc của cha cậu trong suốt mấy mươi năm bám trụ với nghề rèn ở góc trấn hẻo lánh này.
Khi công việc dọn dẹp quanh lò rèn đã tạm ổn định, bóng nắng ngoài sân đã bắt đầu ngả dài, trời đã quá trưa. Lâm Tú Nương phủi bụi than trên tạp dề, bước vào gian bếp nhỏ phía sau để chuẩn bị bữa cơm trưa đạm bạc, để lại Lục Thanh một mình giữa gian xưởng rèn tĩnh lặng, chỉ còn lại tiếng than hồng thỉnh thoảng nổ lách tách trong lò.
Lục Thanh đứng tựa lưng vào bệ đe gang lớn, khoanh hai tay trước ngực, đưa mắt nhìn quanh từng góc của xưởng rèn. Nơi này từng tràn ngập tiếng cười nói sang sảng, tiếng giảng giải trầm ấm và những bài học vỡ lòng về lửa, về sắt của cha cậu – Lục Viễn Sơn. Cha cậu từng là một người thợ rèn kỳ tài bậc nhất vùng này. Ông không chỉ rèn ra những lưỡi cày, lưỡi cuốc sắc bén và dẻo dai nhất cho dân quanh vùng, mà thuở Lục Thanh còn nhỏ, cậu từng tận mắt chứng kiến những vị kiếm khách phong trần, mang theo những thanh bảo kiếm có hoa văn kỳ lạ lén lút tìm đến xưởng rèn này vào ban đêm để nhờ cha cậu gia cố hoặc sửa chữa lại linh văn bị tổn hại.
Thế nhưng rồi năm năm trước, sau một chuyến đi xa kéo dài suốt ba tháng ròng rã trở về, cha cậu bỗng nhiên ngã bệnh nặng. Khí huyết trong người ông khô kiệt, cơ thể tráng kiện hao mòn nhanh chóng chỉ trong vài tuần ngắn ngủi rồi qua đời trong một đêm mưa gió lạnh lẽo, để lại hai mẹ con côi cút cùng gian lò rèn cũ kỹ và món nợ ân oán không lời giải đáp.
Lục Thanh thở dài một hơi nhẹ, cất bước đi về phía góc tối nhất của xưởng rèn, nơi có một cánh cửa gỗ nhỏ dẫn vào căn phòng chứa đồ nghề cũ của cha cậu khi xưa. Căn phòng này từ ngày cha mất vẫn được mẹ cậu giữ gìn nguyên vẹn, không thay đổi một vật dụng nào. Không khí bên trong hơi ẩm mốc, thoang thoảng mùi dầu tra sắt nồng nàn và mùi da thuộc cũ đã sờn rách.
Cậu bước tới trước một bệ đe phụ nhỏ đặt ở góc trong cùng của căn phòng. Khác với bệ đe gang lớn ngoài xưởng, bệ đe này được đẽo gọt từ một khối đá hoa cương xanh nguyên khối vô cùng cứng chắc. Bên dưới chân bệ đá có một hộc ngầm được khoét tinh vi, khớp nối khít khao đến mức nếu không dùng đầu ngón tay gõ đúng vị trí và nhịp điệu thì mắt thường tuyệt đối không thể nào phát hiện ra kẽ hở.
Lục Thanh quỳ một chân xuống nền đất lạnh, đưa bàn tay chai sạn miết dọc theo gờ đá hoa cương bám đầy bụi, ngón tay cái ấn nhẹ vào một mấu lồi nhỏ xíu ẩn dưới lớp rêu khô.
*Cạch.*
Một tiếng lẫy cơ quan thanh thúy vang lên. Phiến đá mỏng ở cạnh bên trượt ra một cách êm ái, để lộ một chiếc hộp dài làm bằng gỗ lim bọc vải thô xám bên trong hốc tối. Lục Thanh cẩn thận thò tay vào, nâng chiếc hộp gỗ ra ngoài, đặt ngay ngắn lên đầu gối của mình. Cậu khẽ hít một hơi sâu để ổn định lại nhịp tim đang đập dồn dập, rồi nhẹ nhàng mở nắp hộp.
Nằm gọn gàng bên trong lớp vải điều đã ngả sang màu ố vàng vì thời gian là một đoạn kiếm gãy.
Đoạn kiếm dài khoảng một xích hai thốn, chỉ còn lại phần chuôi kiếm bọc da cá nhám đã sờn rách ở các góc mép và một đoạn thân kiếm đứt ngang nham nhở như bị một lực đạo kinh thiên động địa bẻ gãy từ chính giữa, hoàn toàn không có bao kiếm đi kèm. Toàn thân lưỡi kiếm phủ một màu xám tro kỳ lạ, không hề sáng bóng như thép tôi nước lạnh thông thường, cũng không phát ra bất kỳ tia linh quang lấp lánh nào như những món pháp bảo huyền diệu của các vị tiên nhân trên núi Vân Phong. Nhìn thoáng qua, nó chẳng khác nào một mảnh sắt vụn rỉ sét bị vứt bỏ bên vệ đường mà chẳng một phu nhặt rác nào thèm liếc mắt tới.
Thế nhưng, đây lại chính là di vật quý giá và bí ẩn nhất mà Lục Viễn Sơn đã dùng hơi tàn cuối cùng để trao lại cho con trai trước khi nhắm mắt xuôi tay. Trong cơn mê sảng lúc lâm chung, cha từng ghé sát vào tai Lục Thanh thì thầm từng chữ đứt quãng: thanh kiếm này được đúc từ *Tâm Minh Thiết* – một loại linh kim dị thường hiếm thấy trong thiên địa, thứ kim loại không hề phân biệt phẩm cấp cao thấp của người sử dụng, cũng không màng đến linh căn mạnh yếu, mà nó chỉ có một đặc tính duy nhất: nó có thể ghi nhớ, cộng hưởng và phản chiếu những dao động chân thật nhất sâu thẳm nơi tâm niệm của người cầm kiếm.
Lục Thanh vươn bàn tay thô ráp, chậm rãi nắm lấy chuôi kiếm gãy.
Ngay khoảnh khắc lòng bàn tay chai sần của cậu siết chặt lấy lớp da cá nhám đã mòn vẹt, một cảm giác kỳ diệu, ấm áp bỗng chốc từ chuôi kiếm lan tỏa khắp lòng bàn tay.
*Ong...*
Thân kiếm xám tro không hề bùng phát hào quang rực rỡ, nhưng từ sâu thẳm trong từng thớ thép gãy nát nham nhở, một độ rung khẽ khàng, tinh vi và dồn dập như tiếng đập cánh của loài ve sầu mùa hạ bỗng truyền thẳng vào lòng bàn tay cậu. Độ rung ấy men theo các vết chai sạn nơi ngón trỏ và ngón cái – những vết chai sinh ra từ việc quai búa rèn sắt chứ không phải do cầm chuôi kiếm quý – rồi lan truyền dọc theo cánh tay, hòa nhịp một cách kỳ lạ với từng nhịp đập nơi lồng ngực Lục Thanh.
Nó không hề hút lấy linh lực của cậu một cách hung bạo như viên Tầm Linh Châu lạnh lẽo trên đài khảo thí ban sáng. Nó chỉ lặng lẽ rung lên từng hồi trầm đục, tựa như một người bạn già tri kỷ vừa được đánh thức sau một giấc ngủ say ngàn năm trong lòng đất, khẽ cựa mình đáp lại hơi ấm của da thịt con người.
Lục Thanh nhắm nghiền hai mắt, tập trung toàn bộ tâm trí cảm nhận từng đợt sóng rung lăn tăn đang chạy dọc theo kinh mạch cẳng tay. Trong khoảnh khắc tĩnh lặng tuyệt đối ấy, sự hỗn loạn, xung đột của năm luồng khí tức ngũ hành trong cơ thể cậu bỗng nhiên tìm được một chiếc neo vững chắc để bám víu. Sắc đỏ của hỏa tính, sắc vàng của thổ tính, sắc xanh của mộc tính... vốn cắn xé và bài xích lẫn nhau dữ dội trên đài khảo thí, nay dưới sự dẫn dắt của nhịp rung trầm ấm từ đoạn kiếm gãy, bỗng chốc dịu lại, chầm chậm lưu chuyển men theo những kinh mạch vốn bị coi là bế tắc và hỗn loạn.
“Cha...” Lục Thanh khẽ thầm thì qua kẽ răng, giọng nói nghẹn lại nơi cổ họng: “Thanh kiếm này... vì sao năm xưa lại gãy? Và kiếm tâm mà cha từng nói đến trước lúc lâm chung, rốt cuộc là thứ kiếm tâm gì?”
Cậu nhớ như in từng lời trăng trối của cha trong đêm mưa gió năm ấy: *“Đừng cố trở thành một kiếm tu ngạo nghễ như người đời ngoài kia mong muốn. Kiếm là do người đúc ra, tâm là do người tự dưỡng lấy. Nếu có một ngày con thật sự muốn tìm hiểu vì sao thanh kiếm này gãy nát, hãy mang nó bước lên đỉnh núi Vân Phong...”*
Lục Thanh mở bừng mắt, ánh mắt cậu lúc này không còn một tia mông lung hay do dự nào nữa, mà trở nên kiên định, sắc sảo lạ thường như một mũi đục thép đã tôi qua lửa đỏ. Cậu không cam tâm. Cậu không cam tâm chôn vùi cả phần đời còn lại của mình bên đống than xỉ và những chiếc lưỡi cày rèn dở mà không hề biết được ngọn nguồn cái chết oan khuất của cha mình, không biết được thế giới bên trên những tầng mây trắng xóa kia rộng lớn và tàn khốc nhường nào. Dù cho Trần Chấp Ngôn có phán cậu là phế vật mang ngũ hành tạp linh căn, dù cánh cửa chính điện nguy nga của Thanh Vân Kiếm Tông đã đóng sầm lại trước mắt cậu, cậu vẫn muốn tự dùng đôi chân trần của mình bước lên đỉnh núi ấy một lần để tìm kiếm câu trả lời.
Cậu cẩn thận lấy ra một tấm vải gai sạch sẽ đã chuẩn bị từ trước, quấn chặt đoạn kiếm gãy lại nhiều vòng để che giấu lưỡi kiếm nham nhở, sau đó giắt ngang sau lưng, dùng dây thừng bện bằng vỏ cây gai buộc chặt giấu kỹ bên trong lớp áo chẽn dày cộp.
Khi Lục Thanh bước ra khỏi căn phòng tối, Lâm Tú Nương đã dọn sẵn một mâm cơm đạm bạc trên chiếc bàn tre cũ kỹ giữa nhà: một bát canh rau rừng luộc còn bốc khói, một đĩa đậu phụ kho tương vàng óng và hai bát cơm gạo đỏ đầy ắp.
Bà ngồi lặng lẽ bên mép bàn, hai bàn tay gầy gò đặt trên chiếc đãy vải nhỏ màu xám tro đặt ở góc bàn. Nhìn thấy dáng đi hơi gượng gạo và độ cộm bất thường ẩn sau lưng áo của con trai, ánh mắt Lâm Tú Nương khẽ chớp động một cái rất khẽ. Bà nhìn xuống đôi bàn tay thô ráp của mình, rồi lại ngẩng lên nhìn thẳng vào gương mặt cương nghị, góc cạnh của đứa con trai vừa tròn mười sáu tuổi.
Làm sao một người mẹ lại không nhận ra con mình đang giấu thứ gì? Bà biết rõ bên dưới bệ đe đá hoa cương kia cất giấu bí mật gì, biết rõ nỗi trăn trở đau đớn đến tận lúc chết của người chồng quá cố, và bà cũng biết cả ngọn lửa âm ỉ đang cháy rực trong lòng đứa con trai luôn trầm lặng, ít nói này. Cuốn sổ tay ghi chép cuối đời của Lục Viễn Sơn vẫn đang nằm sâu dưới đáy chiếc rương gỗ có khóa đồng trong buồng ngủ của bà, nơi ghi lại những ân oán gió tanh mưa máu mà bà từng thề với lòng sẽ không bao giờ để con trai phải gánh vác quá sớm. Nhưng nhìn ánh mắt kiên định của Lục Thanh lúc này, bà hiểu rằng có những con đường người làm cha làm mẹ không thể đi thay, và cũng không thể dùng sự sợ hãi để ngăn cản bước chân của một người đàn ông trưởng thành.
“Ăn cơm đi con.” Lâm Tú Nương cất tiếng, giọng bà trầm ấm, bình thản như mọi ngày: “Ăn cho thật no dạ.”
Lục Thanh ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện mẹ, bưng bát cơm gạo đỏ lên và bắt đầu ăn một cách ngon lành. Từng hạt cơm dẻo bùi, thơm mùi lúa mới thấm vào dạ dày, xua tan đi phần nào sự mệt mỏi và cảm giác đói khát tích tụ suốt từ sáng sớm đến giờ. Cậu ăn rất nhanh nhưng từ tốn, cẩn thận gắp từng cọng rau rừng, không để rơi vãi dù chỉ một hạt cơm trên mặt bàn tre.
Khi Lục Thanh buông đũa, đặt chiếc bát không xuống bàn, Lâm Tú Nương mới chậm rãi đẩy chiếc đãy vải nhỏ màu xám tro sang trước mặt cậu.
“Đây là mười chiếc bánh lương khô mẹ nướng từ tối qua bằng bột kiều mạch trộn với hạt sen giã nhuyễn, bánh này khô ráo, để được cả tháng trên núi cũng không sợ ẩm mốc.” Bà dịu dàng nói, ánh mắt nhìn sâu vào mắt con trai: “Mẹ còn nhét thêm mấy chục đồng tiền đồng dành dụm được vào đáy túi, phòng khi con cần dùng đến dọc đường.”
Lục Thanh khựng người lại, ngẩng đầu nhìn mẹ, sống mũi cay xè:
“Mẹ... con...”
Lâm Tú Nương khẽ mỉm cười, vươn bàn tay gầy guộc nhưng ấm áp qua mặt bàn, nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay thô ráp đầy vết chai của con trai:
“Con đã lớn rồi, Thanh nhi. Từ cái ngày cha con nằm xuống, con chưa từng đòi hỏi mẹ may cho một manh áo mới, chưa từng kêu ca lấy một lời mệt mỏi khi phải quai búa thâu đêm bên lò rèn rực lửa. Trong lòng con đang nghĩ gì, muốn đi đâu, muốn làm gì, làm mẹ làm sao lại không hiểu?”
Bà dừng lại một chút, ánh mắt trở nên trang nghiêm và sâu lắng lạ thường:
“Đường lên núi Vân Phong dốc đứng đá trơn, nhưng lòng người trên đỉnh núi ấy lại càng gập ghềnh, hiểm trở hơn muôn phần so với vách đá cheo leo. Mẹ không cầu mong con bước chân vào đó rồi làm nên trò trống gì hiển hách, cũng không cần con phải đắc đạo thành tiên bay lượn trên trời để làm rạng danh cái lò rèn cũ kỹ này. Mẹ chỉ muốn dặn dò con một điều duy nhất: dù người đời ngoài kia có khinh thường, rẻ rúng con thế nào, dù con đường phía trước có chông gai, tăm tối ra sao, tuyệt đối không bao giờ được đánh mất sự lương thiện trong lòng mình. Lương thiện không phải là sự nhu nhược, yếu đuối để người ta chà đạp, mà là cái neo giữ cho tâm con không bị ngọn lửa oán hận thiêu rụi thành tro tàn. Nhớ kỹ lời mẹ dặn chưa, con?”
Hốc mắt Lục Thanh bỗng cay xè, một giọt nước mắt suýt nữa trào ra nhưng cậu đã kịp hít sâu một hơi nén chặt lại. Cậu đứng bật dậy khỏi ghế đẩu, quỳ rạp xuống nền đất nện trước mặt mẹ, hai tay ôm lấy bàn tay chai sạn của bà, dập đầu ba cái thật mạnh xuống đất:
“Lời mẹ dạy bảo, con xin khắc cốt ghi tâm đến trọn đời. Mẹ ở nhà gắng giữ gìn sức khỏe, con nhất định sẽ tìm ra câu trả lời cho thanh kiếm của cha, rồi sẽ bình an quay về đây phụng dưỡng mẹ.”
Lâm Tú Nương vội cúi người đỡ con trai dậy, hai bàn tay bà khẽ vỗ nhẹ lên đôi vai vững chãi của cậu:
“Đứng dậy đi con. Lên đường đi, đi khi trời còn sáng mặt người.”
***
Lục Thanh rời khỏi thị trấn Thanh Khê khi mặt trời bắt đầu ngả dần về rặng núi phía tây.
Ánh hoàng hôn đỏ ối như máu buông xuống nhuộm đỏ rực những rặng thông già cỗi mọc chênh vênh trên vách đá sườn núi Vân Phong. Con đường mòn dẫn lên tông môn mà Lục Thanh chọn đi không phải là con đường bậc thang đá rộng rãi, thoai thoải dành cho xe ngựa và kiệu hoa của các gia tộc quyền quý, mà là một lối mòn nhỏ hẹp, gập ghềnh do cánh tiều phu đốn củi và những người hái thuốc tự mở ra từ bao đời nay, men theo những triền vực sâu thăm thẳm cắm thẳng lên tầng mây mù.
Càng lên cao, gió núi càng rít từng hồi lạnh buốt như dao cạo, thốc thẳng vào ngực áo chàm của Lục Thanh. Đôi giày vải thô của cậu chẳng mấy chốc đã bám đầy bùn đất nhão nhoét và bị những cành gai góc cào rách toạc cả hai bên mép vải. Có những đoạn dốc đứng trơn tuột như bôi mỡ, một bên là vách đá dựng đứng rêu phong, một bên là vực sâu hun hút tối tăm không thấy đáy. Lục Thanh phải bám chặt mười đầu ngón tay thô ráp vào từng kẽ đá nứt, dùng sức mạnh của đôi chân quen đứng tấn giữ bễ than qua bao năm tháng để đẩy toàn bộ thân mình trườn lên phía trước từng bước một.
Đoạn kiếm gãy bằng Tâm Minh Thiết giắt ngang sau lưng áp sát vào sống lưng cậu, xuyên qua lớp áo vải thô tỏa ra một luồng hơi ấm nhàn nhạt, kỳ lạ. Mỗi khi hơi thở của Lục Thanh trở nên dồn dập, cơ bắp bắt đầu rã rời vì kiệt sức, nhịp rung khẽ khàng như cánh ve sầu của đoạn kiếm lại truyền đến, tựa như một nguồn lực vô hình tiếp thêm sức mạnh cho từng bước chân của cậu giữa đêm đen lạnh giá.
Mặt trời lặn hẳn sau những dãy núi điệp trùng phía tây, nhường chỗ cho màn đêm đen kịt buông xuống bao trùm vạn vật, chỉ còn lại ánh trăng non mỏng manh như lưỡi liềm treo lơ lửng trên đỉnh trời. Khi Lục Thanh bước chân lên phiến đá phẳng cuối cùng nơi đỉnh đèo, hai bắp chân cậu đã mỏi nhừ, lồng ngực phập phồng kịch liệt, mồ hôi ướt đẫm cả vạt áo sau lưng dù gió đêm trên đỉnh núi lạnh cắt da cắt thịt.
Trước mặt cậu lúc này là một khoảng sân rộng thênh thang lát bằng đá thanh ngọc phẳng lì như một tấm gương khổng lồ soi bóng trăng sao. Phía xa xa, ẩn hiện sau những làn sương mù bồng bềnh và mây lành lượn lờ là những tòa điện ngọc nguy nga tráng lệ, những ngọn tháp cao vút chọc thẳng vào trời xanh với muôn ngàn đốm linh quang lấp lánh như sao sa. Tiếng chuông đồng từ một ngôi cổ tự nào đó trên đỉnh núi cao vọng lại, thanh thoát và thoát tục, khiến lòng người không khỏi rùng mình kính sợ.
Cổng chính của Thanh Vân Kiếm Tông sừng sững hiện ra trước mắt như một tòa thiên môn khổng lồ cắm sâu vào lòng núi đá. Hai cột đá bạch ngọc to ba người ôm dựng đứng hai bên cổng vòm, bên trên khắc hai câu đối bằng kiếm ý sắc bén, tung hoành đến mức chỉ cần nhìn chăm chú vào từng nét chữ một chút thôi cũng khiến cho kinh mạch nơi đáy mắt phàm nhân phải nhức nhối như bị kim châm.
Lục Thanh đưa tay áo quệt vội giọt mồ hôi lạnh trên trán, hít một hơi thật sâu để đón lấy luồng linh khí trong lành, nồng đượm gấp mười lần dưới chân núi đang cuộn trào trong không gian, rồi cất bước tiến về phía cổng lớn.
“Đứng lại! Kẻ nào to gan dám ban đêm lén lút xông vào sơn môn?”
Một tiếng quát sắc lạnh như băng tuyết bỗng vang lên từ bóng tối của vòm cổng đá. Hai bóng người mặc hộ giáp màu lam sẫm viền sắt, thắt lưng đeo trường kiếm vỏ bạc đồng loạt bước ra từ hai góc khuất, chắn ngang lối đi bằng đá ngọc. Trường kiếm trong tay họ khẽ nhếch khỏi vỏ ba phân, để lộ một đoạn lưỡi thép sáng loáng phản chiếu ánh trăng lạnh lẽo, tỏa ra áp lực linh lực sắc bén của tu sĩ Dẫn Khí cảnh hậu kỳ đè nặng lên không gian xung quanh.
Lục Thanh vội vàng dừng bước, hai tay chắp lại trước ngực, khom mình hành lễ theo đúng quy củ:
“Kính chào hai vị sư huynh hộ sơn. Đệ tử tên là Lục Thanh, người ở trấn Thanh Khê dưới chân núi, muốn lên tông môn xin được...”
“Lệnh bài trúng tuyển đâu?” Một tên thị vệ mặt vuông thô kệch cắt ngang lời cậu bằng giọng điệu hách dịch, ánh mắt soi mói đầy vẻ khinh nhờn quét từ đầu đến chân Lục Thanh, dừng lại rất lâu ở bộ quần áo vải thô lấm lem bùn đất và đôi giày rách mũi đang dính đầy cỏ dại: “Hôm nay là ngày kết thúc kỳ tuyển đồ hàng năm, phàm là người có tư chất được chọn nhập môn đều đã có đệ tử tiếp dẫn đưa lên từ buổi chiều và có mộc bài thân phận do Kiếm Đường cấp phát. Đưa lệnh bài đây rồi hãy mở miệng.”
Lục Thanh khẽ siết chặt vạt áo chàm, nuốt khan một ngụm nước bọt rồi thành thật đáp:
“Khởi bẩm sư huynh, sáng nay tại đài khảo thí ở quảng trường, Trần giáo tập chẩn định đệ tử là ngũ hành tạp linh căn nên... không cấp lệnh bài nhập môn. Nhưng đệ tử từ nhỏ đã theo cha học nghề rèn sắt, có thể làm những công việc nặng nhọc nhất, quét dọn sân đài, gánh nước thổi cơm, chỉ xin tông môn rủ lòng thương thâu nhận làm một tên tạp dịch...”
“Càn rỡ!” Tên thị vệ còn lại có khuôn mặt gầy gò hừ lạnh một tiếng, mặt mày lộ rõ vẻ ghê tởm và khinh miệt tột cùng: “Ngươi coi Thanh Vân Kiếm Tông chúng ta là cái chợ đầu ruồi hay là nơi bố thí cho lũ ăn mày cơ nhỡ dưới chân núi? Ngũ hành tạp linh căn phế vật mà cũng mơ mộng trèo lên tiên môn làm tạp dịch sao? Ngươi có biết đến cả đệ tử quét lá ở ngoại môn tông ta cũng đều là những kẻ có tam hành hoặc tứ hành linh căn tươm tất không? Đến tư cách làm một con chó gác cổng ngoại môn ngươi còn không xứng, lại dám mò mẫm leo vách đá ban đêm lên đây đòi làm tạp dịch!”
“Quy củ của tông môn từ ngàn năm nay đã rõ ràng: không có lệnh bài trúng tuyển do Trưởng lão viện hoặc Kiếm Đường đích thân ban phát, bất kỳ phàm nhân nào dám bước chân qua lằn ranh bậc thềm đá ngọc này đều bị coi là kẻ xâm nhập bất hợp pháp, có mưu đồ do thám tông môn!” Tên thị vệ mặt vuông rút hẳn thanh trường kiếm sáng loáng ra khỏi bao nửa thước, tiếng kim loại ma sát rít lên ghê rợn giữa màn đêm tĩnh mịch: “Lập tức quay đầu cút xuống núi ngay cho ta! Nếu còn chần chừ nửa bước, đừng trách mũi kiếm của ta vô tình chém đứt hai chân ngươi!”
Áp lực linh khí từ mũi kiếm sắc nhọn bức tới khiến da mặt Lục Thanh rát buốt như bị gió cát tạt vào mặt. Cậu đứng chôn chân tại chỗ trên phiến đá lạnh buốt, ánh mắt nhìn xuyên qua khe hở giữa thân hình của hai tên thị vệ kiêu ngạo, hướng về những tòa lầu các nguy nga, tráng lệ rực rỡ linh quang bên trong làn sương mù sâu thẳm. Cánh cửa tiên môn ở ngay trước mắt, chỉ cách cậu vỏn vẹn vài bước chân trần, nhưng lại xa vời vợi tựa như khoảng cách giữa trời cao và vực thẳm.
Lòng bàn tay Lục Thanh siết chặt lại đến mức những chiếc móng tay găm sâu vào da thịt chai sần, đau nhức. Cậu không sợ bị xua đuổi, cũng không sợ những lời lăng mạ nhục nhã của kẻ khác, nhưng cậu không cam lòng quay gót trở về khi chưa hề bước chân được vào mảnh đất này – nơi người cha quá cố của cậu từng gắn bó và để lại những dấu vết bí ẩn chưa có lời giải. Đoạn kiếm gãy bằng Tâm Minh Thiết giắt ngang sau lưng bỗng nhiên khẽ run lên một nhịp ngắn, phát ra một tiếng vang trầm đục mơ hồ như một tiếng thở dài đầy u uất giữa trời đêm.
Hai tên thị vệ thấy thiếu niên vải thô vẫn đứng trơ trơ bất động như một tảng đá ngáng đường, sắc mặt lập tức trở nên dữ tợn, linh lực màu lam nhạt nơi mũi kiếm bắt đầu ngưng tụ, tỏa ra sát khí lạnh buốt:
“Rượu mời không uống lại muốn uống rượu phạt! Ngươi muốn chết ở đây sao?”
Đúng lúc mũi kiếm thép sắc lạnh sắp sửa vung lên để xua đuổi thiếu niên cứng đầu thì từ con đường mòn nhỏ lát bằng đá cuội phủ đầy rêu phong phía sau bức tường ngăn cách của Tàng Kinh Các bỗng vang lên những tiếng quét đất đều đặn.
*Xoạt... xoạt... xoạt...*
Tiếng chổi trúc quét qua lớp lá thông khô rơi rụng trên nền đá vang lên chậm rãi, khoan thai đến lạ kỳ, dường như hoàn toàn tách biệt khỏi sự căng thẳng ngột ngạt trước cổng sơn môn.
Một lão nhân râu tóc điểm bạc tay cầm chổi trúc bỗng bước ra từ lối mòn phía sau Tàng Kinh Các.