Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.4 / 40
Chapter 4

Bài đầu là đứng

Đầu gậy gỗ đập thẳng vào mắt cá chân Ninh Chiêu, mang theo một lực giộng thô bạo, chuẩn xác đến tàn nhẫn, kèm theo giọng quát gắt gỏng không chút nể nang của Tống Hoài xé toạc làn sương lạnh buốt đang phủ kín bãi đất nện sau xưởng rèn:

"Khép khớp gối lại! Ngươi định phơi háng ra cho người ta thúc gót đá vỡ bàng quang đấy à?"

Cú gõ hoàn toàn không mang nửa điểm linh lực, nhưng điểm rơi lại chuẩn xác đến mức rợn người, thúc trúng mấu gân bánh chè bên dưới khớp gối. Cẳng chân Ninh Chiêu giật nảy lên theo phản xạ co rút của cơ thịt. Cả thân người nàng lảo đảo, mất trọng tâm trong chớp mắt. Chiếc đế giày da thô tự khâu vốn đã mòn vẹt rãnh ma sát trượt khỏi cạnh sắc của viên gạch nung cắm nghiêng, cả bàn chân cắm phập xuống lớp tro xỉ quặng xốp ráp bên dưới.

Bụi tro đen ngòm pha lẫn bột khoáng mịn bị sức nặng giẫm mạnh tung lên mù mịt, bám chặt vào ống quần vải gai thô ướt đẫm sương sớm và mồ hôi lạnh. Cảm giác sắc nhọn của cạnh đá vụn đâm qua lớp vải gai cứa rát bỏng da thịt.

Ninh Chiêu cắn chặt môi dưới, nghiến răng đến mức nghe rõ tiếng men răng ken két trong vòm họng, tuyệt nhiên không để lọt ra một tiếng rên rỉ. Nàng giơ mu bàn tay đen nhẻm vệt than gạt đi giọt mồ hôi đang rịn ra cay xè nơi khóe mắt. Trên bả vai trái, vết rách sâu hoắm do mũi kiếm của gã sát thủ cào rách đêm qua vẫn giật thắt từng cơn theo từng nhịp đập của cuống tim; lớp chỉ gai khâu tạm kéo căng lớp da thịt bầm tím, rỉ ra một chất dịch vàng nhạt tanh nồng hòa lẫn máu đọng. Nàng gập gối, hai tay chống mạnh xuống nền xỉ quặng nhám cào xước lòng bàn tay, chật vật lấy lại thăng bằng rồi dùng hết sức bắp đùi kéo thân mình leo trở lại bờ gạch.

Buổi sớm ở mé nam trấn Lò Khê chưa từng có lấy một khắc yên ả.

Gió buốt từ hẻm núi Lạc Hạc hun hút thổi tràn xuống lòng thung lũng, mang theo từng đợt tro tàn còn vương mùi cháy khét từ đại lễ phi thăng hôm qua dồn dập quất thẳng về phía các dãy xưởng rèn thủ công. Lớp tro xám ngoét ấy phủ dày trên những mái ngói rêu phong mục nát, trùm lên từng hàng rào tre xơ xác một lớp bụi khoáng xỉn màu, bốc lên mùi lưu huỳnh nồng nặc xen lẫn mùi sắt rỉ bị nung cháy dở.

Sau lưng nàng, những vách gỗ ghép bằng thân thông xẻ thô của xưởng Lò Ninh vẫn ám đầy muội than đen kịt của hàng chục năm khói lò tích tụ; bên trong buồng phụ, tiếng ho lục cục, nặng nhọc và khò khè như tiếng bễ rách của Lão Cát thỉnh thoảng lại dội qua kẽ vách hở, cắt đứt sự tĩnh mịch buốt giá của ban mai.

Tống Hoài ngồi trên chiếc ghế gỗ thấp đóng tạm bợ bằng những thanh củi thông chẻ dở, tấm lưng còng gầy guộc dựa sát vào thân cây hòe già khô cằn, trơ trụi lá.

Chiếc nẹp bằng đồng đỏ kẹp thau mà Ninh Chiêu thức trắng đêm qua gò nắn lại được buộc ghì quanh ngực anh bằng hai dải vải bố dày, giữ cho các đốt sống nứt vỡ không bị vặn xoắn mỗi khi anh cựa mình. Dù sắc mặt anh xám xịt như tro đáy lò, hai bọng mắt thâm quầng trũng sâu vì những cơn đau thấu tủy kéo dài từ tàn dư của cấm chế kiếm khí suốt đêm, cánh tay đang cầm chiếc gậy gỗ trần trụi của anh vẫn vững như một chiếc cọc sắt cắm sâu vào lòng đá. Đầu gậy không hề rung lắc lấy nửa phân.

"Tôi tưởng," Ninh Chiêu vừa thở dốc từng ngụm khí lạnh buốt, vừa cẩn trọng nhích từng ngón chân để điều chỉnh lại vị trí đặt chân trên cạnh gạch, "học kiếm thì trước hết bàn tay phải cầm lấy chuôi kiếm."

Nàng liếc mắt nhìn về phía góc rào tre đan mắt cáo. Ở đó, thanh kiếm sắt cũ kỹ rỉ sét loang lổ cắm ngược ngập nửa lưỡi vào lòng đất, cán kiếm quấn vải bố mục nát đẫm hơi sương. Lòng bàn tay nàng bứt rứt khôn nguôi.

Suốt mười sáu năm ròng rã quai búa bên lò lửa ngút trời, hai bàn tay thô ráp của nàng chỉ quen ghì chặt lấy cán gỗ nghiến nhẵn bóng mồ hôi, siết chặt chiếc kìm sắt kẹp phôi dài hai thước, hoặc trực tiếp dùng lực ngón tay bẻ nắn những thanh thép nung đỏ rực nghìn độ. Cảm giác hai bàn tay trống rỗng, chới với trong gió lạnh lúc này khiến cả thân thể nàng như mất đi chiếc neo giữ thăng bằng quen thuộc nhất của đời mình.

"Cầm kiếm?"

Tống Hoài khẽ nhếch mép, khóe môi nứt nẻ rỉ máu khô buông ra một tiếng cười khàn đục, nghe rợn như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ xát vào nhau giữa đêm vắng.

"Ngươi cầm nổi thứ gì khi ngay cả một tấc đất cằn cỗi dưới chân mình còn không giữ nổi? Kiếm trong tay kiếm tu không phải là một món đồ chơi bằng sắt gắn thêm vào cổ tay. Kiếm là thứ kéo dài của xương tủy, là phần xương sườn thứ mười ba mọc dài ra ngoài da thịt. Nhưng lực của một kiếm chiêu phát ra chưa từng bắt đầu từ cổ tay, càng không phải nảy sinh từ hai khối bắp thịt cuồn cuộn thô thiển của đám thợ rèn các ngươi. Nó bắt đầu từ mặt đất dơ bẩn này. Nó mượn phản lực từ gót chân chạm đất, truyền qua khớp gối chùng xuống, xoay quanh trục hông ở đan điền, chạy dọc theo sống lưng, rồi cuối cùng mới theo kinh mạch mà phóng thẳng ra đầu mũi kiếm."

Đầu gậy gỗ trong tay anh lại vung lên một đường dứt khoát, lần này quét sạt qua lớp tro xỉ vụn vương vãi dưới chân nàng, tạo thành một vệt rãnh thẳng tắp như dùng dao xẻ.

Trên bãi đất nện sau xưởng rộng chưa đầy hai trượng, ba mươi viên gạch nung phế phẩm—loại gạch chịu lửa non lửa, méo mó dùng để lót thành bễ lò mà Tống Hoài bắt nàng phải vần từng viên ra từ đống phế liệu từ lúc gà còn chưa gáy—được sắp đặt theo một trật tự quái dị.

Từng viên gạch không hề được đặt nằm phẳng phiu hay chôn vững chãi, mà bị đóng cắm nghiêng một góc bốn mươi lăm độ, chìm một nửa vào nền đất nện ngập ngụa tro bụi vụn. Khoảng cách giữa các viên gạch so le nhau hoàn toàn ngẫu nhiên, không viên nào thẳng hàng với viên nào, mép gạch sắc cạnh nhô lên khỏi mặt đất vừa vặn đủ cho một nửa lòng bàn chân tì vào. Đứng trên đó, nếu không dồn toàn bộ sự chú ý vào từng thớ cơ, người ta sẽ lập tức trượt ngã trước khi kịp nhận ra mình đã bước sai.

"Đứng thẳng lên. Trọng tâm không được thả trôi, dồn toàn bộ về hõm bàn chân, mười đầu ngón chân bấu chặt vào gờ gạch như rễ cây bám vách đá. Đừng đứng bằng gót chân, cũng đừng nhón mũi bàn chân lên." Giọng Tống Hoài khô khốc, rành rọt từng tiếng như tiếng kim loại đếm nhịp trong lò xo đồng hồ. "Luyện Thân của bọn công tử thế gia ngậm thìa vàng bắt đầu bằng việc ngâm mình trong bồn dược liệu thượng phẩm trăm năm, nuốt linh đan thông suốt mười hai đường kinh mạch. Còn ngươi, một đứa thợ rèn hai mươi tám tuổi, gân cốt đã định hình cứng ngắc như một thanh sắt nguội bị đập bẹp dí, muốn sống sót trước mũi kiếm của đám chó săn thì trước hết phải học cách đứng trên mặt đất cho ra hồn một con người đã. Đứng không xong thì đừng nói tới chuyện đi, càng đừng mơ tưởng tới việc rút kiếm giữ mạng."

Ninh Chiêu hít một hơi thật sâu. Không khí buốt lạnh pha lẫn bụi tro khoáng xộc thẳng vào cuống họng làm nàng ho sặc sụa, lồng ngực bỏng rát như có người ném vào đó một vốc dăm bào cháy dở. Nàng nén cơn tức ngực, gồng các khớp cơ, cẩn thận đặt hai bàn chân trần bọc da mỏng bước lên hai bờ gạch nghiêng đầu tiên.

Mép gạch sắc lẹm lập tức cấn mạnh qua lớp đế da mỏng tang, ép thẳng vào huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân. Một cảm giác đau buốt tê dại truyền thẳng dọc theo xương ống chân xông lên tận đỉnh đầu. Hai đầu gối nàng không kìm được run lên bần bật như cành cây trước gió bão. Nàng cố gồng cứng cơ đùi trước, ưỡn ngực, hai cánh tay hơi co lại ngang hông theo bản năng của một thợ rèn chuẩn bị đón một khối sắt nặng từ tay người phụ bễ.

"Ngã!" Tống Hoài quát khẽ, thanh âm lạnh tanh.

Gậy gỗ trong tay anh vung ra. Đòn đánh không hề nhằm vào hai cẳng chân đang run rẩy, mà chỉ hẩy nhẹ một cái vào mỏm vai phải của nàng.

Một lực đẩy cực nhỏ, thậm chí còn nhẹ hơn một cái vỗ vai nhắc nhở của phường thợ quen biết. Thế nhưng, đối với một cơ thể đang căng cứng như dây cung trên bờ gạch nghiêng, lực đẩy ấy lập tức phá vỡ điểm tựa mong manh. Ninh Chiêu chới với, phần thân trên theo thói quen mười mấy năm quai búa đổ ập mạnh về phía trước để tìm lại thăng bằng—đúng như cái cách nàng thường lao người về phía trước mỗi khi dồn toàn bộ trọng lượng thân thể đập một nhát búa nặng hai mươi cân xuống mặt đe.

"Bịch!"

Ninh Chiêu ngã chúi lủi về phía trước, hai đầu gối dập mạnh xuống nền đất rải tro quặng nham nhở. Cạnh gạch sắc cào rách toạc một mảng vải quần gai, cắn sâu vào da thịt, máu tươi lập tức rỉ ra, hòa lẫn vào lớp bụi than đen sì. Lớp tro xỉ chui tọt vào khoang miệng nàng, mang theo vị đắng ngắt, chát xít và tanh lợm của quặng sắt cháy dở.

"Thấy rõ chưa?" Tống Hoài không buồn nhấc chân lại gần, chỉ lạnh lùng chống thẳng chiếc gậy gỗ xuống đất, hai mắt nhìn nàng không chút thương hại. "Thói quen của một đứa thợ rèn đập sắt đã ăn sâu vào tận tủy sống của ngươi rồi. Khi vung búa, ngươi quen mượn trọng lượng cơ thể đổ nhào tới trước để tăng sức công phá cho đầu búa. Nhưng trên kiếm lộ, dồn toàn bộ trọng tâm ra trước mặt chính là hành động tự sát ngu xuẩn nhất. Nhìn lại mạn sườn ngươi xem!"

Đầu gậy gỗ của anh nhắm thẳng vào mạn sườn trái của Ninh Chiêu, đâm nhẹ một cái vào khoảng trống giữa các xương sườn. Vị trí ấy, da thịt trống trơ, không một cánh tay hay cơ bắp nào có thể che chắn kịp.

"Mũi kiếm của kẻ địch chỉ cần chệch đi ba tấc, trượt nhẹ qua đòn đánh vụng về của ngươi, là đủ để một nhát đâm xuyên thủng hai lá phổi. Khi ngươi đổ người ra trước, hai chân ngươi đã chết cứng tại chỗ, không thể xoay trở, không thể thu về, gặp một hòn đá hay một cọng rễ cây dưới chân là chỉ có nước cắm đầu xuống đất chịu chết như một con lợn bị chọc tiết. Đứng dậy!"

Ninh Chiêu chống hai bàn tay chai sần nứt nẻ xuống nền tro bụi, chậm rãi gạt lớp tro bám dính trên đầu gối rớm máu. Nàng không cãi lại nửa lời. Nàng là thợ rèn, nàng hiểu kim loại hơn bất kỳ ai: nếu một thanh sắt bị uốn cong sai hướng, dùng búa đập giật cục trong cơn tức giận chỉ làm nó nứt vỡ hoặc gãy đôi; muốn nắn thẳng nó lại, người thợ phải kiên nhẫn nung nó trong than hồng, rồi dùng từng nhát búa nhỏ, đều đặn chỉnh sửa từng li từng tí. Toàn bộ cơ thể nàng lúc này, với những thói quen quai búa ăn sâu suốt mười mấy năm qua, chính là một thanh sắt đã bị tôi sai góc độ.

Nàng trèo trở lại hàng gạch nung. Lần này, nàng chủ ý kéo hông lùi lại phía sau nửa tấc, cố gắng giữ cho sống lưng thẳng tắp như chiếc thước tầm bằng đồng của cha nàng ngày trước.

Nhưng chỉ duy trì được vỏn vẹn năm nhịp thở, hai bắp chuối của nàng đã căng cứng như sợi dây gân bò sắp đứt, các thớ cơ rung giật dữ dội vì phải gánh chịu toàn bộ trọng lượng cơ thể trên hai mép gạch sắc. Lại một cú gõ gậy bất ngờ từ phía sườn. Lại ngã dúi dụi xuống tro tàn.

Lần thứ ba, lần thứ năm, rồi lần thứ mười.

Mặt đất sau xưởng in đầy những vết trượt dài cào xới của gót giày và những mảng tro bị bới tung tung tóe. Vết thương tối qua ở bả vai trái của nàng đã bục đứt chỉ khâu, máu tươi rỉ qua lớp vải lanh xám tạo thành một vệt dài sẫm màu, bốc mùi tanh ẩm. Mỗi lần rơi khỏi hàng gạch, cạnh đá sắc lại nghiến nghiến vào mắt cá chân hoặc cẳng chân nàng, để lại những vết bầm tím tái, rướm máu.

Cơn đau thể xác không làm Ninh Chiêu nao núng, nhưng sự bất lực cùng cực trước chính sự vụng về của cơ thể mình khiến lồng ngực nàng nghẹn ứ lại, tức tối đến phát điên. Nàng có thể đứng quai búa nặng suốt bốn canh giờ không nghỉ, mồ hôi rơi như mưa rào mà nhịp đập của búa vẫn chuẩn xác từng li; vậy mà giờ đây, nàng không tài nào đứng yên trên hai viên gạch nung quái quỷ này quá mười lăm nhịp thở.

"Ngươi đang thở bằng lồng ngực," Tống Hoài đột ngột cất giọng. Giọng nói của anh trầm hẳn xuống, bớt đi vẻ gay gắt cay độc ban đầu nhưng lại nặng nề, dằn vặt như tiếng đá lăn dưới đáy vực. "Thở ngắn, thở nông, tim đập thình thình như tiếng bễ lò sắp nổ tung vì nghẽn van. Nghe cho rõ đây, thợ rèn."

Anh từ từ đưa đầu gậy lên, đặt ngang tầm rốn của nàng.

"Kiếm đạo dùng để sinh tồn giữa chốn bùn nhơ này không phải là lao lên chém nát sắt đá, cũng không phải là liều mạng xông vào ôm lấy kẻ thù để cùng chết dưới một hố tro. Muốn sống sót qua đêm tối, cái đầu tiên phải khắc cốt ghi tâm là giữ được khoảng lùi. Kẻ chỉ biết lao tới trước chỉ là một con thú liều mạng; kẻ biết lùi mà không loạn bộ pháp, biết nhường ra ba thước sinh tử để nhìn thấu kẽ hở của lưỡi kiếm đối phương, kẻ đó mới có tư cách mở mắt nhìn thấy ánh mặt trời của ngày mai."

Tống Hoài hít vào một hơi thật dài. Toàn bộ lồng ngực anh bất động tuyệt đối, không hề phập phồng, nhưng phần bụng dưới khẽ căng ra, ép sát vào dải vải bố nẹp chặt quanh sống lưng.

"Hạ toàn bộ khí lực xuống đan điền. Khi chân lùi một bước, khí phải chìm xuống một phần. Đừng bao giờ nín thở khi nhìn thấy mũi kiếm hay lưỡi đao phóng tới. Ba bước lùi, một nhịp thở sâu. Chân phải rút về phía sau, mép gạch đỡ lấy hõm bàn chân; chân trái lướt theo sau, giữ khoảng cách rộng bằng hai vai, hông hạ thấp xuống nửa tấc. Làm lại từ đầu!"

Ninh Chiêu nhắm mắt lại trong đúng một nhịp thở dài. Nàng cố gắng gạt bỏ hoàn toàn hình ảnh sắc lạnh của thanh kiếm gỉ sét, gạt đi nỗi kinh hoàng tột cùng về ánh mắt vô cảm của tên sát thủ đêm qua, gạt bỏ cả ký ức về mảnh thép vỡ mang hoa văn Hàn Tủy đang nằm im lìm dưới đáy bễ lò bên trong xưởng. Nàng dồn toàn bộ sự chú ý lắng nghe hơi thở của chính mình.

Dòng khí lạnh buốt tràn qua vòm họng, trút thẳng xuống bụng dưới. Đôi vai thô ráp của nàng từ từ thả lỏng, hai cánh tay buông thõng tự nhiên bên hông, không còn gồng cứng như tư thế chuẩn bị nhấc búa tạ nặng hai mươi cân.

Nàng bước lên hai viên gạch nghiêng.

Một cơn gió lạnh cắt da tạt qua khe hẹp hẻm núi, cuốn theo bụi tro quất rát rạt vào gò má. Nhưng lần này, nàng không gồng mình chống lại gió, không dùng sức bắp thịt để cản lại sự chông chênh của thế đứng. Mười đầu ngón chân nàng cong lại, bấu chặt lấy gờ gạch nung; khớp gối hơi chùng xuống mềm mại; thân hình nàng khẽ lắc lư nhẹ theo luồng gió như một cành lau sậy mọc bên bờ suối mùa cạn, nhưng trọng tâm nơi bụng dưới vẫn neo chặt như một khối gang đúc.

Một bước lùi. Chân phải trượt nhẹ qua khoảng không giữa hai làn tro bụi, mép đế giày cắn chính xác vào viên gạch nghiêng thứ ba phía sau. Chân trái rút theo một đường vòng cung nhỏ, không phát ra nửa tiếng động thô thiển. Hơi thở trong lồng ngực từ từ thoát ra qua kẽ răng, êm ái, kéo dài và vững chãi.

Bước thứ hai. Lại một viên gạch nung lệch góc ngập trong lớp tro xỉ. Trọng tâm cơ thể nàng vẫn giữ nguyên một độ cao ổn định, không hề dềnh lên, không hề sụp xuống.

Bước thứ ba—

"RẦM!"

Tiếng gỗ gãy nát vang lên chát chúa từ phía cổng trước của xưởng Lò Ninh. Kèm theo đó là tiếng xích sắt lớn va đập loảng xoảng vào nhau và tiếng quát tháo hống hách, the thé xé toạc màn sương sớm còn chưa kịp tan:

"Mở to mắt chó ra mà nhìn! Phủ Quan Tế thừa lệnh trên thi hành công vụ kiểm kê định ngạch than quặng mùa gió tro! Kẻ nào dám cản trở, tịch thu toàn bộ bễ lò, tống giam vào tử ngục Nam Trụ!"

Ninh Chiêu lập tức thu chân trái về song song, hai bàn chân nhẹ nhàng đáp xuống nền đất nện mà không hề loạng choạng lấy nửa phân. Phản xạ lùi ba bước giữ trọng tâm vừa tập xong vô tình giúp nàng giữ thăng bằng tuyệt đối khi giật mình trước biến cố. Nàng quay phắt người lại, ánh mắt sắc như lưỡi đục hướng thẳng về phía cánh cửa gỗ dẫn ra gian nhà trước.

Tống Hoài vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế củi thông dưới gốc hòe già, nhưng đôi mắt sâu hoắm của anh đã híp lại thành một đường chỉ sắc lạnh như lưỡi dao cạo. Anh chống gậy, chậm rãi đứng dậy từng chút một; tấm lưng còng tựa nhẹ vào thân cây xù xì, chiếc gậy gỗ trần trụi được khéo léo giấu ra sau tà áo rách nát.

"Là Đỗ Tuyên," Tống Hoài thì thầm qua kẽ răng, giọng nói lạnh lẽo như băng tuyết đầu mùa trên đỉnh Lạc Hạc. "Cháu ruột của Đỗ Kính. Chuyên quản việc thu gom chuyển vận than đá và vật tư nghi lễ cho ngục Nam Trụ. Con chó săn này đánh hơi thấy mùi tro lạ rồi."

Ninh Chiêu không đáp một lời. Nàng quẹt nhanh mu bàn tay lau vết máu tươi rỉ ở đầu gối, kéo mạnh ống quần gai xuống che kín các vết cào xước, rồi sải những bước chân dài, vững chãi đi thẳng ra gian nhà trước.

Gian xưởng rèn lúc này đã bị bốn tên sai nha mặc giáp da trâu thô dày, tay lăm lăm cầm roi sắt và xẻng quặng vây kín mít. Cánh cửa rào bằng gỗ tạp của xưởng bị một cú đạp thô bạo làm bung hẳn một bên bản lề sắt, nằm xiêu vẹo, gãy nát trên nền đất ẩm.

Đứng sừng sững giữa sân rèn là một gã thanh niên trạc ngoài ba mươi tuổi, khoác chiếc áo bào lụa màu lam sẫm có viền lông thỏ trắng quanh cổ áo, bên ngoài trùm thêm một chiếc áo choàng bằng da cừu non không thấm tro bụi. Khuôn mặt gã trắng trẻo một cách bệnh hoạn nhưng hai gò má lại hóp sâu, đôi mắt hẹp dài sắc lẻm liên tục đảo quanh từng góc xưởng, từng đống phế liệu kim khí.

Trên thắt lưng da bò nạm bạc của gã lủng lẳng một chiếc bàn tính bằng đồng thau bóng loáng và một xấp thẻ bài bằng gỗ mun khắc chìm con dấu niêm phong đỏ lòm của phủ Quan Tế.

Đỗ Tuyên.

"Ninh chưởng quầy," Đỗ Tuyên phe phẩy bàn tay đeo chiếc nhẫn ngọc bích trước mũi, ra vẻ ghê tởm làn khói than cay nồng còn vương vất trong không khí xưởng rèn, "sáng sớm ngày lành đại lễ mà trong xưởng rèn của ngươi lại lạnh tanh như bãi tha ma thế này à? Lò không đỏ lửa, bễ không kéo, thế mà sổ sách ghi nhận hôm qua định ngạch tiêu thụ than đá của Lò Ninh lại vọt lên bất thường tận hai cỗ xe quặng loại một? Ngươi định giải thích thế nào với nha môn đây?"

Mấy tên sai nha đi cùng lập tức sấn tới, mũi giày đinh sắt dẫm đạp bừa bãi lên đống xỉ quặng vụn trước cửa lò. Một tên sai nha to béo cầm chiếc xẻng sắt dài thọc mạnh vào miệng lò sưởi, cào bới tung tóe những mảng xỉ than chưa cháy hết vương vãi ra sàn đất.

Ninh Chiêu bước qua ngạch cửa gỗ, sải bước đứng chặn ngay trước mặt đe sắt lớn bằng gang đặc. Nàng hơi cúi đầu theo đúng phép tắc của một thợ lò dân sự đối với quan lại quản sự, giọng nói đều đều, phẳng lặng không chút gợn sóng:

"Bẩm Đỗ quản sự. Mùa gió tro năm nay tràn về sớm hơn thường lệ, gió từ đỉnh Lạc Hạc đổ khí lạnh buốt xương xuống thung lũng nặng hơn mọi năm. Lò Ninh nhận sửa chữa một số binh khí cùn mòn và nông cụ dự phòng cho các đội tuần tra ngoại viện của tông môn, bễ lò buộc phải duy trì nhiệt độ liên tục cả ngày lẫn đêm để ủ cho thép mềm thớ mới rèn giũa lại được. Định mức than đá đều được ghi nhận rõ ràng trên phiếu giao quặng của phường than Nam Trụ trưa hôm kia, tiền than hai mươi ba đồng tôi cũng đã thanh toán sòng phẳng từng xu cho cai xe họ Mã."

"Cai xe họ Mã à?"

Đỗ Tuyên cười khẩy một tiếng, bước từng bước chậm rãi, thong thả lại gần chiếc đe sắt. Gã không buồn nhìn thẳng vào mặt Ninh Chiêu, mà đưa những ngón tay gầy guộc, trắng bệch lướt dọc theo mặt đe bằng gang đặc nguội ngắt.

Đột nhiên, ngón tay gã khựng lại. Đầu móng tay sắc nhọn dừng lại ở những vết rãnh lõm sâu hoắm trên mặt đe.

Đó hoàn toàn không phải là những vết lõm phẳng, nông do việc rèn dao, rèn cuốc hay liềm cắt cỏ thông thường để lại. Mặt đe của Lò Ninh có những rãnh đục hình bán nguyệt rất sâu, mép rãnh được vát nghiêng một góc chuẩn xác, cùng những lỗ mộng chìm hình đa giác có góc cạnh kỳ lạ—dấu tích không thể xóa nhòa của những lần Ninh Trác năm xưa bí mật gia công các khớp nối chịu lực, các cơ phận giảm chấn phức tạp bằng thép tôi cao độ cho các công trình ngầm. Một xưởng rèn dân sự tầm thường ở góc trấn Lò Khê không bao giờ có lý do để sở hữu một mặt đe có kết cấu gia công cơ khí tinh vi đến mức này.

Ánh mắt Đỗ Tuyên tối sầm lại, tia nhìn sắc như kim châm. Gã gõ nhẹ móng tay côm cốp lên mép rãnh đục bán nguyệt:

"Luật cấm tích trữ than đá trong mùa gió tro vừa được Quan Tế đại nhân đích thân ban bố vào canh tư tối qua. Toàn bộ than quặng, quặng sắt loại một và phế liệu kim khí phát sinh trong ba ngày diễn ra đại lễ phi thăng đều phải tập trung toàn bộ về kho trung tâm Nam Trụ để kiểm tra tĩnh điện và đo đạc độ ăn mòn mạch đất. Kẻ nào cho phép một đứa thợ rèn như ngươi tự tiện đốt than đá sưởi ấm phôi thép? Ngươi có biết, nếu để tàn tro từ đàn tế rơi xuống bắt lửa với than đá chất lượng thấp có chứa tạp chất, tà khí sẽ xộc thẳng vào mạch ngầm làm nhiễu loạn toàn bộ màn chắn Huyền Khuyết không hả?"

Gã quay phắt người lại, hai mắt trợn trừng nhìn chòng chọc vào gương mặt đầy muội than của Ninh Chiêu, giọng nói đanh lại, the thé từng tiếng:

"Ninh Chiêu, cha ngươi mất tích mười một năm nay không rõ tung tích, cái xưởng Lò Ninh rách nát này chỉ còn lại một đứa con gái thô kệch và một lão thợ già ho lao sắp chết chống đỡ. Ngươi lấy đâu ra đơn hàng chính thức của ngoại viện mà dám cả gan tiêu thụ hai cỗ xe than đá thượng phẩm? Còn cái mặt đe này của ngươi... mười mấy năm nay rốt cuộc vẫn dùng để rèn giũa những thứ cơ phận quái gở, trái phép gì thế hả?"

Không khí bên trong gian xưởng rèn lập tức đông cứng lại như một tảng băng nứt.

Hai tên sai nha đứng cạnh rút mạnh chiếc roi sắt bọc da khỏi thắt lưng, tiến lên nửa bước, ánh mắt hung hãn chực chờ lệnh niêm phong bễ lò. Sau vách gỗ mỏng của buồng trong, tiếng ho khò khè của Lão Cát bỗng nghẹn bặt lại, thay vào đó là tiếng thở dốc đầy kinh hãi của một người già cả đời run sợ trước quyền uy của nha môn.

Ninh Chiêu không hề lùi lại nửa bước. Nàng đứng thẳng tắp trước mặt đe, hai bàn tay buông xuôi bên đùi khẽ siết chặt lại rồi lập tức thả lỏng theo đúng nhịp thở sâu—chính bài học hạ khí đan điền mà Tống Hoài vừa dạy lúc nãy đã giúp nàng ghìm chặt cơn thịnh nộ đang chực bùng cháy dữ dội trong lồng ngực.

Nàng hiểu quá rõ Đỗ Tuyên muốn gì. Tên quản sự này căn bản không bận tâm đến hai cỗ xe than đá tầm thường; hắn đang đánh hơi tìm kiếm bất cứ manh mối nào liên quan đến những mảnh vỡ cơ khí rơi xuống từ cửa trời Huyền Khuyết ngày hôm qua, và hắn đang dùng quyền lực của phủ Quan Tế để thăm dò xem Lò Ninh này có còn nắm giữ những tài liệu kỹ thuật cơ mật mà cha nàng để lại hay không.

"Đỗ quản sự nghi ngờ kết cấu mặt đe của cha tôi?" Ninh Chiêu bình thản cất lời, giọng nàng vang lên đanh gọn, rõ ràng giữa tiếng va chạm lách cách của xích sắt và roi da. "Mười một năm trước, khi viện Công Tượng của tông môn cần gia công gấp các chốt then chịu lực cho guồng nước mỏ than Lạc Hạc, cả cái trấn Lò Khê này chỉ duy nhất có mặt đe của cha tôi là chịu nổi nhiệt búa nặng ba mươi cân dập liên tục. Hồ sơ nghiệm thu của chuyến hàng đó hiện vẫn còn lưu trữ đầy đủ tại kho văn thư Nam Trụ, bên dưới có cả con dấu đỏ và chữ ký của đích thân viện chủ Cố Thanh. Quản sự hôm nay nghi ngờ kết cấu mặt đe này, chẳng lẽ là đang muốn nghi ngờ cả tiêu chuẩn vật tư và thẩm quyền mà Công Tượng viện đã ký nhận năm xưa?"

Đỗ Tuyên biến sắc, khóe môi giật giật liên hồi.

Gã hoàn toàn không ngờ một đứa thợ rèn quanh năm chỉ biết lấm lem bùn than lại có thể nhớ rõ từng chi tiết hồ sơ cũ từ mười một năm trước, càng không ngờ nàng dám lôi thẳng tên tuổi của Cố Thanh—người đứng đầu Công Tượng viện, một nhân vật có thực quyền và cũng là đối thủ chính trị ngầm đang tranh giành quyền kiểm soát các mỏ than với chú ruột gã là Đỗ Kính—ra làm lá chắn một cách chuẩn xác và hiểm hóc đến thế.

"Còn về hai cỗ xe than đá quặng loại một," Ninh Chiêu thò bàn tay chai sần vào túi trong của chiếc tạp dề da dày, rút ra một tập giấy bản thô ố vàng, mép giấy còn dính những vệt muội than đen nhẻm, "tôi không hề tích trữ lại một cân nào trong xưởng rèn này. Toàn bộ số than đó, tôi đã chia nhỏ ra từng phần và giao hết đến từng nhà ngay trong đêm qua."

Nàng giở tập sổ phụ chép vội bằng mực pha tro than ra ngay trước mắt Đỗ Tuyên.

Trên mặt giấy ráp mỏng manh, từng nét chữ thô kệch nhưng ngay ngắn, cứng cáp như những nhát đục sắt ghi chép rành rọt từng khoản mục: ba mươi cân than cám giao cho bà góa Trương ở ngõ Thợ Rèn sưởi ấm cho đứa cháu nhỏ đang lên cơn sốt; năm mươi cân than cục cho nhà thợ mộc Lưu có người mẹ già liệt giường qua cơn rét buốt; bốn mươi cân cho trạm phát cháo từ thiện của y xá Thạch Tuyền... Phía dưới mỗi dòng chữ đều có điểm chỉ bằng vết tro than đỏ hoặc chữ ký nguệch ngoạc của những người phu thợ nghèo khổ sống dọc theo con mương thải quặng.

Đây chính là bản sổ phụ mà Ninh Chiêu đã thức trắng nửa đêm qua để lập ra, sau khi nàng bí mật chuyển phần lớn số than đá thượng phẩm sang chôn giấu dưới căn chái nát của Tống Hoài, chỉ trích ra một phần nhỏ phân phát cho các hộ dân nghèo quanh xóm nhằm tạo ra một bình phong che mắt thế gian.

"Cái trấn Lò Khê này, từ già đến trẻ ai mà không biết tro tàn từ đàn tế phi thăng rơi xuống luôn mang theo hàn khí buốt lạnh thấu xương," Ninh Chiêu nhìn thẳng vào đôi mắt hẹp dài của Đỗ Tuyên, giọng lạnh tanh như sắt nguội. "Dân nghèo trong xóm không có tiền mua thuốc thanh phế đắt đỏ của y xá, nếu đêm qua không có chút than đá này sưởi ấm cầm cự qua cơn gió tro, sáng nay e là phủ Quan Tế lại phải điều thêm vài cỗ xe ngựa đi nhặt xác người chết cóng ngoài rãnh nước. Số than đó, Lò Ninh đứng ra bảo lãnh nợ tiền quặng với phường than Nam Trụ. Nếu Đỗ quản sự nhất quyết muốn tịch thu cho đủ định ngạch, xin mời ngài dẫn sai nha đến từng túp lều rách ở xóm Thợ Già mà cào từng nắm tro bếp về nộp kho."

Mấy tên sai nha nhìn nhau ái ngại, bàn tay đang cầm roi sắt khẽ chùng xuống.

Ở cái đất Lò Khê cùng khổ này, ức hiếp một xưởng rèn đơn độc của hai đứa mồ côi thì chẳng ai buồn can thiệp; nhưng kéo quân đi lục soát tro bếp, giật miếng than sưởi ấm của hàng chục hộ dân thợ rèn đang sôi sục phẫn uất sau đại lễ phi thăng bất thường hôm qua là một mồi lửa cực kỳ nguy hiểm. Một vụ bạo loạn của phường thợ ngay dưới chân núi tông môn là điều mà Đỗ Kính tuyệt đối không muốn nhìn thấy vào lúc này.

Đỗ Tuyên nheo mắt nhìn tập sổ phụ chép tay. Những ngón tay gầy guộc của gã siết chặt chiếc bàn tính bằng đồng thau đến mức khớp xương trắng bệch. Gã lật qua lật lại mấy trang giấy mỏng, ánh mắt săm soi từng con số, cố tìm ra một vết tẩy xóa hay một chỗ ngụy tạo định mức, nhưng mọi con số phân bổ đều khớp nối một cách hoàn hảo với trọng lượng thực tế của một cỗ xe chở quặng loại hai.

"Khá lắm. Miệng lưỡi của con gái Ninh Trác quả nhiên cứng cỏi như thép đã tôi qua ba lần nước," Đỗ Tuyên buông một tiếng cười nhạt, nụ cười méo mó không chạm tới đáy mắt sâu hoắm. Gã vung tay ném trả tập giấy bản vào ngực Ninh Chiêu. "Nhưng ngươi hãy nhớ cho thật kỹ lời ta hôm nay. Kỳ nộp thuế quặng và kiểm định kỹ thuật bễ lò vào đầu tháng tới, đích thân ta sẽ dẫn đầu đoàn thanh tra của phủ Quan Tế đến kiểm tra cái xưởng này. Nếu chất lượng rèn dập dao búa của Lò Ninh không đạt đúng tiêu chuẩn quy định, hoặc nếu ta phát hiện ra trong cái xưởng rác rưởi này có chứa dù chỉ nửa mảnh phế liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ..."

Gã bước tới một bước, ghé sát mặt vào tai Ninh Chiêu, hạ giọng thì thào mang theo mùi thuốc bắc đắng ngắt và sự đe dọa tàn độc:

"... thì không chỉ có cái bễ lò mục nát này bị niêm phong đâu. Cả cái mạng cùi của lão thợ già trong buồng kia, lẫn cái bộ xương cứng đầu cứng cổ của ngươi, cũng sẽ bị ném thẳng vào lò luyện phế liệu của ngục Nam Trụ để đúc thành gông cùm đấy. Liệu hồn mà giữ lấy mạng!"

Dứt lời, Đỗ Tuyên phất mạnh tay áo bào lam sẫm, quay phắt người sải bước ra cổng:

"Đi! Sang kiểm tra xưởng rèn nhà họ Vũ bên kia rãnh!"

Toán sai nha lục tục thu xẻng quặng và roi da, kéo nhau bước ra ngoài. Tiếng ủng đinh nện côm cốp trên nền đá dăm vụn xa dần, rồi chìm nghỉm vào tiếng gió hú qua hẻm núi Lạc Hạc.

Ninh Chiêu đứng chôn chân giữa gian xưởng rèn, lồng ngực khẽ phập phồng từng nhịp nặng nề. Nàng đứng im như tượng đá, lắng tai chờ đợi cho đến khi tiếng vó ngựa của toán tuần tra khuất hẳn sau khúc quanh của đường ray goòng chở than đá, mới từ từ buông lỏng hai nắm đấm.

Những móng tay nàng bấm sâu vào lòng bàn tay đến mức rách da, máu tươi rỉ ra thấm ướt những kẽ ngón tay thô ráp.

Mối nguy hiểm chết người vẫn chưa hề qua đi. Đỗ Tuyên đã bắt đầu nghi ngờ những rãnh đục trên mặt đe. Đôi mắt soi mói của con chó săn phủ Quan Tế không dừng lại ở mấy tạ than đá tầm thường; hắn đang lần theo dấu vết của những bản vẽ cơ khí mà cha nàng từng chế tác.

Không một giây chậm trễ, Ninh Chiêu lập tức xoay người bước nhanh vào buồng trong. Đi lướt qua chiếc phản gỗ nơi Lão Cát đang nằm thở dốc với đôi mắt đục ngầu lo âu, nàng bước thẳng tới góc tường tối tăm, nơi kê chiếc rương gỗ sồi cũ kỹ của cha nàng để lại—nơi lưu giữ những cuốn sổ tay ghi chép nhiệt độ rèn và tỷ lệ pha quặng từ hơn hai mươi năm trước.

Ninh Chiêu quỳ sụp xuống nền đất, thò tay vào lớp đáy kép bí mật của chiếc rương. Những đầu ngón tay thô ráp của nàng chạm vào một bọc da dê dày cộp, được buộc chặt bằng nhiều vòng dây gân bò tẩm sáp chống ẩm.

Đó là tập tài liệu kỹ thuật gốc của Ninh Trác—những trang vẽ chi tiết đến từng sợi tóc về các mối nối then cài cơ khí chịu lực, sơ đồ phân tán lực chấn động cho các trụ đỡ áp suất cao của vòm đá ngầm, và quy chuẩn bí truyền về kỹ thuật tôi thép ba ngàn lớp mà các xưởng rèn thông thường trong vùng không một ai từng được nghe nói tới. Chính những sơ đồ này là thứ mà mười một năm trước cha nàng đã mang theo mình khi bước chân vào những công trình cơ mật dưới lòng núi của tông môn, để rồi vĩnh viễn không bao giờ trở về nữa.

Ninh Chiêu rút tập tài liệu ra, ôm chặt vào lồng ngực đang đập thình thình. Nàng không thể tiếp tục cất giấu chúng trong chiếc rương này nữa. Một khi Đỗ Tuyên quay trở lại với lệnh khám xét chính thức của phủ Quan Tế, chiếc rương gỗ sồi này sẽ bị chẻ vụn thành củi đun trong chớp mắt.

Nàng ôm bọc tài liệu đi nhanh ra bãi đất sau xưởng, bước thẳng về phía máng nước làm nguội thép lớn được đục từ một khối đá xanh nguyên khối.

Chiếc máng đá này dài hơn một trượng, sâu tới bụng người, chứa đầy thứ nước ngâm xỉ kim loại đen ngòm, bề mặt đóng một lớp váng dầu quặng dày cộp và bốc mùi tanh nồng nặc. Dưới đáy máng là lớp bùn sắt mịn tích tụ qua hàng chục năm rèn dập, đặc quánh và lạnh lẽo như băng ngầm.

Ninh Chiêu cúi người, lấy từ gầm bàn gia công đá ra một chiếc hộp thiếc dài hình chữ nhật. Mép nắp hộp đã được nàng cẩn thận miết sẵn một lớp mỡ bò dày để chống thấm nước tuyệt đối. Nàng đặt bọc da dê vào trong lòng hộp, đậy chặt nắp, rồi dùng một chiếc kìm sắt lớn bóp chết mép viền thiếc xung quanh.

Sau đó, nàng xắn ngược ống tay áo, thọc sâu cả hai cánh tay trần vào làn nước làm nguội đen ngòm, buốt giá thấu tận xương tủy.

Mùi nước rỉ sắt tanh nồng xộc thẳng lên cánh mũi. Ninh Chiêu mò mẫm dưới đáy máng ngập bùn, dùng sức lật một phiến đá phiến nặng trịch nằm nép sát góc đáy máng, cẩn thận nhét chiếc hộp thiếc vào hốc đá rỗng bên dưới, rồi hạ phiến đá nặng đè nghiến trở lại vị trí cũ. Lớp bùn sắt mịn màu đen lập tức cuộn trào lên mù mịt, nhanh chóng lắng xuống và xóa sạch mọi dấu vết xáo trộn.

Dưới hàng trăm cân nước ngâm xỉ quặng đặc quánh và lớp bùn kim loại dày hàng tấc, ngay cả những kiếm tu có thần thức nhạy bén nhất cũng không thể nào cảm nhận được sự tồn tại của một chiếc hộp thiếc vô tri chìm sâu dưới đáy bùn lạnh buốt.

"Xong xuôi hết chưa?"

Giọng nói khô khốc của Tống Hoài vang lên ngay sau lưng nàng. Anh vẫn đứng tựa lưng vào thân cây hòe khô, đôi mắt tăm tối nhìn chằm chằm vào hai cánh tay ướt sũng bùn đen và nước rỉ sắt của nàng.

"Xong rồi," Ninh Chiêu đứng thẳng dậy, chùi mạnh hai bàn tay vào chiếc tạp dề da thô, phả ra một hơi dài lạnh buốt. "Tài liệu kỹ thuật của cha tôi tạm thời an toàn."

"Tốt. Vậy thì quay trở lại hàng gạch ngay lập tức." Tống Hoài gõ nhẹ đầu gậy gỗ xuống nền đất nện phủ đầy tro quặng. "Ngươi vừa mới tận mắt nếm trải rồi đấy. Cái gọi là quy củ của phủ Quan Tế, những nhát roi sắt của đám sai nha, hay những lời đe dọa chết chóc của Đỗ Tuyên... tất cả những thứ đó có thể ập thẳng vào mặt ngươi bất cứ lúc nào mà không cần báo trước. Nếu ngươi không học được cách đứng cho vững và lùi lại cho an toàn, thì lần tới, thứ bị dìm xuống đáy bùn của máng nước kia sẽ không phải là cái hộp thiếc vô tri, mà chính là cái xác không đầu của ngươi."

Ninh Chiêu không nói thêm một lời nào. Nàng bước những bước chân dứt khoát quay trở lại bãi đất nện.

Mặt trời buổi sớm bắt đầu nhô dần lên sau rặng núi Lạc Hạc trùng điệp, nhưng bầu trời không hề có lấy một tia nắng vàng rực rỡ; chỉ có một quầng sáng nhợt nhạt, mờ mịt như mắt cá ươn cố đâm xuyên qua màn sương mù xám xịt bao phủ khắp thung lũng rèn. Không khí càng lúc càng buốt giá, từng cơn gió rít qua hàng rào tre đan nghe thê lương như tiếng rên rỉ của đá núi ngàn năm.

Nàng bước chân lên hai viên gạch nung cắm nghiêng đầu tiên.

Cơn đau nhức nhối từ các vết rách ở đầu gối và mắt cá chân lại bùng lên dữ dội, nhưng lúc này tâm trí của Ninh Chiêu đã hoàn toàn tĩnh lặng. Nàng nhớ lại từng khoảnh khắc đối mặt với Đỗ Tuyên vừa rồi: sự căng thẳng nghẹt thở, nhịp tim bị dồn nén, và cái cách nàng buộc phải ghìm chặt toàn bộ trọng tâm cơ thể xuống đan điền để không vung nắm đấm đập nát gương mặt trắng bệch của tên quan sai lộng quyền.

Khí chìm sâu xuống đan điền.

"Một!" Tống Hoài cất tiếng đếm khô khốc.

Bàn chân phải của Ninh Chiêu lướt nhẹ về phía sau, mép đế giày cắn chặt lấy gờ sắc của viên gạch thứ ba.

"Hai!"

Chân trái thu về theo một đường vòng cung hẹp, khoảng cách hai chân giữ đúng bằng vai, hông hạ thấp xuống nửa tấc, đôi vai thả lỏng tự nhiên. Đầu gậy gỗ trong tay Tống Hoài lập tức phóng tới như một mũi tên xé gió, nhắm thẳng vào hõm vai trái đang rỉ máu của nàng.

Lần này, Ninh Chiêu không hề né tránh bằng cách ngửa người ra sau theo thói quen. Nàng xoay nhẹ gót chân phải trên mép gạch, mượn chính góc nghiêng bốn mươi lăm độ của viên gạch nung để xoay toàn bộ trục thân mình sang bên trái đúng nửa tấc. Đầu gậy gỗ sượt qua mép áo vải gai thô của nàng, chỉ làm bay tung một chút bụi than bám trên vai mà không hề chạm vào da thịt.

"Ba!"

Bước lùi thứ ba hoàn tất gọn gàng. Hơi thở trong lồng ngực nàng thoát ra ngoài chậm rãi, đều đặn, không hề đứt quãng.

"Tiếp tục! Bốn... năm... sáu..."

Tiếng đếm nhịp khô khốc, đều đặn của Tống Hoài hòa lẫn vào tiếng gió rít gào qua khe núi và tiếng búa rèn le lói, thưa thớt từ các xưởng thủ công phía xa xa vọng lại. Ba mươi viên gạch nung cắm nghiêng trên bãi đất trở thành một mê cung thu nhỏ dưới bước chân của Ninh Chiêu.

Nàng không còn cúi đầu nhìn xuống mặt đất nữa; nàng dùng chính xúc giác nhạy bén của lòng bàn chân để cảm nhận độ nghiêng của từng cạnh gạch, dùng sự cân bằng của khung chậu để điều chỉnh trọng tâm rơi vào khoảng không, dùng từng hơi thở sâu từ đan điền để giữ cho nhịp tim không bị rối loạn trước những cú vung gậy bất ngờ của Tống Hoài.

Hai bắp đùi của nàng bắt đầu run lên bần bật vì kiệt sức. Từng thớ cơ như đang bị thiêu đốt, bị xé rách dưới áp lực ghìm giữ trọng tâm liên tục. Hai bàn tay nàng, vốn mười mấy năm chỉ quen nắm chặt lấy chuôi búa sắt nặng trịch, nay nắm chặt lại giữa không trung đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, cứng đờ như đá gang. Mồ hôi túa ra đầm đìa, chảy ròng ròng qua trán, nhỏ vào khóe mắt cay xè, rồi hòa cùng bụi tro khoáng tạo thành những vệt đen lem luốc trên gương mặt góc cạnh, phong sương.

Mỗi khi nàng bước lỡ một nhịp, đầu gậy gỗ của Tống Hoài lại quất xuống—không chút nương tay, không một lời tha thứ, chuẩn xác điểm thẳng vào những kẽ hở lộ ra trên cơ thể nàng. Mỗi vết bầm tím mới xuất hiện trên da thịt là một cái giá đắt đỏ cho một bài học về cự ly sinh tử.

"Tám mươi tám... tám mươi chín... chín mươi..."

Hai cẳng chân của Ninh Chiêu nặng trĩu như đeo hai khối chì đúc. Cảm giác nóng rát, buốt nhức từ mắt cá chân lan ngược lên hông, chạy dọc theo sống lưng. Nhưng nàng tuyệt đối không dừng lại.

Trong tâm trí nàng, tiếng kim loại gầm rú rợn người của vòm đá Huyền Khuyết khi nuốt chửng kiếm tu Tạ Vân ngày hôm qua lại vang lên văng vẳng. Nàng nhớ đến ánh mắt tuyệt vọng, cô độc của Tạ Uyển trong đêm tối buốt giá; nàng nhớ đến những rãnh đục ba nhát mang hoa văn Hàn Tủy trên mảnh kiếm vỡ nát đang giấu dưới đáy bễ lò; và nàng nhớ đến bóng lưng còng cô độc của cha nàng khi ông khoác bọc đồ nghề bước chân ra khỏi con ngõ này mười một năm trước mà không bao giờ quay trở lại.

Muốn tìm ra sự thật đằng sau những cỗ máy khổng lồ đội lốt thần linh ấy, trước hết nàng phải sống sót qua mùa gió tro nghiệt ngã này đã.

"Chín mươi bảy... chín mươi tám... chín mươi chín..."

Bước chân thứ một trăm.

Bàn chân phải của Ninh Chiêu đạp vững chãi lên viên gạch nung cắm nghiêng cuối cùng ở sát góc bờ rào tre. Nàng thu chân trái về song song, hai cánh tay buông thõng tự nhiên bên hông, toàn bộ thân hình đứng sừng sững như một chiếc cọc sắt cắm sâu vào lòng đất nện. Lồng ngực nàng phập phồng chậm rãi, một hơi thở dài thoát ra khỏi kẽ môi thành một làn khói trắng mỏng manh giữa sương sớm buốt giá.

Đầu gậy gỗ trần trụi của Tống Hoài dừng lại cách yết hầu nàng đúng nửa tấc. Gió từ đầu gậy chỉ làm khẽ lay động một sợi tóc mai dính bết mồ hôi trên trán nàng.

Cựu kiếm tu Minh Kiếm từ từ hạ chiếc gậy xuống đất. Anh ngước đôi mắt sâu hoắm, đầy tàn tích đau thương nhìn cô gái thợ rèn đang ướt đẫm mồ hôi và máu trước mặt mình. Trong đôi mắt tăm tối ấy, lớp tàn tro dường như vừa lóe lên một tia sáng kỳ lạ. Anh không cất lời khen ngợi, chỉ khẽ gật đầu một cái thật nhẹ:

"Tạm được. Hai bàn chân đã bắt đầu biết bám lấy mặt đất."

Ninh Chiêu thở hắt ra một hơi dài, hai đầu gối nàng bỗng mềm nhũn ra, suýt chút nữa sụp xuống nếu nàng không kịp đưa tay bấu chặt lấy một cọc rào tre bên cạnh. Bắp chân nàng co giật liên hồi, đau nhức đến tận óc, nhưng sâu thẳm trong lòng nàng lại dấy lên một cảm giác vững chãi, tự chủ chưa từng có.

Nàng vẫn chưa học được cách vung một đường kiếm nào cho ra hồn, nhưng nàng biết chắc chắn một điều: nếu lúc này tên sát thủ đêm qua xuất hiện trở lại với thanh kiếm găm tro sắc lạnh ấy, hắn sẽ không thể nào dễ dàng ép nàng vào chỗ chết chỉ bằng một cái vấp chân ngớ ngẩn được nữa.

Đúng lúc đó, một âm thanh sột soạt rất khẽ vang lên từ bên ngoài hàng rào tre phía đông của xưởng rèn.

Đó hoàn toàn không phải là tiếng bước chân nặng nề, nện ủng đinh thô tháo của toán sai nha mang giáp sắt, cũng không phải tiếng lê bước chậm chạp, mệt mỏi của những người phu kéo xe than đá. Âm thanh ấy nhẹ nhàng, êm ái và đều đặn, kèm theo tiếng cọ xát lạo xạo rất đặc trưng của một ngòi bút lông nhỏ trên mặt giấy ráp thô.

Ninh Chiêu lập tức nâng cao cảnh giác, bàn tay theo bản năng với lấy chiếc kìm sắt kẹp phôi đang cắm trên cọc rào. Tống Hoài cũng khẽ nghiêng đầu sang một bên, chiếc gậy gỗ trong tay anh xoay nhẹ nửa vòng, mũi gậy chĩa ngầm về hướng phát ra tiếng động.

Qua những kẽ hở của hàng rào tre đan mắt cáo đã ám đầy muội than, Ninh Chiêu nhìn thấy một bóng người mảnh khảnh đang đứng giữa làn gió tro buốt giá bên mép rãnh thoát nước thải quặng.

Đó là một thiếu nữ trạc ngoài ba mươi tuổi, khoác trên mình chiếc áo choàng bằng vải thô màu xám tro không thấm nước, bên hông đeo một chiếc túi lớn bằng da thuộc đã sờn rách mép vì cọ xát nhiều. Nàng không hề nhìn vào bên trong xưởng rèn, cũng chẳng hề để ý đến hai con người đầy thương tích đang đứng cảnh giác sau bãi đất nện.

Trên tay nàng đang giơ cao một chiếc thước đo góc bằng đồng thau có gắn một con lắc dây chì nhỏ đung đưa theo gió, và một chiếc ống trụ dài bằng thủy tinh trong suốt chứa một thứ chất lỏng màu hổ phách sóng sánh. Nàng nheo một bên mắt ngắm theo đường bay của những dải tro quặng đang bị luồng gió núi cuốn tạt vào vách gỗ xưởng Lò Ninh, rồi cúi đầu, dùng chiếc bút lông nhỏ tỉ mỉ ghi chép từng con số góc độ vào một cuốn sổ bọc da dẹp kẹp chặt dưới nách.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories