Ba người quanh một bếp nguội
Gian nhà chái của Tống Hoài lạnh ngắt, không dám nhóm lấy một đốm lửa sưởi. Trong bóng tối lờ nhờ, chỉ có mùi tanh nồng nặc của mỡ trăn hòa lẫn với thứ mùi ngai ngái, hăng hắc của bột rễ thảo mộc sao cháy bốc lên quẩn quanh, xộc thẳng vào cánh mũi mỗi khi Tống Hoài dùng kẹp gắp từng mẩu vải cháy dính chặt vào thớ thịt mu bàn tay Ninh Chiêu.
Gió đêm lùa qua từng khe liếp nứa đan thưa, cuốn theo hơi ẩm lạnh buốt, tanh tưởi bốc lên từ con mương thải đen ngòm chảy lộ thiên phía sau dãy nhà lao dịch. Nhưng trên trán Ninh Chiêu, mồ hôi đặc quánh vã ra từng giọt lớn, đục ngầu vì bụi than, nối nhau lăn dài qua thái dương, chảy xuống hõm má lem luốc muội khét rồi đọng lại nơi cằm.
Cô ngồi bất động trên chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách đất. Hai hàm răng cắn nghiến vào một khúc củi dâu đã được tước sạch vỏ ngoài. Thớ gỗ dâu dẻo quánh, tứa ra vị chát đắng nghét nơi đầu lưỡi, lún sâu vào kẽ răng cô đến mức góc môi rách toạc một vệt nhỏ, rỉ ra những giọt máu tươi mằn mặn quyện cùng bọt dãi.
Tống Hoài ngồi ở chiếc ghế đẩu thấp đối diện. Toàn bộ phần lưng trên của anh còng rạp xuống, hai vai so lại nhằm giảm bớt sức nặng của cơ thể đang dồn nén tàn nhẫn lên khung xương sống nứt rạn. Anh không thắp ngọn đèn dầu lớn treo trên xà, mà chỉ dám châm một mẩu bấc sợi bông cắm trong chiếc đĩa sành mẻ đựng mỡ cừu hôi xì xì, đặt thăng bằng trên một chiếc thùng gỗ úp ngược giữa hai người. Ánh sáng vàng vọt, tù mù và bết dính khói đen khẽ chao đảo, giật cục theo từng cơn gió thổi qua vách nứa mục.
Trong tay phải Tống Hoài là một chiếc kéo bấm bằng thép gió mài vẹt hai bên má, cùng một chiếc kẹp bằng đồng lá mỏng tanh vốn là đồ nghề anh dùng để nắn chỉnh then khóa và nẹp đồng cho đám thợ mỏ.
Mũi kẹp kim loại lạnh toát khẽ chạm vào mép một sợi vải thô cháy đen xì, cứng đờ như que củi, vốn đã quyện chặt vào lớp biểu bì hoại tử trên mu bàn tay trái của Ninh Chiêu.
"Thả lỏng cơ hàm ra một chút. Đừng cắn nghiến quá kẻo đứt lưỡi," Tống Hoài nói khẽ. Giọng anh khàn đặc, thô ráp và đứt quãng như có những hạt cát sắc nhọn cọ xát trong lồng ngực. Sau đòn phát kiếm ý cưỡng ép ở kho Nam Trụ để cứu mạng hai người phu kho, từng nhịp thở của anh đều kéo theo một tiếng rít khẽ, khô rốc nơi cuống phổi bị tổn thương.
Ninh Chiêu không nhả khúc củi dâu. Cô cũng không hề chớp mắt. Đôi mắt đen thẳm của cô trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định, các đường gân xanh nổi phồng giần giật trên trán như những con trùn đất quằn quại sau cơn mưa rào.
Một tiếng *xoẹt* rất khẽ vang lên.
Mẩu vải gai cháy giòn kèm theo một mảng da mỏng màu xám xịt bị đầu kẹp bóc tách dứt khoát ra khỏi nền thịt đỏ hỏn. Dịch vàng hòa lẫn máu tươi sẫm màu lập tức ứa ra, trào qua kẽ ngón tay, nhỏ tong tỏng xuống chiếc chậu sành đặt dưới nền đất nện.
Cơn đau không ập đến như búa tạ giáng xuống mặt đe, mà như một mũi đục nung đỏ cắm phập vào tủy sống, rồi từ từ xoay tròn từng vòng chậm rãi, khoét sâu vào từng đầu mút dây thần kinh.
Toàn thân Ninh Chiêu giật nảy lên. Toàn bộ các thớ cơ ở bắp tay phải cô co rúm lại, năm ngón tay lành lặn bấu nghiến xuống dát tre ọp ẹp khiến những thanh tre già kêu răng rắc như sắp gãy lìa. Nhưng tuyệt nhiên không có một tiếng rên rỉ nào thoát ra khỏi bờ môi đang cắn chặt. Chỉ có hơi thở dồn dập, phì phò phả mạnh qua hai cánh mũi, mang theo luồng nhiệt nóng rực nồng nặc mùi máu tanh và khói lửa chưa kịp tan.
Tống Hoài không dừng tay. Đôi mắt anh bình thản đến mức tàn nhẫn—sự bình thản chỉ có ở những kẻ đã từng nhìn thấy quá nhiều xương thịt nát vụn nơi chiến địa hay đáy hầm lò. Anh dùng ngón tay trỏ quệt lấy một cục mỡ xám đục quánh từ chiếc hũ sành nhỏ đặt bên cạnh. Đó là tro rễ hoàng liên và vỏ cây sao cháy trộn với mỡ trăn cất từ năm ngoái, thứ dược liệu hạ đẳng, rẻ tiền nhất mà đám phu quặng nghèo khổ ở Lò Khê vẫn bôi lên da thịt mỗi khi bị xỉ lò bắn trúng hay thanh sắt nóng nung đỏ táp phải.
Anh miết nhẹ đầu ngón tay ráp cộm, trét một lớp thuốc mỡ dày và dính như nhựa thông lên miệng vết thương hở đang bốc khói mờ mờ.
Thứ mỡ lạnh buốt, tanh tưởi vừa ụp xuống phần thịt non đang chín tái lập tức kích hoạt một cơn buốt nhói dữ dội khác, sắc nhọn như gai góc cào rách da thịt từ bên trong. Ninh Chiêu hóp chặt bụng, mồ hôi lạnh túa ra ướt đầm đìa cả vạt áo cộc bằng vải thô.
Cô từ từ mở hé mắt, cúi đầu nhìn trân trân vào bàn tay trái của mình dưới ánh đèn dầu leo lét.
Đó là một cảnh tượng tàn nhẫn đối với bất kỳ ai kiếm sống bằng đôi tay, và là bản án tuyệt vọng đối với một người thợ rèn.
Toàn bộ lớp da trên mu bàn tay trái của cô đã bị nhiệt lượng khủng khiếp của thanh giằng sắt nung đỏ trong vụ cháy kho Nam Trụ hủy hoại hoàn toàn. Nó cháy xém thành từng vệt đen sạm xen lẫn những mảng thịt tái trắng bệch, nhăn nhúm như mỡ lợn luộc dở bị bỏ quên dưới đáy nồi. Nhưng vết thương ngoài da dẫu có kinh khủng đến đâu cũng không đáng sợ bằng tổn thương ở tầng sâu bên dưới: các dải gân duỗi chạy dọc từ cẳng tay, vượt qua khớp cổ tay rồi tỏa xuống từng khớp ngón. Dưới sức nóng gay gắt của ngọn lửa kho dầu và lực tì nghiến ngàn cân khi cô chống giữ thanh xà sập, các sợi gân trắng muốt đã bị nhiệt làm co rút lại, săn cứng và xơ xác như những sợi thừng gai phơi nắng dầm mưa lâu ngày.
Bốn ngón tay—từ ngón trỏ đến ngón út—quắp chặt vào lòng bàn tay theo một góc độ méo mó, co giật một cách bất tự nhiên.
Ninh Chiêu thở dốc từng cơn ngắn. Cô thử vận sức, tập trung toàn bộ ý chí để điều khiển các ngón tay duỗi thẳng ra. Đầu óc cô phát ra mệnh lệnh rõ ràng, các bó cơ cẳng tay gồng cứng đến mức da thịt nổi cuộn, nhưng đầu các ngón tay chỉ khẽ run rẩy một cách bất lực trong không khí. Một cơn đau xé rách nhói buốt chạy ngược từ mu bàn tay lên tận khớp cùi chỏ, báo hiệu các dải gân duỗi đã mất đi tính đàn hồi tự nhiên. Chúng trơ lì, căng cứng như những sợi dây cung bị đứt đoạn giữa chừng, chết lặng dưới lớp da hoại tử.
Cô không thể kẹp chặt phôi sắt được nữa.
Là một người thợ rèn, bàn tay phải cầm búa tạ quai xuống để định hình sắt thép, nhưng bàn tay trái mới chính là linh hồn, là con mắt thực sự của người thợ bên đe. Tay trái giữ kìm mỏ quạ, kẹp chặt khối phôi thép nóng đỏ nặng hàng chục cân trên mặt đe phẳng; tay trái cảm nhận độ rung chuyển của từng nhát búa truyền qua thân kìm để biết thớ thép đã ngấu hay chưa, bên trong lõi có bọt khí, có ngậm xỉ hay xuất hiện rạn nứt tế vi hay không. Giờ đây, những ngón tay co quắp, tật nguyền này thậm chí không thể mở rộng biên độ đủ để ôm trọn lấy phần chuôi của một chiếc kìm nguội thông thường.
Và không chỉ có nghề rèn. Những bài học bộ pháp và kiếm chiêu căn bản mà Tống Hoài dốc lòng truyền dạy cho cô suốt mấy ngày qua đều xoay quanh việc sử dụng hai tay để ghìm giữ đốc kiếm ngắn, dùng lực phản chấn của cả hai cánh tay để triệt tiêu kiếm áp nặng nề từ đòn đánh của kẻ địch. Với một bàn tay trái biến dạng và tàn phế này, cô vĩnh viễn mất đi khả năng trợ lực từ phía sau đốc kiếm. Mọi đòn đỡ gạt sau này sẽ chỉ còn dựa vào một cổ tay đơn độc, dễ dàng bị kiếm ý của đối phương đánh gãy vụn.
Thương tật thể xác này không phải một vết bầm tím có thể tan biến sau vài tuần bôi rượu thuốc, cũng không phải một vết rách da có thể liền da non sau khi kéo vảy. Nó là một sự mất mát vĩnh viễn, một vết sẹo tàn phế không thể đảo ngược mà cô buộc phải mang theo trên thân thể mình suốt phần đời còn lại. Hệt như những chiếc chốt nẹp lưng bằng đồng thau thô thiển đã cắm vĩnh viễn vào cột sống của người đàn ông đang ngồi đối diện cô lúc này.
Ninh Chiêu từ từ nhả khúc củi dâu đẫm máu ra khỏi miệng. Cô nhổ một ngụm nước bọt lẫn tơ máu đỏ lòm xuống nền đất sát chân chõng tre. Ánh mắt cô hướng về phía Tống Hoài, giọng nói trầm đục, khô khốc:
"Mất bao lâu mới cầm nắm lại được đồ vật?"
Tống Hoài cầm lấy một dải vải gai sạch đã được luộc qua nước sôi phơi khô trên giàn nứa. Anh cẩn thận trải dải vải lên lớp thuốc mỡ dầy quánh, rồi quấn từng vòng nhẹ nhàng quanh mu bàn tay cô, cố ý không siết chặt để tránh làm bít tắc miệng vết loét đang rỉ dịch.
"Muốn cầm lại búa tạ hay vung kìm lớn thì dẹp ý nghĩ đó đi," Tống Hoài trả lời cụt lủn, ánh mắt anh dán chặt vào nút buộc dải vải gai. "Gân đã bị lửa nung co rút lại, da non mọc lên sẽ kéo cứng ngắc cả khớp xương. Nếu chịu khó dùng dầu xoa bóp, ngâm nước ấm mỗi ngày và cắn răng bẻ từng khớp ngón ra cho giãn gân bị dính, thì ba tháng nữa mới có thể cầm nổi một bát cơm hay giữ lỏng lẻo một thanh đoản kiếm nhẹ. Nhưng bàn tay đó sẽ không bao giờ linh hoạt trở lại được như trước. Bất kỳ một va chạm mạnh nào vào mu bàn tay cũng sẽ làm nứt toác lớp sẹo mới mọc."
Anh thắt nút dải băng, rồi ngẩng đầu lên. Ánh mắt sắc lạnh, khô cằn như lưỡi đục thép quét qua gương mặt nhợt nhạt không còn giọt máu của Ninh Chiêu:
"Cô có hối hận vì đã thò tay vào đống lửa giật lại tập giấy đó không?"
Ninh Chiêu không hề né tránh ánh nhìn của anh. Đôi đồng tử đen láy của cô phẳng lặng như mặt nước giếng khơi đóng băng. Cô nâng bàn tay trái đang được bao bọc trong lớp vải gai trắng lên ngang tầm ngực, bốn đầu ngón tay co quắp lộ ra ngoài mép vải khẽ run rẩy từng chặp theo nhịp đập buốt nhói của mạch máu.
"Nếu không giật lại, hai gã phu kho chết cháy thành tro, còn chúng ta thì đứng dưới chân núi này như lũ đui mù," giọng Ninh Chiêu lạnh tanh, đều đều như tiếng thanh sắt nguội gõ xuống mặt đe. "Đã dám bước chân vào kho lửa thì phải tính trước việc da thịt bị cháy sém. Cha tôi từng bảo, đứa thợ rèn nào sợ phôi nổ làm bỏng mắt thì muôn đời chỉ xứng đi đúc lưỡi cày mục."
Tống Hoài nhìn sâu vào mắt cô một hồi lâu. Khóe môi nứt nẻ của anh khẽ giật giật, tạo thành một nụ cười khô khốc, mệt mỏi. Anh không nói thêm lời nào, lẳng lặng thu dọn chiếc kéo bấm và chiếc hũ sành đựng mỡ trăn vào một chiếc giỏ mây, rồi vịn một tay vào mép thùng gỗ nặng nề đứng dậy.
Khung nẹp lưng bằng đồng đỏ pha thiếc giấu dưới lớp áo nâu sồng của anh phát ra tiếng kêu *lách cách* khô khốc. Một trong những chốt định vị bằng kim loại đã gãy lìa từ lúc anh vận hết tàn dư kiếm ý để gạt thanh xà gỗ lim rực lửa trong kho Nam Trụ. Mũi chốt gãy sắc nhọn cắm lệch vào phần thịt mềm nơi thắt lưng, khiến mỗi bước chân của anh đều kéo theo một vệt run rẩy kìm nén ở các thớ cơ đùi.
Ở góc bên kia của gian chái nát, trên một chiếc bàn gỗ con kê tạm bợ bằng bốn viên gạch xỉ lò, Lê Vãn nãy giờ vẫn ngồi bất động.
Chị không hề quay đầu nhìn về phía Ninh Chiêu, dường như cố tình tránh né cảnh tượng thịt cháy và máu tươi của người thợ rèn. Trước mặt Lê Vãn là một chiếc khay sứ men lam lòng nông chứa dung dịch cồn tẩy trắng đã pha loãng với nước cất theo tỷ lệ nghiêm ngặt, cùng hai chiếc panh kẹp đầu dẹp bằng bạc sáng loáng.
Tập phiếu kho đẫm dầu khoáng mà Ninh Chiêu liều mạng giật từ chiếc bàn bốc cháy trong kho Nam Trụ đang được đặt phẳng phiu trên mặt khay sứ. Lớp bìa ngoài của tập giấy đã bị nhiệt độ cao hóa than hoàn toàn, giòn vụn như cánh ve sầu mùa thu, mép giấy quăn queo, co rút lại và dính chặt vào nhau bởi lớp dầu khoáng cháy dở keo lại đặc quánh như nhựa đường. Nếu chỉ dùng ngón tay trần thô bạo tách ra, toàn bộ tài liệu quý giá này sẽ vỡ vụn thành tro bụi chỉ trong một cái chớp mắt.
Lê Vãn dùng ống nhỏ giọt chấm từng giọt cồn tẩy lên mép giấy bị dính bết. Đôi bàn tay của một cựu khảo sát viên Cục Địa Mạch vững vàng đến kinh ngạc, không hề run rẩy dù chỉ một phần mười sợi tóc. Chị dùng đầu nhọn của chiếc panh bạc khẽ lách vào khe hở vi mô giữa hai trang giấy bản dày dặn, nơi dung dịch cồn vừa làm tan rã lớp dầu khoáng bám dính. Từng milimét giấy ướt át, bốc khói hăng nồng của mùi cồn pha lẫn mùi khói khét được tách dần ra một cách chậm rãi, tỉ mỉ như một người thợ kim hoàn đang bóc tách từng lá vàng mỏng.
"Được rồi," Lê Vãn thở hắt ra một hơi dài, đặt chiếc panh bạc xuống cạnh khay sứ. "Lớp giấy lót bên trong còn nguyên vẹn. Dầu thông mới chỉ bén vào góc phiếu điều phối vật tư, chưa kịp ăn sâu vào phần nội dung văn tự."
Ninh Chiêu ôm cánh tay trái trước ngực, cùng Tống Hoài chậm rãi bước lại gần bàn gỗ.
Dưới ánh sáng vàng vọt tù mù của ngọn bấc mỡ cừu, trang giấy thứ ba của tập phiếu kho hiện ra rõ ràng dưới đáy khay sứ. Nền giấy xao động những vệt ố vàng do nước dập lửa ngấm vào, nhưng những nét mực chu sa đỏ au và các dòng chữ viết tay bằng mực tím than vẫn giữ được độ sắc sảo nguyên vẹn.
Phía dưới dòng chữ viết tay nghiêng nghiêng: *‘Chuyển giao khu khảo nghiệm Thanh Lư Tông, hạng mục Bổ Khuyết dự phòng’* không chỉ có dấu triện hình hoa sen lồng thanh kiếm cụt của Viện Chấp Pháp mà nhóm đã thoáng thấy lúc nấp trên đồi thông, mà ở góc dưới cùng bên trái—nơi đóng dấu xác thực tiếp nhận vật tư kỹ thuật—còn lộ ra một con dấu triện hình chữ nhật lòng máng còn khá rõ nét.
Dấu triện được khắc chìm sâu vào gỗ thị, nét chữ vuông vức theo lối triện thư cổ kính: *‘Thanh Lư Tông — Viện Công Tượng — Khí Cụ Tiếp Liệu Ty’*.
"Viện Công Tượng..." Ninh Chiêu lẩm bẩm, ánh mắt cô dừng lại thật lâu ở bốn chữ khắc lòng máng sắc cạnh. "Dấu triện này là của bên xưởng đúc và chế tạo khí cụ ngầm, không phải của đám tư tế hành lễ hay lũ chó săn Chấp Pháp Viện."
"Đúng vậy," Lê Vãn đưa đầu ngón tay mảnh khảnh chỉ vào vết mực lòng máng còn khá tươi. "Phủ Quan Tế của Đỗ Kính muốn vận chuyển tro khoáng hay lập danh sách tải sống đều bắt buộc phải thông qua Viện Công Tượng để chuẩn bị khí cụ tiếp dẫn tương thích. Không có các then chốt cân áp, khung giữ thân thể bằng thép nguội và hệ thống ống dẫn chịu lực do Viện Công Tượng rèn đúc, các giá nạp lực dưới lòng đất không thể nào vận hành ổn định được. Tờ giấy điều phối này chứng minh số tro quặng và nhân mạng không được đưa thẳng lên đỉnh Huyền Khuyết ngay lập tức, mà được chuyển thẳng vào khu xưởng khảo nghiệm ngầm của Viện Công Tượng nằm ở lưng chừng sườn núi phía bắc."
Gian chái nhà lại rơi vào sự im lặng ngột ngạt đến nghẹt thở. Tiếng gió đêm rít qua từng khe liếp nứa hòa cùng tiếng nước thải chảy róc rách, tù đọng dưới mương sau nhà. Ba con người đứng quây quanh một đĩa dầu le lói, bóng của họ đổ dài lên vách đất nứt nẻ, gầy guộc, xiêu vẹo và trĩu nặng những nỗi niềm u uất.
Tống Hoài ngồi thụp xuống một chiếc đôn gỗ mục kê ở góc tường, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt lên đầu gối. Anh cúi gầm mặt, ánh mắt nhìn xoáy vào khoảng tối tăm dưới gầm chõng tre, nơi những mảnh gỗ mục nằm lẫn trong tro than.
"Sáu năm trước," giọng Tống Hoài cất lên, trầm thấp, nặng nề như tiếng đá tảng lăn dưới đáy vực sâu thăm thẳm. "Đoàn xe mà tôi nhận lệnh hộ tống năm đó... không chỉ có chín mươi cỗ quan tài sắt chứa những kiếm tu bị phế bỏ."
Ninh Chiêu và Lê Vãn cùng ngẩng đầu nhìn anh. Suốt những ngày qua, Tống Hoài chưa bao giờ chủ động mở lời nhắc đến biến cố đẫm máu đã tước đoạt toàn bộ tu vi của một Minh Kiếm lừng lẫy. Anh chỉ nói về những cơn đau nhức nhối khi trái gió trở trời, về cách né tránh đòn đánh của kẻ thù, về sự nghiệt ngã của quy củ tông môn, nhưng quá khứ đẫm máu của chính bản thân anh luôn bị chôn vùi dưới một lớp tro tàn lạnh ngắt.
"Hôm đó là ngày cuối cùng của kỳ Bổ Khuyết mùa thu," Tống Hoài chậm rãi nói, từng từ ngữ như bị bóp nghẹt nơi cuống họng khô khốc. "Màn chắn phòng hộ quanh các trấn phía nam bị gió tro ăn mòn dữ dội, ba trụ chắn ở Lạc Hạc sụt giảm áp lực nghiêm trọng, đe dọa làm sụp đổ toàn bộ kết giới bảo vệ vùng ngoại vi. Khi đoàn xe giải áp của chúng tôi đến được trạm nạp lực số Bảy nằm sâu dưới lòng đất, áp lực từ mạch dẫn ngầm bất ngờ dội ngược trở lại. Ba cỗ quan tài sắt đầu tiên vừa được đẩy vào rãnh trượt đã phát nổ tung toé ngay trong buồng nạp. Kiếm cốt của những người bên trong bị áp lực nghiền nát thành tro bụi mịn màng... nhưng bấy nhiêu linh lực giải phóng ra vẫn không đủ để kích hoạt lại trụ chắn."
Anh siết chặt hai bàn tay thô ráp vào nhau, các khớp xương ngón tay trắng bệch ra:
"Một mệnh lệnh khẩn cấp từ trên đỉnh núi đưa xuống thông qua ống truyền âm, yêu cầu đội hộ tống phải lập tức bổ sung người vào trận nạp lực để duy trì chu kỳ vận hành của kết giới. Họ không thèm tìm kiếm tù nhân hay phu dịch bên ngoài. Những kẻ chấp sự chỉ tay thẳng vào những kiếm tu hộ tống thuộc hàng đệ tử ngoại môn đi cùng đoàn xe—những đứa trẻ mười tám, đôi mươi vừa cùng tôi chia nhau từng mẩu lương khô mốc meo trên đường vượt đèo. Tôi là Minh Kiếm dẫn đầu đội hộ tống lúc đó. Tôi đã rút kiếm, đứng chắn ngang trước cửa buồng nạp lực, không cho phép đám chấp sự đẩy đệ tử vào các giá giữ bằng sắt."
Hơi thở của Tống Hoài trở nên dồn dập, lồng ngực phập phồng đau đớn như có ngọn lửa âm ỉ thiêu đốt bên trong.
"Họ không hề tranh luận nửa lời. Ba vị chấp sự của Chấp Pháp Viện cùng hai trưởng lão của phủ Quan Tế lập tức liên thủ vây hãm tôi ngay trong đoạn hành lang hẹp bằng đá xám. Kiếm ý của tôi lúc đó đủ mạnh để xé rách vòng vây, mở ra một đường máu đưa năm người đệ tử chạy thoát ra phía cửa hầm thông gió... nhưng tôi đã phạm phải một sai lầm chết người. Tôi quay đầu lại để kéo người đệ đệ kết nghĩa của mình đang bị kẹt chân dưới một thanh giằng sập. Khi tôi vừa cúi xuống, một đạo chưởng lực nén đầy toan khí ăn mòn của tên trưởng lão Quan Tế đánh thẳng vào đốt sống lưng thứ tư."
Tống Hoài nhắm nghiền hai mắt lại. Một giọt mồ hôi lạnh ngắt trượt dài từ thái dương gầy guộc xuống cằm anh.
"Kiếm cốt của tôi bị đánh vỡ vụn ngay tại chỗ. Từng mảnh cộng hưởng linh lực trong tủy sống bị xé rách toạc ra, linh lực tán loạn tràn ra ngoài như nước lũ vỡ bờ, thiêu cháy sạch toàn bộ hệ thống kinh mạch nửa thân dưới. Chúng không giết tôi ngay. Chúng trói nghiến tôi lại bằng xích sắt khóa linh, rồi ném tôi ra ngoài rãnh thoát nước hoang phế bên sườn núi Lạc Hạc, mặc cho gió tro gặm nhấm thân xác. Ba ngày sau, khi tôi tỉnh lại trong căn nhà hoang tàn của y xá Thạch Tuyền, hồ sơ của tông môn đã được niêm phong xong xuôi: Minh Kiếm Tống Hoài nóng vội đột phá cảnh giới giữa đường hành quân, dẫn đến tẩu hỏa nhập ma, kiếm cốt tự vỡ nát, tước bỏ kiếm tịch, trục xuất vĩnh viễn xuống chân núi."
Anh ngẩng đầu lên. Trong đôi mắt đục ngầu vì những cơn đau đớn mạn tính hành hạ suốt sáu năm trời chợt bùng lên một tia lửa xám lạnh lẽo, căm hờn:
"Chín mươi cỗ quan tài sắt đó không một ai có thể trở về. Năm người đệ tử mà tôi liều chết đưa ra được cửa hầm, sau đó cũng lần lượt mất tích bí ẩn trong những đợt 'điều động đặc biệt' lên núi của tông môn. Sáu năm qua, tôi cắn răng sống chui rúc ở cái xó mương thải bốc mùi này không phải để chờ đợi vết thương lành lặn—bởi vì nó vĩnh viễn không bao giờ lành lại được nữa. Tôi sống chỉ để đợi một ngày, cái hồ sơ tẩu hỏa nhập ma dối trá đó bị xé toạc ra trước mặt toàn thể đệ tử tông môn, để những kẻ đã đặt bút ký vào lệnh đổi người áo gấm phải quỳ xuống đọc to tên của từng đứa trẻ bị chúng ném vào cỗ máy nạp lực dưới lòng đất."
Không gian trong gian chái nhà chìm vào câm lặng tuyệt đối. Chỉ còn nghe thấy tiếng bấc đèn mỡ cừu cháy lách tách từng chặp giòn tan.
Lê Vãn nhìn chăm chú vào gương mặt hằn sâu những nếp nhăn cay đắng của Tống Hoài. Bờ môi mỏng dính của chị khẽ run rẩy. Chị từ từ cúi đầu xuống, nhìn vào những đầu ngón tay của chính mình—những ngón tay hãy còn dính đầy vết ố vàng của cồn tẩy và màu mực chu sa—rồi thở dài một tiếng nặng trĩu:
"Thầy của tôi... Chánh khảo sát Phạm Duy, cũng bị chôn vùi vĩnh viễn trong cái hệ thống tàn độc đó."
Chị ngẩng mặt lên, nhìn thẳng vào mắt Ninh Chiêu và Tống Hoài. Trong ánh mắt chị lúc này không còn vẻ xa cách, lạnh lùng, cảnh giác của một kẻ chỉ quen làm việc với những con số đo đạc khô khan trên giấy tờ:
"Mười năm trước, khi đoàn khảo sát số Ba của thầy tôi mất tích không một dấu vết ở thung lũng Trầm Đới, bản báo cáo chính thức do Cục Địa Mạch công bố đã kết luận nguyên nhân là do nổ túi khí mê-tan tự nhiên tích tụ lâu ngày trong lòng đất. Nhưng trước khi dẫn đoàn khởi hành ba ngày, thầy đã lén đến gặp tôi trong đêm, giao lại một phần bản đồ trắc đạc thô mà thầy đã bí mật ghi chép suốt hai mươi năm. Thầy tôi phát hiện ra rằng, mạng lưới phòng hộ cổ xưa bảo vệ dãy Huyền Khuyết vốn là một đại trận pháp tự cân bằng sinh thái địa mạch, vận hành hoàn toàn dựa trên sự tuần hoàn điều hòa của khoáng thạch tự nhiên và các mạch nước ngầm tầng sâu. Nhưng từ mấy chục năm trở lại đây, nó đã bị ai đó trong tông môn cố tình cải tạo, cấy ghép thêm những đường dẫn biến tính bằng kim loại đen để cưỡng ép thu nạp năng lượng sinh mệnh và kiếm cốt của người sống."
Lê Vãn cắn chặt môi dưới, giọng nói nghẹn lại, run rẩy trong cổ họng:
"Thầy tôi muốn dốc toàn lực đi sâu vào thung lũng Trầm Đới để tìm ra điểm nối gốc của trận pháp cổ xưa, nhằm chứng minh sự biến tính nhân tạo này đang dần dần phá hủy toàn bộ địa tầng vùng Hạ Lĩnh, biến bức màn chắn bảo vệ thành một cái bẫy khổng lồ hút máu người để nuôi dưỡng đỉnh Huyền Khuyết. Nhưng đoàn khảo sát của thầy đào trúng vào một đường ống xả áp khẩn cấp của trạm nạp lực ngầm... Toàn bộ mười hai người trong đoàn bị luồng khí độc nén áp cực cao từ đáy lò xả ra thiêu rụi thành tro than trong nháy mắt. Khi những xác người cháy đen không còn nhận dạng được đưa về căn cứ, Cục Địa Mạch đã phong tỏa toàn bộ hiện trường, ép tôi phải ký tên vào biên bản giám định nổ khí mê-tan. Chúng đe dọa rằng nếu tôi từ chối đặt bút ký, toàn bộ gia đình của thầy tôi ở quê nhà sẽ bị tước đoạt tiền trợ cấp sinh nhai và bị trục xuất thẳng vào vùng hoang mạc gió tro."
Chị siết chặt chiếc panh bạc trong tay, đầu kim loại sắc nhọn bấm sâu vào lòng bàn tay mềm mại:
"Tôi đã ký. Bàn tay hèn nhát này đã run rẩy đặt bút ký vào cái tờ giấy dối trá tởm lợm đó để đổi lấy một con đường sống sót rời khỏi Cục Địa Mạch. Mười năm nay, tôi lang bạt khắp các bờ tro xám xịt, đo đạc từng hướng gió thổi, nhặt nhạnh từng mẩu quặng cháy dở bên bờ suối chỉ để tìm lại bản đồ mạch dẫn gốc mà thầy tôi đã cất giấu trước khi chết. Tôi không cần thăng tiến trong hàng ngũ tu tiên, tôi cũng chẳng màng đến việc trả thù cá nhân cho thỏa cơn giận. Tôi cần bản đồ đó để giải oan cho thầy tôi, và quan trọng hơn tất cả: tôi muốn chứng minh cho thế gian thấy rằng chúng ta hoàn toàn có thể phục dựng lại một hệ thống phòng hộ thuần cơ học và khoáng trận, đủ sức bảo vệ các thôn trấn bình yên mà không cần phải ném bất kỳ một con người bằng xương bằng thịt nào vào làm tải nạp lực cho lũ người trên đỉnh núi."
Ninh Chiêu lắng nghe từng lời, từng chữ của hai người đồng hành.
Bàn tay trái bị thương tật của cô nhói buốt theo từng nhịp đập gấp gáp của trái tim, hòa nhịp cùng tiếng gió đêm rít từng hồi lạnh lẽo bên ngoài vách đất.
Một cựu kiếm tu bị phế bỏ kiếm cốt, mang theo mối hận ngút trời của những người đồng đội trẻ tuổi bị vứt bỏ như cỏ rác.
Một nữ khảo cứu trận pháp mang theo mặc cảm tội lỗi nặng nề của một chữ ký dối trá và di nguyện thiêng liêng chưa hoàn thành của người thầy đã khuất.
Và chính bản thân cô—một đứa con gái thợ rèn ôm chặt trong ngực mảnh kiếm Hàn Tủy vỡ nát, mười một năm ròng rã đuổi theo dấu vết mất tích bí ẩn của người cha, người đã để lại những rãnh đục kỳ lạ trên mặt đe gang và những kích thước then chốt chôn sâu dưới lòng đất.
"Đêm nay, suýt chút nữa chúng ta đã bỏ mạng," Ninh Chiêu cất tiếng, phá vỡ bầu không khí u uất, trĩu nặng đang đè nén gian phòng. "Không chỉ ba người chúng ta, mà hai người phu kho khốn khổ trong kho Nam Trụ cũng suýt nữa bị thiêu sống thành tro than."
Cô nhìn thẳng vào mắt Tống Hoài, rồi chuyển ánh mắt sắc sảo sang phía Lê Vãn:
"Chúng ta đã hành động quá nóng vội. Khi vừa nghe ngóng được chút tin tức về hầm số Hai, chúng ta đã vội vã lao đến mà không tính toán hết đường lui cùng sự tàn nhẫn của đối phương. Thằng Đỗ Tuyên sẵn sàng phóng hỏa thiêu rụi cả kho thuốc dự trữ của tông môn chỉ để xóa sạch vài tờ giấy nợ bẩn thỉu và cuốn nhật trình xe đêm. Nếu Tống Hoài không liều mạng gạt thanh xà, nếu Lê Vãn không am hiểu địa mạch để tìm ra chiếc van nước ngầm chữa cháy, thì giờ này tro cốt của chúng ta cũng đã trôi dạt xuống con mương thải đen ngòm này cùng với túi mẫu quặng của tôi rồi."
"Cô nói hoàn toàn đúng," Tống Hoài gật đầu thật chậm, sắc mặt anh đanh lại, nghiêm nghị khác thường. "Một người thợ rèn nóng vội sẽ đập hỏng thanh thép tốt; những kẻ điều tra nóng vội sẽ làm liên lụy và giết chết những người vô tội xung quanh mình. Nếu thực sự muốn đi tiếp lên đỉnh núi Huyền Khuyết kia, chúng ta tuyệt đối không thể hành động như một đám người liều mạng thêm một lần nào nữa."
Lê Vãn hít sâu một hơi lồng ngực đầy mùi cồn và tro khét, chị đặt tờ phiếu kho đã được làm sạch phẳng phiu xuống mặt bàn:
"Chúng ta cần những quy tắc chung ràng buộc lẫn nhau. Nếu không có những lằn ranh rõ ràng, một khi đối mặt với lằn ranh sinh tử, mỗi người sẽ rất dễ bị mục tiêu riêng của mình chi phối và vô tình biến những người khác thành vật hi sinh."
Ninh Chiêu đặt bàn tay phải lành lặn, đầy những vết chai sần của mình lên mặt bàn gỗ nứt nẻ, ngay bên cạnh đĩa đèn dầu le lói:
"Điều thứ nhất: Không một ai trong ba chúng ta được phép xem người khác như một thứ công cụ để đạt được mục đích của riêng mình. Lê Vãn không được phép giấu giếm thông tin địa mạch để ép tôi rèn đúc khí cụ; Tống Hoài không được giấu giếm chấn thương trên cơ thể để tự tiện lao vào chỗ chết; và bản thân tôi sẽ không bao giờ giấu bất kỳ dấu vết nào liên quan đến cha tôi nếu điều đó đe dọa đến sự an nguy tính mạng của các người."
"Điều thứ hai," Tống Hoài tiếp lời ngay tắp lự. Ánh mắt từng trải của anh nhìn thẳng vào Ninh Chiêu rồi chuyển sang Lê Vãn. "Tính mạng của người vô tội và nhân chứng luôn luôn phải đặt trước các chứng cứ tài liệu. Đêm nay Ninh Chiêu đã chọn cứu hai người phu kho trước khi quay lại giật lấy tập giấy tờ, đó là quyết định đúng đắn duy nhất mà cô đã làm. Nếu sau này phải đứng trước sự lựa chọn giữa việc thu thập một bản đồ mật hay bảo vệ mạng sống của một người đang thở, chúng ta lập tức vứt bỏ bản đồ. Chúng ta không bao giờ được phép biến mình thành những kẻ tàn nhẫn giống như Đỗ Kính chỉ để lật đổ chính Đỗ Kính."
"Điều thứ ba," Lê Vãn đặt bàn tay mảnh dẻ của mình lên cạnh bàn gỗ, giọng nói dứt khoát, không một chút do dự. "Tuyệt đối không hành động đơn độc. Mọi bước thâm nhập, đối chiếu chứng cứ hay tiếp cận nhân chứng đều phải có ít nhất hai người cùng nắm rõ và luôn luôn có phương án rút lui an toàn được định sẵn từ trước. Kẻ nào tự ý tách đoàn, liều lĩnh hành động vì ý muốn cá nhân sẽ bị coi là tự tay phá vỡ giao ước này."
Ba ánh mắt giao nhau trong không gian chật hẹp, ẩm mốc của căn chái nát.
Không có những lời huyết thệ hoa mỹ, rực rỡ ánh sáng như của giới tu tiên danh môn chính phái. Không có những câu thề non hẹn biển viển vông. Đó chỉ là một sự thỏa thuận trần trụi, lạnh lùng, đầy tính thực tế giữa ba con người mang đầy thương tật trên thân xác và tâm hồn, được gắn kết với nhau bằng những món nợ máu chưa trả và sự thật lịch sử đang bị vùi dập dưới lớp tro tàn.
Lê Vãn cúi người xuống, dùng đầu ngón tay gõ nhẹ vào con dấu lòng máng của Viện Công Tượng in trên góc tờ phiếu kho:
"Bây giờ, chúng ta hãy nhìn thẳng vào thực tế trước mắt. Đỗ Tuyên sau vụ cháy kho Nam Trụ chắc chắn đã ra lệnh phong tỏa toàn bộ các tuyến đường dẫn lên núi đối với đám thợ rèn tự do ở Lò Khê. Các chòi canh gác của phủ Quan Tế đã rải quân dày đặc dọc theo các lối mòn sườn đông và các dốc đá hiểm trở ở Lạc Hạc. Nhưng hắn chỉ có thể phong tỏa được những kẻ đi lại bất hợp pháp mà thôi."
"Ý của chị là dựa vào con dấu này?" Ninh Chiêu nheo mắt nhìn vết mực chu sa.
"Phải," Lê Vãn gật đầu khẳng định. "Chỉ còn mười ngày nữa là đến kỳ tuyển mộ thợ bảo trì khí cụ định kỳ vào đầu mùa gió tro của Viện Công Tượng. Để chuẩn bị cho đại lễ Bổ Khuyết quy mô lớn sắp tới, Viện Công Tượng đang rơi vào tình trạng thiếu hụt trầm trọng thợ rèn nguội có tay nghề cao và thợ gò nắn then chốt cơ khí. Con dấu kiểm định trên tờ phiếu tiếp liệu này chứng minh họ buộc phải mở rộng phạm vi tuyển mộ xuống tận các lò rèn tư nhân dưới chân núi. Đây chính là con đường danh chính ngôn thuận duy nhất để chúng ta bước qua cổng kiểm soát của Chấp Pháp Viện mà không bị rút kiếm chém đầu ngay tại chỗ."
"Viện Công Tượng nằm ở khu khảo nghiệm sườn núi phía bắc," Tống Hoài tiếp lời, trong mắt anh lóe lên sự tính toán sắc bén của một cựu kiếm tu từng thông thuộc từng ngóc ngách địa hình của Thanh Lư Tông. "Khu vực đó nằm giáp ranh giữa khu ngoại viện của đám đệ tử lao dịch và hệ thống công trình ngầm dẫn sâu vào lòng núi. Nếu vào được đó dưới danh nghĩa thợ bảo trì khí cụ, Ninh Chiêu có thể tiếp cận trực tiếp các phôi kim loại của buồng nạp lực; Lê Vãn có thể dùng tư cách thợ vẽ kỹ thuật để đối chiếu các sơ đồ ống dẫn áp lực ngầm; còn tôi..."
Tống Hoài dừng lại một nhịp, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười tự giễu:
"Tôi sẽ tìm cách trà trộn vào khu ngoại viện với tư cách là một phu khiêng than đá hoặc người quét dọn sân kiếm. Hệ thống chuông cảnh giới bằng đồng của Thanh Lư Tông được bố trí dày đặc khắp các lối đi bậc đá, nhưng chúng được thiết kế để chỉ phản ứng với những dao động linh lực từ cảnh giới Dẫn Ý trở lên. Một kẻ mà kiếm cốt đã vỡ nát hoàn toàn như tôi, và một người bẩm sinh hoàn toàn không có lấy nửa điểm linh lực như Ninh Chiêu, trớ trêu thay, lại chính là những bóng ma tàng hình an toàn nhất trước mắt đám quan tài sắt và các trận pháp dò tìm của tông môn."
"Nhưng còn bàn tay này của tôi..." Ninh Chiêu cúi đầu nhìn xuống bàn tay trái đang quấn chặt vải gai, các đầu ngón tay co quắp bất động như những cành củi khô. "Viện Công Tượng tuyển thợ rèn bảo trì, việc đầu tiên khi vào cửa là họ sẽ bắt thử búa."
"Họ tuyển thợ bảo trì, chứ không phải tuyển những gã lực điền quai búa tạ nặng trăm cân," Ninh Chiêu tự trả lời cho chính sự nghi ngại của mình, ánh mắt cô chợt đanh lại, lạnh lùng và kiên quyết. "Bảo trì khí cụ ngầm đòi hỏi người thợ phải biết lắng nghe tiếng kim loại để đọc ra các vết nứt ẩn sâu bên trong, biết dùng tay nắn chỉnh then cài, biết gọt giũa từng khe mộng sắt và tán chắc những chốt đinh đồng chịu lực. Những công việc tinh vi đó, chỉ cần một bàn tay phải lành lặn cầm búa con, còn bàn tay trái tật nguyền này hoàn toàn có thể tì kẹp phôi sắt bằng cách nẹp chặt vào một thanh gỗ hoặc tì vào cùi chỏ, miễn là có đồ nghề chuẩn xác và nắm vững quy cách."
Ninh Chiêu dứt khoát đứng dậy. Cô bước từng bước vững chãi ra phía cửa liếp nứa. Một cơn gió đêm buốt lạnh thốc vào, thổi tung những lọn tóc mai dính bết mồ hôi và muội than trên trán cô.
"Tôi phải quay trở về Lò Ninh trước khi trời sáng rõ."
"Đỗ Tuyên rất có thể đã cử tai mắt đến phục sẵn quanh xưởng rèn của cô," Lê Vãn lên tiếng cảnh báo, ánh mắt lộ vẻ lo lắng.
"Lúc này hắn đang bận rộn dọn dẹp đống đổ nát cháy rụi ở kho Nam Trụ và tìm cách đối phó với sự nghi ngờ của các chủ xe than dưới trấn," Ninh Chiêu bình thản đáp lại. "Hơn nữa, nếu tôi bỏ trốn biệt tích ngay trong đêm nay, hắn sẽ lập tức khẳng định tôi chính là kẻ đã xông vào kho lửa cướp tài liệu. Tôi buộc phải quay về đó, đường hoàng đóng cửa lò theo đúng thủ tục lệ thường của một người thợ gặp tai nạn bỏng lửa khi làm việc, thu dọn toàn bộ hòm đồ nghề của cha tôi để lại, rồi công khai nộp danh sách đăng ký dự tuyển thợ bảo trì lên núi."
Tống Hoài nhìn sâu vào bóng lưng thẳng tắp của cô gái thợ rèn, anh khẽ gật đầu:
"Đi men theo bờ mương thải phía sau, tuyệt đối tránh xa tuyến đường ray của xe goòng chở than. Tôi sẽ ở lại đây cùng Lê Vãn xử lý sạch sẽ dấu vết của đống giấy tờ này, sau đó sẽ vòng sang ngách hầm than số Bảy để kiểm tra tình hình an toàn của gia đình Ngô Phúc."
***
Trời rạng sáng.
Từng dải sương mù dày đặc từ đỉnh núi Lạc Hạc bắt đầu tràn xuống thung lũng Lò Khê, mang theo một màu xám xịt, đùng đục như màu nước rửa than đá. Mùi khét lẹt nồng nặc của vụ hỏa hoạn tại kho Nam Trụ suốt đêm qua vẫn lởn vởn trong bầu không khí ẩm ướt, quyện chặt lấy mùi tro ẩm mốc bốc lên từ những mái ngói rêu phong của thị trấn thợ mỏ.
Ninh Chiêu bước qua cánh cổng gỗ nứt nẻ, xiêu vẹo của xưởng rèn Lò Ninh.
Gian xưởng quen thuộc chìm trong sự vắng lặng và lạnh ngắt như tờ. Đống xỉ than đen xì chất đống trước bễ rèn đã tắt ngấm từ hai ngày trước, một lớp tro nguội mỏng manh màu trắng xám phủ mờ lên mặt chiếc đe gang đen nhánh. Chiếc máng nước dùng để tôi thép làm bằng đá hoa cương nằm im lìm nơi góc xưởng, mặt nước phẳng lặng như gương, phản chiếu bóng dáng xiêu vẹo của những thanh xà nhà dột nát phía trên.
Ninh Chiêu bước chầm chậm đến bên chiếc bàn gỗ cũ kỹ của cha mình. Cô dùng bàn tay phải lành lặn kéo chiếc hòm gỗ sồi nặng trịch đặt dưới gầm bàn ra ngoài.
Bên trong chiếc hòm cũ không hề có vàng bạc châu báu hay những viên đan dược quý giá của giới tu chân. Nằm ngay ngắn dưới đáy hòm chỉ là những thanh thép gió đã mài vẹt mũi qua năm tháng, những chiếc đục rãnh bằng thép tôi kỹ lưỡng với các góc độ chuẩn xác đến từng ly, chiếc kìm mỏ quạ cán dài bằng sắt đen có khắc ba vết khía nhỏ quen thuộc ở phần khớp nối, và chiếc búa con bọc cán da trâu đã nhẵn bóng, sẫm màu vì thấm đượm mồ hôi tay của Ninh Trác qua hàng chục năm miệt mài bên đe lửa.
Ninh Chiêu cúi người, lấy ra một dải vải gai dày bản. Cô dùng răng cắn chặt một đầu dải vải, đầu kia dùng tay phải quấn thật chặt quanh bàn tay trái đang sưng tấy vì bỏng lửa.
Từng vòng vải thô siết chặt lấy mu bàn tay, ép lớp thuốc mỡ tro thảo ngấm sâu vào da thịt, đồng thời cố định bốn ngón tay co quắp vào một thanh nẹp bằng gỗ mỏng đệm phía dưới để tránh mọi va đập từ bên ngoài. Cơn đau nhức nhối như kim châm tủy sống lại một lần nữa truyền ngược lên đại não, nhưng cơ mặt cô không hề biến đổi dù chỉ một chút. Ánh mắt cô vẫn phẳng lặng, lạnh lùng như phiến đá tôi nguội.
Ninh Chiêu cẩn thận xếp từng chiếc đục của cha vào chiếc túi da bò đeo chéo bên hông. Mỗi một nhát đục của ông từng chạm vào phôi kiếm Hàn Tủy mười sáu năm về trước, từng chạm vào những cỗ máy ngầm khổng lồ dưới lòng đất mười một năm về trước... và giờ đây, chính những chiếc đục này sẽ theo cô bước từng bước lên những bậc đá cao ngất của Thanh Lư Tông.
Cô bước ra khỏi ngưỡng cửa, dừng lại rồi quay đầu nhìn lại gian xưởng nhỏ một lần cuối cùng.
Chiếc đe gang cổ lỗ sĩ vẫn đứng sừng sững và câm lặng nơi góc tối, chìm trong bóng tối nhập nhoạng của buổi sớm mai sương lạnh.
Ninh Chiêu tra chiếc then cài bằng sắt dày bản vào ổ khóa ngoài cánh cửa gỗ. Cô dùng hết sức của tay phải giật mạnh hai lần liên tiếp để chắc chắn rằng then sắt đã ăn sâu vào hốc đá chôn trong tường, rồi dùng một mẩu đinh sắt ghim chặt lên cánh cửa một tờ giấy bản viết vội vài dòng mực nguệch ngoạc: *‘Lò gặp sự cố bỏng lửa, tạm ngưng nhận sửa chữa khí cụ’*.
*Đoong... Đoong... Đoong...*
Đúng lúc ấy, từ đỉnh núi mù sương phía xa xăm, ba tiếng chuông đồng trầm đục, vang rền bất ngờ xé toạc màn sương sớm, đổ dồn dập xuống khắp các thung lũng sâu và những mái xưởng đen đúa của trấn Lò Khê.
Tiếng chuông kim loại lạnh lẽo, uy nghiêm và đều đặn, mang theo kiếm ý áp chế vô hình từ trên cao dội xuống, báo hiệu ngày Thanh Lư Tông chính thức mở cổng xét duyệt ngoại môn và tuyển mộ thợ bảo trì khí cụ cho mùa gió tro tàn khốc đã bắt đầu.
Ninh Chiêu đưa bàn tay phải kéo thấp vành chiếc nón mê rách mép xuống che khuất nửa khuôn mặt, cánh tay trái ôm chặt lấy chiếc túi đồ nghề da bò bên sườn. Cô không hề ngoảnh đầu lại nữa, dứt khoát quay lưng bước hòa vào dòng người phu dịch lầm lũi đang lũ lượt đổ về phía chân núi mù sương.