Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.25 / 40
Chapter 25

Bình an có chữ ký

Phòng Quan Tế lặng ngắt như tờ, chỉ có mùi trầm hương nồng đậm hòa lẫn mùi bột than đá cháy âm ỉ trong chiếc lò sưởi bằng đồng tráng bạc kê sát vách đá hoa cương.

Ninh Chiêu đứng sững giữa gian phòng thênh thang, hai bàn chân xỏ trong đôi hài vải gai đế mỏng bám chặt lấy mặt đá xám bóng loáng được mài nhẵn thín. Mặt sàn lạnh như băng, nhưng luồng dưỡng khí nhân tạo ấm sực, khô khốc phả ra từ các rãnh dẫn nhiệt âm tường lại thốc thẳng vào mặt, ngột ngạt và mang theo vị mặn chát của tro khoáng tinh luyện. Sự ấm áp giả tạo ấy không thể nào xoa dịu được cảm giác buốt nhói đang cắn xé dọc theo cẳng tay trái của cô. Dưới lớp vải thô tẩm mỡ trăn quấn chặt năm vòng từ cổ tay lên đến tận khuỷu, những dải gân duỗi bị co rút nghiêm trọng do di chứng bỏng sâu từ vụ hỏa hoạn thiêu rụi kho Nam Trụ đêm nọ vẫn khẽ giật giật từng cơn. Mỗi nhịp đập của mạch máu dưới da lại kéo căng lớp vảy sẹo non đỏ ửng, buốt rát như có hàng trăm mũi kim nung đỏ găm thẳng vào màng xương.

Bên ngoài khung cửa sổ khoét sâu vào vách núi với những chấn song bằng thép tròn to bản, gió đêm trên đỉnh Huyền Khuyết rít qua khe đá tạo thành từng hồi âm u, rền rĩ như tiếng thở dài nghẹn ứ của một con thú khổng lồ bị giam cầm dưới lòng đất đang hấp hối. Lệnh trục xuất cô khỏi khuôn viên sơn môn Thanh Lư Tông đã được viện Chấp Pháp ấn triện son đỏ chót vào hồi đầu giờ Thân chiều nay. Bản án khắc nghiệt dán ngay trước cổng tam quan, định rõ chỉ cần tiếng chuông đầu canh năm rạng sáng mai điểm hồi thứ nhất, mọi quyền cư trú, rèn đúc và đi lại của cô sẽ lập tức bị hủy bỏ, kèm theo biện pháp cưỡng chế hạ sơn áp giải dưới mũi giáo của đệ tử tuần kiểm.

Thế nhưng, khi màn đêm chỉ vừa trôi qua giữa canh ba, hai tên thị vệ khoác áo tơi đen thêu chìm phù hiệu mây sấm của phủ Quan Tế đã bất ngờ gõ cửa gian chái tạm nơi cô bị quản chế. Bọn chúng không mang theo gông cùm, nhưng chuôi đao cật tre bóng nước luôn tì chặt vào hông, lẳng lặng áp giải cô qua những lối bậc đá vắng tanh, vượt qua ba tầng trạm gác nghiêm mật để dẫn thẳng vào căn mật thất sâu nhất của đỉnh núi này.

Phía sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ mun bóng loáng dài hơn một trượng, Quan Tế Đỗ Kính ngồi tĩnh lặng như một pho tượng cổ khắc từ đá quặng.

Bộ trường bào màu xám tro dệt bằng sợi bông chịu lửa thượng hạng rủ từng nếp thẳng tắp xuống sàn đá, trên vạt áo thêu tỉ mỉ hình chín nhánh rễ cổ thụ uốn lượn đan bện vào nhau, tuyệt nhiên không vướng lấy một hạt bụi than dù nhỏ nhất. Người đàn ông năm mươi sáu tuổi khẽ nâng mí mắt nặng trĩu. Đôi mắt ông ta có màu vàng đục của hổ phách lâu năm, mờ mịt bởi sương khói tế tự nhưng lại sắc lẻm, thấu suốt từng biến chuyển nhỏ nhất trên cơ thể cô thợ rèn trẻ tuổi đang đứng chôn chân cách đó năm thước.

Trên ngón trỏ bàn tay phải của Đỗ Kính, chiếc nhẫn đúc bằng bạc nguyên chất chạm khắc phù hiệu cân áp mạch đất hình chữ U khuyết góc thỉnh thoảng lại phát ra một vệt lân quang màu lam lạnh buốt. Thứ ánh sáng mỏng manh ấy không chớp nháy ngẫu nhiên, mà co bóp chuẩn xác theo từng nhịp chấn động rất khẽ, rất sâu vọng lên từ tầng móng bằng đá thiên thạch của đài Huyền Khuyết.

Là một người thợ rèn gắn bó với bễ lửa từ thuở lên mười, Ninh Chiêu nhận ra ngay nhịp rung ấy. Đó là nhịp đập hụt hơi, rối loạn của một cỗ máy ngầm đang thiếu hụt trầm trọng linh lực cân bằng. Đài tế đang đói. Hệ thống hấp thụ đang gầm gào trong thinh lặng, tự gia tốc từng khắc để chuẩn bị cho kỳ nạp nuốt tiếp theo nhằm gượng gạo duy trì màn chắn bảo hộ trước khi mùa bão tro ập xuống.

Đỗ Kính không vội lên tiếng. Bằng một động tác chậm rãi, khoan thai đến rợn người của kẻ đã nắm giữ sinh mệnh của hàng vạn con người suốt ba thập kỷ, ông ta vươn những ngón tay khẳng khiu, nổi rõ từng khớp xương xanh xao mở nắp một chiếc ống đồng dài chạm hoa văn thủy ba đặt ở góc bàn. Từ bên trong ống đồng, một cuộn giấy da trâu dày cộp, ngả màu sáp ong được rút ra. Bàn tay đeo nhẫn bạc thong thả trải rộng tấm bản đồ lên mặt gỗ mun đen tuyền.

Đó là tấm hải đồ tro của toàn cõi Hạ Lĩnh, ghi chép liên tục suốt ba mươi năm qua.

Mặt giấy da thô ráp đã ố vàng theo năm tháng, mép giấy sờn rách được bọc viền đồng mỏng, bên trên chi chít những nét vẽ bằng mực son đỏ, mực nho đen kịt và cả những vệt quét bằng muội than nguyên chất nhằm mô tả hướng di chuyển, lưu lượng và mật độ của các luồng gió khoáng mang theo tro độc quét qua từ vùng biển tro đông bắc. Nhưng thứ khiến sống lưng người ta lạnh toát không phải là những đường bình độ địa hình hay vận tốc gió bão, mà là những vòng tròn mực đỏ đậm đặc, tầng tầng lớp lớp bao quanh các khu dân cư, bên cạnh mỗi vòng tròn đều có những dòng chữ nhỏ li ti ghi chép tỉ mỉ từng con số thương vong, số lượng đất đai bị nhiễm toan và khối lượng tro lắng đọng tính bằng vạn cân.

"Đến gần đây mà nhìn, Ninh Chiêu." Giọng Đỗ Kính cất lên, trầm thấp, khàn đục và đều đều như tiếng hai phiến đá thô cọ xát vào nhau giữa lòng suối cạn. Âm điệu của ông ta hoàn toàn bình thản, không chứa đựng mảy may sát khí hay sự hằn học của kẻ vừa ký lệnh tước đoạt sinh kế, dồn ép cô vào bước đường cùng cách đây vài canh giờ.

Ninh Chiêu siết chặt quai hàm, bước lên ba bước. Tiếng đế giày vải nện xuống sàn đá hoa cương vang lên đanh gọn giữa không gian tĩnh mịch. Cô dừng lại ngay sát mép bàn mun, đôi mắt đen sâu thẳm quét qua mặt giấy da lấm tấm bụi than mịn chưa kịp lau sạch.

Đầu ngón tay trỏ đeo nhẫn bạc của Đỗ Kính gõ nhẹ xuống một điểm đen bị gạch chéo ba lần bằng mực son ở góc đông nam bản đồ:

"Năm Thiên Hưng thứ mười chín, gió tro cực đại mang theo nồng độ toan khoáng vượt ngưỡng mười lần bất ngờ chuyển hướng, đổ ập vào thung lũng Ô Thạch. Trụ chắn số Bốn của màn bảo hộ khi đó thiếu tải nạp linh lực cân bằng từ mạch nguồn ngầm, hệ thống van áp suất kẹt cứng, sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng nửa canh giờ ngắn ngủi."

Ngón tay ông ta ấn mạnh xuống mặt giấy, móng tay cào nhẹ lên lớp da trâu khô khốc:

"Thị trấn Ô Thạch có bảy ngàn hộ dân, một vạn bốn ngàn miệng ăn bị tro khoáng nóng chôn sống chỉ sau một đêm duy nhất. Máu tươi hòa lẫn bùn toan đóng thành từng khối đá tảng xám xịt phủ kín cả đáy thung lũng. Mười năm sau đó, khi đội công tượng của tông môn mang búa tạ và xà beng xuống khai quật để tái thiết lại trục đường khoáng sản, thịt xương của những kẻ chết ngạt năm ấy vẫn dính chặt vào đáy xỉ thép, không tài nào cạo ra hết được."

Đỗ Kính khẽ chuyển dịch bàn tay, lướt ngón tay sang một vệt mực đỏ loang lổ kéo dài như một vệt máu khô ở mép biển tro:

"Năm Thiên Hưng thứ hai mươi sáu, bến Tảo Khê, hai vạn người chết ngạt tại chỗ khi tro độc rò rỉ qua vết rách ở mảng chắn hướng đông. Tro độc bám vào khí quản, ăn thủng phổi từ bên trong, khiến những người sống sót thoi thóp nôn ra từng bọc máu đen đặc suốt ba tháng ròng rã trước khi tắt thở. Khi màn chắn Huyền Khuyết hụt áp, không một bức tường thành nào xây bằng đá tảng, không một loại giáp trụ nào rèn bằng huyền thiết có thể cản nổi lớp tro ăn mòn ghê gớm ấy. Cả cõi Hạ Lĩnh này có thể trụ vững qua từng ấy năm tháng phong ba, người dân Lò Khê các ngươi có thể an ổn nhóm lửa quai búa, mua than đổi gạo, cưới vợ gả chồng, nuôi nấng con cái khôn lớn thành người... cô nghĩ là nhờ vào cái gì? Nhờ vào lòng từ bi của trời đất sao? Không. Là nhờ một đài tế luôn được cấp đủ tải nạp để giữ vững bức tường vô hình này trước cuồng nộ của biển tro."

Đỗ Kính ngước mắt nhìn thẳng vào Ninh Chiêu. Đôi đồng tử đục mờ của ông ta phẳng lặng như mặt nước giếng sâu ngậm băng vào giữa mùa đông giá rét:

"Ba mươi năm qua, chiếc bút lông này của ta đã ký không biết bao nhiêu bản thống kê tổn thất như thế này. Mỗi một nét mực hạ xuống là hàng ngàn, hàng vạn cái tên vĩnh viễn bị gạch bỏ khỏi sổ đinh. Người đứng ở vị trí của ta, nhìn từ đỉnh Huyền Khuyết này nhìn xuống, không thể và không được phép nhìn thấy từng người thợ rèn, từng gã phu xe hay từng đệ tử riêng lẻ. Thứ duy nhất ta được phép nhìn thấy là một cán cân: một bên là một nắm người làm vật tiêu hao, bên kia là mười vạn sinh mạng của cả một vùng đất phì nhiêu màu mỡ."

Ninh Chiêu siết chặt những ngón tay phải vào mép vạt áo chàm thô ráp. Lớp vải dệt sợi bông thô ráp cọ vào lớp da chai sạn nơi lòng bàn tay cô phát ra tiếng sột soạt rất khẽ. Giọng cô cất lên, khàn đặc vì hít phải khói lò nhưng rắn đanh như một thanh thép vừa qua tôi nước lạnh:

"Quan Tế gọi một nắm người đó là vật tiêu hao? Ngài dùng cái từ ngữ hoa mỹ, lạnh lùng ấy để xóa sạch máu thịt của đồng loại sao? Lục Viễn Chu mới chỉ mười bảy tuổi, thằng bé còn chưa rèn xong thanh kiếm nhập môn của riêng mình. Trần Khôi, Triệu Mẫn... họ cũng có cha mẹ già còng lưng tựa cửa, có huynh đệ đồng môn ngày đêm ngóng đợi tin tức ở các xóm thợ dưới chân núi. Các người lừa họ ký vào những tờ khế ước vay nợ mười lăm đồng bạc với lãi suất cắt cổ, rồi dùng quyền lực của viện Chấp Pháp để gạt bỏ tên họ khỏi sổ môn phái bằng những cái cớ bẩn thỉu như trốn nợ, phản môn hay mắc dịch bệnh truyền nhiễm. Sau đó, các người lén lút trói họ vào chín chiếc giá sắt dưới đáy buồng giếng Mặc, để những chiếc vuốt bạc tẩm phù văn cào nát cột sống của họ, bòn rút từng giọt tủy kiếm sống cho đến khi họ chỉ còn là những cái xác khô queo không hồn! Đó là cách ngài giữ thăng bằng cho cán cân thiêng liêng của ngài sao?"

Đối diện với cơn giận dữ kìm nén của cô gái trẻ, Đỗ Kính không hề lộ ra một tia phẫn nộ. Ngược lại, khóe môi nhăn nheo của ông ta khẽ chùng xuống, bật ra một tiếng thở dài trầm buồn. Tiếng thở dài ấy chân thật và não nề đến mức khiến gian phòng càng thêm lạnh lẽo, tựa như một bậc trưởng bối giàu lòng trắc ẩn đang nhẫn nại trước sự bướng bỉnh, ngây thơ của một đứa trẻ chưa từng nếm trải phong ba cõi đời.

"Thế gian này vốn dĩ chưa từng hoàn hảo, Ninh Chiêu. Cỗ máy cổ xưa dưới lòng đất Huyền Khuyết vận hành theo quy luật tàn khốc của riêng nó, một quy luật sắt đá có từ ngàn năm trước, không phải do ta hay tông môn Thanh Lư tự tiện nghĩ ra. Muốn giữ mạng cho đa số, buộc phải có kẻ gánh chịu phần hao mòn của bánh răng. Đó là cái giá bắt buộc để duy trì trật tự."

Đỗ Kính dừng lại một nhịp, bàn tay khô héo khẽ đẩy nhẹ ngăn kéo nhỏ giấu dưới gầm chiếc bàn mun. Một tiếng lách cách tinh tế vang lên, ông ta cẩn thận nhấc ra một chiếc tráp dài làm bằng gỗ đàn hương đỏ sẫm, bên trong lót lụa vàng óng ánh. Nắp tráp đã mở sẵn, bên trong trống không, nhưng hai phần rãnh khoét sâu trên nền lụa có kích thước hoàn toàn trùng khớp để chứa một mảnh kiếm gãy bản hẹp và một chiếc then chốt kim loại hình chữ U.

"Lệnh trục xuất của viện Chấp Pháp đã ban ra vào chiều nay, mực son đã khô, thông tri đã gửi đến các trạm gác." Đỗ Kính nhìn sâu vào mắt Ninh Chiêu, giọng điệu của ông ta dần chuyển sang sự rành mạch, dứt khoát của một người nắm quyền tối cao đang mở ra một cuộc thương lượng sinh tử. "Nhưng cô nên nhớ, ta là Quan Tế của Huyền Khuyết. Ta là người duy nhất nắm giữ quyền năng phong ấn và giải trừ mọi quy chế cấm đoán trên toàn cõi núi này. Đêm nay, ta ngồi đây là để cho cô một lối thoát danh giá."

Ông ta chìa hai ngón tay gầy guộc, khẳng khiu về phía cô:

"Điều kiện của ta rất đơn giản. Thứ nhất, giao nộp mảnh kiếm Hàn Tủy mà cô đang cất giấu dưới đáy bễ rèn xưởng Lò Ninh. Thứ hai, giao nộp chiếc then chốt rèn nguội hình chữ U có khắc ba nhát đục nhận diện mà cha cô—Ninh Trác—đã lén lút tháo mang ra từ cụm van giảm áp số Ba dưới đáy giếng Mặc mười một năm trước. Thứ ba, vĩnh viễn ngậm chặt miệng về những gì mắt cô đã nhìn thấy dưới đáy Cửu Giá. Đặt bút ký vào bản cam kết tuân phục quy chế nghi lễ tuyệt đối trước bài vị tổ sư."

Nói đoạn, Đỗ Kính khẽ dùng đầu ngón tay gõ nhịp lên thành chiếc tráp gỗ đàn hương:

"Đổi lại, ngay trong đêm nay, trước khi tiếng chuông canh tư điểm, lệnh niêm phong đối với xưởng Lò Ninh sẽ lập tức bị hủy bỏ hoàn toàn. Ta sẽ đích thân phê chuẩn cấp cho xưởng rèn của gia đình cô quyền bao tiêu than đá loại một vô thời hạn từ mỏ Lạc Hạc danh tiếng, miễn trừ vĩnh viễn toàn bộ các khoản thuế tạp dịch, thuế xuất đao và phí bảo hộ phòng tro cho đến đời con cháu cô. Không những thế, ta sẽ ký lệnh xóa sạch mọi hồ sơ thẩm tra mang tính nghi kỵ đối với Ninh Trác trong tàng thư các của viện Chấp Pháp, chính thức truy nhận ông ấy là đại thợ cả có công lao duy tu hệ thống phòng hộ ngầm của tông môn, trả lại danh dự trong sạch tuyệt đối cho dòng họ Ninh. Gia đình cô, những người thợ phụ gắn bó với lò rèn của cô, sẽ có cơm ăn áo mặc no đủ, được che chở an toàn tuyệt đối dưới bóng râm của phủ Quan Tế cho đến hết đời."

Ninh Chiêu đứng chết lặng giữa gian phòng.

Từng lời nói của Đỗ Kính như những giọt chì nóng chảy rót thẳng vào tai cô, mang theo sức nặng ngàn cân của cơm áo gạo tiền, của sự sinh tồn trần trụi.

Suốt mười một năm đằng đẵng trôi qua kể từ cái đêm định mệnh khi cha cô biến mất không một dấu vết trong màn tro lạnh giá ven biển, cô đã phải gồng gánh cả một cơ nghiệp rách nát trên đôi vai gầy. Cô nhớ những ngày đông buốt giá phải còng lưng kéo chiếc bễ rèn cũ kỹ rách da, nhớ từng lần nuốt nhục cúi đầu mặc cả từng hào tiền than với lũ cai buôn bặm trợn của kho Nam Trụ. Cô nhớ những bữa cơm chỉ có cháo đậu nành mặn chát nuốt vội để kịp tiến độ giao đao, nhớ ánh mắt tuyệt vọng của những người thợ già trong lò khi nhìn làn da của chính mình nứt nẻ từng mảng vì nhiễm toan, từng đêm ngồi co ro bên vách đất ho rũ rượi ra những bọc đờm đặc quánh màu xỉ thép vì căn bệnh tro khoáng quái ác.

Một nét bút phê, một con dấu đỏ của Đỗ Kính lúc này có thể lập tức quét sạch mọi nỗi cơ hàn tích tụ suốt một thập kỷ qua. Nó có thể trả lại cho cô một mái lò ấm áp rực lửa, một cuộc đời bình lặng, no ấm và danh giá mà bất kỳ một người thợ rèn phàm nhân nào dưới chân núi Thanh Lư cũng thèm khát đến rỏ dãi.

Đó không phải là một lời hứa suông. Đó là một sự an toàn có thật, được bảo đảm bằng quyền lực tối thượng và tài nguyên vô tận của phủ Quan Tế.

Thấy Ninh Chiêu đứng im lìm không phản ứng, ánh mắt Đỗ Kính dường như thoáng dịu lại đôi chút. Ông ta ngả tấm lưng gầy còm ra phía sau chiếc ghế bọc da hươu, ánh nhìn xa xăm hướng về ngọn lửa than đang nhảy múa không khói trong chiếc lò sưởi bằng đồng tráng bạc. Nỗi đau đớn bị chôn chặt dưới lớp quyền uy suốt ba mươi năm qua bỗng chốc hé lộ qua từng nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt, làm giọng nói của ông ta chùng hẳn xuống, run rẩy thành một tiếng thì thầm nghẹn ngào:

"Cô nghĩ ta làm những điều này là vì lòng dạ độc ác, hay vì tham lam chút quyền bính phù phiếm này sao?" Đỗ Kính khẽ lắc đầu, khóe miệng giật giật chua xót. "Ba mươi năm trước... Vệ Lan, thê tử của ta, cũng từng đứng giữa trạm cấp thuốc lưu động ở chân núi như các cô bây giờ. Nàng là người phụ nữ nhân hậu nhất mà cõi Hạ Lĩnh này từng sản sinh ra. Năm ấy, khi cơn bão tro cực đại bất ngờ quét qua bình nguyên sớm hơn dự báo ba mươi ngày, màn chắn Huyền Khuyết sụp đổ tan tành vì thiếu hụt năng lượng cân bằng, nàng đã cởi bỏ chiếc mặt nạ lọc khí cuối cùng của mình để đeo vào mặt cho một đứa trẻ con phu xe đang ngất lịm bên đường."

Đỗ Kính nhắm nghiền hai mắt lại, nhưng những đường gân xanh trên trán ông ta giật mạnh:

"Ta đã chạy bộ rách toạc cả hai bàn chân trong bão tro để tìm nàng. Nhưng khi ta đến nơi, ta chỉ có thể bất lực ôm lấy thân thể nàng, tận mắt chứng kiến nàng chết ngạt trong vòng tay mình. Máu nàng trào ra từ hai khóe mắt, buồng phổi của nàng bị bụi khoáng nóng thiêu cháy đến khô quắt thành than. Nàng chết trong đau đớn tột cùng, chết cùng ba vạn hai ngàn sinh mạng vô tội khác của cõi đất này trong cái năm thảm khốc ấy."

Đỗ Kính đột ngột siết chặt nắm tay lại, chiếc nhẫn bạc cọ xát dữ dội vào mặt gỗ mun phát ra một tiếng rít ken két ghê người:

"Từ cái ngày tự tay chôn cất nắm xương tàn của Vệ Lan trên vách đá tro tàn, ta đã quỳ xuống thề trước vong linh nàng: chỉ cần đài Huyền Khuyết còn đứng vững, chỉ cần màn chắn vô hình này còn có thể che chở cho cõi Hạ Lĩnh, ta sẵn sàng gánh vác mọi tội nghiệt của thế gian, sẵn sàng đày đọa linh hồn mình xuống tầng địa ngục sâu nhất! Kẻ gánh vác việc chung buộc phải tôi luyện cho mình một trái tim bằng thép nguội. Hy sinh chín người xa lạ để cứu lấy mười vạn người vô tội không phải chịu thảm cảnh như thê tử của ta năm xưa, cái giá đó chẳng lẽ không đáng sao? Ninh Chiêu, cha cô—Ninh Trác, khi nhận lời xuống gia cố lại buồng Cửu Giá mười một năm trước, ông ấy cũng đã hiểu điều đó. Ông ấy hiểu rằng sự sinh tồn của muôn dân bá tánh không bao giờ có chỗ cho lòng thương hại yếu mềm của những kẻ đàn bà con trẻ!"

Không gian bên trong phòng Quan Tế dường như đông cứng lại sau những lời giãi bày gan ruột của người nắm giữ nghi lễ. Mùi trầm hương thanh tịnh lượn lờ trong không khí càng làm tăng thêm vẻ bi tráng, thiêng liêng của một kẻ mang tâm thế tử vì đạo, một người tự nguyện vác trên vai gánh nặng ngàn cân của số phận để đổi lấy sự tồn vong cho đồng loại.

Ninh Chiêu đứng đối diện với người đàn ông quyền lực đang chìm đắm trong tấm bi kịch vĩ đại của chính mình.

Nhưng trong đôi mắt đen láy của cô thợ rèn, không hề có lấy một tia dao động. Tuyệt nhiên không có sự bàng hoàng, cũng chẳng có chút cảm thông nào xuất hiện trên gương mặt góc cạnh phủ đầy bụi than của cô.

Khóe môi Ninh Chiêu khẽ nhếch lên, tạo thành một nụ cười lạnh buốt như lưỡi dao cạo.

"Quan Tế Đỗ Kính, ngài nói những lời này thật sự rất hay, rất cảm động." Ninh Chiêu cất giọng, từng âm tiết nhả ra đều đặn, nặng trịch rơi xuống mặt sàn đá hoa cương tựa như những nhát búa tạ nện thẳng vào mặt đe thép. "Ngài đã mang cái chết bi thảm của lệnh phu nhân ra làm tấm bình phong suốt ba mươi năm qua, dùng nó như một thứ thuốc phiện để tự ru ngủ lương tâm mình rằng mọi hành vi tàn nhẫn ngài làm đều là vì sự nghiệp chung của thiên hạ. Nhưng ngài có dám bước ra trước đài cao, đứng trước mười vạn người dân đang run rẩy dưới chân núi để nói cho họ biết: sau cái chết của vợ ngài, gia tộc họ Đỗ của ngài đã nhận được những gì từ đài Huyền Khuyết này không?"

Đôi đồng tử màu hổ phách của Đỗ Kính khẽ co rút lại thành hai điểm nhọn hoắt.

Ninh Chiêu không hề lùi bước dù chỉ nửa tấc. Cô tiến thêm một bước dài, bàn tay phải thô ráp chống thẳng xuống mặt bàn gỗ mun, cúi sát người đối diện với gương mặt già nua đang bắt đầu biến sắc của ông ta:

"Ai là người vừa đặt bút ký tiếp bản hợp đồng độc quyền vận tải tro khoáng và cung ứng than đá cho toàn bộ hệ thống đài tế mười ngày trước? Chính là đội xe Nam Trụ của cháu trai ruột ngài, Đỗ Tuyên! Mười hai cỗ thùng xe làm bằng gỗ sồi bịt đai sắt chở đầy thứ bùn tro đặc quánh rút ra sau lễ tế nạp mạng của sư huynh Tạ Vân đêm hôm đó... chúng có từng được đưa đi thanh tẩy tà khí tại thung lũng Tẩy Tâm như lời ngài công bố trước môn phái không? Không hề! Chúng được bí mật áp tải thẳng vào kho bảo mật Nam Trụ ngay trong đêm, để phường thợ của Đỗ Tuyên dùng axit toan tính chiết xuất lượng khoáng kim loại hiếm kết tinh từ tủy xương của Tạ Vân, rồi đem bán lại cho các lò rèn vũ khí nội môn với giá cắt cổ, một lạng khoáng đổi một thỏi hoàng kim!"

"Câm mồm!" Đỗ Kính trầm giọng quát lớn.

Một luồng kình khí lạnh lẽo mang theo uy áp nặng nề của tu vi Kết Cốt viên mãn vô thức tràn ra từ cơ thể ông ta, quét qua căn phòng như một cơn gió lốc vô hình. Không khí trong phòng đặc quánh lại, ngọn lửa than trong lò sưởi tráng bạc bùng lên một tiếng phù dữ dội, tạt từng chùm tia lửa đỏ rực ra sàn đá.

Nhưng Ninh Chiêu vẫn đứng trơ trơ như một phiến đe thép đã tôi qua ngàn lần lửa đỏ. Suốt những năm tháng khổ luyện tại Lò Khê, cô đã mài giũa nền tảng Luyện Thân đến tận cùng giới hạn chịu đựng của gân cốt, từng học được từ sư phụ Tống Hoài cách thả lỏng khớp vai và xoay nhẹ xương chậu để triệt tiêu mọi phản lực ép xuống cơ thể. Cô ngẩng cao đầu, ánh mắt quắc lên những tia nhìn sắc bén, giọng nói càng lúc càng đanh thép át cả tiếng gió gầm ngoài cửa sổ:

"Chưa hết đâu, thưa Quan Tế! Ngài còn nắm trọn trong tay quyền cấp phép và phân phối thuốc giải độc tro cùng sáp lọc khí cho toàn bộ chín châu Hạ Lĩnh này! Mỗi khi màn chắn Huyền Khuyết suy yếu, mỗi khi tro khoáng từ biển tro rò rỉ qua các khe hở cơ học khiến bệnh ho ra tro bùng phát dữ dội ở các xóm thợ nghèo, ai là người ngồi trên đỉnh núi này để định đoạt giá từng liều thuốc thanh phế? Ai đã biến viện Dược Sư và y xá Thạch Tuyền thành những con rối ngoan ngoãn, phải khúm núm quỳ gối van xin từng cân thảo dược từ phủ Quan Tế của ngài?!"

Ninh Chiêu cười gằn, từng lời nói như xé toạc lớp áo bào lộng lẫy của kẻ nắm quyền:

"Sự an toàn của cõi Hạ Lĩnh dưới sự cai trị của ngài chưa bao giờ là sự che chở vô tư của một bậc bề trên! Nó là một món hàng béo bở, một thứ thương vụ đẫm máu được nuôi dưỡng bằng nỗi sợ hãi tột cùng của muôn dân! Ngài cố tình tạo ra một hệ thống phòng hộ tàn phế, phụ thuộc hoàn toàn vào máu thịt con người, biến nó thành công cụ độc quyền để cả vùng đất này phải bám víu lấy ngài mà sống sót! Rồi sau đó, ngài trơ tráo quay lại bắt họ phải dập đầu tạ ơn ngài, cảm tạ ngài vì đã ban phát cho họ cái quyền được run rẩy sống qua ngày đoạn tháng!"

"Đỗ Kính! Ngài đừng bao giờ mở miệng nhắc đến tên của phu nhân Vệ Lan để biện minh cho lòng tham không đáy và sự đê tiện của dòng họ Đỗ các người nữa! Năm xưa lão phu nhân nhường mặt nạ dưỡng khí cho đứa con của phu xe, bà ấy chấp nhận chết ngạt là vì muốn cứu người, vì lòng trắc ẩn thực sự của một con người bằng xương bằng thịt! Nếu bà ấy dưới suối vàng biết được rằng ngày hôm nay, trượng phu của mình lại dùng chính cái chết oan khiên của bà làm lý do để bóp nghẹt sự sống của những thiếu niên mười sáu, mười bảy tuổi, lừa gạt đệ tử đồng môn vào buồng Cửu Giá để rút tủy làm giàu cho đội xe của Đỗ Tuyên... liệu bà ấy có thể nhắm mắt ngậm cười nơi chín suối được không?!"

"Hỗn xược đến cực điểm!"

*RẦM!*

Một tiếng nổ chát chúa vang lên làm rung chuyển cả mật thất.

Bàn tay gầy guộc của Đỗ Kính đập mạnh như búa giáng xuống mặt bàn gỗ mun. Phiến gỗ dày nửa thước, cứng như sắt nguội lập tức rạn vỡ. Một vết nứt đen ngòm, mảnh như sợi tóc xé toạc mặt gỗ từ vị trí lòng bàn tay ông ta ấn xuống, chạy dọc suốt một trượng chiều dài, nghiền nát tấm hải đồ tro bằng da trâu thành hai mảnh rách rời.

Toàn bộ vẻ điềm đạm, dáng vẻ khoan dung, nhẫn nại giả tạo trên gương mặt người đàn ông vụt tan biến trong chớp mắt. Lớp mặt nạ của một vị thánh tử vì đạo rơi rụng, để lộ ra gương mặt vặn vẹo, xám xịt vì giận dữ và sự lạnh lùng tàn nhẫn của một kẻ độc tài vừa bị lột trần tim đen.

"Ngươi chỉ là một con thợ rèn hạ đẳng ở xóm Lò Khê, một đứa phàm phu tục tử cả đời chỉ biết ngửi mùi than cám, ngươi lấy tư cách gì mà dám bàn luận về đạo trị thế trước mặt ta?!" Đỗ Kính đứng bật dậy. Thân hình cao gầy, khoác chiếc áo choàng màu tro của ông ta phủ một bóng đen khổng lồ, ngột ngạt chụp xuống người Ninh Chiêu như một khối đá tảng sụp đổ. "Nếu không có gia tộc họ Đỗ của ta ngày đêm điều phối hàng ngàn cỗ xe, không có mạng lưới kho bãi Nam Trụ duy trì nguồn nhiên liệu khoáng thạch bất kể nắng mưa bão bùng, lấy cái gì để nuôi sống hệ thống đài tế này?! Lấy cái gì để vận chuyển than quặng cho lũ thợ rèn các ngươi có cái đập búa kiếm cơm qua ngày?! Mấy thứ đạo lý thanh cao viển vông của ngươi có lấp đầy được cái dạ dày của mười vạn miệng ăn ngoài kia không?! Có dựng nổi một bức tường thành nào để chặn một đợt gió tro quét qua cướp sạch mạng sống của cả tông môn này không?!"

"Không có một nền hòa bình chân chính nào có thể đứng vững trên nền móng của sự lừa dối và cướp đoạt sinh mạng!" Ninh Chiêu không hề chớp mắt, ngực phập phồng nhưng ánh mắt vẫn sắc lẹm nghênh đón cơn thịnh nộ của vị Quan Tế. "Một sự bình an được xây dựng bằng cách lén lút lôi từng đứa trẻ vô tội xuống cống ngầm, dùng kẹp sắt bẻ gãy kiếm cốt của đồng môn, rồi dán lên mặt họ cái mác bẩn thỉu là 'kẻ tình nguyện hiến thân' hay 'kẻ đào tẩu phản môn', thứ bình an đó thực chất chỉ là một bãi tha ma khổng lồ được quét vôi trắng mà thôi! Hôm nay các người nhẫn tâm hy sinh chín mạng người xa lạ, ngày mai khi cơn bão tro lớn hơn tràn về từ biển tro, các người sẽ hy sinh ai nữa? Chín mươi người? Chín trăm người? Hay chính những người thợ rèn, những phu xe đang ngày đêm nai lưng làm trâu làm ngựa cho các người?!"

Ninh Chiêu dứt khoát nâng cánh tay trái đang quấn chặt vải gai lên, đưa thẳng ra trước mặt Đỗ Kính:

"Ngài nhìn cho kỹ đi! Cánh tay này của tôi đã bị lửa thiêu cháy nát toàn bộ gân cơ khi tôi liều mạng giật lại tập phiếu kho dính máu từ đống tro tàn ở Nam Trụ! Nó đã tàn phế, nó đầy những vết sẹo gớm ghiếc, nhưng nó vẫn còn sạch sẽ hơn bàn tay đeo nhẫn bạc nhúng đầy máu đồng môn của ngài ngàn vạn lần! Ngài muốn mảnh kiếm Hàn Tủy để bịt đầu mối? Ngài muốn chiếc then chốt của cha tôi để che giấu sự thật về buồng van ngầm? Tôi nói cho ngài biết, Ninh Chiêu này thà chặt đứt cánh tay còn lại, thà để các người chém đầu tại chỗ, chứ không bao giờ giao những thứ đó cho ngài để ngài tiếp tục dùng nó bịt miệng công lý!"

Hai người đứng đối diện nhau qua mặt bàn gỗ mun nứt toác. Khoảng cách giữa họ chỉ vỏn vẹn ba thước đá, nhưng tựa như hai bờ vực thẳm ngăn cách giữa hai thế giới hoàn toàn đối nghịch.

Bên ngoài cửa sổ, gió núi Huyền Khuyết rít lên từng hồi điên cuồng, quất mạnh vào những chấn song thép nghe chan chát như tiếng đao kiếm va chạm. Ánh sáng màu lam lạnh buốt từ chiếc nhẫn bạc trên tay Đỗ Kính lúc này bỗng nhấp nháy liên hồi với tốc độ kinh hoàng. Tần số co giật của lân quang đã nhanh gấp đôi so với lúc Ninh Chiêu mới bước chân vào phòng—sâu dưới lòng đất, đài Huyền Khuyết đang rúng động dữ dội, cỗ máy ngầm đang gào thét vì mất cân bằng áp suất trầm trọng.

Ninh Chiêu hít sâu một hơi dưỡng khí khô khốc, chậm rãi hạ cánh tay bị thương xuống. Giọng cô dần lấy lại vẻ điềm tĩnh, lạnh lùng và chuẩn xác của một người thợ rèn dày dạn kinh nghiệm đang đưa ra giải pháp kỹ thuật trước một cấu trúc cơ khí bị lỗi:

"Muốn tôi im lặng, muốn cõi Hạ Lĩnh này thực sự có một cơ hội sống sót chân chính qua mùa bão tro cực đại sẽ đổ bộ sau năm ngày nữa, ngài phải chấp nhận hai điều kiện tiên quyết."

Đỗ Kính nheo cặp mắt vàng đục lại nhìn cô, hai bờ môi mỏng mím chặt thành một đường chỉ thẳng tắp, không nói nửa lời.

"Điều kiện thứ nhất," Ninh Chiêu rành rọt từng tiếng, âm vang dội vào vách đá: "Ngay trong buổi lễ sớm mai, phủ Quan Tế phải công khai toàn bộ danh tính chín người được chọn làm vật nạp cho nghi lễ Bổ Khuyết trước toàn thể các phân viện và dân chúng dưới chân núi. Phải tiến hành kiểm tra độc lập chữ ký trên các tờ khế ước trước sự chứng kiến công khai của đại diện viện Chấp Pháp và các y xá độc lập, bảo đảm rằng họ hoàn toàn tự nguyện hiến dâng sinh mạng, chứ không phải bị giam cầm, ép buộc hay bị đầu độc làm tê liệt ý chí!"

"Điều kiện thứ hai: Viện chủ Viện Công Tượng Cố Thanh và trắc lượng sư Lê Vãn đã bắt đầu khôi phục lại các bản vẽ kỹ thuật về cơ chế cân bằng địa mạch nguyên bản từ thời lập tông sơ khai. Công trình ngầm Cửu Giá vốn dĩ vận hành hoàn toàn dựa trên sự cộng hưởng tự nhiên giữa chín cụm thạch trụ bát giác và lõi đá thiên thạch ngầm, tuyệt đối không phải vận hành bằng máu tủy của con người! Chính các người, vì lòng tham và sự bất tài, đã đập phá các lõi đá ấy để lắp vào hệ thống kẹp sắt tàn độc nhằm bòn rút linh lực sống! Bây giờ, ngài phải lập tức hạ lệnh cho phép Viện Công Tượng chế tạo các cụm chốt giảm chấn cơ học và vật liệu hợp kim nhân tạo thay thế hoàn toàn cho tải sống để tiến hành thử nghiệm nạp áp trên các trụ chắn!"

Ninh Chiêu nhìn thẳng vào Đỗ Kính, ánh mắt rực lửa:

"Chúng ta vẫn còn đúng năm ngày trước khi cơn bão tro đầu tiên quét qua thung lũng. Hãy dùng tay nghề chân chính của những người thợ rèn, dùng trí tuệ đo đạc của những người làm kỹ thuật để cứu lấy mảnh đất này, thay vì tiếp tục vấy thêm máu của những đứa trẻ vô tội lên bàn thờ tổ tiên!"

Một khoảng lặng kéo dài, nặng nề như chì bao trùm khắp phòng Quan Tế.

Tiếng than đá nổ tách một tiếng giòn tan trong chiếc lò sưởi bằng đồng tráng bạc, tựa như đang đếm từng nhịp tim đập dồn dập của hai con người đứng giữa căn phòng.

Đỗ Kính nhìn chằm chằm vào cô gái thợ rèn trước mặt. Trong đáy mắt sâu hoắm, đục ngầu của người đàn ông nắm giữ nghi lễ tối cao, vẻ kinh ngạc ban đầu dần dần lắng xuống, nhường chỗ cho một sự thất vọng sâu sắc—thứ thất vọng lạnh lẽo của một kẻ thực tế tột cùng khi nhìn một kẻ mang lý tưởng ngây thơ đang mù quáng lao đầu vào chỗ chết.

Bằng một động tác chậm chạp, Đỗ Kính từ từ đưa hai bàn tay ra, gom hai nửa tấm hải đồ tro bị xé rách trên mặt bàn lại với nhau. Ông ta cuộn tròn tấm da trâu một cách tỉ mỉ, cẩn thận đút ngược nó vào trong chiếc ống đồng dài.

*Cạch.*

Tiếng chiếc nắp kim loại đóng sập lại vang lên dứt khoát, khô khốc và tàn nhẫn.

Đỗ Kính thu chiếc tráp gỗ đàn hương trống rỗng về, đút sâu nó vào ngăn kéo dưới gầm bàn, đoạn tra chìa khóa xoay một vòng tanh tách.

"Thử nghiệm vật liệu nhân tạo?" Đỗ Kính cất giọng, âm sắc của ông ta đã hoàn toàn trở lại vẻ băng giá vô cảm, phẳng lặng như mặt nước không đáy. "Năm ngày? Ninh Chiêu, cô có biết chỉ cần một vết nứt nhỏ bằng sợi tóc xuất hiện trên màn chắn Huyền Khuyết, sẽ có bao nhiêu sinh mạng phải chết ngạt trong vòng một khắc đồng hồ không? Cố Thanh chỉ là một kẻ hèn nhát sợ phải gánh vác trách nhiệm, còn Lê Vãn là một đứa con gái mang tư thù mù quáng trong lòng. Đem sinh mạng của mười vạn con người ra đánh cược với mấy món đồ chơi bằng thép chưa từng qua kiểm nghiệm thực tế của các ngươi... đó tuyệt đối không phải là dũng cảm, Ninh Chiêu. Đó là sự ngông cuồng điên rồ của một lũ ngu xuẩn."

Ông ta đứng thẳng người dậy, hai tay chắp sau lưng, chỉnh lại nếp trường bào xám thêu hình chín nhánh rễ cổ thụ, không buồn nhìn cô thêm một lần nào nữa:

"Cuộc đàm phán đêm nay kết thúc tại đây. Sáng mai, đúng đầu giờ Mão, lệnh trục xuất cô khỏi sơn môn sẽ chính thức thi hành theo đúng trình tự luật pháp của viện Chấp Pháp. Nếu sau tiếng chuông thứ ba của giờ Mão mà cô còn dám đặt nửa bước chân trên đất của Thanh Lư Tông, viện Chấp Pháp sẽ xử lý cô như một kẻ xâm nhập bất hợp pháp, quy vào tội mưu phản sơn môn."

Đỗ Kính chầm chậm quay lưng lại, cất bước đi về phía khung cửa sổ lớn khoét sâu vào vách núi, ánh mắt vô cảm nhìn xuống biển mây đen kịt đang cuộn trào dữ dội dưới thung lũng sâu thẳm:

"Còn về đại lễ Bổ Khuyết... nó sẽ diễn ra đúng quy trình ngàn đời, đúng thời khắc thiêng liêng đã được định sẵn. Chín tải sống sẽ vào đúng vị trí của họ dưới đáy Cửu Giá để hoàn tất việc nạp áp cho đài tế. Toàn cõi Hạ Lĩnh này sẽ được bình an vô sự đi qua mùa bão tro nghiệt ngã, dù cho cái giá máu phải trả có là gì đi chăng nữa. Đó là thiên mệnh mà ta phải gánh vác trên vai, không một ai trên cõi đời này—kể cả cô, hay người cha mất tích của cô—có thể ngăn cản được."

Ninh Chiêu không nói thêm bất kỳ một lời nào nữa.

Cô dứt khoát xoay gót chân, sải bước bước thẳng ra phía cánh cửa sắt nặng nề của mật thất.

*RẦM!*

Tiếng then cài bằng thép dày ba tấc sập mạnh xuống sau lưng cô, vang dội như một tiếng sấm nghẹn, khép lại hoàn toàn cánh cửa của sự thương lượng và thỏa hiệp thể chế. Giữa hai ngả đường—một bên là sự quy phục nhục nhã để đổi lấy miếng cơm manh áo và sự bình an giả tạo, một bên là cuộc chiến sinh tử đơn độc để bảo vệ phẩm giá của những con người bị chà đạp—lằn ranh đỏ rực đã được vạch ra một cách tuyệt đối, vĩnh viễn không còn đường lùi.

Ninh Chiêu bước nhanh dọc theo hành lang lát đá dài hun hút của phủ Quan Tế.

Gió đêm từ các ô thoáng không chấn song thốc vào dữ dội, mang theo cái lạnh thấu xương và mùi vị mặn chát của tro khoáng lơ lửng trong không trung. Cơn đau nhức buốt buốt nơi cẳng tay trái lại rộ lên từng chặp, giật thót theo nhịp bước chân gấp gáp. Thế nhưng, trong lồng ngực cô lúc này, cảm giác ngột ngạt đè nén suốt mấy canh giờ qua bỗng chốc tan biến sạch trơn, chỉ còn lại một sự nhẹ bẫng kỳ lạ.

Không còn nỗi dằn vặt, không còn sự giằng xé hay mơ hồ về tương lai phía trước. Bản năng của một người thợ rèn chảy trong huyết quản mách bảo cho cô hiểu rằng: khi một thanh thép rèn ra đã mang trong mình khuyết tật nứt ngầm từ sâu bên trong cấu trúc, người thợ không bao giờ có thể dùng lớp sơn bóng bẩy bên ngoài để che đậy nó mãi được. Con đường duy nhất còn lại là phải dùng búa tạ đập vỡ vụn nó ra để tôi rèn lại từ đầu trong lò lửa đỏ, hoặc là trơ mắt đứng nhìn nó tự gãy đôi giữa trận chiến và nghiền nát tất cả những ai đang đứng bên cạnh nó.

Cô rẽ qua một khúc quanh hẹp dẫn ra khoảng sân sau hoang vắng của khu khảo nghiệm khí giới, nơi ranh giới mỏng manh giữa nội viện xa hoa và ngoại viện rách nát bị ngăn cách bởi một bức tường rào đá vôi xám xịt phủ đầy rêu phong khô khốc.

Dưới bóng tối đặc quánh của một góc tường rào khuất gió, một bóng người gầy gò khoác chiếc áo chàm rộng thùng thình đang co ro ngồi xổm bên đống sỏi vụn.

Vừa nghe thấy tiếng bước chân nện đanh gọn, quen thuộc trên nền sỏi đá, bóng người ấy lập tức cảnh giác ngẩng phắt đầu lên, để lộ ra gương mặt gầy guộc lấm lem đầy muội than và đôi mắt sáng quắc như sao đêm.

Bùi Sách đứng chờ sẵn ở góc tường rào, thì thầm:

"Tỷ ơi, các đệ tử ngoại viện đã chuẩn bị xong mạng lưới rồi."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories