Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.7 / 40
Chapter 7

Lửa trong kho thuốc

Lửa đỏ rực liếm qua những giàn phơi dược liệu bằng nứa, biến kho dược Nam Trụ thành một cái lò nung khổng lồ bốc mùi ngải cứu cháy khét lẫn mùi tro khoáng nồng nặc. Khói không bốc thẳng lên trời thành từng cột ngay ngắn mà cuộn tròn lại dưới áp suất thấp của thung lũng, trườn bò trên mặt đất như một loài bò sát đen ngòm mang theo hơi nóng hầm hập của dầu khoáng và độc chất.

Gió đêm từ hẻm Lạc Hạc thốc mạnh xuống lòng chảo, rít qua những khe đá hẹp tạo thành chuỗi âm thanh u u rợn gáy, cuốn theo những tàn than đỏ rực bay mù mịt trên nền trời xám xịt. Từng mảng tàn tro rực lửa rơi lả tả xuống những vạt cỏ khô ven đường, làm bùng lên vô số đốm lửa nhỏ li ti. Từ sườn dốc đất đỏ dẫn xuống bờ rào phía đông, Ninh Chiêu nép mình sau một bờ tường đá hộc rêu phong, mắt nheo lại để ngăn luồng khói cay xè thốc thẳng vào giác mạc. Nước mắt sinh lý trào ra nơi khóe mi lập tức bị sức nóng làm bốc hơi, để lại một lớp cặn muối ngứa rát bám chặt trên gò má sạm đen vì bụi than.

Bên cạnh cô, Tống Hoài tựa hẳn một bên vai vào hốc đá lõm, thanh gậy bọc sắt ghì chặt xuống nền đất nhão đến lún sâu nửa tấc để san bớt gánh nặng cho khung nẹp lưng đang siết cứng lấy cột sống. Toàn bộ trọng lượng nửa thân trên của anh dồn vào một điểm tựa cơ học mong manh ấy. Mỗi khi luồng gió nóng từ kho dược tạt qua, lồng ngực anh lại thắt lại, hơi thở đứt quãng, từng nhịp rít khẽ qua kẽ răng như tiếng van xả khí rỉ sét trong một cỗ máy hơi nước quá tải. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán anh, chảy ngoằn ngoèo qua sống mũi rồi nhỏ xuống nền đất đỏ, bốc hơi lẫn vào mùi đất ẩm mục.

"Không phải cháy ngẫu nhiên," Lê Vãn cúi thấp người sát mép rãnh thoát nước, tay nắm chặt chiếc thước đồng đã nhét vội vào bao da bên hông. Những khớp ngón tay nàng trắng bệch vì bóp chặt gờ đá sắc cạnh. Nàng chỉ ngón tay mảnh dẻ qua khe hở giữa hai thanh chông sắt nhọn hoắt của hàng rào ngoài, giọng thì thào nhưng sắc nhọn: "Chúng dùng dầu thông nguyên chất tẩm vào vách kho lưu trữ hồ sơ phụ. Cánh cổng sắt phía đông đã bị hạ chốt trượt cơ học từ bên ngoài."

Dưới ánh lửa bập bùng hắt ra từ những kiện gỗ thông đang rạn nứt, bốn gã sai đinh mặc áo giáp da đệm sắt của phường Nam Trụ đang khẩn trương đẩy hai chiếc xe thồ trống không chắn ngang cổng lớn. Bánh xe gỗ bọc sắt nghiến côm cốp trên mặt đường lát đá cuội, phát ra những tia lửa ngắn ngủn trong đêm tối. Một gã vạm vỡ cầm cây xà beng thô dài bằng cổ tay đóng sập then cài ngang, tiếng kim loại va đập khô khốc vang lên giữa tiếng lửa gầm réo. Ngay sau đó, gã dùng một ổ khóa đồng to bằng miệng bát đập mạnh chốt lại, then ngàm sập vào nhau phát ra một tiếng *cạch* dứt khoát.

Trên tay gã cầm đầu vẫn còn cầm chiếc thùng gỗ rỗng nồng nặc mùi hắc ín đen sền sệt, đáy thùng còn rỉ ra những giọt nhựa thông chưa kịp bắt lửa. Chúng làm việc với sự dứt khoát lạnh lùng của những kẻ đang thừa hành một mệnh lệnh dọn sạch dứt điểm, không một chút ngập ngừng hay hoảng loạn. Từng động tác đẩy xe, chèn bánh, tra khóa đều tuân theo một quy trình diệt tích đã được tính toán từ trước.

Đỗ Tuyên không chỉ muốn tiêu hủy hiện trường hầm số Hai. Hắn đang xóa sổ toàn bộ các phiếu vận chuyển phụ, sổ theo dõi cân xe và những ghi chép vãng lai mà bọn cai đội bến xe chưa kịp nộp lên phủ Quan Tế. Những mảnh giấy bản thô kệch ghi lại từng cân quặng, từng lượt chuyển tro, từng chuyến xe lăn bánh trong đêm không tên—tất cả những thứ có thể dựng lại một mạng lưới bòn rút ngầm—đang nằm trong gian nhà kho phụ đó, chuẩn bị hóa thành tro tàn không thể đối chứng.

Bỗng nhiên, từ sâu bên trong gian nhà kho thấp xây bằng gạch đất nung nằm sát vách ngăn cháy, một tràng đập cửa thình thình vang lên dồn dập. Tiếng kim loại va vào then sắt bên trong nghẽn lại, trầm đục và tuyệt vọng.

"Cứu với! Mở cửa! Có ai bên ngoài không... Khói ngạt quá rồi!"

Tiếng kêu thất thanh, khản đặc và nghẹn lại trong những cơn ho rũ rượi xé toạc màn đêm đang bị tiếng nổ lép bép của tre nứa lấn át. Đó là giọng của những phu kho phụ việc—những kẻ làm công nhật quét dọn và bốc vác ban đêm, bị bỏ rơi lại bên trong khi đám thuộc hạ của Đỗ Tuyên rút đi và chốt khóa bên ngoài. Cánh cửa sắt của gian kho thấp đóng kín mít, không có then gạt từ bên trong. Chỉ có những sợi khói đen đặc quánh như dải lụa ma quái đang cuồn cuộn luồn qua khe hở dưới chân cửa và các lỗ thông gió nhỏ bị đóng khung song sắt dày đặc muội than.

"Hai người," Ninh Chiêu siết chặt quai búa tạ đeo chéo sau lưng, giọng trầm và lạnh như thép nguội. Đôi mắt cô phản chiếu ánh lửa đỏ lừ, đồng tử co thắt lại theo từng nhịp bốc bùng của ngọn lửa. "Là phu dịch trực đêm. Đỗ Tuyên khóa chết cửa ngoài để họ chết ngạt bên trong cùng đống giấy tờ."

"Nếu xông vào cửa chính, chúng ta sẽ đụng độ đám đinh tuần đang rút về phía bến xe," Tống Hoài thấp giọng nói, ánh mắt sắc như dao quét qua ranh giới hàng rào gỗ tiện nhọn. "Cánh cửa sắt đó dùng then trượt ba nấc, không có chìa khóa thì dùng búa nện mười nhát cũng không bung được ngàm sắt. Người bên trong không chịu nổi quá mười hơi thở nữa đâu."

Anh thở hắt ra, một cơn ho khan kìm nén làm bả vai run bần bật: "Khói dầu thông cháy thiếu khí sinh ra hắc khí cực nặng. Hít ba hơi là niêm mạc phế nang cháy rụi, máu trào ngược vào cuống họng mà chết trước khi lửa chạm tới da thịt."

"Không vào bằng cửa chính," Ninh Chiêu ngước nhìn lên kết cấu mái ngói của gian kho thấp.

Đôi mắt người thợ rèn mười mấy năm quen nhìn lửa, đoán hướng nhiệt và cấu trúc lò lập tức bóc tách hình khối kiến trúc trước mặt thành từng mảng chịu lực. Từng đường chỉ ngói, từng gờ tường chịu lực hiện lên trong đầu cô không phải như một công trình kiến trúc thông thường, mà như một thân lò luyện kim cỡ lớn đang bị quá nhiệt.

Gian nhà kho này xây theo kiểu vì kèo gỗ nghiến gác lên tường gạch chịu lực dày hai thước, mái lợp ngói âm dương có độ dốc thấp để chống gió lốc từ núi thổi xuống. Ở ba góc mái có ba ô cửa lấy sáng kiêm cửa thoát khí phụ, mỗi ô chỉ rộng chừng hai gang tay, lợp bằng loại ngói kính thô pha vụn thạch anh dày nửa tấc. Hiện tại, các cửa này đang đóng kín mít và bị xà gồ chèn chặt, khiến toàn bộ lượng khói độc sinh ra từ dầu thông và ngải cứu cháy không thể thoát lên cao mà dội ngược xuống, va vào các bức tường gạch đặc rồi ép chặt xuống đáy phòng. Áp suất nhiệt đang tăng vọt từng khắc, biến lòng kho thành một buồng kín nén khí độc hoàn hảo.

"Gian nhà đang bị biến thành lò om," Ninh Chiêu nói nhanh, tháo cây búa tạ nặng mười lăm cân khỏi vai. Bàn tay thô ráp của cô ghì chặt lấy cán gỗ nghiến lên nước đen bóng, cảm nhận độ đầm chắc quen thuộc của thớ gỗ đã ngâm dầu qua nhiều năm tháng. "Áp suất khói nóng dội xuống sẽ hun chết họ trước khi lửa bén tới da. Phải mở giếng trời xả khói trước để tạo luồng đối lưu, khói bay lên thì bên dưới mới có dưỡng khí."

"Ta bọc hậu lối cửa ngách sau giàn phơi," Tống Hoài gằn giọng, không hỏi thêm một lời thừa thãi. Anh hiểu cấu trúc này: một khi khói thoát lên trên, không khí lạnh từ bên ngoài sẽ bị hút ngược vào qua các khe nứt, ngọn lửa sẽ bùng to hơn ở phần mái nhưng sàn kho sẽ tạm thời bớt ngạt. "Cửa ngách bằng gỗ lim có chốt đơn, nhưng lối vào đang bị giàn phơi chắn ngang. Ta sẽ dọn đường."

"Lê Vãn, tìm hệ thống cấp nước của kho dược!" Ninh Chiêu quay sang người phụ nữ khảo cứu trận pháp, ánh mắt đanh lại đầy kiên quyết. "Kho chứa hàng ngàn cân ngải diệp và rễ cây khô luôn phải có một bể trữ ngầm để phòng hỏa hoạn theo quy chuẩn của Công Tượng viện. Chị tìm van xả đáy cho tôi!"

Lê Vãn gật đầu dứt khoát, ánh mắt lập tức quét dọc theo rãnh thoát nước lát đá xanh dưới chân tường: "Hiểu rồi. Đường ống áp lực thường đi ngầm dưới lối đi lát đá hoa cương phía sau dãy chum sành. Đi mau!"

Ba người tách ra thành hai hướng, lao nhanh qua khoảng sân phụ phủ đầy tro đen lầy lội.

Ninh Chiêu chạy thốc tới góc tường phía đông. Với bộ pháp lùi ba bước hạ thấp trọng tâm mà Tống Hoài đã rèn giũa cho cô trên những viên gạch nghiêng suốt những ngày qua, bước chân cô lướt trên nền gạch vỡ và bùn trơn một cách chuẩn xác, không một tiếng động thừa. Trọng tâm cơ thể cô giữ thăng bằng tuyệt đối trên nửa bàn chân trước, triệt tiêu mọi lực trượt ngang do lớp bùn nhão tẩm dầu gây ra. Đến chân tường, cô mượn đà đạp mạnh lên gờ đá hoa cương nhô ra ở chân móng, hai tay bám vào gờ mái ngói rêu phong, vận sức cơ lưng kéo cả thân người vọt lên dải mái ngói dốc.

Sức nóng từ bên dưới bốc lên hầm hập qua kẽ ngói, làm lớp da lòng bàn tay cô rát bỏng như vừa áp vào tấm sắt tôi dở. Từng lớp ngói âm dương nung già đang kêu răng rắc dưới chân cô vì giãn nở nhiệt không đều. Bên dưới lớp ngói, tiếng gầm rú của ngọn lửa đang ăn dần vào những kiện gỗ sồi khô khốc vang lên rùng rợn, kèm theo mùi nhựa thông nồng nặc làm cuống họng cô bỏng rát.

Ninh Chiêu đứng vững hai chân trên hai điểm giao nhau của xà gồ chịu lực, hạ thấp đan điền, hai tay vung ngược cây búa tạ lên quá đầu. Cơ bắp lưng và bả vai cô căng cứng như dây cung kéo căng hết cỡ. Vết thương cũ ở vai trái nhói lên một cơn đau xé buốt, nhưng nhịp thở của cô vẫn trầm và đều đặn theo nhịp bễ lò rèn—hít sâu bằng mũi, nén khí vào bụng dưới, dồn lực toàn thân vào điểm tiếp xúc của đầu búa.

*Rầm!*

Nhát búa đầu tiên mang theo toàn bộ kình lực mười lăm cân sắt nguội bổ thẳng xuống khung ngói kính của ô thoát khói thứ nhất. Mảnh kính thạch anh vỡ vụn, bắn tung tóe như những hạt châu phát sáng giữa màn đêm. Ngay lập tức, một cột khói đen đặc quánh kèm theo tia lửa cuồn cuộn phụt thẳng lên trời cao như một luồng hỏa tiễn xé rách mái nhà. Khí nén bên trong thoát ra phát ra tiếng rít chói tai hệt như tiếng xì hơi của nồi súp de bị chọc thủng.

Không dừng lại một nhịp thở, Ninh Chiêu lướt bước sang gờ mái bên cạnh, vung búa liên tiếp hai nhát vào hai ô thoát khói còn lại. Từng cú đập chuẩn xác đến từng phân, phá tan các chốt hãm bằng đồng thau đã bị nung mềm.

*Rầm! Rầm!*

Tiếng ngói vỡ và xà gỗ gãy răng rắc hòa cùng luồng dưỡng khí ùa vào từ các khe hở. Ba cột khói đen kịt dựng đứng giữa nền trời đêm, tạo thành một hệ thống đối lưu hoàn chỉnh. Luồng nhiệt áp suất cao tìm được lối thoát, cuộn trào thoát lên không trung mang theo hàng vạn tàn lửa đỏ rực. Bên dưới gian kho thấp, áp suất ngạt lập tức giảm xuống rõ rệt; luồng khí độc bị kéo tuột lên cao, để lại một khoảng không gian thở cách mặt sàn chừng ba thước. Tiếng ho sặc sụa của hai người phu kho vang lên rõ hơn, xen lẫn tiếng đập cửa trong tuyệt vọng:

"Bên ngoài... có người phá mái! Cứu chúng tôi với! Khói rút bớt rồi nhưng lửa bén tới vách rồi!"

"Nằm rạp xuống sàn!" Ninh Chiêu hét lớn qua lỗ thủng trên mái, giọng cô đanh thép át cả tiếng gầm của lửa. "Úp mặt xuống đất! Lấy vạt áo bịt mũi! Tránh xa cánh cửa sắt!"

Cô nhảy phắt từ mép mái ngói xuống đống nứa vụn bên hông gian kho, tiếp đất bằng nửa bàn chân trước rồi lập tức cuộn người giảm chấn theo đúng bài học sinh tồn của Tống Hoài. Nứa khô gãy vụn dưới lưng cô, giảm bớt chấn động dội lên các khớp xương.

Cùng lúc đó, từ phía cửa ngách thông giữa giàn phơi và gian kho chính, Tống Hoài đã tiếp cận được vị trí. Cánh cửa gỗ ngách đã bị lửa từ khu sổ sách táp sang, bắt cháy rừng rực thành một tấm bình phong lửa. Nhưng nguy hiểm nhất là một cây xà nhà bằng gỗ lim to bản bị cháy sém một nửa vừa sập xuống từ trần giàn phơi, nằm chắn ngang lối đi duy nhất, đè nghiến lên mép cửa sắt ngăn giữa hai phòng. Thân xà gỗ đỏ rực như một khúc than khổng lồ, tỏa ra nhiệt lượng đủ để thiêu rụi da thịt kẻ nào dám bước qua trong phạm vi nửa trượng.

Tống Hoài đứng trước lối hẹp, mặt xám ngoét dưới ánh lửa ma quái. Thanh gậy sắt trên tay anh rung lên bần bật theo từng nhịp tim đập loạn. Cột sống sau lưng anh—nơi cấu trúc kiếm cốt đã bị nghiền nát sáu năm trước trong thảm kịch hầm lò—đang phát ra những xung chấn buốt nhói như hàng ngàn mũi kim nung cắm sâu vào tủy. Khung nẹp thau kẹp đồng đỏ siết chặt vào da thịt, cọ xát đến rớm máu qua lớp áo vải thô đã ướt sũng mồ hôi lạnh. Mỗi cử động nhỏ của cơ lưng đều kích thích các mảnh xương gãy chưa bao giờ lành hẳn cọ vào màng tủy.

Nếu đứng nhìn, xà nhà sẽ sập hoàn toàn và khóa chết cánh cửa ngách vĩnh viễn trong vòng năm nhịp thở nữa. Gỗ lim cháy âm ỉ nhưng khi đã bén lửa thì cứng như đá, một khi đổ ụp xuống thì không một sức người nào có thể bẩy ra được.

"Tống Hoài, tránh ra!" Ninh Chiêu vừa lao tới vừa hét lên, toan xông lên dùng búa tạ phá xà.

Nhưng cựu Minh Kiếm tu không lùi. Đôi mắt anh quạnh quẽ, lóe lên một tia sáng lạnh lẽo tàn khốc—không phải thứ sát khí của kẻ muốn thắng, mà là sự quyết tuyệt của một người đã từng đứng nhìn đồng đội bị bỏ lại trong đường hầm sáu năm trước và thề sẽ không bao giờ lặp lại cảnh tượng đó trước mắt mình. Nỗi ám ảnh về những cánh tay vươn ra từ bóng tối năm xưa, tiếng gào khóc nghẹn ngào chìm dần trong sỏi đá sụp đổ, tất cả trỗi dậy biến thành một cơn cuồng nộ câm lặng.

Anh hạ thấp trọng tâm, hai chân cắm sâu xuống nền đất bùn nhão, biến hai bàn chân thành hai mỏ neo sắt. Thay vì dùng sức cơ bắp đơn thuần của một người tàn tật, Tống Hoài nghiến chặt răng, gượng ép một tia kiếm ý tàn dư từ đan điền rách nát luân chuyển thẳng vào cánh tay phải. Đó là thứ kiếm ý sắc bén của người từng ngự trị cảnh giới Minh Kiếm, dù chỉ còn là những mảnh vụn vỡ nát lưu lạc trong kinh mạch tổn thương, nhưng khi bị ép phát ra, nó vẫn mang theo uy lực xé toạc không khí.

"Mở!"

Tống Hoài gầm lên một tiếng trầm đục từ sâu trong lồng ngực. Cây gậy sắt vung ra một đường vòng cung xé gió, đầu gậy bọc thép nguội thúc mạnh vào điểm tựa chịu lực dưới thân cây xà gãy với một góc xiên bốn mươi lăm độ hoàn hảo.

*Uỳnh!*

Một tiếng nổ trầm vang lên kèm theo luồng sóng nhiệt hất tung tàn lửa bay mù trời. Cây xà gỗ lim nặng hàng trăm cân đang bốc cháy ngùn ngụt bị kình lực ngắn ấy hất bổng lên không trung gần nửa thước, trượt văng sang một bên vách đá, làm bung ra một cơn mưa tàn than đỏ rực, giải phóng hoàn toàn lối đi vào cửa ngách.

Nhưng cái giá của việc cưỡng ép kiếm cốt vỡ nát vận lực là quá tàn khốc. Ngay khi cây gậy sắt chạm đất để giữ thăng bằng, Tống Hoài lảo đảo ngã quỵ một bên gối xuống nền đá. Một dòng máu tươi đỏ thẫm trào ra từ khóe miệng anh, nhuộm ướt cả vạt áo trước ngực. Tiếng thở của anh biến thành tiếng khò khè nghẹn ứ nơi cuống họng, hai mắt vằn đỏ những tia máu rách toác vì áp lực nội thương dội ngược. Khung nẹp lưng của anh phát ra một tiếng *rắc* khô khốc—một chốt nối bằng đồng bị vặn xoắn dưới áp lực phản chấn cực mạnh, mép kim loại cong queo đâm thẳng vào da thịt sau thắt lưng.

"Tống Hoài!" Ninh Chiêu lao đến đỡ lấy cánh tay anh, bàn tay cô chạm vào bả vai run rẩy của người đàn ông.

"Đừng... lo cho ta," Tống Hoài thều thào, bàn tay run rẩy gạt mạnh tay cô ra, mắt nhìn trừng trừng vào trong cửa ngách. Giọng anh rít qua kẽ răng lẫn mùi máu tươi nồng nặc: "Vào kéo người ra... Lối này không giữ được quá ba mươi nhịp thở nữa đâu... Nhanh!"

Đúng lúc ngọn lửa từ giàn phơi khô bắt đầu liếm sang các kiện rễ cây hồi và độc hoạt ở gian ngoài, tỏa ra làn khói xanh lè đầy độc tính, một tiếng ầm ầm vang dội từ lòng đất truyền lên, rung chuyển cả mặt sàn lát gạch.

Từ góc sân tối phía sau dãy chum sành, Lê Vãn xuất hiện. Quần áo nàng lấm lem bùn đất và dầu mỡ rỉ sét, hai bàn tay trầy xước rướm máu vì vừa phải dùng thanh đòn bẩy bằng sắt đặc bẻ gãy chốt niêm phong của một chiếc van ngầm bằng gang chôn sâu dưới tảng đá lát dày nửa thước.

"Nước tới rồi!" Lê Vãn hét lớn, giọng khản đặc vì ngạt khói nhưng đầy kiên quyết.

Nàng dùng hết sức bình sinh xoay tròn chiếc vô lăng sắt rỉ sét ba vòng ngược chiều kim đồng hồ. Bánh răng cơ học nghiến vào nhau phát ra tiếng ken két chói tai, rỉ sét bay ra rào rào. Một tiếng *ục* nặng nề vang lên từ hệ thống cống dẫn áp lực, rồi hàng ngàn gáo nước ngầm lạnh buốt từ bồn dự trữ chữa cháy của kho dược—được tích trữ từ mạch nước suối Lạc Hạc trên đỉnh núi—phun trào qua các rãnh xả đáy sàn. Nước đục ngầu, sủi bọt trắng xóa tràn ngập gian ngoài, dâng cao tới mắt cá chân rồi nhanh chóng ngập đến bắp chân.

Luồng nước ngập lập tức phong tỏa mặt sàn, dập tắt những đụn rơm và bao tải tẩm dầu thông đang cháy lan, ngăn không cho ngọn lửa bén vào hàng chục thùng gỗ chứa rễ cây khô và lưu huỳnh đang xếp đống ở góc hồi. Khói trắng bốc lên mù mịt xèo xèo, nhiệt độ gian ngoài hạ xuống trông thấy, tạo thành một hành lang nước che chắn cho đường rút lui. Làn nước lạnh buốt dập tắt những tàn than đỏ rực đang rơi rụng từ trên mái, biến không gian ngột ngạt thành một màn sương mù ẩm ướt nồng mùi rễ cây ngâm nước.

"Cửa ngách đã thông!" Ninh Chiêu không chần chừ thêm một khoảnh khắc nào nữa.

Cô quấn vội chiếc khăn vải thô đã nhúng đẫm nước bùn quanh mũi và miệng, buộc chặt sau gáy. Cầm chắc cây búa tạ bằng tay phải, cô hạ thấp người xông thẳng qua cánh cửa ngách, đạp nước bì bõm xông vào sâu bên trong gian kho thấp.

Bên trong, làn khói xám vẫn còn lởn vởn quanh trần nhà nhưng nhờ ba ô thoát khói trên mái mà cô vừa đập vỡ, tầm nhìn dưới sàn đã thoáng hơn rất nhiều. Khí nóng dồn lên cao tạo thành một vòm nhiệt phía trên, trong khi lớp nước ngập dưới sàn giữ cho không khí ở tầm thấp có thể thở được. Hai gã phu kho—một già một trẻ—đang nằm sóng soài trên nền đất ẩm, mặt mũi đen nhẻm vì muội than, hai tay cào cấu xuống nền gạch trong trạng thái mê sảng vì ngạt khí. Cánh cửa sắt lớn ngăn với sân chính vẫn trơ trơ với chiếc then khóa cơ học bên ngoài, những vệt sơn trên cửa đã phồng rộp và tróc từng mảng lớn.

Ninh Chiêu lao tới, túm lấy cổ áo gã phu kho trẻ tuổi hơn, giật mạnh anh ta dậy: "Đứng lên! Lội theo dòng nước thoát ra ngách sau! Mau!"

Gã thanh niên ho sặc sụa, nôn ra một búng đờm đen kịt pha lẫn máu tươi, hai mắt đờ đẫn mất phương hướng. Anh ta run rẩy chỉ tay về phía góc phòng, nơi ánh lửa xanh lét đang bùng lên dữ dội: "Sổ... sổ sách... bọn chúng... đổ dầu đốt sổ... Cai đội dặn... mất sổ là cả nhà... chết ráo..."

Ánh mắt Ninh Chiêu lập tức quét về phía góc bàn làm việc của thủ kho.

Trên chiếc bàn gỗ nghiến kê sát vách đá chịu lực, một ngọn lửa màu xanh lam kỳ dị đang liếm láp một xấp giấy tờ dày cộp kẹp trong bìa da trâu. Đó không phải lửa cháy giấy thông thường—nó cháy bằng dầu khoáng đặc thù dùng để niêm phong tài liệu cơ mật của tông môn, thứ dầu chiết xuất từ mỡ cá kình pha khoáng thạch cháy cực dai và không thể dập tắt bằng nước thông thường. Góc bìa da trâu đã quăn queo, co rút lại và bốc mùi khét lẹt, nhưng những dòng chữ viết bằng mực chu sa đỏ au và những con dấu triện son vẫn còn lộ ra dưới ánh lửa: những phiếu xuất nhập quặng tro, nhật trình điều phối xe đêm của phường Nam Trụ, và bản kê tiếp nhận vật tư lâm thời của hầm số Hai.

Chứng cứ duy nhất nối liền cái chết của những phu xe bị diệt khẩu với lò nung ngầm của Đỗ Tuyên đang nằm ở đó. Mọi tội ác, mọi đường dây bí mật mà họ liều mạng điều tra bấy lâu nay chỉ cách tro bụi trong gang tấc.

Không một giây do dự, Ninh Chiêu buông gã phu kho ra, lao mình về phía chiếc bàn. Nước dưới chân bắn tung tóe theo từng sải bước gấp gáp.

Cô vung tay tạt mạnh một gáo nước bùn dưới chân lên mặt bàn để dập bớt ngọn lửa xanh đang lan rộng, làm ngọn lửa xì lên một tiếng chói tai và bùng lên lớp khói trắng dày đặc. Ngay lập tức, cô thò bàn tay trái chộp lấy tập phiếu giao nhận đang cháy dở. Giấy mục vì nhiệt nóng bỏng rát, tro giấy dính chặt vào các ngón tay cô, bỏng rát như cào cấu.

Đúng khoảnh khắc ngón tay cô vừa quặp chặt lấy mép tập tài liệu, một tiếng *rắc* ghê rợn vang lên ngay trên đỉnh đầu. Âm thanh kim loại gãy gập xé toạc không gian ngột ngạt.

Một thanh giằng bằng sắt đặc dài sáu thước dùng để giằng khung mái ngói, sau khi bị nung đỏ suốt nửa canh giờ trong biển lửa, đã mất hoàn toàn tính đàn hồi và gãy gập khỏi mộng đá trên tường. Thanh sắt rực lửa như một thanh gươm nung đỏ trong lò rèn, mang theo cả tảng vữa đá nặng trĩu sập thẳng xuống góc bàn làm việc.

Không còn không gian để né tránh. Bức tường đá phía sau đã chặn đứng đường lùi. Nếu cô rụt tay lại để lùi ba bước theo bản năng sinh tồn, tập phiếu sẽ rơi thẳng vào đống than đỏ bên dưới chân bàn và cháy thành tro bụi vĩnh viễn trong tích tắc.

Ninh Chiêu không rụt tay. Ánh mắt cô lóe lên sự bướng bỉnh tàn nhẫn của một kẻ đã quen đứng trước đe búa từ thuở nhỏ.

*Xèèèè!*

Thanh sắt nóng đỏ đè nghiến thẳng lên mu bàn tay trái của cô, ép chặt bàn tay cô xuống mặt bàn đá cứng ngắc.

Mùi thịt cháy khét lẹt lập tức xộc thẳng vào mũi cô nồng nặc. Da thịt trên mu bàn tay cô nứt toác ra trong một phần nghìn khắc, co rút lại dưới nhiệt độ kinh hoàng của kim loại nung đỏ. Cơn đau khủng khiếp không ập đến ngay tức khắc—sức nóng tột độ của thanh sắt nung đã thiêu rụi toàn bộ các đầu dây thần kinh cảm giác trên bề mặt da trong một cái chớp mắt, để lại một cảm giác tê dại lạnh toát đến rợn người trước khi cơn đau xé thịt xương thật sự bùng nổ từ tủy sống dội ngược lên não bộ.

Mắt Ninh Chiêu tối sầm lại, màng nhĩ lùng bùng những tiếng gầm rống mơ hồ. Răng cô nghiến chặt vào môi trong đến bật máu, vị tanh nồng mằn mặn lan tỏa khắp khoang miệng. Cô không hét lên. Một tiếng rên cũng không lọt qua kẽ răng. Là con gái của một người thợ rèn, từ năm mười tuổi cô đã hiểu kim loại nóng đỏ tàn nhẫn đến mức nào: nó không biết thương hại, không biết chùn bước, và kẻ nào nao núng trước nó sẽ bị nó nghiền nát và nuốt chửng hoàn toàn.

Thay vì giật tay lại trong hoảng loạn—hành động dại dột sẽ khiến toàn bộ da thịt bị lột sạch dính lại trên thanh sắt nóng—Ninh Chiêu dùng bàn tay phải đang cầm chuôi búa tạ, thúc mạnh đầu búa bằng thép nguội vào cạnh thanh giằng, tạo thành một đòn bẩy ngắn dựa vào mép bàn đá.

*Rắc!*

Thanh giằng sắt bị hất lệch sang một bên, kéo theo một mảng da thịt cháy đen dính chặt vào thân kim loại nóng đỏ rời khỏi mu bàn tay trái của cô. Máu tươi hòa cùng dịch mô vàng rỉ ra xối xả, bốc khói nghi ngút khi nhỏ xuống mặt bàn đá còn nóng rực.

Cơn đau muộn màng ập tới như một nhát búa tạ giáng thẳng vào hộp sọ. Toàn thân Ninh Chiêu run rẩy dữ dội, từng thớ cơ ở cẳng tay trái giật liên hồi không tự chủ, năm ngón tay co quắp lại cứng đờ như bị rút gân. Cảm giác đau đớn như thể từng mẩu xương bàn tay đang bị nghiền nát trong cối giã gạo. Nhưng bằng một ý chí sắt đá đến tàn nhẫn, cô ép những ngón tay phỏng rộp rách nát ấy quặp chặt lấy xấp giấy tờ cháy dở, giật mạnh nó ra khỏi ngọn lửa rồi nhét thẳng vào trong lòng chiếc áo vải thô đã thấm đẫm nước lạnh trước ngực. Hơi nước bốc lên từ ngực áo làm cô rùng mình.

"Ra ngoài!" Ninh Chiêu quay phắt lại, gầm lên một tiếng khản đặc qua lớp khăn ướt, mắt vằn lên những tia máu đỏ quạch.

Cô lao tới chộp lấy cổ áo người phu kho già đang nằm bất tỉnh dưới vũng nước, dùng toàn bộ sức lực của cánh tay phải và bả vai còn lành lặn lôi xềnh xệch ông ta trên mặt sàn ngập nước. Gã phu kho trẻ loạng choạng bò theo sau, hai tay run rẩy ôm chặt lấy bắp chân cô như bám vào chiếc phao cứu sinh duy nhất giữa biển lửa đang sụp đổ.

Trên đầu họ, toàn bộ hệ thống xà gồ gỗ của gian kho thấp bắt đầu phát ra những tiếng răng rắc liên hồi như tiếng sấm nổ trong lòng gỗ. Cấu trúc chịu lực đã hoàn toàn sụp đổ sau khi các thanh giằng sắt bị nung chảy và gãy gập. Những thanh rui mè rực lửa bắt đầu rơi rụng như mưa rào.

*Ầm! Ầm! Ầm!*

Một mảng mái ngói rộng hai trượng sụp xuống ngay sau gót chân Ninh Chiêu, chôn vùi chiếc bàn làm việc và góc phòng trong một cột lửa đỏ rực cao ngút trời. Sóng nhiệt hất tung tàn tro tạt thẳng vào lưng áo cô, làm lớp vải ướt sém đen lại.

Tống Hoài và Lê Vãn đứng ở cửa ngách, hai người một tay túm lấy người phu kho già, một tay kéo gã thanh niên vọt qua lằn ranh nước ngập. Ngay khi bóng người cuối cùng vượt qua ngưỡng cửa ngách, toàn bộ phần mái của gian kho thấp đổ ụp xuống, tạo ra một tiếng nổ chấn động làm rung chuyển cả nền đất dưới chân họ. Ngọn lửa bốc cao ngút trời qua lỗ thủng khổng lồ trên mái, nuốt trọn toàn bộ gian phòng trong một quả cầu lửa khổng lồ rực sáng cả một góc trời thung lũng.

"Đi lối mương thoát nước!" Tống Hoài vừa ho ra máu vừa chỉ cây gậy sắt về phía bức tường đá phía sau kho. Khí huyết nghịch hành làm mặt anh trắng bệch như xác chết, nhưng từng lời nói ra vẫn chuẩn xác đến lạnh lùng.

Ở đó, một lỗ cống thoát nước thải sinh hoạt của kho dược đâm thẳng ra con mương thoát nước đen ngòm ngoại vi Lò Khê. Bức tường đá bao quanh đã bị sức nóng và áp lực nước ngầm làm nứt toác một mảng lớn, để lộ ra một khoảng trống vừa đủ cho một người cúi mình chui qua.

Cả nhóm dìu hai người phu kho lảo đảo lội qua vũng bùn đen ngòm ngập tới ngang đùi dưới lòng mương. Nước mương đen đặc, hôi thối nồng nặc mùi bùn khoáng rỉ sắt, xỉ than trôi nổi và rác rưởi công nghiệp của các lò rèn lân cận. Nước lạnh buốt táp vào vết thương bỏng sâu trên bàn tay trái của Ninh Chiêu làm cô rùng mình co giật từng chập. Cảm giác đau buốt như có hàng ngàn con rệp lửa đang cắn xé sâu tận màng xương, da thịt rách toác tiếp xúc với dòng nước ô uế nhói lên từng cơn buốt thấu tận tim gan.

Cô cắn chặt răng, bước từng bước nặng nề qua lớp bùn quánh dưới đáy mương. Bùn lầy mút chặt lấy ủng da, mỗi bước nhấc chân lên đều đòi hỏi một nỗ lực khổng lồ của cơ bắp đùi.

Trong lúc hỗn loạn trèo qua bờ mương dốc đứng đầy đá hộc trơn trượt để kéo người phu kho già lên bờ, chiếc túi vải gai đeo bên hông Ninh Chiêu bị một cành gai rừng quẹt rách toạc. Miếng vải gai rách toạc phát ra một tiếng *xoẹt* khô khốc.

Chiếc túi da nhỏ đựng mẫu tro khoáng thu thập từ sau lễ phi thăng—vật chứng quý giá mà cô đã cẩn thận gom góp từng hạt từ máng nước làm nguội xưởng Lò Ninh—rơi tuột ra ngoài.

"Mẫu tro!" Lê Vãn thảng thốt kêu lên, với tay chụp lấy trong vô vọng.

Nhưng dòng nước thải đen ngòm chảy xiết dưới mương đã cuốn phăng chiếc túi da đi trong chớp mắt. Nó chìm nghỉm vào dòng bùn sền sệt, bị dòng xoáy cuốn thẳng về phía cống ngầm hạ lưu dẫn ra sông lớn, không để lại một dấu vết nào trên mặt nước sủi bọt đen đúa.

Lê Vãn đứng sững lại giữa dòng nước bùn, sắc mặt tái nhợt vì tiếc nuối: "Mẫu tro đối chiếu... mất rồi... Làm sao chứng minh được cấu trúc tro của hầm Hai..."

"Mặc kệ nó!" Ninh Chiêu nghiến răng, giọng cô khàn đặc vì khói và đau đớn. Bàn tay phải của cô vẫn ghì chặt lấy cổ áo người phu kho già, dùng toàn lực kéo mạnh ông ta lên bờ cỏ khô rậm rạp bên rìa rừng thông. "Người còn sống... chứng cứ giấy tờ còn đây. Rút mau!"

Lời nói dứt khoát của cô kéo Lê Vãn trở về thực tại. Nàng cắn môi, quay lưng phụ Tống Hoài đẩy nốt gã phu kho trẻ lên triền dốc.

Họ kéo hai người phu kho nấp sâu vào một lùm cây rậm rạp trên triền dốc thoải nhìn xuống bến xe Nam Trụ. Cành lá thông rậm rạp che chắn tầm nhìn từ con đường chính, chỉ có tiếng gió đêm rì rào thổi qua ngọn thông hòa cùng tiếng nổ lách tách của đám cháy xa xa.

Ninh Chiêu ngồi bệt xuống một tảng đá hoa cương phủ rêu, lưng tựa vào gốc thông già xù xì. Hơi thở của cô đứt quãng, nặng nhọc như người vừa chạy bộ trăm dặm đường đèo. Cô run rẩy rút tập phiếu giao nhận từ trong lòng áo ra bằng bàn tay phải. Tập giấy đã bị cháy mất hơn một nửa, mép giấy đen thui và giòn vụn, tro giấy rơi lả tả xuống vạt áo, nhưng phần lõi bên trong nhờ được bọc trong lớp bìa da trâu ướt nước nên vẫn giữ được nét mực chu sa rõ ràng.

Lê Vãn quỳ thụp xuống bên cạnh cô, run rẩy cầm lấy tập giấy cháy dở, gạt nhẹ lớp tro than bám trên bề mặt một cách cẩn trọng. Dưới ánh trăng mờ nhạt le lói qua kẽ lá thông, ánh mắt của người khảo cứu trận pháp bỗng khựng lại, dán chặt vào một dòng chữ viết tay bằng mực tím than ở góc một tờ phiếu điều phối đặc biệt:

*‘Chuyển giao khu khảo nghiệm Thanh Lư Tông, hạng mục Bổ Khuyết dự phòng.’*

Phía dưới dòng chữ là dấu triện son hình hoa sen ba cánh lồng kiếm cụt của Viện Giám sát và Chấp pháp nội môn—hoàn toàn trùng khớp với ký hiệu trên mảnh giấy mà phu xe Ngô Phúc đã giao ra trước đó. Dấu triện còn mới, mực son ngấm sâu vào thớ giấy bản, chứng tỏ lệnh điều phối này mới được ban hành cách đây không quá ba ngày.

"Bổ Khuyết dự phòng..." Tống Hoài đứng tựa vào thân cây thông, nhìn chằm chằm vào dòng chữ ấy qua vai Lê Vãn. Khóe môi anh vương vệt máu khô khốc, ánh mắt lạnh lẽo đến thấu xương, sâu thẳm như đáy vực không đáy. "Quả nhiên... chúng không chỉ lấy tro. Chúng đang chuẩn bị người sống cho một đợt Bổ Khuyết mới trên núi."

Những mảnh ghép rời rạc trong đầu họ bỗng chốc khớp lại thành một bức tranh rùng rợn. Những cỗ xe đêm bị bịt kín, những phu xe bị diệt khẩu, những lò nung ngầm thiêu hủy xác người, và giờ đây là "hạng mục Bổ Khuyết dự phòng". Thanh Lư Tông trên đỉnh núi cao kia không chỉ luyện kiếm bằng thép và khoáng thạch; họ đang dùng chính sinh mạng của những người thợ rèn và phu dịch vùng biên viễn để lấp đầy những khiếm khuyết trong đại trận hay lò luyện kiếm cốt của tông môn.

Ninh Chiêu cúi đầu nhìn xuống bàn tay trái của mình.

Bàn tay thợ rèn vốn chai sạn, thô ráp với những vết sẹo nhỏ của hoa lửa bắn vào nay biến dạng hoàn toàn. Toàn bộ vùng da từ mu bàn tay lan đến các khớp ngón tay bị cháy xém một mảng lớn sâu hoắm, thịt thăn lại màu xám trắng xen lẫn những vệt rách rỉ máu tươi và dịch vàng nhầy nhụa. Các gân duỗi ngón tay co rút lại dưới tác động của nhiệt độ cao, khiến bàn tay cô không thể duỗi thẳng ra được nữa mà quắp lại thành một hình thù co quắp quái dị. Mỗi nhịp đập của tim đều truyền thẳng một luồng xung điện buốt nhói vào vết thương hở, làm cả cánh tay cô tê dại.

Với một vết bỏng sâu ăn vào gân cơ thế này, trong nhiều tháng tới, cô sẽ không thể dùng tay trái để kẹp giữ những thanh phôi sắt nặng trên mặt đe, càng không thể cầm kiếm bằng hai tay như những kiếm tu thông thường. Vết thương này sẽ là cái giá thể xác thật sự mà cô phải mang theo trong suốt hành trình phía trước—một dấu ấn tàn khốc khắc sâu vào thân thể người thợ rèn, nhắc nhở cô về sự thật đẫm máu mà mình vừa chạm tới.

Bỗng nhiên, từ con đường đá dẫn lên cổng chính của kho dược Nam Trụ, tiếng vó ngựa dồn dập vang lên phá tan không gian tĩnh mịch của rừng thông. Tiếng sắt móng ngựa gõ chan chát trên nền đá hoa cương kèm theo tiếng xích sắt va đập lách cách báo hiệu một toán người trang bị vũ khí hạng nặng đang ập tới.

Ninh Chiêu, Tống Hoài và Lê Vãn cùng ngước nhìn qua tán lá thông rậm rạp.

Dưới ánh lửa rực trời đang nuốt chửng toàn bộ dãy nhà kho và khu giàn phơi, một toán kỵ mã mặc giáp đen viền bạc của phủ Quan Tế vừa phi nước đại tới dừng lại trước cổng sắt. Ánh lửa bập bùng soi rõ những tấm giáp ngực bằng sắt đen chạm khắc hoa văn mây tro của phủ nha. Đi đầu là một con hắc mã cao lớn, bờm đen nhánh, trên lưng ngựa là một bóng người quen thuộc mang áo choàng gấm thêu hoa văn mây tro lộng lẫy.

Đỗ Tuyên ghìm chặt dây cương. Con ngựa hí vang một tiếng dài, hai vó trước chồm lên trong màn khói bụi mù mịt rồi dậm mạnh xuống nền đất nứt nẻ.

Gã quản sự của phường than Nam Trụ không buồn nhìn vào ngọn lửa đang thiêu rụi kho dược, cũng không mảy may quan tâm đến việc có ai sống sót bên trong hay không. Đối với gã, sự biến mất của nhà kho này chỉ là một nét gạch xóa sạch sẽ trên sổ sách kế toán. Ánh mắt gã sắc lạnh và vô cảm như một lưỡi dao cạo, quét dọc theo sườn đồi đen thẫm bao quanh thị trấn Lò Khê, nơi bóng tối đang bao trùm lấy những xưởng rèn im lìm.

Gã rút từ trong tay áo ra một đạo lệnh bài bằng đồng bóng loáng có khắc chữ của phủ Quan Tế, giơ cao lên không trung rồi quay sang viên đội trưởng tuần đinh đang quỳ rạp dưới chân ngựa, giọng nói lạnh lùng âm vang khắp thung lũng đêm:

"Phong tỏa toàn bộ đường lên núi, cấm tiệt mọi lối mòn ra vào chân núi! Không để một tên thợ rèn Lò Khê nào lọt qua trạm kiểm soát!"

Đỗ Tuyên đứng trên lưng ngựa nhìn đám cháy rực trời, lạnh lùng hạ lệnh phong tỏa toàn bộ đường lên núi đối với thợ rèn Lò Khê.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories