Phép thử không dùng người
Mảnh than hồng bốc khói xèo xèo khi giọt nước mạch ngầm rỉ xuống từ vách đá của xưởng rèn hoang nằm sát bìa rừng ngoại môn, nơi Lê Vãn đang cặm cụi căn chỉnh từng bánh răng đồng thau.
Tiếng nước nhỏ giọt đều đặn, lạnh buốt và rười rượi như đếm ngược từng khắc sinh tử. Căn nhà đá khoét sâu vào sườn núi này vốn là nơi chứa xỉ sắt và than vụn từ ba mươi năm trước, cửa nẻo xộc xệch, mạng nhện bám dầy trên các thanh đà mục ruỗng, nhưng lại là chỗ kín đáo duy nhất còn sót lại giữa lúc mạng lưới kỵ binh của Đỗ Tuyên lùng sục khắp các lối mòn hạ trấn. Không khí bên trong ẩm mốc, sặc mùi quặng gỉ lâu năm quyện với hơi đất thối rữa của rễ cây ăn luồn qua khe nứt. Mỗi lần gió lùa qua hốc đá thông gió trên vòm trần, đám mạng nhện giăng mắc trên đòn tay lại lay động chập chờn, rải xuống những hạt bụi tro xám đục.
Ninh Chiêu ngồi xổm bên bễ lò dã chiến dựng tạm bằng mấy tảng đá hoa cương xếp chồng. Cô dùng một thanh cời sắt cạo nhẹ lớp xỉ đóng cứng ở cửa gió, để lộ những mắt than đang ủ sâu trong lòng bễ. Chiếc ống bễ bằng da dê chắp vá thở phì phò theo từng nhịp kéo của cánh tay phải. Cánh tay trái của cô quấn chặt một lớp vải gai tẩm mỡ trăn dày cộm; sau trận hỏa hoạn ở kho Nam Trụ, từng dải gân duỗi trên mu bàn tay vẫn co rút cứng đờ, mỗi lần thử nắm lại đều nhức buốt thấu tận xương tủy. Cơn đau âm ỉ bò dọc theo các khớp ngón, cắn sâu vào màng gân, buốt nhói như có kim châm mỗi khi hơi nóng từ cửa lò táp vào da thịt. Nhưng tay phải của một người thợ rèn mười mấy năm quai búa vẫn còn đủ độ chuẩn xác và sức nặng. Từng thớ cơ cuồn cuộn dưới lớp da rám nắng gồng lên vững chãi, kìm giữ nhịp thở của bễ lò thật đều đặn, không để ngọn lửa bùng lên quá gắt làm chai mặt thép, cũng không để nó lụi tàn giữa luồng sương lạnh đang rỉ qua kẽ vách.
Tin tức mà Lê Vãn mang về lúc canh ba như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mọi toan tính. Đỗ Kính không đợi đến mùa bão tro sau năm ngày nữa; lão ta đã đẩy sớm đại lễ Bổ Khuyết lên ba ngày, điều động thiết giáp áp giải chín người bị chọn xuống hầm ngầm ngay trong đêm.
Bên ngoài, tiếng mõ cầm canh của tuần thám ngoại môn thỉnh thoảng lại vọng vào vách núi, khô khốc và rời rạc. Cứ mỗi tiếng gõ gõ cắc cắc vang lên là một lần vạc than trong lò lại nổ lách tách, bắn ra những đốm lửa li ti chết lịm trên nền đá ẩm ướt.
"Không thể trông chờ vào việc thu thập đủ hóa đơn để đưa ra đối chất tuần tự trước Hội đồng Trưởng lão được nữa," Ninh Chiêu nói, giọng khàn đặc vì hít phải khói than cám lẫn tro khoáng. Ánh lửa bễ rèn hắt lên nửa khuôn mặt góc cạnh, làm nổi rõ vệt bồ hóng bết trên gò má. "Lão ta kiểm soát cửa hầm, nắm trọn kho than và kho thuốc. Chừng nào các viện chủ còn tin rằng chỉ có chín cái mạng kia mới giữ được màn chắn khỏi sụp trước bão tro, thì mọi chứng cứ bằng giấy mực hay lời khai đều vô nghĩa. Người ta sẵn sàng bịt mắt trước máu của kẻ khác để đổi lấy sự sống sót cho chính mình."
Lê Vãn ngẩng đầu lên khỏi phiến đá dùng làm bàn vẽ. Chiếc bàn đá gồ ghề, phủ một tấm da cừu thuộc sơ sài, trên đó trải rộng ba tờ giấy bản khổ lớn chi chít những đồ thị hình sin và các ký hiệu phân cực linh khí. Đôi mắt người nữ khảo cứu thâm quầng, lòng trắng đỏ rực những tia máu li ti sau nhiều đêm thức trắng. Đầu ngón tay chị run rẩy vì sương muối ngấm lạnh, những khớp xương ngón tay sưng đỏ, nhưng khi cầm lấy chiếc compa đồng, từng đường vạch vẫn giữ được độ mảnh chuẩn xác. Chị không run khi ngòi chì vạch xuống giấy, chỉ có lồng ngực đang phập phồng sau làn áo rách tả tơi vì những cơn ho khan dồn dập.
"Ta hiểu," Lê Vãn hít sâu một hơi, mùi dầu hạt cải bôi trơn quyện với vị sắt rỉ xộc vào cuống họng cay xè. Chị dùng mu bàn tay quệt ngang trán, để lại một vệt mực lem nhem bên thái dương. "Nếu không chứng minh được có thứ thay thế được kiếm cốt sống để giữ áp lực mạch đất, tông môn sẽ vĩnh viễn không bao giờ dừng tay. Ta đã vẽ lại toàn bộ chu kỳ dao động của nhánh cống số Bảy. Về mặt lý thuyết, nếu dùng ba lớp thép tôi với độ cứng tăng dần kẹp quanh một lõi đồng mềm, kết hợp với các phiến đá dẫn mạch sắp xếp theo góc phân cực mười bảy độ, chúng ta có thể tạo ra một bộ dao động cưỡng bức. Con lắc cơ học này sẽ hấp thu và hoàn trả linh áp theo nhịp đập của địa mạch, đóng vai trò như một đốt sống nhân tạo."
Ninh Chiêu dừng tay kéo bễ trong một thoáng, lắng nghe tiếng kim loại cọ xát dưới ngòi compa của Lê Vãn. Cô nhìn những hình vẽ bánh răng cưa lệch tâm đan xen chằng chịt, những mũi tên chỉ hướng triệt tiêu lực quán tính mà cha cô từng phác họa mơ hồ trong cuốn sổ tay cũ kỹ bọc da lợn lòi.
"Lý thuyết của chị cần bao nhiêu thời gian để thành hình?" Ninh Chiêu hỏi, mắt không rời khỏi thanh phôi thép đang ửng đỏ trong lòng than.
"Nếu có đủ vật liệu chịu tải cực hạn... một ngày đêm," Lê Vãn cắn môi, ngón tay miết chặt lên mép bản vẽ nhăn nhúm. Giọng chị nghẹn lại giữa sự kích động và nỗi bất lực tột cùng. "Một ngày đêm để gia công và ráp nối. Nhưng chúng ta không có thép mác cao của Viện Công Tượng. Thép thường ngoài chợ trời sẽ chảy rữa trước khi con lắc kịp quay đủ nửa vòng tuần hoàn. Độ bền kéo của sắt thô không thể vượt quá ba ngàn cân tải trọng linh lực; nó sẽ nứt dọc thớ ngay tại điểm uốn góc mười bảy độ."
Tiếng cành khô gãy khẽ ngoài bụi rậm cắt ngang lời chị.
Tiếng động rất nhỏ, lẩn khuất sau tiếng róc rách của rãnh nước ngầm, nhưng với đôi tai của một người thợ rèn quen phân biệt từng âm sắc của búa đập và sắt nguội, Ninh Chiêu lập tức nhận ra bước chân lạ. Cô buông tay kéo bễ, tay phải hạ xuống nắm chặt chuôi chiếc búa nguội nặng năm cân đặt bên mé đe. Khối thép nguội lạnh ngắt lập tức truyền một luồng điện cảnh giác chạy dọc sống lưng cô.
Tiếng bước chân người đi rất khẽ, ngập ngừng, xen lẫn tiếng kim loại va chạm lục cục trong bao tải thô. Kẻ đến đang dò dẫm trong bóng tối của hốc đá, vừa đi vừa thở dốc, từng nhịp bước kéo lê trên nền lá mục rữa.
Cửa hầm hé mở. Một bóng người thấp đậm trùm áo tơi cọ lách vào, mang theo mùi mồ hôi chua nồng lẫn mùi mạt sắt đặc trưng của xưởng rèn. Gió lùa vào theo bước chân gã, thổi tạt ngọn lửa đỏ quạch trong bễ bốc lên một làn khói cay nồng.
Đó là Vũ Kha.
Gã thợ rèn cùng trang lứa với Ninh Chiêu ở trấn Lò Khê đứng sững lại giữa làn khói mờ. Gã buông phịch chiếc bao tải đan bằng sợi đay gai xuống nền đất ẩm, thở hổn hển. Tiếng kim loại nặng nề va chạm vào đá phát ra một âm vang trầm đục, đặc quánh. Bên trong bao trồi ra ba thỏi phôi thép màu xám chì sẫm, bề mặt phẳng lì không một vết rỗ bọt khí, mép phôi dập chìm dấu triện ba ngôi sao nhỏ—loại thép gió hợp kim chịu mài mòn cực cao chuyên dùng tiện trục guồng nước ngầm của mỏ Lạc Hạc.
"Đây là toàn bộ số phôi đặc chủng tôi ém lại được trong kho riêng từ đợt nhập hàng trước," Vũ Kha gạt mồ hôi trán, ánh mắt đảo quanh căn hầm hoang phế rồi dừng lại trên chiếc đe nứt của Ninh Chiêu. Gương mặt gã đầy vẻ căng thẳng, khóe miệng giật giật, gò má giần giật dưới lớp râu quai nón lởm chởm chưa cạo. "Đỗ Tuyên đang cho kỵ binh đi từng lò rèn dưới trấn để niêm phong than vụn và kiểm kê bễ rèn. Khoản nợ vật tư của tôi với kho Nam Trụ vẫn còn nằm trong tay lão... Nếu phủ Quan Tế biết tôi vác đống thép này lên đây, xưởng của tôi sẽ bị san phẳng trong nửa ngày. Cả nhà tôi sẽ bị tống vào cống quặng số Chín."
Ninh Chiêu bước tới, cúi người dùng đầu ngón tay sần sùi miết lên thớ thép lạnh ngắt. Bề mặt kim loại trơn láng như đá mài, không hề có gợn sóng của búa rèn thủ công; đây là sản phẩm được đúc từ lò luyện cao tần của các đại sư nội môn, hàm lượng vonfram và mangan cực cao, có khả năng giữ độ cứng ngay cả khi bị nung đến nhiệt độ đỏ rực. Cô gõ nhẹ khớp ngón tay trỏ vào thân phôi.
Một tiếng *kinh* trong vắt, ngân dài và đanh gọn vang lên, dư âm rung rinh trong lòng hầm đá suốt vài nhịp thở, chứng tỏ hàm lượng tạp chất cực thấp và mật độ rèn nén hoàn hảo. Không có vết rạn ngầm, không có túi xỉ lưu lại trong lõi.
"Anh mang đến đây, nghĩa là anh đã tính toán cái giá," Ninh Chiêu ngước nhìn gã đối thủ nghề nghiệp từng tranh nhau từng đơn sửa kiếm ở phố lò. Ánh mắt cô thăm thẳm, không có sự hàm ơn vồn vã, chỉ có sự đo lường sòng phẳng giữa hai người thợ cùng kiếm sống trên mạt sắt và tàn lửa.
Vũ Kha nuốt nước bọt, liếc nhìn cơ cấu bánh răng và con lắc cơ học kỳ quái mà Lê Vãn vừa gá tạm trên khung gỗ. Ánh mắt gã vừa tò mò, vừa xen lẫn một nỗi e sợ bản năng trước thứ cấu trúc kim loại dị dạng đang cố bắt chước tủy sống con người. Các đòn bẩy vươn ra như những nhánh xương sườn gãy, còn quả văng đối trọng tròn xoe lại giống như một khúc khớp cầu nhân tạo.
"Tôi không muốn thấy đầu mối thợ lò Lò Khê bị lôi đi như súc vật," Vũ Kha gằn giọng, âm điệu cay đắng. Gã ngồi thụp xuống bên bao tải, hai bàn tay thô kệch đầy sẹo bỏng bóp chặt lấy đầu gối. "Thằng Bùi Sách bảo hai người định làm một bộ tải nhân tạo để thay cho người sống. Tôi là thợ, tôi chỉ tin vào sức bền vật liệu. Thép này chịu được lực va đập ba ngàn cân, nhưng đem nó nối vào mạch đất cuồng loạn của đài Huyền Khuyết... hai người có điên không? Kim loại chết làm sao có kiếm ý mà điều hòa xung áp? Người sống có linh căn, có kinh mạch tự co giãn khi áp lực tràn qua, còn sắt thép cứng nhắc, gặp lực chấn lệch pha là gãy rắc!"
"Thép không có kiếm ý, nhưng có thể uốn dẻo theo trật tự hình học," Lê Vãn đứng dậy, ngón tay dính mực chỉ thẳng vào bản vẽ chi tiết các rãnh xẻ. Giọng chị rành rẽ, mang sức nặng của những năm tháng vùi đầu trong tàng thư các. "Nhìn vào đây. Nếu chúng ta ghép ba lớp phôi này lại, lớp ngoài cùng chịu mài mòn, lớp giữa tôi mềm để tiêu tán xung lực, ở tâm kẹp một phiến đá dẫn mạch lấy từ vách đá cống ngầm, con lắc điều hòa sẽ dịch chuyển trọng tâm để triệt tiêu các đỉnh nhọn của linh áp. Nó không cần kiếm ý; nó chỉ cần tuân theo quán tính cơ học. Quán tính của một quả văng đủ nặng sẽ ghì chặt độ lệch pha của linh mạch xuống dưới ngưỡng phá hủy."
Vũ Kha ghé sát mắt nhìn vào bản vẽ. Gã nheo mắt trước từng đường ren ngược, từng góc nghiêng mười bảy độ được ghi chú cẩn thận bằng mực đỏ. Là một người thợ lành nghề, gã nhận ra ngay bàn tay thiết kế của một bậc thầy: những góc vát khuyết ngầm này hoàn toàn trùng khớp với thủ pháp gia công chốt khóa hầm lò của Ninh Trác mười một năm về trước. Đó là cách lấy nhu thắng cương của giới công tượng Lạc Hạc, mượn chính phản lực của đất để chốt chặt cửa lò. Bờ vai gã hơi chùng xuống, sự dè dặt nhường chỗ cho niềm kính sợ mơ hồ.
"Được rồi," Vũ Kha thở hắt ra, tháo tấm tạp dề da bò mang theo bên hông quấn chặt vào người. Gã rút từ thắt lưng ra một chiếc kìm kẹp phôi cỡ lớn và đôi găng tay bọc sợi ami-ăng đã sém đen. "Tôi cầm búa phụ cô quai. Bàn tay trái của cô như thế kia, một mình cô không thể tán nổi mối hàn ba lớp này trước khi phôi bị nguội."
Không có thêm lời thừa thãi nào. Ba con người trong căn hầm hoang lập tức bước vào guồng quay của sắt lửa.
Ninh Chiêu gắp thỏi phôi đầu tiên vùi sâu vào giữa ổ than hồng. Chiếc bễ da dê lại thở phì phò, nhịp kéo dồn dập và mạnh mẽ hơn dưới sức ép từ cánh tay phải của cô. Gió lùa vào đáy lò mang theo dưỡng khí, biến những đốm than đỏ thẫm thành một màu trắng rực chói mắt. Nhiệt độ trong hầm đá tăng vọt, làm mồ hôi trên trán ba người túa ra như tắm, chảy ròng ròng qua khóe mắt xót buốt.
*Keng! Chát! Keng!*
Tiếng quai búa bắt đầu vang lên dồn dập, đập tan sự tĩnh mịch u ám của sườn núi hoang phế.
Ninh Chiêu dùng kìm kẹp chặt phôi thép trên mặt đe hoa cương, tay phải cầm búa một cân rưỡi dẫn nhịp. Mỗi nhát búa của cô hạ xuống đều chuẩn xác đến từng ly, gõ điểm *keng, keng* để Vũ Kha theo đà vung cây búa tạ tám cân nện xuống như trời giáng. Tiếng búa tạ xé gió rít lên vùn vụt, nện bẹp dí khối kim loại nóng đỏ với một lực kinh hoàng. Tia lửa trắng xóa bắn tung tóe trong bóng tối, rọi sáng từng giọt mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt ba người, văng lẹt xẹt vào các vách đá ẩm ướt làm bốc lên từng làn khói xám khét lẹt.
Gia công lõi thép ghép ba lớp là một cực hình đối với bất kỳ thợ rèn nào. Thép mác cao chứa nhiều hợp kim rất khó gắn kết; nếu nhiệt độ lò lệch đi một phần mười, các lớp thép sẽ tách rời khi chịu áp lực. Nếu gõ quá tay, lớp thép tôi mềm ở giữa sẽ bị dập nát; nếu gõ quá nhẹ, mối hàn rèn sẽ sinh bọt khí bên trong. Ninh Chiêu ghé sát tai vào khối kim loại rực đỏ, lắng nghe âm thanh thở của thớ thép qua từng nhát búa, điều chỉnh nhịp thở của mình hòa vào tiếng đập.
Cơn đau nhức nhối từ cổ tay trái truyền lên bả vai khiến trán cô vã mồ hôi lạnh, từng khớp ngón tay co rút như muốn đứt lìa, nhưng cánh tay phải vẫn giữ vững phương hướng, không run rẩy dù chỉ một phân. Cô dùng chiếc búa con chỉ điểm: góc mười bảy độ, cạnh vát ba ly, rãnh trượt lòng máng. Vũ Kha nín thở nện búa theo từng điểm chỉ của cô, cơ bắp cuồn cuộn gồng lên dưới lớp da bóng nhẫy bồ hóng.
Trong khi hai người thợ rèn đánh vật với sắt nóng, Lê Vãn ngồi bệt dưới nền đất, dùng bột cát thạch anh mài giũa ba phiến đá xanh xám dẫn mạch. Từng tiếng *xoẹt, xoẹt* khô khốc của đá cọ vào đá hòa quyện vào tiếng búa đanh thép. Chị tỉ mỉ đo từng góc vát, dùng thước kẹp bằng đồng kiểm tra độ dày của phiến đá đến từng phần mười đốt ngón tay. Đôi bàn tay của người làm thư tịch trầy xước rướm máu, dính đầy bột thạch anh trắng xóa, nhưng ánh mắt chị chưa bao giờ rời khỏi đường chuẩn.
Đến giữa trưa, khối lõi thép ghép ba lớp đã thành hình: một thanh trụ bát giác dài hai thước, bên trong khoét rãnh trượt tinh vi, kẹp chặt lấy ba phiến đá xanh xám dẫn mạch do Lê Vãn tỉ mỉ mài giũa. Lớp thép gió ngoài cùng sáng bóng màu xám chì, lớp thép mềm ở giữa ôm khít lấy lõi đá, tạo thành một cấu trúc vừa cứng rắn vừa có độ đàn hồi sâu thẳm. Trên đỉnh trụ, một con lắc cơ học bằng đồng đỏ pha thiếc được gắn qua trục ren nghịch, các quả văng đối trọng xòe ra như cánh sen cụt cánh, sẵn sàng xoay tròn để điều tiết dao động.
Ninh Chiêu nhúng cả khối trụ vào bể dầu hạt cải để tôi lần cuối.
*XÈOOOO!*
Khói dầu bốc lên mù mịt, mùi khét nồng nặc tràn ngập căn hầm đá. Khi thanh trụ nguội đi, bề mặt kim loại ánh lên một sắc xanh tím huyền ảo của thép tôi hoàn hảo, không một vết nứt, không một nếp gấp xỉ.
Đúng lúc đòn bẩy cuối cùng được bắt vít chốt chặt, một tiếng gõ nhịp ba dài hai ngắn vang lên ngoài vách đá. Tiếng gõ khô khốc, dứt khoát theo ám hiệu của thợ công tượng ngoại viện.
Ninh Chiêu lập tức giấu khối thép vào tấm vải gai, tay phải siết chặt chuôi búa. Vũ Kha lùi lại một bước, với tay lấy chiếc xẻng xúc than thủ thế.
Cửa hầm hé mở. Một đệ tử ngoại viện mặc áo tạp dịch cộc tay lách vào, toàn thân ướt sũng bùn đất và nước mưa. Người này không bước hẳn vào trong mà chỉ nép mình sau cánh cửa mục, chìa ra một thẻ bài bằng gỗ trắc đen có khắc hình chiếc đe nhỏ viền mây—phù hiệu bảo trì nội bộ của Viện Công Tượng.
"Viện chủ Cố Thanh gửi lời," người đệ tử thì thào, mắt đảo quanh cảnh giác, giọng run rẩy vì lạnh và sợ hãi. "Lệnh của viện Chấp Pháp đã phong tỏa toàn bộ sườn nam và đài Huyền Khuyết. Đỗ Tuyên đã cắm chốt ba tầng lính thiết giáp dọc các đường nhánh dẫn xuống đáy cống. Nhưng từ giờ Thân đến hết giờ Tuất tối nay, đội tuần tra phụ trách trụ phòng hộ phụ số Bốn nằm trên vách đá sườn núi phía bắc sẽ bị rút về trạm trung chuyển với lý do kiểm kê mạt sắt hỏa hoạn. Các người chỉ có đúng một canh giờ rưỡi ở trụ Bốn. Sau giờ Tuất, lính thiết giáp của phủ Quan Tế sẽ tiếp quản chốt."
Cố Thanh không lộ diện, không ký công văn, nhưng chiếc thẻ bài và khoảng trống tuần tra chính là sự bật đèn xanh ngầm tối đa mà một viện chủ có thể đánh cược giữa ván cờ chính trị nghiêng ngửa này. Nếu việc bại lộ, Cố Thanh có thể dễ dàng phủi tay đổ lỗi cho sự tắc trách của cấp dưới, nhưng với Ninh Chiêu và nhóm của cô, một canh giờ rưỡi ấy là khe cửa hẹp duy nhất còn hé mở trước khi địa ngục khép lại.
"Đi thôi," Ninh Chiêu buông búa, quấn lại dải băng vải gai trên tay trái, giọng đanh lại như thép nguội. "Không còn đường lùi nữa."
***
Trụ phòng hộ phụ số Bốn nằm cheo leo trên một mỏm đá vôi dựng đứng ở rìa phía bắc dãy Lạc Hạc, phía dưới là vực sâu hun hút mịt mùng hơi sương tro xám ngắt.
Gió núi thổi lồng lộng, mang theo từng đợt tro khoáng lạnh buốt quất rát rạt vào mặt. Bầu trời chiều trĩu nặng những đám mây màu chì, báo hiệu một đợt nghịch lưu địa khí đang dồn về từ ngoài biển tro. Trụ phòng hộ là một khối kiến trúc bằng đá phiến đen hình tháp cụt cao chừng hai trượng, rêu phong phủ đầy các đường rãnh chạm khắc linh văn cổ xưa. Qua hàng trăm năm dầm mưa dãi gió, lớp đá phiến đã nứt nẻ nhiều chỗ, những đường vân dẫn linh khí bị mòn vẹt, lộ ra những mảng trám bằng hồ vôi thô kệch của những lần duy tu chắp vá.
Dưới chân trụ, một buồng dẫn áp bằng đồng thau đã xỉn màu gắn liền vào lòng núi, nơi các đường ống ngầm dẫn dòng linh khí địa mạch từ đáy thung lũng trồi lên để cấp năng lượng cho màng chắn bảo vệ các xóm thợ ven rìa núi. Mùi tanh nồng của bùn toan và mùi tanh rỉ của quặng đồng bốc lên nồng nặc từ miệng giếng thông áp.
Ninh Chiêu và Vũ Kha phải dùng dây thừng bện bọc da khiêng khối tải nhân tạo nặng gần một trăm cân vượt qua con đường mòn trơn trượt trên vách đá. Từng bước chân lún sâu vào lớp tro mềm xốp; gió thốc từng cơn như muốn hất tung cả người lẫn thiết bị xuống đáy vực. Vũ Kha thở hồng hộc, hai vai trầy da chảy máu vì sợi dây thừng thít chặt, nhưng gã không dám buông tay dù chỉ một khắc. Một cú trượt chân ở đây sẽ nghiền nát công sức của cả buổi sáng dưới đáy vực đá dăm.
Lê Vãn quỳ rạp trên nền đá ướt lạnh, dùng cờ-lê tháo rời nắp buồng dẫn áp. Những con ốc đồng lâu ngày rỉ sét kêu ken két chói tai dưới sức vặn của chị. Một luồng khí ngầm ẩm ướt, mang theo mùi tanh nồng của bùn toan và vị ngai ngái của linh khí thô chưa thanh lọc ùa ra phả vào mặt chị, làm cay xè sống mũi và buốt lạnh cả hàm răng.
Bên trong buồng là một hốc rỗng hình trụ có các chấu kẹp bằng đồng—nơi vốn được thiết kế để đặt các tinh thể điều hòa hoặc nẹp cố định cho các đệ tử sơ cấp truyền lực thủ công trong các đợt bão tro nhỏ. Dưới đáy buồng, những rãnh thoát máu khô đen từ nhiều năm trước vẫn còn hằn rõ trên nền đá vôi, minh chứng câm lặng cho những sinh mệnh từng bị vắt kiệt tại nơi này.
"Đặt lõi vào!" Lê Vãn thở dốc, hai tay run lên bần bật vì lạnh và căng thẳng.
Ninh Chiêu cùng Vũ Kha cẩn trọng hạ khối thép ghép ba lớp vào đúng rãnh dẫn. Trọng lượng một trăm cân kim loại trượt trên thanh ray bằng đồng, phát ra tiếng ma sát rợn người trước khi khớp hoàn toàn vào bệ đỡ bằng một tiếng *khục* nặng nề, chắc nịch.
Ninh Chiêu dùng kìm siết chặt bốn chốt ren nghịch ở bốn góc, ép các phiến đá dẫn mạch tiếp xúc trực tiếp với miệng van xả áp ngầm. Bàn tay trái đau buốt của cô tì chặt lên thân trụ để giữ thăng bằng, trong khi tay phải siết từng vòng ren với độ chính xác tuyệt đối. Mỗi vòng ren xiết vào là một lần chốt chặn địa mạch được khóa chặt vào khung kim loại.
"Gá con lắc vào trục trung tâm," Lê Vãn chỉ dẫn, mắt dán chặt vào chiếc đồng hồ cát bằng đồng và que đo rung chấn cắm sâu vào khe đá. "Vũ Kha, kéo chốt hãm!"
Vũ Kha nghiến răng, hai tay nắm chặt sợi dây xích sắt hãm quả văng, gồng mình giật mạnh một phát dứt khoát.
*Tách! Rắc!*
Cơ cấu nhả lẫy hoạt động. Con lắc cơ học bằng đồng đỏ bắt đầu chuyển động, ban đầu chậm chạp, cọ sát vào trục ren nghịch phát ra những tiếng lách cách khô khan. Rồi theo dòng linh áp ngầm từ đáy ống đẩy lên, các quả văng đối trọng xòe rộng ra, bắt đầu xoay tít theo quỹ đạo hình nón.
*O... O... Oong...*
Một tiếng rền trầm đục phát ra từ lòng đất đá dưới chân họ. Nền đá vôi rung lên bần bật, truyền qua lòng bàn chân một cảm giác tê rần rợn ngợp. Dòng linh khí địa mạch cuồn cuộn tràn vào buồng dẫn, mang theo sức ép của hàng vạn cân đất đá phía trên. Nhưng thay vì xé toạc các kinh mạch mỏng manh như khi đi qua cơ thể con người, luồng năng lượng hoang dại ấy lập tức va phải ba lớp thép và các phiến đá phân cực.
Góc mười bảy độ phát huy tác dụng: dòng năng lượng bị bẻ gãy, uốn nắn thành một dòng xoáy định hướng, truyền thẳng vào trục con lắc. Con lắc cơ học quay tít với tốc độ kinh hoàng, tạo nên một luồng gió cơ khí xé toạc không khí ẩm ướt xung quanh. Quán tính của các quả văng đối trọng nhịp nhàng triệt tiêu những đợt rung giật bất thường của dòng năng lượng ngầm, biến những xung lực hỗn loạn thành một chuyển động quay êm ru, đều đặn.
Từ đỉnh trụ số Bốn, một dải sáng màu lam mờ nhạt bỗng bừng lên, ban đầu chỉ như một tia chớp nhỏ rồi lan tỏa ra không gian như một chiếc nan quạt khổng lồ. Màng chắn ánh sáng mỏng manh nhưng dẻo dai vươn dài ra hàng trăm trượng, phủ trùm lên sườn núi phía bắc, chặn đứng những luồng gió tro đang gào thét từ thung lũng thổi thốc lên.
Những hạt bụi tro khoáng li ti đập vào màng sáng liền phát ra tiếng lẹt xẹt như tàn than rơi vào chậu nước, rồi trượt ra ngoài, không thể xâm nhập vào khu vực chân núi nơi có hàng trăm căn nhà tranh của thợ mỏ đang nép mình dưới rặng đá.
Gió núi vẫn thổi gầm gào, nhưng bên trong phạm vi màng chắn, không khí đột nhiên trở nên tĩnh lặng và ấm áp lạ thường. Bụi tro mù mịt bị đẩy lùi ra xa, để lộ một vòm trời nhỏ trong trẻo hiếm hoi giữa mùa bão tro.
Lê Vãn nhìn trừng trừng vào màng sáng, hai mắt ngấn lệ. Chị quỳ sụp trên nền đá ướt, vội vã rút tập giấy đo đạc, ngòi bút than chì run rẩy ghi lại từng chỉ số:
"Linh áp vào: một ngàn hai trăm cân. Tần số dao động: ba mươi nhịp một khắc. Biên độ dịch chuyển của con lắc: bốn phân ly. Màng chắn duy trì liên tục... hoàn toàn không cần sự can thiệp của thần thức hay kiếm cốt!"
Chị ngước nhìn vầng sáng lam đang rung rinh nhịp nhàng theo chuyển động của con lắc đồng, giọng nói nghẹn lại trong niềm xúc động hoang dại: "Nó hoạt động... Nó thực sự hoạt động! Không cần người sống làm vật dẫn... Máy móc có thể chịu tải thay cho con người!"
Vũ Kha đứng sững sờ, hai bàn tay buông thõng bên hông, ngơ ngẩn nhìn vầng sáng mờ ảo đang bao bọc lấy vách đá. Gã thợ rèn cả đời chỉ biết đến đe và búa, đến những hợp đồng mua bán vật tư của tông môn, lần đầu tiên nhìn thấy sắt thép vô tri có thể đứng vững trước sức mạnh nghiền nát của tự nhiên mà không cần đến máu thịt con người. Gã nhìn xuống đôi bàn tay thô ráp của mình, rồi nhìn sang Ninh Chiêu, ánh mắt ngập tràn sự bàng hoàng và kính sợ.
"Nó... nó làm được thật sao?" Vũ Kha lẩm bẩm, giọng nghẹn lại. "Không cần đệ tử làm tải... chỉ bằng thép và đá mài? Ba mươi năm nay... bao nhiêu người chết dưới đáy hầm kia... hóa ra chỉ cần một cỗ máy thế này thôi sao?"
Ninh Chiêu không trả lời. Cô không mỉm cười, cũng không buông lỏng cảnh giác. Cô đứng sát buồng dẫn áp, bàn tay phải áp hờ lên lớp vỏ ngoài của khối thép. Qua lớp kim loại dày, cô cảm nhận được từng rung động tinh vi nhất. Dòng năng lượng ngầm đang chảy mượt mà, con lắc quay êm ru như một cỗ máy đồng hồ tinh xảo. Nhưng dưới lòng bàn tay cô, kim loại đang bắt đầu ấm dần lên. Một hơi ấm nhè nhẹ, bình thường đối với bất kỳ cỗ máy vận hành nào, nhưng mang lại cho cô một dự cảm bất an mơ hồ.
Thời gian chầm chậm trôi qua. Mười khắc... hai mươi khắc... nửa canh giờ... rồi gần một canh giờ.
Màng sáng vẫn đứng vững giữa trời chiều mù mịt tro xám. Không có tiếng thét đau đớn của người bị bòn rút kiếm cốt, không có máu rỉ qua các rãnh xả cặn dưới chân tháp. Chỉ có tiếng rít gió đều đặn, nhịp nhàng của con lắc cơ học đang quay miệt mài trong lồng sắt. Những đợt gió tro ngoài thung lũng đập vào màng sáng chỉ làm nó rung rinh nhẹ như mặt hồ gợn sóng, rồi lại nhanh chóng phẳng lặng trở lại.
Lê Vãn thở phào một hơi dài, bờ vai căng cứng suốt nhiều ngày qua buông lỏng xuống. Chị ngả người tựa vào vách đá, trên môi nở một nụ cười hiếm hoi, khuôn mặt hốc hác bỗng sáng bừng lên:
"Chúng ta làm được rồi, Ninh Chiêu. Với số liệu này, Cố Thanh có thể triệu tập hội nghị kỹ thuật khẩn cấp của Hội đồng Trưởng lão. Đỗ Kính không còn lý lẽ nào để biện minh cho việc dùng người... Chúng ta có thể cứu chín người kia ngay trong đêm nay..."
"Chờ đã," Ninh Chiêu cắt ngang, ánh mắt đột nhiên đanh lại.
Bàn tay cô trên lớp vỏ kim loại vừa nhận được một nhịp giật bất thường. Rất khẽ, chỉ như một tiếng nấc nghẹn của mặt đất sâu thẳm, nhưng âm sắc phát ra từ khối thép ghép ba lớp không còn là tiếng kim khí ngân vang trong trẻo nữa. Nó bắt đầu đục ngầu, trầm nặng và khô khốc.
Tiếng *o... o...* êm ái ban nãy bỗng xen lẫn những tiếng *khục... khục...* ngắt quãng, như có ai đó đang ném sỏi vào buồng bánh răng.
Mùi khét lẹt của dầu bôi trơn cháy sém bốc lên từ các khe khớp nối, nồng nặc và cay xè.
"Lê Vãn, đo lại chấn động địa tầng ngay!" Ninh Chiêu quát khẽ, bước chân lùi lại nửa nhịp theo phản xạ hạ bàn tự vệ của người luyện võ.
Lê Vãn giật mình, nụ cười tắt lịm trên môi. Chị vội quỳ xuống cắm que đo xuống nền đá. Vừa chạm tay vào ống thủy tinh chứa chất lỏng màu hổ phách, đồng tử chị co rút lại kinh hoàng: bọt khí bên trong đang sôi sục dữ dội, mực chất lỏng vọt lên vượt qua vạch đỏ an toàn gấp đôi, rồi gấp ba.
"Chu kỳ gió tro... áp lực ngầm đang tăng vọt theo chu kỳ triều cường địa mạch!" Lê Vãn hét lên át tiếng gió rít. Giọng chị lạc đi giữa nỗi hoảng loạn tột cùng. "Linh áp vượt ngưỡng hai ngàn... hai ngàn năm trăm cân! Quá nhanh! Nó tăng vọt chỉ trong ba nhịp thở! Đây không phải là dao động điều hòa... Đây là một đợt sóng xung kích địa chấn!"
Dưới lòng đất sâu, một tiếng gầm gừ quái dị vang lên như tiếng một con quái thú khổng lồ bị giam cầm ngàn năm bỗng thức giấc. Mặt đất dưới chân họ rùng mình chao đảo. Mạch đất phía bắc bất ngờ chuyển mình, tống một luồng linh lực hỗn loạn cực đại thốc thẳng vào buồng dẫn áp của trụ số Bốn.
Luồng năng lượng không còn là dòng chảy êm ả để uốn nắn; nó là một cột lũ cuồng nộ xé rách lòng đá.
*RÍT... RÍTTTT!*
Con lắc cơ học không còn quay mượt mà nữa. Tốc độ quay của nó tăng vọt đến mức mắt thường chỉ còn thấy một quầng sáng mờ hình phễu, rít lên những âm thanh chói tai làm buốt óc. Lực ly tâm khủng khiếp kéo căng các quả văng bằng đồng đỏ đến mức các khớp nối bắt đầu dãn dài ra. Nhưng dòng linh áp hỗn độn không tuân theo quy luật nhịp nhàng của lý thuyết; nó giật cục, dồn nén từng đợt rồi bùng nổ thành những đợt sóng va đập sắc lẹm như búa tạ nện thẳng vào trục ren nghịch.
Lõi thép ghép ba lớp bắt đầu rung bần bật trên đế đá. Mặt đe hoa cương bên dưới nứt toác thành những đường chân chim chằng chịt.
Nhiệt lượng ma sát sinh ra từ tốc độ quay cực hạn cùng sự cọ xát cơ học giữa các phiến đá và thớ thép không có lối thoát. Chỉ trong vài chục nhịp thở ngắn ngủi, lớp vỏ thép gió xám chì đã chuyển sang màu đỏ sẫm, rồi bừng lên màu đỏ tươi như một hòn than khổng lồ trong bễ rèn. Dầu bôi trơn bốc cháy ngùn ngụt, tỏa ra một làn khói đen kịt khét lẹt, che khuất cả buồng máy.
"Nhiệt tích tụ quá lớn!" Ninh Chiêu hét lên, cô hiểu kim loại hơn bất kỳ ai trong căn hầm này. Cô ngửi thấy mùi thép cháy, mùi đồng bốc hơi. "Thép đang bị biến tính! Cấu trúc ghép ba lớp không tản nhiệt kịp, nhiệt lượng bị nhốt bên trong... Lớp đồng mềm ở tâm đang nóng chảy!"
"Cắt tải! Giật chốt xả khẩn cấp!" Lê Vãn hoảng loạn lao tới, vồ lấy cần gạt ngắt nhánh bên sườn buồng dẫn áp.
Nhưng đã quá muộn.
Ở nhiệt độ cực hạn và áp suất xé rách, các chốt ren nghịch bằng thép gió đã bị biến dạng nhiệt, giãn nở nở bung và kẹt cứng ngắc vào rãnh trượt. Kim loại nóng chảy hàn dính các chi tiết cơ khí lại với nhau thành một khối đặc quánh. Con lắc cơ học mất cân bằng trọng tâm, bắt đầu lắc đảo điên cuồng, quăng quật các quả văng đập chan chát vào thành buồng dẫn áp bằng đồng thau, phát ra những tiếng rít xé tai nhức óc như tiếng quỷ khóc thần gào.
*RẮC!*
Một tiếng nứt toác đanh gọn, sắc lẹm vang lên từ sâu bên trong khối thép. Tiếng gãy của kim loại chịu quá tải uốn—một âm thanh mà bất kỳ người thợ rèn nào nghe thấy cũng phải lạnh gáy.
"LÙI LẠI! NẰM XUỐNG!" Ninh Chiêu gầm lên.
Bằng một phản xạ xuất quỷ nhập thần được tôi luyện từ những bài học sinh tồn nghiệt ngã của Tống Hoài, cô không thèm nhìn lại, tay phải vồ lấy cổ áo Lê Vãn kéo giật về phía sau, chân trái đạp mạnh vào ngực Vũ Kha đẩy gã văng ra xa, đồng thời cả thân mình cô đè sập lên người Lê Vãn, lăn tròn vào sau một gờ đá hoa cương tự nhiên cách đó một trượng.
*OÀNGGGGG!*
Một tiếng nổ kinh thiên động địa xé toạc không gian đỉnh núi.
Khối lõi thép ghép ba lớp nổ tung thành hàng trăm mảnh vụn sắt nung đỏ rực. Sức ép khủng khiếp thổi bay nắp buồng dẫn áp bằng đồng thau nặng hàng trăm cân, hất tung nó lên không trung như một chiếc lá khô rồi rơi cắm phập vào vách đá phía đối diện, ngập sâu nửa thước.
Những mảnh thép vỡ vụn, bén ngót như phi đao xé gió găm chi chít vào các tảng đá xung quanh, tạo nên những lỗ sâu hoắm bốc khói khét lẹt. Một mảnh thép đỏ rực sượt qua gờ đá che chắn, cắt đứt một mảng tóc của Ninh Chiêu, mùi tóc cháy khét lẹt lập tức xộc vào mũi cô.
Dòng linh áp ngầm mất kiểm soát không còn vật cản, phun trào lên như một cột nham thạch vô hình, đánh sập toàn bộ kết cấu vòm đá của trụ phòng hộ phụ số Bốn. Từng tảng đá phiến đen khổng lồ nứt toác, đổ rầm rầm xuống vực sâu hun hút, kéo theo một màn bụi tro mù mịt che khuất cả bầu trời chiều.
Màng chắn ánh sáng màu lam trên không trung co giật dữ dội, phát ra tiếng nổ lẹt đẹt chói tai như vải rách rồi vỡ vụn thành ngàn vạn đốm tàn tro tản mác trong gió lạnh.
Gió tro lập tức tràn vào như thác lũ, thốc qua mỏm đá hoang tàn, cuốn phăng những mảnh gỗ vụn và giấy tờ còn sót lại.
Sự tĩnh lặng rợn người ập xuống sau cơn bão lửa, chỉ còn lại tiếng gió núi gào thét qua khe nứt và tiếng tro rơi lộp độp trên lớp đá vụn tan hoang.
***
Khói đen đặc quánh mùi lưu huỳnh và kim loại cháy khét lẹt từ từ tan đi trong luồng gió lạnh thốc lên từ đáy vực.
Ninh Chiêu lồm cồm bò dậy từ sau tảng đá hoa cương. Lưng áo cô rách tả tơi, vài mảnh sắt vụn găm nông vào lớp vải dày khiến máu rỉ ra ướt đẫm bả vai, nhuộm đỏ cả vệt bồ hóng trên áo. Cơn đau buốt từ vết thương trên lưng hòa cùng cơn nhức nhối ở cổ tay trái co rút làm hơi thở cô dồn dập. Cô khẽ ho khan một tràng dài, nhổ ra một búng nước bọt lẫn tro bụi đen ngòm, nhưng bàn tay phải của cô vẫn che chắn chắc chắn trên đầu Lê Vãn, giữ cho người nữ khảo cứu không bị đá vụn đè trúng.
Cách đó vài bước chân, Vũ Kha ngồi bệt dưới đất, lưng tựa vào vách đá nứt nẻ, mặt cắt không còn một giọt máu. Gã nhìn trừng trừng vào buồng dẫn áp nay chỉ còn là một hố sâu hoắm tan hoang, sắt thép vặn vẹo biến dạng như những mẩu sáp nung chảy nằm la liệt giữa đống đá vỡ. Đôi bàn tay thợ rèn chai sạn của gã run rẩy không kiểm soát nổi, từng ngón tay co quắp lại như người trúng phong.
Gã vừa tận mắt chứng kiến thứ sức mạnh cơ học mà gã tôn thờ cả đời—loại thép gió bền nhất của mỏ Lạc Hạc—bị nghiền nát thành tro bụi trong chớp mắt. Nỗi sợ hãi tột cùng xâm chiếm tâm trí Vũ Kha. Gã nhận ra những hợp đồng vận tải, những trục van, những bánh răng gã từng lén gia công và bán cho phủ Quan Tế thực chất đang phục vụ cho một cỗ máy hủy diệt tàn bạo đến mức nào. Hệ thống ấy không vận hành bằng sắt thép thông thường; nó vận hành bằng cách nghiền nát xương tủy của con người để làm dịu cơn thịnh nộ của lòng đất.
Lê Vãn vùng ra khỏi vòng tay bảo vệ của Ninh Chiêu.
Chị không màng đến những vết trầy xước rướm máu trên trán và hai cánh tay, lảo đảo lao tới đống sắt vụn còn đang bốc khói nghi ngút. Chị quỳ sụp xuống giữa đống tro tàn nóng bỏng, hai bàn tay trần run rẩy bới móc những mảnh thép cong queo, bất chấp nhiệt độ còn rát bỏng làm phồng rộp cả da thịt.
Tập giấy đo đạc của chị bị gió cuốn bay một nửa xuống vực sâu, nửa còn lại cháy xém nằm vương vãi trên nền đá ướt, những dòng số liệu tâm huyết bị tro bụi phủ lấp hoàn toàn.
"Sai rồi... sai ở đâu chứ?" Lê Vãn lẩm bẩm, giọng lạc đi như người mất hồn. Từng giọt nước mắt rơi lã chã xuống những mảnh kim loại đen nhẻm, bốc hơi xèo xèo trên bề mặt thép nóng. "Các góc nghiêng đều đúng... tỷ lệ giảm chấn tính toán không hề sai một ly... Ta đã kiểm tra ba lần các hệ số phân cực... Tại sao thép lại biến tính? Tại sao con lắc không triệt tiêu được bước nhảy?"
Chị nắm chặt một mảnh thép vỡ sắc lẹm, góc nhọn cứa rách lòng bàn tay ứa máu tươi, dòng máu đỏ thẫm nhỏ giọt xuống đống xỉ than, nhưng dường như chị không hề cảm thấy đau đớn thể xác. Nỗi đau của sự sụp đổ lý thuyết, sự bất lực tột cùng của tri thức trước thực tế tàn khốc đang nghiền nát tâm can người nữ khảo cứu.
"Ta đã nghĩ... ta đã tin rằng chỉ cần tính toán đủ sạch, đủ chuẩn xác, ta có thể thay thế được cái cơ chế dã man ấy bằng máy móc thuần túy," Lê Vãn nghẹn ngào, hai vai rung lên bần bật trong làn gió tro lạnh ngắt. "Nhưng cỗ máy vô tri không thể làm được. Địa mạch không phải là dòng nước chảy đều trong mương dẫn; nó có những bước nhảy linh lực tức thời, hỗn loạn và tàn bạo. Khi triều cường địa mạch ập đến, linh áp tăng vọt gấp ba lần chỉ trong chớp mắt... Không có kim loại nào kịp tản nhiệt, không có quán tính nào ghì nổi bước nhảy ấy."
Chị ngước khuôn mặt lấm lem bùn đất và nước mắt lên nhìn Ninh Chiêu, ánh mắt vỡ vụn trong tuyệt vọng:
"Không có kiếm cốt sống của người tu luyện—không có một thực thể có ý thức, có khả năng tự co giãn kinh mạch và dùng ý chí để chịu đựng phản chấn—mô hình cơ học thuần túy sẽ vĩnh viễn bị xé nát! Không có giải pháp nào rẻ tiền và sạch sẽ cả... Chúng ta thất bại rồi, Ninh Chiêu. Đỗ Kính... lão ta nói đúng... không có tải sống, cái màn chắn này không thể đứng vững! Ba mươi năm qua tông môn dùng người... không phải vì họ không biết làm máy móc... mà vì máy móc không thể chịu nổi!"
"Đứng dậy, Lê Vãn."
Một bàn tay thô ráp, sần sùi nhưng vững như bàn thạch đặt lên vai chị.
Ninh Chiêu cúi người, nắm lấy cánh tay Lê Vãn kéo mạnh đứng dậy. Lực kéo dứt khoát và không khoan nhượng ép người nữ khảo cứu phải đứng thẳng trên hai chân mình. Đôi mắt người thợ rèn không có sự tuyệt vọng, không có nước mắt, chỉ có một sự lạnh lẽo và sáng quắc như thép tôi trong nước lạnh giữa đêm đông.
"Đừng quỳ trước sắt vụn," Ninh Chiêu nói, giọng trầm, chậm rãi và dứt khoát từng từ. "Thất bại này không chứng minh Đỗ Kính đúng. Nó chỉ chứng minh chị và tôi đã ngây thơ khi nghĩ rằng có thể giải quyết tội ác ba mươi năm bằng một cỗ máy làm vội trong một ngày đêm."
Ninh Chiêu buông Lê Vãn ra, sải bước tới miệng hố đổ nát. Cô dùng mũi giày gạt những mảng xỉ sắt cháy đen, cúi xuống nhặt lên một mảnh chốt nối bị gãy đôi nằm lẫn trong đống tro. Vết gãy phẳng lì, ánh kim loại xám xịt lộ ra điểm chịu lực bị cắt ngọt ngào ở góc mười bảy độ. Không có dấu hiệu của việc kim loại bị mỏi hay biến dạng dẻo; nó bị cắt đứt bằng một lực trượt thuần túy khi vượt quá giới hạn thiết kế.
"Nhìn vào đây," Ninh Chiêu đưa mảnh chốt trước mặt Lê Vãn, ngón tay cô miết qua mép gãy sắc lẹm. "Lõi thép nổ tung vì nó cố gánh toàn bộ dòng linh áp của cả một nhánh núi. Chúng ta đã nhét một cái nẹp nhỏ vào giữa một dòng thác lũ khổng lồ rồi hy vọng nó sẽ chặn đứng được cả con sông. Không có kim loại nào trên đời này chịu nổi sự cuồng nộ của đất trời nếu cứ cố bướng bỉnh dựng lên một bức tường khổng lồ để bao bọc tất cả mọi thứ. Sai lầm của chúng ta là cố làm lại đúng những gì Đỗ Kính đang làm: cố duy trì toàn vẹn cái màn chắn phòng hộ rộng lớn vô lý kia."
Lê Vãn ngơ ngác nhìn mảnh chốt gãy, lồng ngực vẫn phập phồng sau cơn kích động, hơi thở dồn dập: "Ý cô là sao? Nếu không duy trì toàn vẹn màn chắn... thì gió tro sẽ nuốt chửng vùng Hạ Lĩnh..."
"Không có giải pháp thần kỳ nào vừa vặn, rẻ tiền và giữ nguyên trạng sự an toàn cho toàn bộ vùng Hạ Lĩnh ngay lúc này cả," Ninh Chiêu ném mảnh chốt sắt vụn vào túi áo gai của mình, tiếng kim loại va vào nhau lách cách. Cô quay người lại, ánh mắt hướng về những vệt khói lam chiều đang le lói bốc lên từ các mái nhà tranh dưới chân núi—những xóm thợ nghèo nàn, xơ xác đang run rẩy chờ đợi cơn bão tro sắp ập đến.
"Nếu không thể giữ toàn bộ, chúng ta phải cắt bỏ. Thu hẹp diện tích bảo vệ của màn chắn lại. Thay vì bảo vệ cả cánh rừng hoang, cả những thung lũng đá cằn và các tuyến đường vận tải trục lợi của họ Đỗ, chúng ta sẽ dồn lực dựng các trạm phòng hộ tạm thời, quy mô nhỏ, bán kính vài trăm trượng ở các khu vực tập trung đông dân cư nhất."
Vũ Kha nghe vậy, ngập ngừng chống tay vào vách đá đứng dậy, giọng gã run run: "Dựng phòng hộ tạm cục bộ? Nhưng gió tro vẫn sẽ tràn vào các vùng đất trống, đường sá sẽ bị cắt đứt, hoa màu và các mỏ quặng ngoài rìa sẽ bị phá hủy hoàn toàn..."
"Thì phải di tản!" Ninh Chiêu quay phắt lại nhìn Vũ Kha, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo khiến gã thợ rèn phải lùi lại nửa bước. "Bỏ những xóm lẻ loi, đưa người già, trẻ nhỏ và thợ thuyền dồn về các khu trú ẩn có tường đá dày và trạm phòng hộ nhỏ. Những trạm nhỏ đó linh áp vừa phải, các khối tải nhân tạo mini hoặc nẹp thép giảm chấn của cha tôi để lại hoàn toàn có thể gánh được trong vài ngày bão tro mà không bị nổ tung. Đó là cách duy nhất để cứu người mà không cần cướp đoạt kiếm cốt của bất kỳ ai!"
Lê Vãn chớp chớp mắt, đầu óc người khảo cứu bắt đầu hoạt động trở lại sau cơn chấn động. Những con số, những phương trình dao động lại bắt đầu xoay chuyển trong tâm trí chị, nhưng lần này theo một trật tự hoàn toàn khác.
Chị nhìn mảnh chốt gãy trên tay Ninh Chiêu, rồi nhìn đống đổ nát của trụ số Bốn. Vết gãy phẳng lì ở góc mười bảy độ... đó không phải là điểm yếu ngẫu nhiên của vật liệu; đó chính là cơ cấu tự ngắt an toàn mà Ninh Trác từng cố tình để lại trên then van số Ba của hệ thống thoát lũ ngầm mười một năm về trước.
"Chốt cắt nhánh..." Lê Vãn lẩm bẩm, hơi thở dồn dập hơn nhưng không còn là hoảng loạn mà là sự bừng tỉnh của một người tìm thấy lối thoát trong đường hầm tăm tối. "Chúng ta không duy trì dòng tải liên tục cho toàn mạng lưới; chúng ta chế tạo các chốt cắt ngắt nhánh mạch! Khi áp lực vượt ngưỡng an toàn, chốt sẽ tự gãy để cô lập từng phân khu, bảo vệ lõi trung tâm và ép dòng năng lượng chuyển hướng sang các bể xả cặn... Thu hẹp phạm vi... dựng tuyến phòng hộ tạm và tổ chức di tản khẩn cấp... Đúng rồi! Giảm tải trọng linh áp xuống một phần mười, thép gió ba lớp sẽ chịu được! Nó sẽ không bị biến tính vì nhiệt!"
"Đúng vậy," Ninh Chiêu siết chặt bàn tay phải thành nắm đấm, những khớp xương kêu răn rắc. "Nhưng muốn làm được điều đó, chúng ta phải ngăn Đỗ Kính kích hoạt cỗ máy nạp cốt chín người ở đài Huyền Khuyết. Nếu lão ta khai trận, toàn bộ địa mạch sẽ bị hút cạn về trục chính, các trạm tạm thời sẽ không còn một giọt linh khí nào để hoạt động. Chín sinh mạng sẽ bị thiêu rụi vô ích chỉ để che chắn cho những khu mỏ bỏ hoang và dinh thự của lão."
Gió chiều thổi thốc từng cơn tro bụi lạnh buốt qua đỉnh núi hoang tàn. Những mảnh đá vụn lăn lông lốc xuống sườn dốc, tạo nên những tiếng lách cách khô khan giữa không gian u ám.
Đột nhiên, từ con đường mòn cheo leo dẫn lên vách đá phía nam, một bóng người gầy guộc, lảo đảo lao qua màn sương muối.
Tiếng bước chân gấp gáp, nặng nề nện trên nền sỏi đá. Chiếc áo choàng chấp pháp màu lam sẫm rách tả tơi, bay phấp phới trong gió như một cánh chim gãy cánh, loang lổ những vệt máu tươi đã khô đen lại ở mạn sườn và gấu áo.
Hạ Từ.
Nữ đệ tử nội môn một tay ôm chặt lấy hai dải xương sườn bị gãy đang nẹp tạm bằng những thanh tre nứa thô sơ, hơi thở rít lên từng cơn đau đớn qua kẽ răng. Máu từ khóe miệng cô rỉ xuống, nhỏ tong tòng trên cổ áo ướt đẫm mồ hôi lạnh. Gương mặt cô xám ngoét như tro tàn, đôi môi khô nứt nẻ rớm máu, nhưng đôi mắt bừng cháy một ngọn lửa phẫn uất tột cùng.
"Ninh Chiêu... Lê Vãn..."
Hạ Từ ngã quỵ xuống bên gờ đá trơn trượt. Cơ thể cô đổ sụp như một khúc gỗ mục.
Ninh Chiêu vội lao tới, cánh tay phải vòng qua nách đỡ lấy cô trước khi cô kịp trượt chân xuống vực sâu hun hút phía dưới. Bàn tay Ninh Chiêu chạm vào lớp áo gai đẫm máu của Hạ Từ, cảm nhận được hơi thở đứt quãng và nhịp tim đập loạn xạ như trống trận của người đồng môn.
"Hạ Từ! Vết thương rách màng phổi của cô chưa lành, sao lại chạy lên đây?" Ninh Chiêu lo lắng đỡ lấy tấm lưng gầy gò đang run rẩy của người đồng môn. Cô vội lấy một bình nước sạch bên hông kề vào môi Hạ Từ, nhưng Hạ Từ gạt phắt đi.
Hạ Từ túm chặt lấy cổ tay Ninh Chiêu, mười đầu ngón tay cắm sâu vào lớp da thịt thô ráp của người thợ rèn, run lên bần bật trong cơn kích động dữ dội. Cô ngước nhìn cả nhóm, lồng ngực phập phồng đau đớn, giọng nói nghẹn ngào, run rẩy cất lên như một tiếng sét đánh xé toạc màn sương tro u ám:
"Không thể chờ đợi thêm một khắc nào nữa... Ta vừa đột nhập vào phòng lưu trữ danh sách nạp cốt của phủ Quan Tế... Trong số chín người bị chọn làm tải sống đưa xuống hầm ngầm đêm nay... có ba đệ tử ngoại viện chạy trạm cùng phòng với Bùi Sách! Bọn họ không hề tình nguyện... Đỗ Kính đã dùng giấy khế ước nợ than đá giả để lừa họ ký giấy hiến thân!"