Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.5 / 40
Chapter 5

Người đo gió tro

Chiếc compa hai chân bằng đồng thau cùng ba ống nghiệm thủy tinh bọc mây đan được đặt xuống mặt đe sắt bụi bặm, phá vỡ hoàn toàn vẻ thô ráp quen thuộc của gian xưởng Lò Ninh. Kim loại chạm vào kim loại không phát ra tiếng vang đanh gọn như nhát búa thúc phôi, mà chỉ là một tiếng cạch khô khốc, trượt đi trên lớp muội than xám mỏng bám chặt vào sống đe suốt mấy mươi năm.

Mùi giấm nồng sực pha lẫn hơi lưu huỳnh ngai ngái lập tức xộc ra từ chiếc hộp gỗ trắc lót nỉ nhung vừa mở. Người phụ nữ đứng bên cạnh chiếc đe chầm chậm tháo bỏ chiếc mũ trùm may bằng ba lớp vải thô màu xám tro, để lộ một gương mặt thanh tú nhưng gầy guộc đến khô khốc. Đôi mắt một mí dài và sắc như mũi đục nguội lướt qua một lượt khắp các vì kèo ám khói, dừng lại ở máng nước ngâm phôi, đống xỉ than vụn dưới chân bễ, rồi quét sang chiếc búa tạ đang dựng nghiêng cạnh vách ván với vẻ đánh giá lạnh tanh, không một gợn kiêng dè. Mái tóc nàng được búi rất chặt sau gáy bằng một chiếc trâm tiện thô từ xương bắp chân linh thú rẻ tiền, mép ngoài ngón trỏ và khớp đốt thứ hai của ngón giữa bàn tay phải hằn rõ vệt chai dày sẫm màu—dấu vết không thể nhầm lẫn của những người cầm bút sắt vạch bản đồ địa tầng ròng rã nhiều năm trời.

"Ta tìm thợ cả Ninh Trác," giọng nàng cất lên, đều đều và dứt khoát như tiếng gõ thước đồng xuống mặt bàn gỗ lim. "Hoặc người đang nắm giữ toàn bộ sổ sách kỹ thuật và chịu trách nhiệm đúc rèn hiện tại của xưởng này."

Ninh Chiêu đứng sừng sững chắn ngay trước khuôn cửa dẫn vào gian chái sau. Dưới ống quần vải bố thô, hai bắp đùi nàng vẫn còn run rẩy âm ỉ, từng thớ cơ căng cứng và buốt nhói sau một trăm bước lùi thắt ruột trên bãi gạch nung trước đình Thần Nông khi đối đầu với đám sai nha áp giải. Vết rách nông do mảnh đá phạt trúng ở bả vai trái đã bắt đầu se miệng lại, máu rỉ qua lớp áo nâu tạo thành một mảng thẫm màu dính bết vào da thịt, nhưng nàng không buồn đưa tay chạm tới. Bàn tay phải đầy vết sẹo bỏng và chai sạn của nàng chỉ lẳng lặng siết chặt lấy cán gỗ nghiến của chiếc búa tạ đặt cạnh vách:

"Cha ta đã rời khỏi trấn Lò Khê tròn mười một năm trước. Hiện tại xưởng rèn mang biển hiệu Lò Ninh do một mình ta đứng tên và gánh nợ. Có việc gì?"

Người phụ nữ không biểu lộ chút ngạc nhiên nào, tựa hồ câu trả lời đó đã nằm sẵn trong những phép tính nàng lập ra trước khi bước qua bậu cửa. Nàng với tay vào chiếc túi da bò treo lệch bên hông, rút ra một cuộn giấy dầu đã ngả sang màu vàng úa của mỡ trâu và hơi ẩm lòng đất, cẩn trọng dùng hai đầu ngón tay miết phẳng nó lên một góc mặt đe sắt, ngay cạnh chiếc compa:

"Mười năm trước, tức là khoảng một năm trước khi Ninh Trác biến mất khỏi các văn bản kiểm kê của trấn, ông ấy từng nhận lệnh đúc cho Cục Địa Mạch một bộ van điều áp bốn ngả bằng đồng thiếc pha kẽm chịu lực cao. Theo sổ lưu kho của phân cục Hạ Lĩnh, thiết bị đó sau ba năm vận hành ngầm đã được đưa trở lại Lò Ninh để tiện lại bước ren côn và cân chỉnh lại độ khít của mặt nón chịu áp. Ta cần tìm lại bản vẽ chế tạo gốc có chữ ký phê duyệt dung sai, hoặc chính chiếc van đó nếu nó chưa từng được chuyển trả về kho công cộng."

Ninh Chiêu nheo mắt nhìn xuống mặt giấy dầu. Nét mực tàu màu đen tuyền mảnh như sợi tóc, những vòng tròn thể hiện mặt cắt ren thang, và đặc biệt là các con số ghi chú dung sai cơ khí bằng mực đỏ son đều mang đúng phong cách gãy gọn, dứt khoát của cha nàng—thứ chữ viết tay mà suốt thời thơ ấu nàng đã thấy ông cặm cụi vạch dưới ánh đèn dầu lạc thâu đêm. Nhưng đập vào mắt nàng dữ dội nhất lại là con dấu hình ngọn lửa ba nhánh dập nổi bằng chu sa đỏ chót ở góc dưới bên phải tờ giấy—con dấu quyền lực tuyệt đối của *Cục Địa Mạch Thanh Lư Tông*.

"Ngươi là người của Cục Địa Mạch?" Ninh Chiêu hỏi, giọng nàng đanh lại như thép nguội. Đôi mắt nàng liếc nhanh qua khe cửa liếp nhìn ra con ngõ nhỏ lát đá hộc bên ngoài. Lệnh thiết quân luật của phủ Quan Tế vẫn còn treo lơ lửng trên đầu ngọn gió tro, mùi khét của đám lính Nam Trụ lùng sục khắp ngõ ngách vẫn chưa tan hết. Nếu một viên chức của Cục Địa Mạch công khai bước vào đây lục soát sổ sách cũ, đám sai nha của Đỗ Tuyên sẽ có thừa lý do để ập vào bẻ gãy mọi thứ một lần nữa. "Quan sai muốn đòi đồ công vụ thì cầm trát đến thẳng nha môn trấn mà làm việc. Xưởng rèn dân sự không có nghĩa vụ cất giữ sắt vụn của quan trên suốt mười năm ròng."

Người phụ nữ khẽ nhếch khóe môi, một nụ cười thoáng qua lạnh lẽo, khô cằn và không chứa đựng lấy một tia ấm áp:

"Ta từng làm việc ở Cục Địa Mạch. Sáu năm trước thì rời khỏi đó, hoặc nói đúng hơn là bị xóa tên. Tên ta là Lê Vãn."

Nàng dừng lại một nhịp rất ngắn, cặp mắt một mí soi xét từng cử động nhỏ nhất trên cơ mặt Ninh Chiêu, rồi nói tiếp mà không hề hạ thấp âm lượng:

"Ta không đến đây để thu thuế than, cũng không rảnh rỗi đi hạch sách định ngạch quặng sắt của một cái lò rèn thủ công sắp sập. Mười năm trước, thầy của ta—chánh khảo sát Phạm Duy—cùng toàn bộ mười hai người của toán trinh sát địa tầng số Ba đã mất tích không để lại một mảnh thi thể trong đợt sụt lún kỳ lạ dưới thung lũng Trầm Đới. Báo cáo chính thức mà tông môn công bố khắp mười hai phân cục nói rằng đó là tai nạn do một túi khí mê-tan cổ đại phát nổ khi gặp mạch lửa ngầm. Nhưng ba ngày trước chuyến khảo sát định mệnh đó, chính tay thầy ta đã lén gửi chiếc van điều áp này về Lò Ninh, yêu cầu thợ cả Ninh Trác khoét rộng tiết diện miệng xả khẩn cấp thêm ba phần mười. Ông ấy biết rõ cấu trúc chịu áp dưới tầng đá móng đang bị một lực lượng nhân tạo can thiệp cưỡng bức đến mức sắp vỡ tung."

Từ khoảng tối nhờ nhờ phía sau gian chái, tiếng lạo xạo khô khốc của mũi gậy gỗ chống xuống nền đất nện vang lên từng nhịp ngập ngừng.

Tống Hoài chậm rãi bước ra. Anh vẫn khoác trên mình chiếc áo nâu rách nát tẩm đầy bụi than, chiếc nẹp lưng bằng thau kẹp đồng uốn lại được giấu kỹ dưới nhiều lớp vải quấn quanh mạng sườn, nhưng dáng đứng của anh đã vững vàng hơn hẳn so với đêm qua. Đôi mắt trũng sâu, đen thẫm như hai hốc đá hoang nhìn chòng chọc vào từng đường gân nổi trên mu bàn tay và chiếc trâm cài tóc bằng xương của người phụ nữ lạ mặt.

Lê Vãn liếc mắt nhìn Tống Hoài. Nàng không hỏi anh là ai, cũng không hề tỏ ra kinh ngạc trước vẻ tàn tạ của một kiếm tu đã mất đi kiếm khí. Ánh mắt nhà nghề của nàng chỉ dừng lại đúng một giây ở cách anh nghiêng trục vai sang bên phải nửa tấc để phân tán trọng lực đè lên đoạn đốt sống lưng bị tổn thương, rồi lập tức quay ngược trở lại mặt đe sắt.

Trên gờ vát sắc cạnh của khối đe, một vệt cặn màu xám đen bám chặt vào các rãnh kim loại li ti. Đó là lớp tro khoáng đặc quánh còn sót lại sau khi Ninh Chiêu dùng búa nguội gõ nắn lại rìa vỡ của mảnh kiếm Hàn Tủy trong đêm tối mịt mùng hôm qua.

Đôi mắt Lê Vãn bỗng co rút lại. Bỏ qua mọi nghi thức thăm dò hay phép tắc thông thường, nàng thoăn thoắt mở nắp chiếc hộp gỗ trắc lót nỉ nhung. Bằng những ngón tay dài, gầy và chuẩn xác đến đáng sợ của một người đã thực hiện hàng ngàn lần thao tác trong phòng kiểm định, nàng rút ra một chiếc kẹp nhíp mạ bạc, một phiến đá thạch anh trắng mài phẳng lỳ và một lọ thủy tinh nhỏ chứa thứ dung dịch màu hổ phách sóng sánh phát ra mùi chua gắt.

Không đợi Ninh Chiêu kịp lên tiếng, nàng đã dùng đầu kẹp cạo dứt khoát một nhúm cặn tro mịn trên gờ đe, rải đều thành một lớp mỏng tang trên bề mặt phiến thạch anh.

"Ngươi làm cái trò gì đấy?" Ninh Chiêu bước vụt tới một bước, bàn tay trái vơ lấy chiếc kìm kẹp phôi dài hai thước trên giá, đầu kìm rít lên một tiếng đe dọa khi chạm vào cạnh bàn gỗ.

"Đứng yên đấy," Lê Vãn quát khẽ, giọng nàng không cao nhưng sắc lạnh như một nhát chém, ánh mắt dán chặt vào phiến đá trắng. "Nếu ngươi thực sự muốn biết thứ gì vừa rải xuống đầu cả vạn dân trấn Lò Khê dưới cái danh nghĩa mỹ miều là 'mưa ân trạch phi thăng', thì ngậm miệng lại mà nhìn cho kỹ."

Nàng dùng một ống hút thủy tinh thon dài, cẩn trọng hút lấy đúng hai giọt dung dịch toan khoáng từ chiếc lọ màu hổ phách, rồi nhỏ thẳng vào tâm của lớp bụi tro trên phiến thạch anh.

Một tiếng *xèo xèo* rất khẽ vang lên giữa gian xưởng tĩnh mịch. Bọt khí li ti sủi lên trắng xóa, bốc theo một làn khói mỏng mang mùi toan nồng nặc xen lẫn mùi tanh lợm của kim loại bị ăn mòn. Nhưng điều quái dị là lớp tro không hề tan rã một cách đồng nhất. Phần lớn chất bột khoáng chất sẫm màu bị dung dịch toan gặm nhấm biến thành một lớp cặn nhầy nhụa màu bùn xám xịt, trơ trọi lại ở trung tâm những hạt kim loại nhỏ li ti sáng lấp lánh như vảy cá bạc, nằm rải rác và hoàn toàn trơ lỳ trước tác động của toan khoáng.

Lê Vãn nhanh như cắt tháo chiếc thấu kính phóng đại gọng đồng đang đeo lủng lẳng trước ngực, áp sát mắt phải vào phiến đá. Ngón trỏ nàng xoay nhẹ ốc vặn bằng đồng thau trên thân kính để điều chỉnh tiêu cự. Từng nhịp thở của nàng chậm dần lại, ngực nàng ép sát vào mép đe sắt, mười đầu ngón tay giữ chặt mép phiến thạch anh đến mức các khớp đốt chuyển sang màu trắng bệch, không còn một giọt máu.

Cả gian xưởng Lò Ninh như bị kéo tuột vào một khoảng chân không ngột ngạt. Tiếng gió tro rít qua khe nẹp ván cửa nghe như tiếng thở dài của mặt đất, lấn át cả tiếng than âm ỉ nổ lách tách trong họng lò rèn đã tàn quá nửa.

Gần nửa khắc trôi qua trong sự im lặng nặng nề ấy, Lê Vãn mới từ từ buông chiếc thấu kính ra. Khối đồng thau nhỏ va nhẹ vào chiếc cúc áo bằng sừng trâu kêu một tiếng *lách cách*. Sắc mặt nàng tái mét đi dưới ánh sáng vàng đục rọi qua ô thông gió, đôi môi mỏng mím chặt lại thành một vệt trắng bợt.

"Thế nào?" Ninh Chiêu trầm giọng hỏi, chiếc kìm kẹp phôi trên tay nàng khẽ hạ xuống nửa tấc. Nàng đọc được sự biến chuyển tột cùng trong ánh mắt của người phụ nữ đối diện—đó không phải là vẻ ngạc nhiên của một kẻ hiếu kỳ, mà là nỗi bàng hoàng tột độ của một kẻ vừa tận mắt nhìn thấy một định luật ngỡ như bất biến bị xé toạc ra ngay trước mắt mình.

Lê Vãn không trả lời ngay. Nàng xoay nhẹ phiến thạch anh, đẩy nó về phía mép đe gần Ninh Chiêu nhất, rồi chìa chiếc thấu kính ra:

"Nhìn vào đây. Ngươi là thợ rèn, cả đời ngươi ăn ngủ cùng búa và đe, ngươi đọc được tiếng nói của kim loại."

Ninh Chiêu đưa mắt nhìn nàng một cái đầy cảnh giác, rồi cúi người xuống, áp mắt vào tròng kính thạch anh mài cong.

Dưới độ phóng đại gấp nhiều lần của thấu kính, những hạt bụi kim loại li ti vừa trơ lại sau phản ứng toan khoáng hiện lên rõ mồn một. Chúng không phải là những vụn sắt vô định hình thường thấy trong xỉ than. Chúng là những mảnh hợp kim cực kỳ tinh khiết bị nghiền nát, với những diện cắt đứt gãy phức tạp đến rợn người.

Nhưng thứ khiến sống lưng Ninh Chiêu lạnh toát đi chính là cấu trúc tinh thể của từng mảnh vụn ấy.

Một nửa bề mặt của mỗi hạt hợp kim mang cấu trúc dạng vảy xếp lớp đều đặn, mịn màng và dẻo dai—đó là dấu vết kinh điển, thuần thục của kỹ thuật rèn gập hàng ngàn lớp thủ công, được nung trong ngọn lửa than củi ôn hòa và tôi nguội chậm rãi trong hỗn hợp dầu thông pha nước suối lạnh. Đó là nhiệt độ của lò rèn trần thế, nơi kim loại được thuần hóa dưới ngưỡng một ngàn hai trăm độ bằng sự nhẫn nại của người thợ.

Thế nhưng, nửa còn lại của chính hạt kim loại đó lại bị xé nát và biến dạng một cách thô bạo. Cấu trúc tinh thể tầng tầng lớp lớp bị phá hủy hoàn toàn, các thớ thép bị nung chảy cục bộ rồi đông đặc tức thì trong một chớp mắt dưới một áp lực ép nén khổng lồ. Bề mặt của nó đầy rẫy những bọt khí siêu nhỏ bị nén bẹp dí lại, tạo thành những vết rỗ chằng chịt như da người bị bỏng lửa ngầm.

"Đây tuyệt đối không phải là tro đốt xác phàm, càng không phải tàn tích linh khí của thiên lôi tiếp dẫn lúc phi thăng," giọng Lê Vãn run rẩy, dù nàng đã cố nghiến răng để kìm nén cơn chấn động đang cuộn trào trong lồng ngực. "Những mẫu tro này chứa các hạt hợp kim mang hai nhiệt sử hoàn toàn tách biệt và đối nghịch nhau. Lần thứ nhất, nó được sinh ra từ một lò rèn thủ công chuẩn mực, có sự kiên nhẫn và bàn tay của một thợ cả bậc thầy. Nhưng lần thứ hai... nó bị cưỡng bức đưa vào một môi trường nung chảy cực hạn, chịu đựng nhiệt lượng vượt qua mọi ngưỡng chịu đựng thông thường dưới áp suất kín của một trận pháp ngầm."

Nàng ngước mắt lên, nhìn thẳng vào con ngươi đang giãn ra của Ninh Chiêu:

"Kim loại không biết nói dối, và nhiệt sử của nó không bao giờ bị xóa sạch. Thứ này đã bị nghiền nát, xé toạc và nấu chảy trong một cái buồng áp suất khổng lồ nằm sâu dưới lòng đất, trước khi một phần muội phế thải của quá trình đó bị tống ngược lên trời qua luồng xả áp của đài Huyền Khuyết."

Trái tim Ninh Chiêu đập dồn dập vào lồng ngực như tiếng búa nện trên đe nguội. Từng câu chữ của Lê Vãn vang lên như những nhát đục chuẩn xác găm thẳng vào khối nghi vấn u tối đã đè nặng lên tâm trí nàng suốt hai ngày qua. Nhát đục định danh góc mười bảy độ. Mảnh kiếm vỡ mang hàn khí của Du Hành. Sự chênh lệch phi lý giữa các mốc giờ trên phiếu xe than Nam Trụ. Và giờ đây là bằng chứng vật chất hiển hiện về một cỗ lò nung áp suất ngầm.

Ninh Chiêu không nói thêm một lời nào. Nàng quay ngoắt người bước thẳng về phía bệ lò rèn đang nguội lạnh.

Gạt phăng lớp xỉ than ngụy trang phủ dày bên hông bệ đá xanh, nàng thò tay sâu vào một hốc ngầm khoét rỗng trong lòng bệ lò, lôi ra một bọc giẻ dầu đen đúa, bốc mùi mỡ bò nồng nặc. Từng lớp vải thô tẩm mỡ chống gỉ được bóc mở dứt khoát.

Mảnh thép gãy dài chừng bốn tấc của thanh Hàn Tủy lộ ra dưới ánh sáng vàng đục của gian xưởng.

Một luồng hàn khí buốt giá lập tức tỏa ra từ thân kim loại màu lam đen, khiến ngọn lửa liu riu trong họng lò sưởi bỗng chao nghiêng về một phía, muội than bám trên vách đá khẽ rạn nứt thành những mảng nhỏ lách tách rơi xuống.

Lê Vãn nín thở. Đôi chân nàng như có phản xạ tự nhiên lùi giật lại nửa bước, chiếc compa bằng đồng thau trên tay suýt chút nữa trượt khỏi những ngón tay đang cứng đờ:

"Đây là... huyền thiết ba ngàn lớp gấp... pha lam tinh thạch?"

"Hàn Tủy," Ninh Chiêu đáp cộc lốc, bước tới đặt mạnh mảnh thép gãy lên mặt đe sắt, nằm song song với phiến thạch anh trắng. "Cha ta đích thân rèn nó mười sáu năm trước cho kiếm tu Du Hành của phân cục Bắc Khê. Mười bốn năm trước, Du Hành mang theo thanh kiếm nguyên vẹn này bước lên đài Huyền Khuyết để tiến nhập thượng giới. Sáng hôm qua, kiếm tu Tạ Vân bước lên chính cái đài đá ấy, và mảnh kiếm gãy này rơi từ trên trời xuống, cắm ngập vào máng nước ngâm phôi của ta cùng với một cơn mưa tro xám."

Lê Vãn cúi gập người xuống. Chiếc thấu kính trên tay nàng lại được nâng lên, áp sát vào ba vết đục vát nghiêng mười bảy độ trên sống kiếm, rồi lướt dọc theo mặt gãy nham nhở ở phần chuôi—nơi các tinh thể lam tinh thạch bị vỡ vụn dưới một lực vặn xoắn cơ học vượt xa sức mạnh của cơ bắp con người.

Một tia sáng kinh hoàng pha lẫn sự phấn khích tột cùng của một kẻ làm công tác khảo cứu địa tầng lóe lên trong mắt nàng:

"Nó không hề bay lên thượng giới... Thanh kiếm này chưa bao giờ rời khỏi tầng đất đá của Hạ Lĩnh."

"Đến lượt ngươi," Ninh Chiêu khoanh hai cánh tay vạm vỡ trước ngực, giọng nói lạnh như băng tuyết đầu mùa. "Ngươi biết những gì về cái trận pháp ngầm đang nghiền nát kiếm khí của bọn họ?"

Lê Vãn hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo xám tro. Nàng với tay kéo chiếc túi da bò lại gần, mở khóa đồng ở đáy túi và rút ra một ống tre lớn được bịt kín hai đầu bằng sáp ong màu đen. Khi lớp sáp niêm phong bị đầu ngón tay nàng cạy nát, một cuộn da cừu dày cộm được trải rộng ra trên mặt chiếc bàn gỗ dài vốn dùng để mài kiếm.

Cả gian xưởng dường như tối sầm lại trước sự chằng chịt và phức tạp của những đồ hình hiện ra trên tấm da cừu.

Đó là một bản đồ khảo sát địa tầng và mạng lưới thủy văn ngầm toàn diện của vùng Hạ Lĩnh, được vẽ tỉ mỉ đến từng mạch nước ngầm chảy qua các phay đứt gãy địa chất, từng hang ngầm đá vôi và các tuyến dẫn linh khí cổ xưa đan xen nhau như một mạng nhện khổng lồ chôn vùi trong lòng đất. Nhưng điều khiến Tống Hoài phải lập tức chống gậy bước sát lại gần chính là hàng chục vòng tròn màu mực son đỏ thắm được khoanh lại dọc theo các nếp đứt gãy, kèm theo chi chít những dãy số ghi chú về áp suất lòng đất, lưu lượng dung dịch khoáng và biên độ dao động nhiệt.

Bàn tay gầy guộc, chằng chịt những vết sẹo chém của Tống Hoài run rẩy giơ ra. Đầu ngón tay trỏ đen đúa của anh ấn mạnh xuống ba vòng tròn đỏ nằm thẳng hàng dọc theo một khe nứt địa tầng sâu hun hút ở rìa tây nam dãy núi Lạc Hạc:

"Trạm số Bốn... trạm số Bảy... và giếng trung chuyển Lạc Hạc."

Lê Vãn ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt sắc sảo nhìn xoáy vào gương mặt hốc hác của người kiếm tu:

"Làm sao ngươi biết được hệ thống định danh của các trạm địa chấn ngầm này?"

Tống Hoài cười khẩy, một tiếng cười khan khốc và rỗng tuếch như tiếng hai mảnh gang vỡ cọ xát vào nhau trong lòng cối xay than. Bàn tay anh từ từ trượt xuống mạn sườn, nơi chiếc nẹp thau đang ép chặt lấy khung xương rạn nứt dưới lớp vải thô:

"Sáu năm trước, đoàn hộ tống mang tên Bổ Khuyết của Thanh Lư Tông nhận mật lệnh áp giải chín mươi cỗ quan tài bằng đồng nặng trịch vào các trạm này, danh nghĩa là để 'vận chuyển linh thạch và phôi kiếm thượng hạng nhằm gia cố đại trận phòng hộ địa tầng'. Nhưng khi đội của ta hạ xuống tầng ngầm thứ ba của trạm số Bảy, thứ mà đám trưởng lão áo xám bắt chúng ta khiêng đặt vào các giá kẹp cơ khí bằng đồng đen không phải là đá, cũng chẳng phải là sắt thép."

Hơi thở của Tống Hoài rít qua kẽ răng, đục ngầu và cay đắng:

"Đó là những người sống. Những kiếm tu mang kiếm cốt bẩm sinh đã bị phế bỏ đan điền, bị khóa chặt tay chân bằng xích dẫn linh. Những điểm cộng hưởng nhiệt mà cô khoanh mực đỏ ở đây... chính là những trạm nạp lực cũ. Nơi kiếm cốt của ta bị cỗ máy ngầm đó nghiền nát từng tấc một để rút lấy bản nguyên."

Lê Vãn rùng mình. Nàng cúi đầu nhìn xuống những con số đo đạc áp suất mà chính tay thầy nàng đã ghi chép lại cách đây mười năm, lẩm bẩm trong cổ họng:

"Hoàn toàn trùng khớp... Dữ liệu dòng nhiệt ngầm mà thầy Phạm Duy ghi lại trước chuyến đi cuối cùng cho thấy cứ sau mỗi chu kỳ vận hành của các trạm này, lớp đá móng ở thung lũng Trầm Đới lại dịch chuyển ba tấc về hướng đông. Mỗi lần có sụt lún địa tầng lớn ở vùng Hạ Lĩnh, các trạm nạp lực này đều ghi nhận một đợt tăng áp đột biến vượt ngưỡng xả an toàn. Đoàn trinh sát số Ba không hề chết vì túi khí mê-tan. Họ đã vô tình đào trúng vào phạm vi đường ống xả áp khẩn cấp của một trạm nạp lực đang hoạt động hết công suất."

Một ngọn lửa thịnh nộ bùng cháy dữ dội trong đáy mắt Ninh Chiêu. Đôi bàn tay thô ráp của nàng siết chặt lại thành hai quả đấm thép, các khớp xương kêu răng rắc. Sự điềm tĩnh vốn có của một người thợ rèn suốt ngày đối diện với sắt và lửa đã hoàn toàn sụp đổ. Mảnh thép vỡ của Du Hành mang vết đục của cha nàng, tiếng hú man dại của luồng xả đài Huyền Khuyết sáng hôm qua, ánh mắt trống rỗng tuyệt vọng của Tạ Uyển bên bến xe than, thân hình tàn phế của Tống Hoài, và sự biến mất không một vết tích của cha nàng suốt mười một năm đằng đẵng... tất cả những sợi dây xích đẫm máu ấy đang quy tụ lại một điểm, siết chặt lấy một cỗ máy ngầm tàn bạo đang âm thầm nuốt chửng sinh mạng con người dưới vỏ bọc bình yên của tông môn.

"Đủ rồi," Ninh Chiêu đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn gỗ mài kiếm, chấn động khiến chiếc compa và phiến thạch anh nảy lên leng keng. "Chúng ta có mảnh kiếm Hàn Tủy mang dấu đục mười bảy độ. Chúng ta có mẫu tro khoáng hai nhiệt sử không thể chối cãi. Chúng ta có bản đồ mạng lưới ngầm của cô và lời chứng sống của Tống Hoài. Ta sẽ mang toàn bộ những thứ này đến thẳng viện Chấp Pháp trên đỉnh núi, ném vào mặt hội đồng trưởng lão Thanh Lư Tông! Ta sẽ ép bọn chúng phải mở toang các cửa hầm ngầm, ép bọn chúng phải trả lời cha ta đang bị nhốt ở đâu!"

"Ngươi mất trí rồi sao?" Lê Vãn lập tức ngẩng phắt dậy, quát thẳng vào mặt Ninh Chiêu, âm thanh gay gắt và chói gắt như tiếng dũa sắt cào trên mặt đá. "Ngươi nghĩ mình là ai giữa cái đất Hạ Lĩnh này? Một thợ rèn bậc thấp ở xưởng rèn hoang phế trấn Lò Khê, mang một mẩu sắt vụn gỉ sét và một nắm tro khoáng lên núi thì kẻ nào thèm nghe ngươi nói? Ngươi nghĩ viện Chấp Pháp là nơi phân xử công lý cho phường thợ sao? Ngươi thậm chí còn chưa bước qua nổi cổng tam quan thì phủ Quan Tế đã gán cho ngươi tội phản nghịch, bẻ gãy cổ ngươi, thiêu rụi cái xưởng Lò Ninh này thành bình địa và ném mảnh kiếm Hàn Tủy xuống đáy lò luyện kim loại phế thải rồi!"

"Vậy cô muốn ta trùm chăn ngồi yên nhìn bọn chúng tiếp tục nghiền nát người khác à?" Ninh Chiêu gầm lên, hai mắt đỏ ngầu, từng thớ thịt trên cánh tay cuộn lên dữ dội. "Cha ta có thể vẫn đang bị nhốt dưới một cái hầm ngầm nào đó để đúc van chịu áp cho bọn chúng! Hoặc ông ấy... ông ấy đã..."

Nàng nghẹn lại giữa chừng, lồng ngực phập phồng kịch liệt, quai hàm bạnh ra nhưng không tài nào thốt ra nổi nửa câu sau. Nỗi sợ hãi tồi tệ nhất mà nàng chôn giấu suốt mười một năm qua đang trồi lên như một khối u đen ngòm bóp nghẹt khí quản.

"Ta không bảo ngươi ngồi yên chịu chết!" Lê Vãn không hề lùi lại nửa bước trước cơn cuồng nộ của người thợ rèn. Nàng chống cả hai bàn tay khẳng khiu xuống mặt bàn da cừu, ghé sát gương mặt lạnh tanh của mình vào sát mặt Ninh Chiêu, từng lời thốt ra sắc bén như dao mổ: "Nhưng trong ngành khảo cứu địa chất cũng như trong nghề luyện kim chính xác, một suy đoán cảm tính đầy căm hận không bao giờ có thể đánh sập được một hệ thống thể chế đã cắm rễ hàng trăm năm! Ngươi có biết Cục Địa Mạch vận hành tinh vi thế nào không? Ngươi có biết phủ Quan Tế kiểm soát dòng người và tin tức bằng cách nào không? Chỉ cần một sai số nhỏ bằng sợi tóc trong phép đo đạc, chỉ cần một chi tiết không thể tái hiện lại trong thực nghiệm, bọn chúng sẽ lập tức bóp méo nó thành sự vu khống của kẻ điên loạn, tà đạo mê muội!"

Lê Vãn siết chặt mười đầu ngón tay vào mép tấm da cừu, đốt ngón tay nàng run lên nhè nhẹ. Trong đáy mắt người phụ nữ khảo cứu ấy chợt lóe lên một tia đau đớn và mặc cảm tội lỗi sâu hoắm mà nàng đã cố công chôn chặt suốt sáu năm lưu lạc. Nàng nhớ lại bản báo cáo thẩm định sai lệch năm xưa—bản báo cáo kết luận cái chết của thầy nàng là do "tai nạn nổ khí tự nhiên"—mà chính bàn tay nàng, dưới sức ép ngạt thở của viện Chấp Pháp và lời hứa hẹn về một chức vụ an toàn, đã từng phải run rẩy đặt bút ký xác nhận. Chữ ký ấy đã chôn vùi danh dự của cả đoàn trinh sát số Ba, biến sự thật đẫm máu thành một dòng lưu trữ vô hại trong tàng thư các. Kể từ ngày trốn chạy khỏi Cục Địa Mạch, nàng đã tự răn mình bằng máu: không bao giờ đưa ra bất kỳ kết luận nào ra ánh sáng nếu nó chưa đạt đến độ chuẩn xác tuyệt đối của một chuỗi số liệu không thể bị bẻ gãy.

"Muốn đánh sập một lời dối trá đã kéo dài cả trăm năm," Lê Vãn hạ thấp giọng xuống, nhưng từng âm tiết nặng nề như những khối chì đúc, "chúng ta phải nắm trong tay một chuỗi số liệu có khả năng lặp lại độc lập. Phải chứng minh được hành trình vật chất của thanh kiếm này: từ lúc rơi khỏi tay kiếm tu trên đài Huyền Khuyết, đi qua những đường ống ngầm nào, bị xử lý bằng cơ chế nhiệt học nào, và cặn phế thải bị tống ra ngoài bằng lối nào. Không một kẽ hở. Không một giả thuyết vô căn cứ."

Tống Hoài đứng bên cạnh, trầm ngâm nhìn hai người phụ nữ đang trừng mắt nhìn nhau qua tấm bản đồ địa tầng. Cuối cùng, anh gõ nhẹ đầu gậy gỗ xuống nền đất nện:

"Cô ấy nói đúng đấy, Ninh Chiêu. Đỗ Kính không phải là một kẻ ngu xuẩn chỉ biết dùng vũ lực. Lão ta nắm trọn quyền hành tế lễ, kiểm soát toàn bộ kho phân phát đan dược và thuốc chống phong hàn của cả vùng Hạ Lĩnh. Người dân trấn Lò Khê tôn sùng lão, quỳ lạy lão vì lão cho họ cái ảo tưởng rằng phủ Quan Tế đang che chở cho họ sống sót qua từng mùa gió tro độc địa. Ngươi không thể lật đổ một vị thần bảo hộ trong lòng dân chúng chỉ bằng sự giận dữ mù quáng của một đứa con đi tìm cha."

Ninh Chiêu hít một hơi dài, buốt lạnh. Không khí nồng mùi giấm toan và rỉ sắt tràn vào phổi, giúp nàng dần lấy lại sự lạnh lùng cần thiết của một người thợ tôi thép. Nàng nhìn sang Tống Hoài, rồi nhìn lại ánh mắt kiên định đến tàn nhẫn của Lê Vãn. Nàng hiểu họ không sai. Một sự thật trần trụi nếu không được bọc trong một bộ giáp sắt đúc từ số liệu chuẩn xác thì cũng chỉ là một miếng mồi ngon cho chiếc máy nghiền của tông môn xé nát.

"Được," Ninh Chiêu nghiến chặt quai hàm, giọng khàn đi. "Vậy cô cần thêm số liệu gì để dựng thành một chuỗi chứng cứ hoàn chỉnh?"

Lê Vãn không đáp ngay. Nàng rút từ túi áo ngực ra một mẩu bút chì son đỏ đã được gọt nhọn hoắt, ngón tay xoay nhẹ thân bút rồi ngước lên nhìn Ninh Chiêu:

"Ngươi nói sau lễ phi thăng sáng hôm qua, ngươi đã tận mắt nhìn thấy phiếu điều phối xe của phường than Nam Trụ?"

Ninh Chiêu lập tức nhớ lại từng nét chữ nguệch ngoạc, lem nhem bụi than trên tờ giấy lệnh mà Tạ Uyển đã bí mật chìa ra cho nàng xem trong đêm tối bên bến xe phế phẩm. Nàng với tay nhặt lấy một mảnh giấy bổi nháp vứt trên bàn thợ, cầm mẩu than vụn vạch nhanh từng mốc thời gian:

"Chiếc xe bồn mang số hiệu 04. Giấy điều xe ghi rõ: nhận tro phế phẩm tại chân đài Huyền Khuyết vào đầu giờ Mùi. Nhưng buổi lễ phi thăng kết thúc, cánh cửa trời trên đỉnh vòm đá đã hoàn toàn đóng kín từ giữa giờ Thìn. Giữa hai thời điểm đó có một khoảng trống kéo dài đúng hai canh giờ. Không một ai trong số dân phu quét dọn hay sai nha canh gác giải thích được hai canh giờ đó đài Huyền Khuyết chứa thứ gì bên trong."

Ánh mắt Lê Vãn lập tức sắc lạnh lại như một thợ săn vừa ngửi thấy mùi máu tươi trong gió. Nàng lật mở tập biểu đồ ghi chép dao động áp suất ngầm mà chính nàng đã bí mật thu thập từ các trạm quan trắc địa chấn bỏ hoang quanh vùng thung lũng trong suốt ba ngày qua.

Nàng đặt tờ biểu đồ bán trong suốt đè thẳng lên tấm bản đồ địa tầng bằng da cừu, căn chỉnh từng trục tọa độ không gian và thời gian cho khớp nối hoàn hảo với nhau.

"Đài Huyền Khuyết khép lại vào giữa giờ Thìn," đầu bút chì son của Lê Vãn bắt đầu vạch một đường cong dốc đứng trên mặt giấy. "Tại thời điểm đó, áp suất bên trong vòm đá tăng vọt lên mức cực đại, nhưng toàn bộ hệ thống van xả áp lộ thiên hướng lên bầu trời đều bị khóa chặt. Khối vật chất của người phi thăng và thanh kiếm không hề bay biến vào cõi hư không. Nó bị một lực hút chân không cực lớn kéo tụt xuống hệ thống giếng đứng nối thẳng vào tầng địa chất thứ nhất bên dưới chân núi."

Đầu bút chì son của nàng không dừng lại, mà tiếp tục trượt dài dọc theo một đường đứt đoạn màu xanh lam trên bản đồ—đường nét ký hiệu một tuyến cống ngầm thoát quặng phế thải cổ xưa có từ thời tiền triều, vốn đã bị xóa sổ khỏi các bản đồ dân sự hiện hành:

"Từ giữa giờ Thìn cho đến cuối giờ Tỵ, áp suất ngầm không hề biến mất mà dịch chuyển dần một quãng đường dài đúng năm dặm về hướng đông nam thung lũng. Tốc độ dịch chuyển đo được là nửa dặm cho mỗi khắc thời gian—hoàn toàn trùng khớp tuyệt đối với tốc độ xả đáy tự nhiên của một dòng bùn khoáng đậm đặc dưới tác động của trọng lực và áp lực nén thủy lực."

Lê Vãn ngẩng đầu lên, ánh mắt nàng như xoáy vào tâm can của cả Ninh Chiêu lẫn Tống Hoài:

"Vào đúng đầu giờ Mùi, áp suất tại điểm cuối của tuyến cống ngầm này đột ngột hạ tụt xuống mức số không. Đó chính là khoảnh khắc chiếc xe bồn số 04 cắm vòi hút vào bể lắng để xúc toàn bộ lượng tro phế phẩm đưa ra bãi đổ công cộng của trấn. Toàn bộ lớp tro khoáng rơi xuống trong lễ phi thăng hôm qua không hề nằm lại trên đàn tế một giây nào. Chúng đã bị cưỡng bức xả qua một tuyến ống xử lý ngầm kéo dài đúng hai canh giờ, nhằm phục vụ cho mục đích lọc tách toàn bộ kim loại quý, tàn dư kiếm khí và kiếm cốt nguyên vẹn, trước khi tống phần xỉ tro rác rưởi vô giá trị ra ngoài cho dân chúng hốt dọn!"

Ngòi bút chì son của Lê Vãn dừng phắt lại. Nàng ấn mạnh đầu chì xuống mặt tấm da cừu, tạo thành một vệt mực đỏ thắm, sâu hoắm và dứt khoát như một nhát đinh đóng chặt vào gỗ mục.

Ninh Chiêu và Tống Hoài đồng loạt ghé sát mắt nhìn vào điểm đánh dấu cuối cùng đó.

Đó không phải là một bãi quặng bỏ hoang ngoài rìa thung lũng, cũng chẳng phải là một tiền đồn quân sự hay một trạm khảo sát địa chất hẻo lánh nào nằm cheo leo trên vách đá Lạc Hạc. Vị trí nút giao cắt sinh tử giữa tuyến cống ngầm áp suất cao và tuyến đường vận chuyển xe than của phường Nam Trụ nằm lọt thỏm ngay giữa khu vực sầm uất, đông đúc nhất của hạ trấn Lò Khê.

Lê Vãn chỉ ngón tay dính mực vào một điểm đỏ trên bản đồ: Điểm hội tụ dòng nhiệt nằm ngay dưới kho dược Nam Trụ.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories