Mái nhà mở cửa sau
Bùi Sách kéo Ninh Chiêu lách qua khe hẹp giữa hai bờ tường rào ngoại viện, nơi bóng tối đặc quánh của giàn dây leo gai góc phủ tràn xuống mép gạch, che khuất vạt áo thô nhuộm màu chàm trước ánh đuốc tuần tra đỏ quạch của viện Chấp Pháp.
Tiếng ủng da nện lộp cộp trên đường lát đá hoa cương mỗi lúc một xa dần, hòa lẫn vào tiếng gió hú qua các vọng gác trên cao. Chờ cho vệt sáng cuối cùng hắt qua khe lá biến mất hẳn về phía tây hành lang, Bùi Sách mới thở hắt ra một hơi khẽ khàng, kéo chiếc khăn vải chàm trùm kín nửa khuôn mặt lấm lem bụi than, vẫy tay ra hiệu cho cô tiếp tục cúi thấp người bám sát sườn rãnh thoát nước.
Gió đêm từ đỉnh Huyền Khuyết quất thẳng xuống thung lũng sâu, mang theo lớp tro khoáng lạnh ngắt và sắc lẻm như mạt sắt vụn cọ xát vào da thịt. Cẳng tay trái của Ninh Chiêu bị bỏng lửa lò đang co rút từng thớ gân. Dù vết thương đã được nẹp chặt bằng hai thanh tre già dát mỏng và bọc nhiều lớp vải gai tẩm mỡ trăn nguội ngắt, nhưng mỗi khi luồng gió buốt luồn qua kẽ áo cộc rách tơi, từng cơn nhức buốt vẫn giật thót theo nhịp đập nơi cuống mạch cổ tay. Cô siết chặt quai chiếc túi da thuộc đeo chéo bên hông—nơi cất giữ những mảnh ghi chép đo đạc ban đầu—chân bước vững chãi, cẩn trọng đặt từng gót giày vào đúng những vệt đất lún mà người thiếu niên dẫn đường vừa đi qua để triệt tiêu tiếng lạo xạo của sỏi vụn.
Họ luồn sâu vào mạng lưới các ngách kho chứa trấu, kho chứa củi bấc và chuồng lừa phục vụ việc vận chuyển hậu cần cho toàn bộ khu ngoại môn. Ở chốn này không có lầu son gác tía, không có tiếng chuông đồng thanh tịnh ngân nga mỗi buổi sớm hay mùi trầm hương thanh khiết tỏa ra từ các viện tu tập nội môn; không gian nơi đây chỉ đặc quánh mùi phân súc vật ngai ngái, mùi cám gạo ẩm mốc lưu cữu qua nhiều mùa mưa và vị hăng nồng của rơm ướt bắt đầu thối rữa dưới chân tường.
"Tỷ nhìn mấy đụn trấu kia xem," Bùi Sách vừa khom lưng lách người qua khoảng hẹp giữa hai thùng ủ phân bón bằng gỗ thông mục nát vừa thì thào, giọng nói khẽ khàng như tiếng chuột chạy rơm trong đêm vắng. "Ngoại viện có hơn hai ngàn đệ tử tạp dịch và phu quét dọn không tên không tuổi. Mỗi ngày, họ gom rác từ các viện nội môn lúc đầu giờ Dần, đẩy xe cải tiến đưa rau củ, củi khô và than cám vào lúc cuối giờ Mão. Chấp Pháp viện có thể dùng phù trận phong tỏa cổng chính, kiểm tra từng chiếc thẻ bài thợ phụ bằng đồng hay lục soát từng tay nải của thợ rèn, nhưng họ không thể lật từng sọt phân chuồng ngựa hay moi từng gánh trấu lép để tìm một mẩu giấy bọc sáp. Mười hai trạm tuần tra đêm chỉ biết ngó trừng trừng vào lệnh bài sơn son, chẳng kẻ nào thèm ngửi mùi tro rác của đám làm công."
Cậu đưa ngón tay trỏ dính đầy dầu mỡ chỉ về phía một chiếc xe cút kít ba bánh chất ngất những giỏ sọt đựng củ cải dính đầy bùn đất ướt:
"Dưới đáy mỗi giỏ đều có một lớp nan tre đan đôi rất khéo. Đệ tử phụ bếp chỉ cần rạch một khe nhỏ vừa ngón tay, nhét ống đồng đựng danh sách vào đó, rồi đẩy xe chuyển thẳng ra ngoài cổng Chấn Thủy mà không ai nghi ngờ. Tin tức về buổi đối chất nảy lửa ở Nghị Sự Đường và chuyện tỷ bị Đỗ Kính hạ lệnh trục xuất đã truyền xuống tận các lò rèn Lò Khê từ nửa canh giờ trước rồi. Đám thợ già đang sôi sục cả lên."
Ninh Chiêu nhìn đôi bàn tay chai sần thô ráp, những đầu ngón tay nứt nẻ rướm máu vì giá rét của Bùi Sách, trong lồng ngực dâng lên một cảm giác trĩu nặng khôn nguôi. Toàn bộ thể chế tông môn ngút ngàn này bao đời nay vẫn luôn xem những phu dịch, tạp dịch như cỏ rác dưới chân đài cao, như những khớp nối cơ học tầm thường có thể vứt bỏ và thay thế bất cứ lúc nào trong cỗ máy khổng lồ vận hành đài Huyền Khuyết; nhưng chính những con người bị gạt ra rìa sinh tồn ấy lại đang lặng lẽ kết thành một tấm lưới ngầm dai dẳng, bọc lấy những kẻ bị truy lùng bằng chính lớp bùn đất, rơm rạ và sự nhẫn nại cùng cực của họ.
"Gia đình Ngô Phúc sao rồi?" Ninh Chiêu hỏi dồn, hơi thở phả ra làn khói mờ trắng đục tan biến nhanh trong đêm lạnh. "Họ có kịp nhận được ám hiệu không?"
"Đang chuyển đi ngay lúc này," Bùi Sách đáp dứt khoát, ánh mắt sắc sảo đảo quanh từng góc tối. "Đệ đã cho người bắn pháo hiệu tro báo động trước một khắc khi kỵ binh của Đỗ Tuyên rời trạm vận tải Nam Trụ. Đám người của Chấp Pháp viện chạy đường đá lớn, còn chúng ta đi đường cống ngầm, chúng không thể nhanh hơn những kẻ thuộc từng viên gạch vỡ nơi này được."
***
Phía tây chân núi Lạc Hạc, sâu bên trong nhánh hầm than số Bảy đã bị bỏ hoang từ hơn chục năm trước, không khí ẩm thấp xộc lên mùi khí lưu huỳnh thối rữa quyện chặt với hơi đất lạnh buốt phả ra từ các kẽ nứt địa tầng.
Ánh sáng vàng vọt, le lói từ một chiếc đèn lồng bọc da lừa cũ kỹ hắt những vệt sáng chập chờn lên vách đá hoa cương nham nhở dấu đục. Gia đình người phu xe Ngô Phúc cùng bốn người phu kho từng làm việc tại hầm số Hai kho dược Nam Trụ đang co ro nép sát vào nhau bên dưới một vòm đá sụt. Vợ Ngô Phúc ôm chặt lấy thằng Cò trong lòng, bàn tay gầy guộc trơ xương run rẩy bịt chặt lấy miệng đứa nhỏ để ngăn một tiếng nấc nghẹn ngào vì hoảng sợ tột độ. Thằng bé nép sát ngực mẹ, đôi mắt tròn xoe mở to nhìn những bóng đen lay động trên vách hang. Bắp chân phải của Ngô Phúc—vết tích kinh hoàng sau lần bị nước toan khoáng nóng táp vào làm bong tróc từng mảng da thịt lớn khi vỡ đường ống dẫn—giờ đây quấn đầy những lớp vải thô thấm dịch vàng khè, bốc lên mùi tanh nồng lẫn với mùi mủ thối rữa.
"Nhanh tay lên, dập bấc đèn đi! Chỉ để lại một đốm than ủ thôi!"
Một giọng nói trầm thấp nhưng đầy uy lực vang lên từ cửa ngách thông gió phía trên cao. Ba đệ tử ngoại môn mặc áo cộc vải xơ gai vá chằng vá đụp, lưng đeo túi sơ cứu thô sơ nhanh chóng trượt xuống theo triền dốc đá vụn. Họ không mang theo bùa chú hộ thân, không cầm phi kiếm sáng lóa như các đệ tử nội môn quyền quý, mà chỉ đẩy theo hai chiếc xe kéo tay hai bánh loại chuyên dùng để chở than cám phế thải ra bãi đổ, bên trên thùng xe phủ đầy những lớp rơm mục và lá chuối khô đã bốc mùi chua nồng của thức ăn gia súc lên men.
"Ngô thúc, thúc cùng tẩu tử và thằng bé lên chiếc xe thứ nhất này mau," một đệ tử trẻ tuổi, trên trán còn hằn nguyên một vệt sẹo dài do xỉ than bắn vào trong lò luyện, nhanh nhẹn quỳ xuống đỡ lấy cánh tay người phu xe già. "Chúng con buộc phải chia nhỏ các nhân chứng ra thành từng nhóm độc lập. Hai người phu kho theo lối rãnh xả bùn rút ra bãi xỉ than Lạc Hạc, hai người còn lại theo xe chở rơm trốn về xóm Lò Vôi tạm lánh. Đỗ Tuyên đã phái hẳn một đội kỵ mã mang theo ba con linh khuyển rà soát gắt gao từ ngã ba đường đá xanh dẫn vào miệng hầm than. Nếu chúng ta gom chung tất cả một chỗ, chỉ cần một tiếng ho của thằng nhỏ là cả mười mạng người sẽ bị bắt gọn trong một mẻ lưới của Chấp Pháp viện."
Ngô Phúc run rẩy đưa bàn tay thô ráp, nứt nẻ bám chặt lấy cổ tay người đệ tử ngoại môn, giọng nói nghẹn lại nơi cổ họng khản đặc:
"Các tiểu huynh đệ... nếu họ tìm thấy ta, họ sẽ giết cả nhà ta mất thôi. Đỗ Tuyên đã ra tay thiêu rụi cả kho Nam Trụ để phi tang sổ sách, hắn đâu có chừa lại đường sống cho một ai từng nhìn thấy thùng hóa chất... Ta chết thì không tiếc, nhưng con ta nó còn quá nhỏ..."
"Chúng con tuyệt đối không để chuyện đó xảy ra," người đệ tử trẻ kiên quyết lắc đầu. Cậu thuần thục rút cuộn dây thừng gai từ hông ra, phối hợp cùng đồng môn dùng hai thanh nẹp gỗ cố định chặt lấy phần cẳng chân sưng vù của người phu xe bằng nút thắt ba vòng giảm chấn—kỹ thuật cố định chấn thương xương khớp chuyên biệt mà đích thân bác sĩ Trần Mộc từng truyền dạy cho đám thợ phụ ở y xá Thạch Tuyền để ứng phó với tai nạn sập lò. "Nằm rạp người xuống rơm. Ngậm chặt lấy thanh gỗ này giữa hai hàm răng, dù xe có xóc qua ổ gà hay va vào vách đá cũng tuyệt đối không được phát ra tiếng động."
Từng người một chui tọt vào khoảng trống hẹp tép dưới đáy thùng xe kéo. Lớp rơm khô lập tức phủ kín lên thân thể họ, bên trên rơm lại được rải thêm một lớp bùn than đen nhẻm ướt sũng nhằm đánh lừa khứu giác cực kỳ nhạy bén của lũ linh khuyển săn mồi.
Chỉ mười nhịp thở sau khi hai cỗ xe kéo thô sơ lạo xạo lăn bánh rẽ vào hai ngách hang ngầm dẫn ra khe núi hoang phế phía tây, tiếng móng ngựa bọc sắt nện dồn dập đã vang lên chát chúa ngay ngoài cửa hầm than số Bảy. Ánh đuốc đỏ quạch của đội kỵ binh truy lùng quét loang loáng qua những vòm đá bám đầy rêu phong ẩm ướt. Tiếng chó săn sủa gắt từng hồi man dại xé toạc màn sương đêm lạnh buốt, nhưng tất cả những gì chúng sục sạo tìm thấy trong căn hầm bỏ hoang chỉ là vài đống tro củi nguội ngắt và mùi phân lừa nồng nặc bốc lên từ lòng đất tối tăm.
***
Trong khi đó, tại khu ngục giới nghiêm Nam Trụ nằm sâu hàng chục trượng dưới tầng hầm kiên cố của Chấp Pháp viện, không khí lại ngột ngạt và lạnh lẽo không khác gì một cỗ quan tài khổng lồ đẽo bằng đá hoa cương.
Hạ Từ đứng tựa lưng vào một cột đá hoa tiêu ở ngã ba hành lang canh gác. Dù đã bị viện Chấp Pháp tước bỏ thanh bội kiếm nội môn và truất quyền mang vũ khí sau buổi tranh cãi kịch liệt tại Nghị Sự Đường, chiếc áo choàng chấp pháp màu lam sẫm không còn phù hiệu môn phái vẫn mách bảo cô là kẻ đang chịu sự giám sát nghiêm ngặt nhất của phân đường. Mỗi hơi thở của Hạ Từ phả ra đều kéo theo một cơn đau buốt thấu tận xương tủy từ mạn sườn trái. Hai dải xương sườn số tám và số chín bị gãy nát khi cô gồng mình chống cự khối cự thạch sụp đổ ở cống ngầm số Bảy vẫn chưa kịp liền da kín miệng; lớp băng nẹp ngực bằng vải gai thô xiết chặt lấy lồng ngực khiến cô không tài nào hít sâu được, từng giọt mồ hôi lạnh rịn ra trên trán rồi chảy dài xuống má, hòa lẫn với bụi tro khoáng xám xịt bám trên da.
Cô liếc mắt nhìn bóng lưng của hai tên lính gác nội môn đang cầm trường kích đứng thẳng tắp ở đầu hành lang đá.
Đầu giờ Dần. Đó là khoảnh khắc giao phiên duy nhất trong đêm dài dằng dặc, khi toán lính cũ bắt đầu buông lỏng cảnh giác để cúi xuống ký tên vào cuốn sổ điểm danh bằng mực son đỏ ối, còn toán lính mới vẫn chưa kịp bước qua cánh cửa sắt nặng nề ở tiền sảnh phía trên.
Hạ Từ cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, dùng chính vị tanh mặn và cơn đau buốt nơi đầu lưỡi để xua đi cảm giác choáng váng do kiệt sức và mất máu. Cô luồn bàn tay run rẩy vào lớp áo lót bên trong, cẩn thận rút ra một bọc vải nhỏ đã được bọc sáp kín mít—bột thuốc giảm đau thanh phế mà bác sĩ Trần Mộc đã lén lút điều chế từ y xá Thạch Tuyền rồi giao lại cho cô—sau đó lách người nhẹ như một làn khói qua kẽ hở giữa hai thanh giằng gỗ lim của buồng giam số Ba.
Bên trong buồng giam ẩm thấp tối tăm, Tống Hoài đang ngồi xếp bằng đơn độc trên một bệ đá nứt nẻ.
Chiếc nẹp thau áp dọc sau lưng anh đã bị gãy chốt hãm từ lúc anh gượng ép bộc phát toàn bộ kiếm ý để chèn cửa van Cửu Giá ở đáy Giếng Mặc; những vết nứt kim loại lởm chởm cọ xát trực tiếp vào da thịt dọc theo đốt sống lưng thứ tư rỉ ra từng dòng máu đen sẫm đặc quánh. Anh ngồi bất động như một pho tượng đá cổ, hơi thở đứt quãng và nặng nề, nhưng đôi mắt sâu hoắm trũng sâu trong hốc mắt vẫn ánh lên vẻ sắc lạnh khôn cùng của một thanh cổ kiếm từng trải qua hàng vạn trận mài giũa sinh tử.
"Hạ Từ?" Tống Hoài không mở hẳn mắt, chỉ khẽ động nhẹ bờ mi khi ngửi thấy mùi thảo dược khô thân thuộc tỏa ra từ kẽ ngón tay cô.
"Thuốc thanh phế và bột cầm máu do đích thân Trần thúc bào chế," Hạ Từ quỳ sụp một chân xuống nền đá hoa cương lạnh ngắt, nén chặt cơn đau quặn thắt nơi lồng ngực để luồn gói thuốc qua khe then sắt buồng giam. Giọng nói của cô khàn đặc, đè nén xuống mức thấp nhất: "Ninh Chiêu đã bị trục xuất khỏi sơn môn. Đỗ Kính vẫn quyết định giữ nguyên toàn bộ kế hoạch đại lễ Bổ Khuyết. Lão ta dứt khoát không chấp nhận cho thử nghiệm chốt ngắt áp lực nhân tạo của viện Công Tượng, bất chấp nguy cơ đứt gãy mạch ngầm."
Tống Hoài đưa bàn tay gầy guộc run rẩy nhận lấy bọc thuốc. Những khớp ngón tay khẳng khiu của anh siết nhẹ gói sáp, nhưng anh không vội vàng xé ra uống ngay, mà chầm chậm ngẩng đầu nhìn thẳng vào gương mặt tái nhợt không còn chút huyết sắc của người nữ kiếm tu trẻ tuổi:
"Cô không nên liều mạng mò xuống đây lúc này. Xương sườn gãy đã cắm sát vào màng phổi, nếu cô còn cố tình vận chuyển linh lực thêm một lần nữa, lớp phế nang sẽ bị rách toạc và cô sẽ tự bóp nghẹt chính mình trước khi kịp bước chân ra chiến trường."
"Tôi vẫn còn thở được, chừng đó là đủ," Hạ Từ đáp cộc lốc, đôi mày thanh tú nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp. "Tống sư huynh, nếu nghi lễ Bổ Khuyết diễn ra đúng theo dự kiến, đài Huyền Khuyết sẽ nuốt chửng chín người sống để làm vật tế cân bằng áp lực. Chúng tôi cần phải biết chính xác con đường dẫn vào lõi Cửu Giá từ bên trong tông môn mà không làm kích hoạt chuông cảnh giới của Chấp Pháp viện."
Tống Hoài khẽ nhếch mép, một nụ cười khô khốc, đắng chát hiện lên trên gương mặt gầy hốc hác đầy những vết sẹo cũ:
"Cửa chính của trục xoay đã bị Đỗ Kính niêm phong bằng ba đạo phù triện cấm chế, nhưng hệ thống cống dẫn nước làm mát số Bốn xây dựng từ ba mươi năm trước vẫn còn một ngách xả cặn đáy dẫn thẳng vào buồng cân áp phụ. Điểm giao nhau của hai đường ống nằm ngay dưới chân tháp chuông đổ nát phía sau viện Công Tượng. Ở đó có một then trượt bằng đồng ba tấc chôn ngầm trong lòng gạch, xoay nghịch ba vòng sẽ mở được cửa thăm. Bảo Ninh Chiêu mang theo bộ dũa thép của Ninh Trác... then chốt ở điểm giao đó dùng ren nghịch bước hai ly rưỡi, chỉ có kỹ thuật rèn nguội của thợ rèn họ Ninh mới nắn được khớp trượt mà không làm vỡ bóng thủy ngân cảnh báo chấn động đặt bên trong lòng ống."
Anh nuốt một ngụm bột thuốc đắng ngắt vào cổ họng khô khốc, cố nén một cơn ho sặc sụa đang trào lên từ cuống phổi:
"Nhớ kỹ lời ta dặn. Đừng bao giờ tin vào bất kỳ lời hứa hẹn nào về cái gọi là 'đại cuộc' hay 'sự hy sinh vì tông môn' thốt ra từ miệng Đỗ Kính. Năm xưa, ta cũng từng ngu muội tin vào hai chữ đại cuộc đó, và cái giá phải trả là mười một đồng môn của ta bị chôn sống dưới chân đài tế mà không có lấy một nấm mồ. Đi ngay đi, tiếng ủng sắt của toán lính gác mới đã vang lên ngoài hành lang rồi."
Hạ Từ siết chặt hai nắm tay, cúi đầu chào anh một nhịp ngắn ngủi rồi lập tức chìm sâu vào bóng tối dày đặc của ngách ngục phụ, biến mất không một dấu vết ngay trước khi tiếng lách cách kim loại của chùm chìa khóa phiên gác mới vang rợn người ngoài cửa tiền sảnh.
***
Rời khỏi khu vực ngoại viện bằng con mương dẫn nước thải hôi hám phía sau chuồng ngựa, Ninh Chiêu và Bùi Sách hội ngộ với bốn đệ tử ngoại môn trẻ tuổi tại một con hẻm cụt tăm tối nằm sâu trong khu thợ gốm cũ của trấn Lò Khê.
Mưa tro khoáng bắt đầu rơi nặng hạt hơn theo từng cơn gió giật. Những hạt bụi quặng xám xịt phủ một lớp màng nham nhở, dính dớp lên mái ngói rêu phong và nền đá hộc ẩm ướt của khu xóm thợ nghèo nàn.
Họ lần mò tìm đến một căn nhà lá xiêu vẹo nép mình sát dưới chân vách đá hoa cương dựng đứng. Đó là nơi tá túc của Lão Quách—một lão thợ cơ khí già đã ngoài sáu mươi tuổi, từng có hơn hai mươi năm ròng rã phụ trách việc nắn chỉnh xương cốt, gò nẹp kim loại cho các thương bệnh binh tại y xá cũ của tông môn trước khi bị thải hồi về hạ trấn vì suy giảm thị lực. Bác sĩ Trần Mộc từng ghi chú tỉ mỉ trong y bạ rằng chính tay Lão Quách đã chế tạo, điều chỉnh và tháo lắp hàng chục bộ nẹp lưng kim loại cho các phu dịch phục vụ quanh trục xoay đài Huyền Khuyết nhiều năm về trước. Lời khai độc lập của lão về các ca teo cơ tủy sống bất thường và hiện tượng xương hóa xốp tổ ong ở những người từng làm việc trong hầm máy sẽ là mảnh ghép chí mạng để chứng minh cơ cấu bòn rút sinh lực người sống trước các vị viện chủ còn giữ được lương tri.
Nhưng khi cánh cửa gỗ mục nát khẽ hé mở ra sau ba tiếng gõ nhịp nhẹ, cảnh tượng phơi bày bên trong căn lều rách nát khiến bước chân Ninh Chiêu khựng lại giữa bậu cửa.
Gian nhà tồi tàn không hề có lấy một bếp lửa sưởi ấm trong đêm đông lạnh giá, chỉ có mùi tro ẩm mốc nồng nặc bốc lên từ vách đất và tiếng thở rít khò khè, nặng nhọc như tiếng ống bễ rách vang ra từ chiếc chõng tre ọp ẹp đặt ở góc tối. Trên chõng, một thanh niên trạc tuổi Bùi Sách đang nằm co quắp dưới manh chiếu rách. Gương mặt người đó xám ngắt như màu tro chết, lồng ngực lõm sâu xuống một cách biến dạng, từng cơn ho giật giũa dữ dội khiến bọt mép trào ra khóe môi tím tái bầm dập. Đó chính là triệu chứng điển hình của chứng nhiễm tro khoáng cấp tính—thứ bụi quặng kim loại nặng cực độc rò rỉ từ đài tế đã ăn sâu vào từng phế nang, làm mủn rách đường thở từ bên trong cơ thể.
Bên cạnh chõng tre, trên chiếc ghế con bằng gỗ thông gãy một chân, một chiếc bát sành mẻ góc chứa một chút bột màu vàng nhạt hòa tan với nước ấm—thứ thuốc bột độc quyền do đích thân người của phủ Quan Tế cấp phát mỗi tuần một lần cho những hộ gia đình hạ trấn có người thân từng phục vụ các nghi lễ bí mật của tông môn.
Thấy bóng người lạ bước vào cùng vạt áo thô mang vết tích của đệ tử Thanh Lư Tông, Lão Quách giật nảy mình hoảng hốt, làm rơi vỡ chiếc thìa gỗ cũ kỹ xuống nền đất nện. Khi Bùi Sách tiến lên một bước, cố gắng hạ giọng giải thích rõ mục đích xin lời khai và đối chiếu các bản vẽ nẹp xương cũ để làm chứng cứ trước công luận tông môn, gương mặt nhăn nheo như vỏ cây khô của lão thợ già bỗng chốc trắng bệch ra vì kinh hoàng tột độ.
"Không... không thể được đâu các tiên sinh ơi!"
Lão Quách run rẩy lùi dần về phía góc tường, rồi bất thần quỳ sụp hai gối xuống nền đá ẩm ướt lởm chởm mùn than ngay trước cửa gian nhà. Đôi bàn tay xương xẩu, đen đúa vì bồ hóng của lão bám chặt lấy gấu áo cộc của Bùi Sách, đầu đập chan chát xuống mặt đá lạnh ngắt:
"Tôi lạy các ngài... tôi van lạy các vị tiên trưởng! Xin hãy mở lòng từ bi tha cho cha con tôi một con đường sống sót qua mùa đông này! Thằng con trai duy nhất của tôi... hai lá phổi của nó nát bấy hết cả rồi, nó chỉ sống lay lắt được qua ngày là nhờ vào gói bột thanh phế của phủ Quan Tế phát cho mỗi sáng đầu tuần thôi. Nếu tôi dại dột đứng ra nói nửa lời, nếu cái tên già nua này của tôi xuất hiện trên bất kỳ tờ giấy tờ nào của các ngài, người của Đỗ quản sự sẽ lập tức cắt thuốc ngay không thương tiếc! Không có thứ bột thuốc cầm cự đó, chưa đợi hết tuần trăng này, con tôi nó sẽ chết ngạt... nó sẽ ho hộc máu ra mà chết nghẹn giữa mùa bão tro này mất thôi!"
Tiếng khóc xé lòng, tức tưởi của người cha già hòa lẫn vào tiếng mưa tro xào xạc rơi trên mái rạ rách nát ngoài trời.
Bầu không khí bên trong căn nhà rách nát bỗng chốc chùng hẳn xuống, ngột ngạt và căng thẳng đến mức dường như có thể bóp nghẹt lồng ngực từng người có mặt.
Hai đệ tử ngoại môn trẻ tuổi đi cùng nhóm—những thiếu niên vừa tận mắt chứng kiến sự dối trá trơ trẽn của thể chế tại Nghị Sự Đường và đang mang trong mình một bầu nhiệt huyết sôi trào muốn đạp đổ bất công—bắt đầu lộ rõ vẻ bức xúc không kìm nén nổi. Một người siết chặt nắm đấm đến trắng bệch các khớp ngón tay, sấn bước tới gần chiếc chõng tre, giọng nói nghẹn ngào pha lẫn phẫn nộ cùng cực:
"Quách đại thúc! Thúc có biết chín mạng người đồng môn vô tội khác sắp bị đưa vào chỗ chết không? Thúc có biết cỗ máy đài Huyền Khuyết kia đang ngày đêm nuốt chửng xương tủy của bao nhiêu đệ tử chúng tôi không? Chỉ cần thúc chịu đứng ra làm chứng, dùng chính những chiếc nẹp xương và sổ ghi chép năm xưa vạch trần cỗ máy giết người đó, các viện chủ sẽ buộc phải đình chỉ đại lễ Bổ Khuyết ngay lập tức! Cứu lấy chín người sống, cứu lấy hàng ngàn người sau này... chẳng lẽ tất cả những điều đó không đáng để thúc nói ra một lời sự thật sao? Thúc hèn nhát lẩn tránh như vậy là đang gián tiếp tiếp tay cho tội ác của họ Đỗ!"
"Đúng thế! Vì đại cuộc chung của toàn bộ tông môn, thúc không thể chỉ biết ích kỷ nghĩ cho riêng mạng sống của con trai mình được!" Người đệ tử thứ hai cũng không giữ được bình tĩnh gắt lên, bàn tay toan vươn ra túm lấy vai áo tả tơi của lão thợ già để lôi xốc dậy.
"Dừng tay lại ngay!"
Một tiếng quát sắc gọn, lạnh tanh như nhát búa thép nện thẳng trên mặt đe nguội bất thần vang lên đanh thép.
Ninh Chiêu bước vụt lên phía trước, thân hình mảnh khảnh nhưng vững vàng chắn ngang giữa hai người đệ tử trẻ tuổi và lão thợ già đang run lẩy bẩy dưới nền đất. Ánh mắt cô quét qua từng gương mặt đồng môn, nghiêm khắc, sắc sảo và dứt khoát đến mức khiến cả hai thiếu niên bất giác giật mình lùi lại nửa bước.
"Tỷ... chúng ta đang rất cần chứng cứ y khoa độc lập mà!" Người đệ tử trẻ cố gắng thanh minh, đôi mắt đỏ hoe vì uất ức. "Nếu không có lời chứng và các bản vẽ nẹp của Lão Quách, toàn bộ bản ghi chép giải phẫu của Trần bác sĩ sẽ bị Đỗ Kính dễ dàng bác bỏ là ngụy tạo nhằm bôi nhọ đại lễ!"
"Im lặng hết cho ta," Ninh Chiêu gằn giọng từng tiếng một, thanh âm không hề gắt gỏng nhưng lại mang theo toàn bộ sức nặng của một người thợ rèn cả đời chỉ quen nhìn thẳng vào điểm đứt gãy thực tế của thanh thép. "Các đệ muốn nhân danh việc cứu lấy chín người xa lạ để tước đoạt đi hơi thở cuối cùng của đứa con trai lão sao? Nếu thứ công lý mà chúng ta đang theo đuổi lại đòi hỏi phải dẫm đạp lên mạng sống ngắc ngoải của một gia đình khốn cùng để đổi lấy bằng chứng, thì thứ công lý đó khác gì sự tính toán tải sống lạnh lùng, tàn nhẫn của Đỗ Kính trên đài tế kia?"
Cô chầm chậm quỳ một gối xuống nền đá lạnh ngắt, đưa bàn tay phải còn lành lặn nhẹ nhàng đỡ lấy hai khuỷu tay gầy guộc run rẩy của Lão Quách, cẩn trọng nâng lão đứng dậy khỏi vũng bùn than dơ dáy.
Bàn tay cô chạm vào đôi bàn tay thô ráp của người thợ già—những vết sẹo sâu do quai búa va đập, những vết chai sần dày cộm do cả một đời mài dũa kim loại truyền sang da thịt cô một cảm giác thân thuộc đến nhói buốt tâm can. Đó cũng chính là đôi bàn tay của cha cô, của bác thợ rèn Vũ Kha, của biết bao người thợ lam lũ đang còng lưng đổ mồ hôi dưới chân núi Lạc Hạc này để cung phụng cho đỉnh núi cao vời vợi.
"Lão thúc, đừng sợ hãi nữa," Ninh Chiêu cất giọng trầm tĩnh, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào đôi mắt đục ngầu ầng ậc nước mắt của Lão Quách. "Thúc không cần phải đứng ra làm chứng trước bất kỳ ai. Thúc cũng không cần phải điểm chỉ hay ký tên vào bất cứ tờ giấy nào của chúng tôi cả."
Lão Quách ngơ ngác nhìn cô gái thợ rèn trước mặt, bờ môi run rẩy mấp máy mãi mà không thốt nên lời.
Ninh Chiêu buông tay lão ra, bước lại gần chiếc chõng tre ọp ẹp, khẽ cúi người quan sát kỹ tư thế của người thanh niên đang nằm thoi thóp. Với con mắt tinh tường của một thợ rèn bậc thầy hiểu rõ cấu trúc chịu lực của xương và khớp, cô lập tức nhận thấy chiếc nẹp gỗ cố định xương ức của anh ta đã bị xô lệch sang một bên do va đập, những sợi dây gai thô buộc quá chặt vào mạng sườn khiến lồng ngực bị ép cứng, không thể nở rộng ra để lấy dưỡng khí khi cơn co giật ập đến. Bằng những ngón tay khéo léo và chuẩn xác, cô cẩn thận tháo từng mối thắt lỗi thời, nắn chỉnh lại góc nghiêng của hai thanh nẹp tre cho vừa vặn với biên độ phập phồng của lồng ngực, rồi dùng kỹ thuật quấn dây chéo chữ thập để phân tán đều áp lực, giải phóng hoàn toàn sự chèn ép lên vùng xương sườn bị tổn thương.
Tiếng thở khò khè dữ dội của người thanh niên dần dần dịu lại, từng nhịp thở trở nên đều đặn và sâu hơn, sắc tím tái trên gò má cũng bớt đi đôi chút.
Ninh Chiêu đứng thẳng dậy, thọc tay vào trong tay áo rộng, rút ra một bọc nhỏ bọc bằng lá chuối khô chứa vài mẩu sáp ong tinh chế nguyên chất và nửa thang thuốc thanh phế mà bác sĩ Trần Mộc đã chia riêng cho cô để dưỡng thương sau tai nạn nổ lò, nhẹ nhàng đặt lên mặt chiếc bàn gỗ con:
"Thứ thuốc này có thể hòa với nước ấm để uống dặm thêm giữa các cữ thuốc của phủ Quan Tế, nó sẽ giúp làm mát cổ họng, long đờm và bớt rát buốt phế quản. Lão thúc hãy giữ lấy mà chăm sóc cho đệ ấy. Cánh cửa sau của gian nhà này... đêm nay chưa từng có ai bước vào cả."
Lão Quách trân trân nhìn bọc thuốc đặt trên mặt bàn, rồi lại ngước nhìn bóng lưng thẳng tắp, kiên định của Ninh Chiêu đang bước ra cửa. Hai hàng nước mắt đục ngầu bỗng chốc lăn dài trên những nếp nhăn nheo hằn sâu nơi khóe mắt. Lão run rẩy chắp hai bàn tay gầy trơ xương trước ngực, nghẹn ngào cúi rạp người xuống sát đất trong sự cảm kích khôn nguôi khi nhóm người lặng lẽ lùi dần vào bóng tối của con hẻm.
***
Bước chân ra đến đầu hẻm, những cơn gió cuốn theo mưa tro khoáng lại quất rát rạt vào da mặt. Hai người đệ tử ngoại môn trẻ tuổi cúi gằm mặt xuống đất, bờ vai chùng hẳn xuống trong sự xấu hổ tột cùng và nỗi im lặng nặng nề bủa vây.
"Ninh tỷ... đệ thực sự xin lỗi," người đệ tử lúc nãy định xông vào lôi Lão Quách lí nhí cất tiếng, giọng nói nghẹn lại nơi cuống họng. "Đệ đã quá nóng vội... đệ suýt nữa đã làm hỏng tất cả."
"Không phải đệ nóng vội, mà là đệ đang sợ hãi," Ninh Chiêu không dừng bước, đôi chân vẫn duy trì nhịp điệu vững chãi, đều đặn trên nền sỏi vụn lạo xạo. "Ai trong chúng ta đứng trước cỗ máy khổng lồ kia cũng đều sợ hãi nó sẽ tiếp tục nuốt chửng thêm những người vô tội. Nhưng một thanh kiếm sắc rèn ra là để bảo vệ kẻ yếu, nếu mũi kiếm đó cứ nhằm vào những kẻ hoàn toàn không có khả năng tự vệ mà đâm tới để đạt được mục đích của mình, thì thanh kiếm đó thực chất đã bị mẻ gãy ngay từ khi còn nằm trong lò luyện rồi. Chúng ta tuyệt đối không thể ép buộc người khác phải trở thành anh hùng khi cái giá mà họ phải trả là mạng sống của chính con cái họ."
Bùi Sách đi sát bên cạnh cô, khẽ gật đầu đồng tình, ánh mắt nhìn sang người thợ rèn trẻ tuổi tràn ngập vẻ kính phục sâu sắc. Cậu rút tấm sổ tay bằng giấy bản bọc da cá kẹp trong túi cứu thương ra, dùng mẩu than chì nhỏ gạch dứt khoát một đường ngang qua dòng chữ ghi tên Lão Quách:
"Tầng chứng cứ nhân chứng sống từ phía y xá coi như đã bị khuyết mất một góc quan trọng. Giờ chúng ta phải xoay xở thế nào đây tỷ?"
"Chuyển hướng toàn bộ sang chứng cứ vật chất," Ninh Chiêu đáp dứt khoát không một chút do dự, ánh mắt cô lóe lên ngọn lửa kiên định của một người thợ cả trước bản vẽ kết cấu phức tạp. "Lời nói của con người có thể bị bóp nghẹt bằng sự đe dọa, sợ hãi hoặc những thang thuốc cứu mạng, nhưng kim loại, đá hoa cương và các con số trên sổ sách kế toán thì vĩnh viễn không biết nói dối. Đỗ Kính có thể thao túng toàn bộ hồ sơ nhân sự của Chấp Pháp viện, có thể đổi trắng thay đen trong các biên bản thẩm vấn, nhưng lão ta không thể tự mình đứng ra đúc các trục van chịu áp lực cực cao, cũng không thể tự tay đào hàng tấn than chì từ lòng đất lên đài tế."
Cô dừng bước trong giây lát, hướng tầm mắt nhìn về phía những cột khói xám xịt đang bốc lên âm ỉ giữa màn đêm từ khu phố thợ rèn nằm rải rác phía đông trấn Lò Khê:
"Cơ cấu Cửu Giá muốn vận hành trơn tru dưới áp lực ngầm khổng lồ của đài Huyền Khuyết bắt buộc phải tiêu tốn một lượng cực lớn than chì nghiền mịn đạt độ tinh khiết cao để làm chất bôi trơn chịu nhiệt, hàng trăm cân bạc rèn để tráng phủ các rãnh dẫn rút tủy linh lực, và đặc biệt nhất là các cụm trục van hợp kim chịu áp suất cao do chính Viện Công Tượng đặt hàng riêng biệt. Toàn bộ những khối lượng kim loại và khoáng vật khổng lồ đó không thể nào đi qua cổng chính của tông môn dưới sự giám sát thông thường, mà bắt buộc phải trung chuyển qua các trạm cân tải trọng của Hội thợ lò nằm rải rác dưới hạ trấn. Chúng ta sẽ tiến hành đối chiếu toàn bộ các hóa đơn mua bán vật tư, các phiếu cân tải trọng xe chở quặng và sổ kho xuất nhập của từng xưởng đúc độc lập trong suốt ba năm qua."
Nhóm người nhanh chóng chia nhau tản ra các hướng trong đêm, liên lạc chặt chẽ với mạng lưới đệ tử tạp dịch, phu khuân vác và con em của các gia đình thợ lò trung thành.
Suốt hai canh giờ tiếp theo của đêm đông lạnh giá, các điểm tập kết bí mật tại các trạm cân phế liệu và xưởng quặng bắt đầu âm thầm vận hành hết công suất. Những tập hóa đơn ố vàng bám đầy bụi bặm, những mảnh phiếu giao nhận than đá có đóng dấu mộc đỏ của phường Nam Trụ từ nhiều năm trước, những bản kê khai xuất kho bạc rèn vụn được các đệ tử ngoại môn lén lút gom góp từ xưởng rèn của bác Vũ Kha và các lò đúc tư nhân rải rác khắp các sườn đồi chân núi Lạc Hạc.
Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu lạc bên trong căn hầm chứa than cũ kỹ của một xưởng rèn đã bỏ hoang từ lâu—nơi được chọn làm điểm tập kết tài liệu tạm thời của cả nhóm—Ninh Chiêu cùng các đồng môn cẩn thận trải phẳng từng mảnh giấy nhăn nheo, từng tờ phiếu cân rách nát lên mặt một chiếc đe sắt gỉ sét lớn đặt ở giữa phòng.
Dưới ngòi bút than chì sắc lẹm và sự đối chiếu tỉ mỉ, những con số khô khốc tưởng chừng vô tri bắt đầu tự cất lên câu chuyện tàn khốc và đẫm máu của chúng: lượng bạc rèn xuất kho luôn tăng vọt một cách bất thường vào đúng những tháng trước mỗi kỳ đại lễ phi thăng của các bậc trưởng lão tiền nhiệm; số lượng trục van hợp kim chịu áp lực cao được ghi chú ngụy trang là 'vật tư thay thế cho đường hầm mỏ than Lạc Hạc', nhưng khi soi kỹ vào các thông số kỹ thuật, từng kích thước ren vặn, từng góc vát và bước ren lại trùng khớp một cách hoàn hảo đến rợn người với quy cách của cống ngầm số Bảy và cụm van điều áp ở đáy Giếng Mặc.
"Trùng khớp hoàn toàn rồi," Ninh Chiêu đặt đầu ngón tay dính đầy muội than đen nhẻm vào một tờ phiếu cân tải trọng đề ngày tháng của mùa đông năm ngoái. "Tháng Chạp năm ngoái, một khối lượng khổng lồ gồm sáu trục van bằng đồng thiếc đặc chủng có khả năng chịu áp lực ba ngàn cân đã được chuyển thẳng vào chân đài Huyền Khuyết dưới danh nghĩa vật tư phòng hộ gia cố chống sụt lở mùa đông. Đây chính là bằng chứng vật chất thứ hai, hoàn toàn độc lập với các bản ghi chép y khoa hay lời khai của các nhân chứng sống, đủ sức đập tan mọi luận điệu ngụy biện của Đỗ Kính trước hội đồng các viện chủ."
Cả căn hầm than ẩm thấp bỗng chốc như sáng bừng lên trong mắt những người đệ tử trẻ tuổi. Niềm hy vọng mong manh sau những giờ phút trốn chạy nghẹt thở vừa mới nhen nhóm le lói trong lòng từng người, thì bất thần, tiếng bước chân chạy dồn dập, hoảng loạn và dồn dập từ phía ngoài cửa ngách ngầm dội tới.
*RẦM!*
Cánh cửa gỗ mục nát bị một lực đẩy dữ dội hất tung ra, đập mạnh vào vách đá. Gió lạnh từ thung lũng thốc thẳng vào căn hầm cuốn theo một màn mưa tro khoáng xám xịt làm ngọn đèn dầu lạc chao đảo dữ dội, tim đèn lụi dần rồi suýt chút nữa tắt ngấm giữa màn đêm.
Lê Vãn đứng sững sờ ngay ở ngưỡng cửa ngập ngụa bùn than. Chiếc áo tơi tẩm dầu gai khoác trên người chị rách tả tơi từng mảng lớn, ướt sũng nước mưa tro lạnh ngắt, dính bết chặt vào hai bên vai gầy guộc. Tóc tai chị rũ rượi bết bát vào trán và má, hai bàn tay buốt cóng trầy xước rướm máu tươi đang ôm ghì lấy một chiếc ống đồng trắc địa đã bị móp méo một góc lớn do va đập trên đường tháo chạy.
Gương mặt người nữ khảo cứu trận pháp trắng bệch không còn một giọt máu thừa thãi, lồng ngực phập phồng thở dốc từng cơn dữ dội, đôi môi thâm tím run rẩy bần bật đến mức không thốt nên lời.
Ninh Chiêu lập tức đứng phắt dậy khỏi chiếc đe sắt, bước nhanh tới đỡ lấy cánh tay đang run rẩy không ngừng của Lê Vãn: "Lê Vãn! Bình tĩnh lại đã! Có chuyện gì xảy ra ở trạm đo chấn động địa tầng phía bắc vậy?"
Lê Vãn níu chặt lấy cánh tay Ninh Chiêu, móng tay cắm sâu vào lớp vải thô của tay áo cộc, đôi mắt mở to trừng trừng đầy vẻ kinh hoàng tột độ như vừa nhìn thấy đáy địa ngục mở toang ra trước mắt. Chị cố sức nuốt một ngụm khí lạnh buốt làm rát bỏng cả cuống họng, giọng nói đứt quãng, run rẩy cất lên xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của căn hầm:
"Không... không thể kịp năm ngày nữa đâu! Toàn bộ tính toán đều sụp đổ rồi! Trạm đo chấn động ngầm vừa ghi nhận một xung lực sụt áp cực đại xuất hiện từ tâm đài... Đỗ Kính... lão ta vừa ký lệnh điều động thiết giáp khẩn cấp! Chín người có tên trong danh sách Bổ Khuyết đã bị phân đội lính thiết giáp Chấp Pháp viện ập vào phòng áp giải thẳng xuống hầm ngầm ngay trong đêm nay rồi... Đại lễ... toàn bộ đại lễ Bổ Khuyết sẽ diễn ra sớm hơn ba ngày!"