Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.24 / 40
Chapter 24

Chuông gọi người trở về

Chín tiếng chuông đồng ngân dài xé rách màn sương sớm đọng đặc trên đỉnh Huyền Khuyết, thúc giục hàng trăm đệ tử các viện tề tựu về quảng trường trước Nghị Sự Đường.

Âm ba của hồi Cửu Hồi Tang Chung không tan đi ngay trong không khí loãng của vùng núi cao. Nó cuộn tròn, chìm xuống thấp, va đập vào các vách đá xám của sườn bắc, rồi dội từng đợt ong ong nhức buốt vào màng nhĩ của bất cứ ai đang đứng trên đỉnh phân giới. Gió sớm từ thung lũng sâu thốc ngược lên mặt sàn lát đá hoa cương nhẵn bóng, mang theo thứ hơi lạnh buốt giá đặc trưng của vùng quặng lộ thiên hòa lẫn mùi ẩm mốc của rêu phong ngàn năm. Sân Bạch Thạch sáng nay không có những hàng đệ tử sơ cấp đứng luyện những bài nhập môn căn bản, không có tiếng gậy gỗ va chạm lách cách, cũng chẳng có những tốp thợ phu đẩy từng xe cút kít chở xỉ quặng xám xịt từ các lò cao dạt về bãi phế thải.

Mọi ngả đường lát đá xanh dẫn từ khu cư xá chật chội của ngoại viện, từ những dãy nhà lợp ngói âm dương của viện Dược Sư thoang thoảng mùi long não, từ cổng sắt đen ngòm của viện Chấp Pháp và xưởng rèn sặc mùi than cốc của viện Công Tượng đều ken đặc những bóng người. Tà áo bào lam viền trắng của nội môn đan xen với những tấm áo vải thô nhuộm vỏ tràm sờn rách của thợ lò. Hàng trăm con người đứng chen chúc trong thinh lặng dè dặt, tiếng xì xào râm ran như đàn ong vỡ tổ bị nén chặt dưới mái ngói lưu ly phủ một lớp bụi tro xám mỏng chưa kịp quét dọn sau đợt tế lễ đêm trước.

Giữa khoảng sân rộng thênh thang hun hút gió, bốn bóng người chầm chậm tiến bước.

Tiếng gậy gỗ mun của Tống Hoài gõ đều đặn xuống mặt đá: *cộc, cộc, cộc*. Đó là một âm thanh khô khốc, trơ trọi, vang lên nhịp nhàng giữa một biển người nín thở. Mỗi bước chân của anh đều nặng nhọc đến mức gót giày tỳ xuống như muốn lún vào thớ đá. Từng đốt xương sống sau lớp áo tơi tẩm dầu gai của cựu đệ tử đệ nhất dường như đang rạn vỡ âm thầm dưới sức nặng của thanh nẹp thau pha thiếc ghim chặt dọc sống lưng. Thứ kim loại lạnh ngắt ấy cọ sát vào da thịt đã sưng tấy, rỉ máu qua những lỗ đinh tán cũ, nhưng Tống Hoài vẫn giữ cho trục vai và gáy thẳng một cách cứng nhắc, như thể nếu cong lưng dù chỉ nửa phân, toàn bộ phần xương tủy bị ăn mòn bên trong sẽ sụp đổ thành vụn cám.

Ngay bên cạnh anh, Hạ Từ cất những bước chân ngắn, ngập ngừng. Lồng ngực cô bị nén chặt sau nhiều lớp dải vải băng tẩm cao thuốc lá cầm máu của viện Dược Sư, mùi ngải cứu héo quyện với mùi tanh nồng của huyết ứ bốc lên nồng nặc. Hai dải xương sườn gãy nơi mạn sườn trái tì ép trực tiếp vào màng phổi, biến từng nhịp thở vào thành một mũi kim đâm thấu da thịt, khiến mỗi hơi thở hắt ra của cô đều kéo theo tiếng rít khẽ qua kẽ răng nghiến chặt. Tay cô vẫn giữ thói quen đặt hờ lên vị trí đeo kiếm bên hông, dù nơi đó lúc này chỉ còn lại bao kiếm rỗng không trơ trọi.

Phía sau nửa bước, Lê Vãn ôm chặt chiếc hòm thiếc hoen gỉ trước ngực. Đôi bàn tay của người trắc lượng sư run rẩy vì sương muối bám trắng các đầu ngón, nhưng mười ngón tay khẳng khiu ấy vẫn bấu chặt lấy gờ mép kim loại sắc lạnh như sợ ai đó sẽ giật mất mạng sống của mình. Bên trong chiếc hòm thiếc là những cuộn giấy bản dập than củi nhăn nhúm, những thước đo góc bằng đồng thau xước xát và tập thẻ đồng ghi lại từng chỉ số địa chấn mà chị đã đánh cắp bằng cả tính mạng từ các trạm quan trắc ngầm.

Và đi đầu là Ninh Chiêu.

Cô thợ rèn của Lò Khê vẫn mặc chiếc áo chẽn thợ màu chàm bạc phếch, thứ trang phục bám đầy muội than đá và vảy sắt cháy không bao giờ giặt sạch được. Ống tay áo bên trái xắn cao lên quá khuỷu, để lộ lớp vải gai tẩm mỡ trăn quấn quanh cẳng tay bị lửa lò thiêu đốt co rút thành những mảng sẹo vặn vẹo như rễ cây khô. Bàn tay phải chai sần, ngập mùi mỡ bò bôi trơn máy móc và vụn sắt vụn của cô nâng vững vàng một chiếc khay gỗ lim phủ lụa điều.

Đặt ngay ngắn trên lớp lụa đỏ thắm là chiếc then chốt ngắt cơ học hình chữ U đúc bằng thép kẹp lõi mềm. Khối kim loại nặng trịch, màu xám xỉn của quặng già, mang ba vết đục chấn song song đặc trưng của người cha đã biến mất mười một năm trước trong lòng giếng sâu. Ở góc chịu lực bên trong của khối thép, một góc vát khuyết ngầm mười bảy độ ẩn hiện dưới ánh sáng mờ đục của buổi sớm. Nằm cạnh then chốt là tập hồ sơ điều động nhân sự mật bìa bọc da trâu dính đầy bùn ướt và bản sao bệnh án số bốn mươi bảy mang dấu mộc son nhòe nhoẹt của y sư Trần Mộc.

Bốn mươi chín bậc thềm đá xanh của Nghị Sự Đường dốc đứng sừng sững trước mặt họ như một vách núi nhân tạo được dựng lên để răn đe kẻ phàm tục.

Lính canh thuộc viện Chấp Pháp đứng dàn hàng dọc hai bên thềm đá. Những bàn tay mang găng da siết chặt cán trường kích sắc lạnh có tra những lá bùa ngọc phong cấm phát ra ánh sáng lam nhạt mờ mờ. Những đôi mắt sắc lạnh, soi mói găm chặt vào huy hiệu thợ phụ tạm thời bằng gỗ mun đung đưa bên hông Ninh Chiêu, rồi quét qua chiếc thẻ bài nội môn nứt góc vẫn còn vương vết máu khô của Hạ Từ. Sự căng thẳng đặc quánh lại như keo dán sắt. Nhưng không một mũi kích nào hạ xuống cản đường. Chín tiếng chuông Cửu Hồi Tang Chung rền vang khắp các đỉnh núi vừa dứt chưa lâu; theo môn quy truyền lại từ ngày lập phái, một khi chuông tang liên hoàn đã thấu đến đỉnh trời, cánh cửa Nghị Sự Đường phải mở toang cho bất kỳ đệ tử hay phu thợ nào mang theo khiếu nại liên quan đến sự tồn vong của sơn môn.

Khi mũi giày rách bươm của Ninh Chiêu bước qua ngưỡng cửa gỗ lim cao ngang đầu gối, một luồng bóng tối lạnh lẽo pha lẫn mùi trầm hương ngột ngạt và mùi đồng lạnh lập tức ập vào phủ kín các giác quan.

Nghị Sự Đường rộng lớn thênh thang, sâu hun hút như lòng một hang động nhân tạo khổng lồ. Toàn bộ vòm trần cao vút được nâng đỡ bởi ba mươi sáu cây cột đá hoa cương nguyên khối, mỗi cột đều được các nghệ nhân tiền triều đục đẽo hình rồng cuộn vờn quanh những đám mây tro xám xịt. Không có lò sưởi nào được đốt trong gian sảnh này; cái lạnh thấu xương bốc lên từ mặt nền đá cẩm thạch đen bóng loáng như mặt hồ đóng băng, phản chiếu những bóng người mờ ảo như những bóng ma.

Trên bục cao hình bán nguyệt ở gian chính, hội đồng các viện chủ đã an tọa sau những chiếc bàn dài bằng đá cẩm thạch nguyên khối. Ánh sáng từ những ngọn nến sáp ong cắm trên các giá đồng cao bằng đầu người hắt lên những khuôn mặt nghiêm nghị, lạnh lùng, dường như đã bị quyền lực và sự cách biệt bào mòn mọi biểu cảm trần tục.

Viện chủ Chấp Pháp ngồi bên tả, thân hình vạm vỡ trong bộ áo choàng đen thêu chỉ bạc hình chiếc búa công lý. Khuôn mặt ông vuông vức, gồ ghề như được đẽo thô từ một tảng đá hộc nhặt bên bờ suối, hàm râu quai nón hoa râm cứng đơ như rễ si già, đôi mắt ti hí ẩn sau đôi mày rậm luôn nheo lại như đang cân nhắc mức án phạt cho một phạm nhân sắp bước lên đoạn đầu đài. Ngồi bên cạnh ông là Viện chủ Dược Sư gầy gò, dáng dấp như một cây sậy khô khoác áo lụa xanh nhạt; đôi mắt mệt mỏi thâm quầng ẩn sau cặp kính thấu quang mài mỏng, hai bàn tay mảnh khảnh với những ngón dài khẳng khiu không ngừng xoay tròn một viên ngọc tủy màu hổ phách.

Ngồi chính giữa bên hữu là Viện chủ Công Tượng Cố Thanh. Đó là một người đàn ông trung niên vai rộng, ngực nở nang như một chiếc bễ thổi khí lớn, hai bàn tay thô dày đặt trên mặt bàn đá chằng chịt những vết sẹo nhiệt màu trắng sữa—dấu tích không thể xóa nhòa của ba mươi năm liên tục đứng cạnh những miệng lò đúc cao áp ngùn ngụt lửa than khoáng. Đôi mắt Cố Thanh sâu hoắm, phẳng lặng và sắc lạnh như một lưỡi dao thép vừa được tôi qua nước lạnh, không lộ ra một tia dao động nào khi nhìn thấy nhóm bốn người bước vào trung tâm đại sảnh.

*Keng.*

Tiếng kim loại va chạm với mặt đá cẩm thạch vang lên chói gắt. Chiếc khay gỗ lim hạ xuống bục đá đối chất đặt ngay giữa sảnh đường, cắt đứt sự im lặng ngột ngạt đang đè nặng lên từng tấc không khí.

"Ngoại viện thợ rèn Ninh Chiêu, cùng cựu Minh Kiếm Tống Hoài, trắc lượng sư Lê Vãn và đệ tử Chấp Pháp Hạ Từ."

Giọng của Viện chủ Chấp Pháp vang lên. Đó là một âm thanh trầm đục, nặng nề như tiếng cối đá ngàn cân đang nghiền nát từng tảng quặng thô, dội từ trên bục cao xuống, chấn động màng nhĩ của hàng trăm người đang nín thở dõi theo. "Các ngươi tự ý rung Cửu Hồi Tang Chung giữa kỳ giới nghiêm toàn sơn môn, mang theo những thứ khí cụ phế thải gỉ sét xông vào đại điện đối chất. Các ngươi có biết rằng, chiếu theo điều thứ bảy của Môn Quy Giới Luật, chỉ riêng tội làm kinh động lòng người, gieo rắc hoang mang trước thềm đại lễ Bổ Khuyết đã đủ để lột sạch y phục, đánh gãy gân chân và tống giam vĩnh viễn vào ngục Nam Trụ hay không?"

Hạ Từ không đợi ông ta dứt lời để áp chế tinh thần. Cô cắn chặt răng, nén lại cơn đau nhói buốt nơi lồng ngực, bước dứt khoát lên nửa bước.

Sắc mặt của người nữ kiếm tu tái nhợt như vôi tôi, mồ hôi lạnh rỉ ra ướt đẫm hai bên thái dương, nhưng đôi mắt chim ưng của một kẻ từng trải qua hàng trăm đợt tuần tra đêm trong sương độc vẫn không hề chớp lấy một lần. Bàn tay run rẩy của cô giật mạnh sợi dây da bên hông.

*Bốp!*

Chiếc lệnh bài chấp pháp bằng bạc đúc rỗng hình đầu sói bị dằn mạnh xuống mặt bàn đá, trượt đi một tấc rồi dừng lại ngay trước ánh mắt của các trưởng lão.

"Bẩm viện chủ!" Giọng Hạ Từ khàn đặc nhưng rành rọt, từng âm tiết đều mang theo nội lực bị nén lại của một kẻ đang bên bờ kiệt sức. "Tôi, Hạ Từ, đệ tử thụ giáo đời thứ ba mươi hai của viện Chấp Pháp, hôm nay đứng tại đây, dùng tính mạng, danh dự và toàn bộ kiếm cốt của mình ra để bảo chứng trước tổ sư: Toàn bộ danh sách bốn mươi hai đệ tử ngoại viện được ghi nhận tử vong do sốt tro khoáng, do ngã vực khi tuần tra hoặc trốn nợ tông môn biến mất trong hai mươi bốn tháng qua... hoàn toàn là ngụy tạo!"

Một tiếng xôn xao như sóng trào lập tức bùng nổ từ phía sau cánh cửa Nghị Sự Đường. Hàng chục đệ tử ngoại môn và phu thợ đứng ngoài hành lang chen chúc, dán chặt mắt vào những khoảng trống giữa các trụ đá, những tiếng thì thầm kinh ngạc bắt đầu lan nhanh như lửa bén vào cỏ khô.

"Im lặng!" Một viên chấp sự đứng cạnh cột đá vung gậy sắt xuống sàn, nhưng tiếng gõ đanh thép ấy không thể nào dập tắt được làn sóng chấn động vừa nhen nhóm.

Hạ Từ không để cho hội đồng có khoảng trống để ngắt lời. Cô chỉ tay vào xấp tài liệu dính máu và bùn ướt trên khay gỗ, giọng cô sắc như một nhát chém: "Đây là hồ sơ lưu gốc mang chữ ký đối chiếu của các đội tuần tra đêm thuộc phân khu Nam Lạc mà tôi đã thu hồi được từ tay chấp sự phòng hồ sơ ngầm. Đệ tử Lục Viễn Chu, mười bảy tuổi, người vừa ngưng tụ được kiếm cốt sơ cấp sau kỳ khảo hạch mùa xuân tháng ba vừa qua, không hề trốn nợ cờ bạc trốn xuống vùng đồng bằng như công văn của viện Chấp Pháp công bố. Thẻ bài gãy góc dính tủy kiếm của cậu ta được tìm thấy tại cống ngầm số Bảy, ngay dưới đáy đài tế Huyền Khuyết!"

Hạ Từ ho sặc sụa, một vệt máu đỏ tươi trào ra nơi khóe môi, nhưng cô lấy mu bàn tay quệt ngang một cách tàn nhẫn, tiếp tục gằn từng tiếng: "Thợ rèn bậc ba Trần Khôi, thợ phụ Triệu Mẫn không hề chết vì bệnh tro cấp tính tại khu cư xá xóm Lò Vôi. Xác của họ chưa từng được chuyển đến lò hỏa táng của viện Dược Sư. Họ bị tước phù hiệu thợ vào ban đêm, bị khóa xích phong tỏa linh lực cưỡng bức, và bị áp giải thẳng xuống hệ thống buồng ngầm Cửu Giá để làm vật tiêu hao duy trì dòng chảy cho các ống dẫn áp suất cao!"

"Lời lẽ càn rỡ! Ngậm máu phun người!"

Một trưởng lão viện Chấp Pháp ngồi ở hàng ghế thứ hai đập mạnh hai tay xuống bàn đá, đứng phắt dậy. Gương mặt ông ta đỏ bừng vì giận dữ, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Hạ Từ: "Hạ Từ, ngươi bị thương nặng làm mê muội tâm trí, hay là đã cấu kết với lũ thợ lò hạ đẳng vùng Lò Khê, nhận tiền tài của kẻ gian để quay lại bôi nhọ thanh danh trăm năm của sơn môn? Viện chủ, xin hãy cho người bắt giữ ngay kẻ phản đồ này lại!"

"Để cô ấy nói tiếp."

Một giọng nói không lớn, nhưng trầm tĩnh và có sức nặng như một khối gang nguội bất ngờ cắt ngang cơn thịnh nộ của viên trưởng lão.

Mọi ánh mắt lập tức dồn về phía góc bàn của viện Công Tượng. Cố Thanh vẫn ngồi nguyên tại chỗ, nhưng một bàn tay thô ráp đầy sẹo của ông đã giơ lên ngang ngực. Đôi mắt sắc sảo của người đứng đầu giới thợ rèn sơn môn không hề nhìn viên trưởng lão chấp pháp, mà đang khóa chặt vào từng chi tiết cơ học trên chiếc khay gỗ lim.

"Hội đồng viện chủ triệu tập khẩn cấp sáng nay là để xem xét mọi dấu hiệu bất thường có khả năng đe dọa đến tính toàn vẹn của công trình phòng hộ Huyền Khuyết trước mùa gió," Cố Thanh chậm rãi nói, từng từ ngữ đều được cân nhắc kỹ lưỡng. "Nếu viện Chấp Pháp trong sạch, thì một vài tờ giấy dính bùn chẳng thể làm sụp đổ đại điện này. Nhưng nếu có chứng cứ kỹ thuật liên quan đến kết cấu của trận pháp, ta có trách nhiệm phải lắng nghe. Lê Vãn, cô từng là phó giám sát trắc địa của Cục Địa Mạch trước khi bị điều chuyển. Tập giấy cuộn trên tay cô là thứ gì?"

Được gọi tên, Lê Vãn hít một hơi thật sâu. Lồng ngực chị phập phồng sau lớp áo vải thô bạc màu. Chị bước lên cạnh Hạ Từ, đôi bàn tay cóng buốt khẽ run rẩy nhưng động tác trải cuộn giấy lại vô cùng thuần thục. Chị rút từ trong túi áo ba chiếc cọc đồng định vị nhỏ bằng ngón tay, cắm phập vào các khớp nứt tự nhiên trên mặt bàn cẩm thạch, mở tung một tấm biểu đồ trắc lượng vẽ bằng than củi dính đầy bụi khoáng xám.

Đó là một bản vẽ mặt cắt địa tầng phức tạp đến nghẹt thở, trải dài từ đỉnh đài tế Huyền Khuyết, đâm xuyên qua các tầng đá phiến của giếng Mặc, và kéo dài ra tận đáy biển tro đen ngòm phía đông bắc.

"Thưa toàn thể hội đồng viện chủ," Lê Vãn cất giọng. Âm lượng của chị không vang dội như Hạ Từ, nhưng lại gãy gọn, khô khốc và mang theo tính chuẩn xác lạnh lùng của một người đã dành cả đời để làm việc với các con số và thước đo. "Đây là biểu đồ dao động áp suất ngầm và lưu lượng dòng vật chất đo đạc thực địa trong suốt năm năm qua, kết hợp trực tiếp với mẫu tro thu thập được ngay sau khi kiếm tu Tạ Vân tiến hành nghi thức phi thăng vào ba ngày trước."

Chị dùng một que đồng nhỏ, trỏ thẳng vào đường cong màu đỏ thẫm đang bị bẻ gãy gập một cách phi tự nhiên ở đáy đồ thị:

"Một chu kỳ mở cửa trời tự nhiên theo ghi chép từ các văn bản cổ thư sẽ tạo ra sự cộng hưởng thuần túy của địa mạch. Khi kiếm cốt của một tu sĩ đại viên mãn hòa tan vào thiên địa, linh khí sẽ phân tỏa đồng đều theo mô hình nan quạt sáu mươi độ hướng lên bầu khí quyển để nuôi dưỡng thung lũng và đẩy lùi khí độc. Nhưng các số đo áp suất thực tế từ bảy trạm quan trắc quanh núi lại chỉ ra điều hoàn toàn trái ngược."

Lê Vãn dịch chuyển que đồng dọc theo những đường ống ngầm chằng chịt:

"Dòng năng lượng không hề bốc lên trời dù chỉ một tấc. Toàn bộ áp suất cực hạn sinh ra sau khi nghiền nát kiếm khí của người hành lễ đều bị một hệ thống quạt thổi cưỡng bức nén ngược xuống chín tuyến ống ngầm bọc chì. Dòng năng lượng cưỡng bức này được dẫn thẳng về trạm điều áp trung tâm đặt tại đáy giếng Mặc. Và thứ tro xám mù mịt rơi xuống trấn Lò Khê suốt ba ngày đêm qua không phải là 'linh tro chúc phúc' của thiên đạo như bản tin tuyên truyền của phủ Quan Tế."

Chị mở một chiếc hộp sứ nhỏ, đổ một nhúm bột màu xám đen xỉn lên mặt bàn đá:

"Mẫu tro này chứa tám mươi phần trăm là lưu huỳnh thô, bồ hóng từ quặng than Lạc Hạc phẩm cấp thấp, và các hạt kim loại nặng bị cháy thiếu dưỡng khí. Đây là phế phẩm cơ học bị xả cưỡng bức qua hệ thống ống khói ngầm dưới chân đài tế nhằm giải tỏa áp suất buồng đốt."

Lê Vãn ngẩng đầu lên, ánh mắt chị xuyên qua làn khói nến, nhìn thẳng vào khuôn mặt bất động của Cố Thanh:

"Và kết luận quan trọng nhất từ toàn bộ dữ liệu trắc địa: Tuyến nạp năng lượng duy trì màn chắn phòng hộ của Thanh Lư Tông suốt ba mươi năm qua không hề vận hành bằng ân huệ của thượng giới. Nó vận hành bằng một cơ chế cơ học cưỡng bức: hút cạn tủy sống, nghiền nát kiếm cốt của người sống thông qua hệ thống van áp lực Cửu Giá. Đây là một cỗ máy nhân tạo được đục khoét và chắp vá thô bạo vào đại trận cổ, hoàn toàn không phải sự ban phước của bất kỳ cửa trời nào!"

Không gian bên trong Nghị Sự Đường như ngưng đọng lại thành một tảng băng khổng lồ.

Những lời của Lê Vãn không mang theo sự ai oán, không có những giọt nước mắt than khóc hay sự kích động thù hận. Đó là những con số đo đạc bằng thước kẹp, là tỷ lệ phần trăm khoáng chất được phân tích qua ngọn lửa thử quặng, là mặt cắt địa tầng với từng thông số cơ học chuẩn xác đến từng ly. Giữa những người đang ngồi trên bục cao, có không ít kẻ xuất thân từ các xưởng chế tạo khí cụ và phân viện dược liệu; họ thừa hiểu rằng những con số kia không thể ngụy tạo trong một sớm một chiều.

Sự xôn xao bên dưới sảnh đường đã biến thành những tiếng hít thở dồn dập. Các viện chủ nhìn nhau, sự hoang mang bắt đầu rạn nứt trên những gương mặt vốn dĩ luôn giữ vẻ đạo mạo, uy nghiêm bất khả xâm phạm. Viện chủ Dược Sư ngừng xoay viên ngọc tủy; đôi mắt mệt mỏi của ông ta mở lớn, nhìn chằm chằm vào đống bột tro màu xám đen trên bàn với vẻ kinh ngạc tột độ.

Viện chủ Công Tượng Cố Thanh chậm rãi đứng dậy.

Thân hình to lớn, hơi còng của người thợ cả già đổ một bóng đen dài xuống mặt bàn cẩm thạch. Ông không nhìn sang Viện chủ Chấp Pháp, cũng không để tâm đến tiếng xì xào đang ngày một lớn dần của đám đông đệ tử. Ông bước từng bước nặng nề xuống các bậc thềm đá, tiến thẳng về phía bàn đối chất.

Bỏ qua tập hồ sơ nhân sự dính máu của Hạ Từ, bỏ qua cả bản vẽ địa tầng của Lê Vãn, bàn tay thô dày, đen đúa vì muội than của Cố Thanh vươn thẳng về phía chiếc then chốt kim loại hình chữ U đặt trên lớp lụa điều.

Ông nhấc khối thép lên. Trọng lượng của khối kim loại kẹp lõi mềm khiến cổ tay ông hơi chùng xuống trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Cố Thanh đưa khối thép lại gần ngọn nến sáp ong, ngón tay cái chai sần của ông miết chậm rãi, cẩn trọng qua ba vết đục chấn song song nằm ở mặt ngoài của khớp nối.

"Thép kẹp ba ngàn lớp, lõi sắt non xốp chịu chấn động..." Cố Thanh lẩm bẩm một mình, âm thanh rất nhỏ, khô khốc như tiếng hai mảnh ngói cọ vào nhau, nhưng giữa gian sảnh im phăng phắc, từng người ở hàng ghế đầu đều có thể nghe thấy. "Mũi đục nghiêng mười bảy độ, kỹ thuật triệt tiêu xung lực phản hồi đặc thù của phường thợ nguội Lò Khê... Mười một năm trước, khi ta đích thân ký duyệt bản nghiệm thu sửa chữa cụm van cân áp số Ba dưới giếng Mặc, chính tay ta đã đóng dấu kiểm định lên bản vẽ có chi tiết này."

Ánh mắt Cố Thanh từ từ nâng lên, dừng lại trên khuôn mặt gầy gò, lấm lem bụi than của Ninh Chiêu. Đôi mắt sắc như dao cạo của ông dường như muốn xuyên qua lớp da thịt để nhìn thấu tận xương tủy cô gái thợ rèn:

"Cô là con gái của Ninh Trác?"

"Phải," Ninh Chiêu đáp. Giọng cô khàn đặc sau chuỗi ngày hít khói lò và tro độc, nhưng âm sắc lại vững chãi như một chiếc đe sắt đã cắm sâu vào lòng đất. "Cha tôi đã rèn chiếc then chốt này trong buồng rèn ngầm của giếng Mặc. Những kẻ giám sát của phủ Quan Tế nghĩ rằng ông chỉ là một tên thợ rèn phàm nhân câm lặng, chỉ biết làm theo các bản thiết kế cưỡng bức mà các người giao phó. Nhưng họ không biết rằng, ở góc chịu lực bên trong của then chữ U này, ông đã dùng giũa thép mài khuyết ngầm đúng ba ly."

Ninh Chiêu bước lên một bước, chỉ thẳng ngón tay chai sạn vào phần khuyết ẩn dưới lớp sơn chống toan màu xám xịt:

"Chiếc then này được thiết kế để chịu được toàn bộ tải trọng áp suất tĩnh trong quá trình vận hành bình thường của cỗ máy hút tủy. Nhưng nếu có một ngoại lực cơ học tác động đột ngột từ bên ngoài với lực kéo khoảng bảy mươi cân—đúng bằng sức giật của một người thợ phàm nhân dùng đòn bẩy thép—thì điểm khuyết mười bảy độ này sẽ lập tức gãy rạp. Cụm van sẽ đóng sập lại, ngắt toàn bộ dòng hút tủy khẩn cấp dẫn về đài tế. Cha tôi không hề phục tùng cỗ máy giết người đó. Ông đã để lại một cửa sinh bằng chính tay nghề cơ học của mình!"

Cố Thanh im lặng. Ông nhắm mắt lại, các khớp ngón tay siết chặt lấy thanh then chốt kim loại đến mức mu bàn tay nổi lên những đường gân xanh xám.

Là người đứng đầu toàn bộ thợ rèn và kỹ sư công trình của Thanh Lư Tông, Cố Thanh hiểu rõ hơn bất kỳ ai trong căn phòng này ý nghĩa thực sự của vết mài khuyết ba ly ấy. Nó không chỉ là một lỗi kỹ thuật hay một hành vi phá hoại đơn thuần; nó là một tuyên ngôn câm lặng nhưng đanh thép của một người thợ thủ công chống lại một hệ thống tàn bạo. Quan trọng hơn hết, sự tồn tại của chiếc then chốt này đã đập tan hoàn toàn huyền thoại về tính chất thần thánh, bất khả xâm phạm của cấm địa Huyền Khuyết. Cỗ máy hút tủy bên dưới không phải là ý chí của trời đất; nó là một cỗ máy do con người dùng búa, kìm và đe tạo ra. Và bất cứ thứ gì do bàn tay con người lắp ráp nên, thì bàn tay con người đều có thể tháo dỡ và phá hủy nó.

Cố Thanh xoay người lại. Dáng người ông thẳng đứng như một cột buồm trước cơn giông bão, đối diện với toàn thể hội đồng viện chủ đang ngồi chết lặng trên bục cao. Giọng ông vang lên, đanh thép và đầy uy quyền của một bậc thầy luyện kim:

"Nếu những tài liệu và chứng cứ kỹ thuật này là xác thực... viện Công Tượng chính thức yêu cầu Trưởng Lão Hội lập tức đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị cho đại lễ Bổ Khuyết vào đêm trăng rằm tới! Chúng ta phải thành lập một đoàn điều tra kỹ thuật độc lập, mở toang các cửa ngăn, cử người xuống tận đáy giếng Mặc và các trạm điều áp ngầm để tháo dỡ, kiểm định lại toàn bộ hệ thống mạch dẫn!"

Một làn sóng xôn xao cực lớn lập tức bùng nổ khắp Nghị Sự Đường.

Viện chủ Dược Sư khẽ gật đầu, đưa tay chỉnh lại gọng kính với vẻ mặt đầy âu lo. Vài vị trưởng lão lớn tuổi ở các dãy ghế sau bắt đầu quay sang bàn tán dồn dập, những cái đầu lắc lư trong sự hoang mang tột độ. Các chấp sự của Chấp Pháp viện lúng túng nhìn nhau, những cây trường kích hơi hạ thấp xuống, không còn giữ được vẻ hung hăng ban đầu.

"Mở cuộc điều tra kỹ thuật độc lập sao, Cố viện chủ?"

Một giọng nói trầm ấm, khoan thai nhưng mang theo một thứ uy lực vô hình đột ngột vang lên từ ngưỡng cửa chính của Nghị Sự Đường.

Âm thanh không hề lớn, nhưng nó mang theo một luồng áp lực kỳ dị, lướt qua khoảng không rộng lớn, dập tắt hoàn toàn mọi tiếng rì rầm bàn tán như một ngọn gió lạnh thổi qua một ngọn nến le lói.

Đám đông đệ tử ngoại môn và phu thợ đang đứng chật ních ngoài hành lang lập tức tự động dạt sang hai bên. Họ cúi rạp người xuống, đầu gối chạm sát mặt đá cẩm thạch lạnh ngắt trong một sự sợ hãi và tôn kính đã ăn sâu vào tủy não qua nhiều thế hệ.

Một bóng người từ tốn bước qua làn sương mù mỏng manh ngoài cửa, tiến vào đại điện.

Quan Tế Đỗ Kính.

Người đàn ông nắm giữ huyết mạch tâm linh của toàn bộ vùng núi Huyền Khuyết khoác trên mình một bộ đại bào màu đen tuyền bằng gấm dày, tà áo thêu chỉ bạc lấp lánh hình chín nhánh rễ cây cổ thụ cắm sâu vào lòng đất nứt nẻ. Phong thái của ông ung dung, đĩnh đạc, từng bước đi khoan thai tựa như một bậc đại nho gánh vác sự an nguy của cả giang sơn xã tắc trên đôi vai gầy. Khuôn mặt ông đã xuất hiện những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt và khóe miệng, mái tóc hoa râm được búi gọn gàng bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc không chút hoa mỹ. Trên ngón trỏ bàn tay phải của ông, chiếc nhẫn bạc cổ khắc phù hiệu cân áp mạch đất lóe lên một tia sáng xanh lạnh lẽo dưới ánh nến.

Đi ngay sau lưng Đỗ Kính là người cháu trai kiêm phụ tá đắc lực—Đỗ Tuyên—cùng bốn viên chấp sự thân tín mang theo hai chiếc hòm tài liệu bọc da trâu đen tuyền. Trên nắp hòm, hoa văn hình đóa hoa sen ba cánh lồng trong một thanh kiếm gãy được dập nổi tinh xảo.

Đỗ Kính bước điềm tĩnh qua mặt Tống Hoài, lướt qua Hạ Từ và Ninh Chiêu mà không thèm liếc nhìn họ lấy một lần, tựa như sự hiện diện của bốn kẻ phản kháng dưới chân bục đá chỉ là những hạt bụi tro vô nghĩa bám trên mặt sàn. Ông bước thẳng lên bục chính, đứng ngang hàng với hội đồng viện chủ. Đôi mắt sâu thẳm, tĩnh lặng như nước giếng cổ của ông quét qua khắp sảnh đường, mang theo một vẻ mệt mỏi trĩu nặng của một người vừa thức trắng hàng chục đêm ròng vì sự sinh tồn của muôn vạn con người.

"Cố viện chủ muốn mở cuộc điều tra kỹ thuật độc lập, bản tọa tuyệt đối hoan nghênh," Đỗ Kính chậm rãi cất lời, âm thanh trầm bổng vang vọng khắp các vì kèo gỗ lim cổ kính. "Phủ Quan Tế của ta ba mươi năm qua chưa bao giờ trốn tránh sự minh bạch của các số liệu hay sự giám sát của các viện. Nhưng trước khi chư vị ở đây vội vã đưa ra quyết định đình chỉ cỗ máy bảo hộ duy nhất của ngọn núi này... xin hãy dành chút thời gian quý báu để nhìn qua thứ này trước đã."

Đỗ Kính khẽ phất tay áo rộng.

Đỗ Tuyên lập tức bước lên phía trước nửa bước, mở tung chốt khóa của chiếc hòm da trâu đầu tiên.

Bên trong chiếc hòm không phải là những xấp hồ sơ giấy tờ mỏng manh, mà là một cỗ phong vũ biểu địa tầng khổng lồ đúc bằng đồng đỏ nguyên chất. Cột thủy tinh dày dặn ở trung tâm cỗ máy chứa một dung dịch thủy ngân lỏng màu đen kịt. Lúc này, cột thủy ngân đang tụt dốc không phanh với một tốc độ mắt thường cũng có thể nhìn thấy; bề mặt chất lỏng rung bần bật, liên tục sủi lên những bọt khí toan khoáng màu vàng xỉn bốc mùi trứng thối nồng nặc. Cây kim đồng chỉ áp suất ngầm đã lệch hẳn qua vạch an toàn, đâm sâu vào dải sơn màu đỏ cảnh báo nguy cấp cực hạn.

Cùng lúc đó, hai viên chấp sự trải rộng một cuộn giấy da cừu dài tới ba trượng ra mặt sàn đá ngay trước bàn của hội đồng. Trên mặt da cừu ngả vàng, những dòng mực đỏ son ghi chép chi tiết đến rợn người số liệu thương vong lịch sử của toàn bộ vùng Hạ Lĩnh suốt một trăm năm qua.

"Ba mươi năm trước," Đỗ Kính cất giọng, âm thanh đột ngột chùng xuống, mang theo một nỗi đau đớn xé lòng dường như đã bị thời gian chôn vùi nhưng thực chất chưa từng nguôi ngoai trong tâm can, "mùa gió tro cực đoan tràn về sớm hơn dự báo hai mươi ngày. Khi đó, đài Huyền Khuyết gặp trục trặc kỹ thuật ở tầng dẫn thứ hai, áp lực địa mạch không đủ để kích hoạt bức tường chắn bằng khí nén. Các vị tiền bối của viện Công Tượng và viện Dược Sư khi ấy cũng đã chần chừ như chư vị hôm nay. Họ cũng đòi dừng tế lễ, cũng đòi lập đoàn khảo sát độc lập để tìm hiểu ngọn nguồn nguyên nhân."

Đỗ Kính bước xuống nửa bậc thềm, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào những con số đỏ lòm trên cuộn da cừu:

"Và cái giá phải trả cho sự chần chừ mang danh 'nguyên tắc' đó là gì? Màn chắn phòng hộ sụp đổ hoàn toàn trong đúng nửa khắc! Gió tro độc từ biển tro phía đông tràn qua đèo như thác lũ vỡ bờ, bóp nghẹt toàn bộ sự sống của ba trấn lớn dưới chân núi. Ba vạn hai ngàn người đã chết ngạt chỉ trong một đêm duy nhất! Xác chết tím tái vì trúng độc toan chất đống từ cổng Lò Khê kéo dài lên tận chân vách đá Lạc Hạc. Đất đá không đủ để chôn, người sống không đủ sức để đào huyệt, cuối cùng phải dùng hàng trăm thùng dầu thông thiêu rụi tất cả thành tro tàn! Trong số ba vạn hai ngàn oan hồn đó... có cả thê tử của ta, Vệ Lan."

Cả Nghị Sự Đường lặng ngắt như tờ.

Không một ai dám thở mạnh. Từng lời nói của Đỗ Kính như những giọt chì nóng rực rỏ thẳng vào tâm can của từng người đang có mặt trong gian sảnh. Nỗi ám ảnh kinh hoàng về cái chết đen tối của mùa gió tro ba mươi năm trước là một vết sẹo tập thể vĩnh viễn không bao giờ lành trong ký ức của bất kỳ gia đình nào tại vùng đất cằn cỗi này. Đó không phải là một câu chuyện thần thoại xa xôi; đó là ông bà, cha mẹ, anh chị em của chính những người đang đứng gác hay ngồi dự thính sáng nay.

Đỗ Kính quay sang nhìn Viện chủ Cố Thanh. Ánh mắt ông không hề có một tia né tránh hay chột dạ; trong đôi mắt sâu thẳm ấy chỉ có một sự cương nghị đến tàn nhẫn, một thứ lý trí lạnh lùng của kẻ sẵn sàng giẫm đạp lên tất cả để giữ cho con thuyền không bị đắm chìm:

"Hôm nay, ta mang phong vũ biểu địa tầng này đến đây không phải để thanh minh cho bản thân, mà là để báo cho toàn thể Thanh Lư Tông một tin dữ: Vùng biển tro phía đông bắc vừa hình thành một cơn bão khoáng cấp độ cực đại chưa từng thấy trong nửa thế kỷ qua. Mùa gió tro năm nay sẽ tràn về sớm hơn dự báo một tháng tròn! Không phải ba tuần nữa, mà chỉ còn đúng năm ngày!"

Một tiếng thở hắt kinh hoàng đồng loạt vang lên từ hàng trăm lồng ngực.

Đám đông đệ tử ngoài hành lang bắt đầu run rẩy bần bật, mặt mày xám ngoét không còn một giọt máu. Những kẻ vừa mới đây còn phẫn nộ trước cái chết của bốn mươi hai đồng môn, giờ đây bỗng chốc thấy hơi lạnh của cái chết đang phả thẳng vào gáy mình.

"Năm ngày nữa!" Đỗ Kính nâng cao giọng, từng chữ thốt ra đanh thép như một bản sắc lệnh từ cõi chết: "Đài Huyền Khuyết vừa trải qua một đợt sụt áp nghiêm trọng sau vụ phá hoại cơ học tại cống ngầm số Bảy do chính những kẻ đang đứng đối chất đây gây ra! Hiện tại, toàn bộ hệ thống màn chắn chỉ đang duy trì được vỏn vẹn bốn mươi phần trăm công suất tối thiểu! Nếu như ngay lúc này, theo lời thỉnh cầu đầy cảm tính của một ả thợ rèn lò rèn cỏn con và một tên cựu kiếm tu tàn phế, chúng ta hạ lệnh đình chỉ đại lễ Bổ Khuyết để tháo dỡ các trạm điều áp ra khám xét... thì ai trong số các vị ở đây sẽ là người đứng ra hứng chịu đợt gió tro đầu tiên tràn qua đèo?"

Ông quét ánh mắt sắc như dao cạo qua từng khuôn mặt của hội đồng viện chủ:

"Cố viện chủ? Viện Công Tượng của ông có rèn kịp một bức tường thép cao một trăm trượng trong vòng năm ngày để che chắn cho mười vạn miệng ăn dưới chân núi không? Hay viện Dược Sư các người có thể gom đủ mười vạn thang thuốc giải độc toan để cứu sống từng ấy con người khi màn chắn vỡ vụn? Hay là... các vị định để mặc mười vạn sinh linh chết ngạt trong máu me và tro bụi, chỉ để đổi lấy sự thanh sạch tuyệt đối cho một vài nguyên tắc khảo sát kỹ thuật của các người?"

Sự im lặng đáng sợ một lần nữa bao trùm lấy toàn bộ không gian Nghị Sự Đường.

Nhưng lần này, đó không còn là sự bàng hoàng trước tội ác bị phơi bày, mà là sự tê liệt hoàn toàn của lý trí trước nỗi sợ hãi sinh tồn nguyên thủy nhất.

Viện chủ Dược Sư chậm rãi rụt bàn tay đang đặt trên mặt bàn lại, lẳng lặng giấu vào trong tay áo rộng. Ông cúi gầm mặt xuống, nhìn chằm chằm vào những đường vân đá cẩm thạch, không dám thốt lên thêm một lời nào. Các viện chủ và trưởng lão khác, những người chỉ vài khắc trước còn gật gù dao động trước những biểu đồ thuyết phục của Lê Vãn, giờ đây nhanh chóng quay ngoắt thái độ. Không một ai dám gánh trên vai sinh mạng của mười vạn con người. Không một ai dám mạo hiểm đánh cược sự tồn vong của toàn bộ tông môn vào một cuộc điều tra kỹ thuật chưa biết hồi kết.

Trước thảm họa diệt vong cận kề của cơn bão tro năm ngày tới, cái chết của bốn mươi hai đệ tử ngoại viện bỗng chốc trở nên quá nhỏ bé, quá xa xôi, tựa như vài giọt nước rơi vào một lò luyện thép đang sục sôi.

Cố Thanh vẫn đứng chôn chân tại chỗ. Bàn tay ông siết chặt chiếc then chốt rèn đến mức các khớp xương trắng bệch, run rẩy nhẹ. Lồng ngực vạm vỡ của người thợ già phập phồng dữ dội dưới lớp áo thợ dày dặn. Ông biết rất rõ rằng Đỗ Kính đang dùng sự thật không thể chối cãi về thiên tai để bóp nghẹt sự thật về tội ác cơ học bên dưới lòng đất. Nhưng sự thật về thiên tai lại là thứ sờ nắn được, đo đếm được ngay trên cột thủy ngân đang tụt dốc từng khắc một kia. Trước sức nặng của mười vạn sinh mạng, mọi luận điểm kỹ thuật của ông bỗng chốc trở nên bất lực.

"Đỗ Quan Tế..." Cố Thanh trầm giọng, âm thanh nghẹn lại nơi cuống họng, "nhưng việc dùng sinh mạng đệ tử làm vật tiêu hao..."

"Đó không phải là giết hại!" Đỗ Kính ngắt lời một cách dứt khoát, không để lại bất kỳ một khe hở nào cho sự tranh biện. "Đó là sự hy sinh tự nguyện vì đại cục của sơn môn! Tất cả những người bước vào trận pháp đều đã ký vào bản cam kết gánh vác bình an cho ngọn núi này. Sau đại lễ, gia tộc của họ được tông môn cấp dưỡng trọn đời, được miễn trừ toàn bộ sưu thuế quặng khoáng và được ưu tiên cấp phát dược liệu trị bệnh tro. Đó là cái giá bắt buộc phải trả để duy trì sự sống cho một vùng đất cằn cỗi bị thiên nhiên nguyền rủa! Nếu không có nghi lễ Bổ Khuyết được duy trì nghiêm ngặt suốt ba mươi năm qua, thì toàn bộ Thanh Lư Tông đã sớm biến thành một bãi tha ma khổng lồ chôn vùi dưới lớp tro độc từ lâu rồi!"

Nỗi sợ hãi đã hoàn toàn bóp nghẹt mọi sự phản kháng lương tri trong căn phòng.

Viện chủ Chấp Pháp lập tức gật đầu thật mạnh. Khuôn mặt đẽo bằng đá hộc của ông ta nhanh chóng lấy lại vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn thường ngày, như thể vừa tìm thấy một chỗ dựa vững chắc bằng sắt thép để biện minh cho sự khắc nghiệt của mình:

"Quan Tế nói rất đúng! Đại cục sơn môn là trên hết! Trước thềm bão tro sinh tử, sự ổn định của màn chắn phòng hộ là tối thượng, không cho phép bất kỳ ai làm dao động lòng quân! Không thể vì những nghi vấn chưa được kiểm chứng đầy đủ mà đình trệ đại lễ, đẩy mười vạn con người vào chỗ chết!"

Đòn phản công của Đỗ Kính giáng xuống ngay tức khắc—chuẩn xác, mau lẹ, lạnh lùng và hoàn toàn hợp pháp dưới vỏ bọc của thể chế tông môn.

Ông quay phắt người lại, tà áo thêu chín nhánh rễ quét một đường dứt khoát trong không khí. Rút từ trong tay áo ra một đạo lệnh bài mạ vàng có khắc triện nổi của Trưởng Lão Hội, Đỗ Kính cất giọng sang sảng đọc lớn:

"Chiếu theo Luật Bảo Vệ Công Trình Phòng Hộ Huyền Khuyết ban hành từ năm Thiên Hưng thứ mười: Bất kỳ cá nhân nào có hành vi xâm nhập trái phép, phá hoại kết cấu cơ học hoặc tàng trữ dị vật rò rỉ từ các cụm van của đại trận đều bị khép vào trọng tội đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của tông môn!"

Đỗ Kính giơ thẳng lệnh bài, chỉ tay vào mặt Ninh Chiêu:

"Thứ nhất: Xưởng rèn Lò Ninh tại trấn Lò Khê tàng trữ dị vật kim loại bất hợp pháp từ lòng đài Huyền Khuyết, liên tục có hành vi nghiên cứu, chế tạo khí cụ nhằm mục đích phá hoại van điều áp ngầm. Nay ban lệnh niêm phong toàn diện Lò Ninh ngay lập tức! Tịch thu toàn bộ than đá, quặng sắt, bễ thổi và dụng cụ rèn đúc, trục xuất toàn bộ thợ phụ ra khỏi khu vực quản lý của sơn môn!"

Bàn tay trái bị thương của Ninh Chiêu giật thót một cái dưới lớp băng vải gai.

Lò rèn của cha cô. Nơi duy nhất còn lưu giữ mùi mồ hôi mặn chát, tiếng búa gõ lách cách trong đêm lạnh và những bản vẽ cơ học mười một năm qua của ông... tất cả đã bị tước đoạt sạch trơn chỉ bằng một câu nói nhân danh đại cục.

"Thứ hai!" Ánh mắt Đỗ Kính chuyển dời sang Tống Hoài, không có lấy một tia gợn sóng trắc ẩn: "Cựu đệ tử Tống Hoài, kẻ từng có tiền án chống lệnh sáu năm trước làm sụp đổ cụm van số Bảy, nay lại tái phạm hành vi kích động nổi loạn, thâm nhập cấm địa di tích Cửu Giá. Lập tức bắt giam Tống Hoài vào ngục giới nghiêm Nam Trụ, cách ly hoàn toàn, chờ sau khi mùa gió tro kết thúc sẽ đưa ra xét xử công khai trước toàn thể các viện!"

"Đỗ Kính! Ngươi..."

Tống Hoài gằn lên một tiếng, hàm răng cắn chặt đến mức rỉ máu. Cây gậy mun trong tay anh run lên bần bật, kiếm ý tàn dư từ những mảnh kiếm cốt vụn vỡ trong lồng ngực như muốn xé toạc các đốt sống rạn nứt để bộc phát ra ngoài. Nhưng anh chưa kịp nhấc gậy lên thì hai viên chấp sự mang cảnh giới Kết Cốt đã lao tới như hai con cắt vồ mồi.

*Rầm!*

Hai ngọn trường kích bọc đầy phù triệt tiêu linh lực đè nghiến lên hai bả vai Tống Hoài, ép toàn bộ thân hình anh quỳ sụp xuống sàn đá cẩm thạch. Chiếc nẹp thau pha thiếc sau lưng anh kêu lên một tiếng *rắc* khô khốc dưới áp lực ngàn cân. Máu tươi từ vết thương cũ lập tức rỉ qua lớp áo tơi tẩm dầu, nhỏ tong tỏng xuống mặt đá lạnh ngắt.

"Thứ ba!" Đỗ Kính nhìn sang Lê Vãn: "Trắc lượng sư Lê Vãn tự ý sử dụng giấy phép trắc địa đã hết hạn để ngụy tạo các số liệu địa tầng, cố tình làm sai lệch mô hình dự báo áp suất của Cục Địa Mạch nhằm gây hoang mang dư luận. Tước bỏ vĩnh viễn quyền khảo sát độc lập, tịch thu toàn bộ thiết bị đo đạc, địa bàn và các bản dập than củi để tiêu hủy theo quy định bảo mật!"

Hai viên chấp sự khác lạnh lùng bước tới, giật phắt chiếc hòm thiếc hoen gỉ khỏi vòng tay của Lê Vãn. Chị cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, hai bàn tay khẳng khiu buông thõng xuống hai bên sườn trong sự bất lực cùng cực của một người làm khoa học vừa bị tước đoạt hoàn toàn tiếng nói chuyên môn trước sức mạnh của cường quyền.

Cuối cùng, Viện chủ Chấp Pháp đứng dậy, dõng dạc tuyên bố hình phạt dành cho người còn lại trong nhóm:

"Đệ tử nội môn Hạ Từ, tự ý rời bỏ vị trí canh gác trong phiên tuần tra đêm, bao che cho kẻ ngoài thâm nhập cấm địa, vi phạm nghiêm trọng giới luật môn phái. Xét thấy bản thân có thương tật nặng trong khi thi hành công vụ và có công lao trong các mùa bão trước, tạm thời miễn tội bắt giam, nhưng áp dụng hình thức khiển trách kỷ luật cấp cao nhất: tước bỏ toàn bộ tư cách mang kiếm, tịch thu bội kiếm nội môn, đưa vào diện giám sát đặc biệt tại khu tuần tra ngoại vi, tạm thời giữ nguyên ca trực đêm để đoái công chuộc tội!"

Hạ Từ đứng chết trân tại chỗ. Bàn tay cô siết chặt lấy chiếc lệnh bài bạc đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra như xác chết. Tước kiếm—đó là hình phạt nhục nhã và tàn khốc nhất đối với một kiếm tu của Thanh Lư Tông. Cô không bị giam vào ngục tối, nhưng lại bị buộc phải tiếp tục đứng gác trong gió rét, dưới sự giám sát của chính những kẻ đã biến đồng môn của cô thành nhiên liệu cho cỗ máy hút tủy.

"Còn ả thợ rèn này..." Đỗ Tuyên bước lên nửa bước, trên môi nở một nụ cười khinh bỉ tột cùng nhìn về phía Ninh Chiêu.

"Trục xuất!" Viện chủ Chấp Pháp vung mạnh tay áo rộng, dứt khoát không để lại bất kỳ một cơ hội nào cho cô mở miệng. "Một phàm nhân không có căn cơ tu luyện, mang danh thợ phụ ngoại viện nhưng lại trà trộn vào tông môn làm loạn lòng người trước giờ lâm nạn. Lập tức trục xuất ả ra khỏi khuôn viên Thanh Lư Tông, cấm vĩnh viễn không được bước chân qua cổng Bạch Ngọc dù chỉ nửa bước!"

Bốn tên lính chấp pháp tay lăm lăm gậy sắt và trường kích lập tức tiến lên, tạo thành một gọng kìm vây kín lấy Ninh Chiêu. Mũi kích bọc thép lạnh buốt chĩa thẳng vào ngực cô, những luồng hàn khí từ ngọc phù phong tỏa phả thẳng vào da thịt, xua đuổi cô lùi dần từng bước về phía ngưỡng cửa gỗ lim.

Ninh Chiêu không chống cự.

Cô hiểu rất rõ rằng, với cảnh giới Luyện Thân nhỏ bé của một người thợ rèn phàm nhân, bất kỳ một hành động manh động nào lúc này cũng chỉ chuốc lấy một nhát kích xuyên tâm vô ích. Cô cắn chặt răng, nuốt ngược sự uất nghẹn vào đáy dạ dày, lùi từng bước một cách bình thản. Đôi mắt đen láy, bướng bỉnh của cô vẫn không rời khỏi bục cao.

Ở đó, Viện chủ Công Tượng Cố Thanh đang đứng quay lưng lại với Đỗ Kính và các viện chủ khác.

Dưới vạt áo thợ rộng thùng thình bám đầy muội than, bàn tay to lớn đầy sẹo của Cố Thanh khẽ động đậy một cách cực kỳ tinh vi. Bằng một động tác nhanh như chớp của một thợ nguội lành nghề, ông đã lướt các ngón tay qua mặt bàn cẩm thạch, cuộn tròn bản vẽ mặt cắt cơ cấu then chốt khuyết mười bảy độ do chính tay cha cô vẽ, giấu biến vào trong ống tay áo của mình trước khi Đỗ Tuyên kịp tiến lại gần để thu dọn chiếc khay gỗ lim.

Ánh mắt Cố Thanh thoáng liếc qua Ninh Chiêu trong một phần mười cái chớp mắt.

Đó là một ánh nhìn nặng trĩu, đầy sự toan tính cẩn trọng và dè chừng của một người thợ già đã sống sót qua hàng chục biến cố chính trị, một kẻ đang âm thầm tìm kiếm một phương án cơ học khả thi giữa đống đổ nát của niềm tin.

Ninh Chiêu bị đẩy lùi qua ngưỡng cửa, bước giật lùi xuống bậc thềm đá cao nhất của Nghị Sự Đường.

Gió núi buốt giá thốc ngược từ thung lũng lên, thổi tung những lọn tóc buộc túm dính đầy muội than của cô. Tiếng xì xào bàn tán của hàng trăm đệ tử ngoại môn xung quanh vang lên râm ran như những mũi kim châm vào không khí, nhưng trong ánh mắt của đám đông lúc này không còn sự hoài nghi hay phẫn nộ trước tội ác hút tủy nữa. Nơi đáy mắt họ chỉ còn lại nỗi kinh hoàng tột độ trước tin tức mùa bão tro đang tràn về sớm. Sự thật đã bị nỗi sợ hãi sinh tồn chôn vùi một cách triệt để, gọn gàng và tàn nhẫn dưới chân những pho tượng đá.

Tống Hoài bị hai tên chấp sự lôi xềnh xệch qua lối cửa ngách dẫn xuống ngục Nam Trụ. Hai gót giày rách của anh kéo lê trên mặt đá hoa cương nhẵn bóng, để lại hai vệt nước ố mờ mờ. Thanh nẹp thau sau lưng anh liên tục cọ vào xương sống, phát ra những tiếng *ken két* đau đớn đến rợn người. Anh không quay đầu lại nhìn Ninh Chiêu, chỉ khẽ gật đầu một cái thật nhẹ—một lời nhắc nhở câm lặng giữa những kẻ cùng chung chiến hào về bản lĩnh của kẻ phải tìm mọi cách sống sót sau một thất bại toàn diện.

Lê Vãn đứng chết lặng giữa khoảng sân rộng, hai bàn tay trống rỗng buông thõng, đôi mắt đỏ hoe nhìn theo chiếc hòm thiếc đựng toàn bộ tài liệu đời mình bị niêm phong trong bao tải chì dày cộp.

Một bóng người từ tốn bước xuống từng bậc thềm đá sau lưng Ninh Chiêu.

Quan Tế Đỗ Kính chắp hai tay sau lưng, tà áo thêu chín nhánh rễ cây bay phần phật trong luồng gió lạnh thấu xương. Ông dừng lại cách cô đúng ba bước chân, đứng trên bậc thềm cao hơn, cúi xuống nhìn người nữ thợ rèn với đôi bàn tay tật nguyền.

Trong đôi mắt sâu hoắm của người đàn ông năm mươi sáu tuổi ấy, Ninh Chiêu không hề nhìn thấy sự căm ghét, hận thù hay vẻ đắc thắng của một kẻ ác vừa dập tắt được một cuộc nổi loạn. Thứ duy nhất ánh lên trong đáy mắt sâu thẳm của Đỗ Kính là một sự thương hại lạnh lùng—sự thương hại trịch thượng của một kẻ nắm quyền luôn tin rằng mình đang nắm giữ chân lý khắc nghiệt duy nhất để duy trì trật tự cho mảnh đất này, một kẻ tin rằng việc nghiền nát vài chục hay vài trăm sinh mạng phàm nhân chỉ là cái giá hao mòn tất yếu để giữ cho cỗ máy vĩ đại không ngừng quay.

Đỗ Kính bước qua mặt Ninh Chiêu, tà áo gấm lướt nhẹ qua vai áo chàm bạc phếch của cô. Mùi hương trầm thanh tịnh trên người ông thoảng qua sống mũi cô gái thợ rèn, mang theo một lời cảnh cáo lạnh lùng buông lại giữa gió núi:

"Cô thợ rèn, sự thật không nuôi sống được mười vạn miệng ăn dưới chân núi đâu."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories