Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.28 / 40
Chapter 28

Cái giá của một tờ cáo thị

Mùi mực nho ẩm ướt quyện với mùi tro bụi khét lẹt bốc lên từ những chồng cáo thị chép tay xếp ngay ngắn trên chiếc phản gỗ trong xưởng than cũ dưới chân núi.

Khói từ đĩa đèn dầu lạc phả từng lọn đen nhờ nhợt vào vách đá ám muội. Căn xưởng này vốn là trạm trung chuyển than cám bỏ hoang từ đợt sụt lún địa tầng mười lăm năm trước, nửa chìm trong lòng núi, nửa nhô ra bờ vực phủ đầy rêu đen ẩm ướt. Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn bấc tù mù, không gian ngập tràn thứ âm thanh sột soạt khô khốc: mười mấy bàn tay thoăn thoắt chấm mực, miết bút lông trên nền giấy bổi thô ráp. Giấy bổi làm từ vỏ dướng vụn pha mùn cưa, mặt giấy xơ xác, hút mực loang nhanh như vệt máu khô trên đá lạnh. Mỗi đợt gió rít qua kẽ nứt vách đá lại khiến ngọn lửa hạt đỗ chao đảo, kéo dài những bóng người trên tường thành những hình thù méo mó, nhấp nhô như những chiếc bóng ma đang lúi húi khắc ghi món nợ máu.

Bùi Sách cắn chặt môi dưới đến rướm máu. Đôi mắt cậu thâm quầng sau một đêm thức trắng, tròng mắt vằn lên những tia đỏ như sợi chỉ đồng nung dở. Đôi tay cậu thoăn thoắt kiểm tra từng bản dập than củi vừa ráo mực, ngón tay miết dọc theo các gờ giấy để bảo đảm không một con số, không một ký hiệu kỹ thuật nào bị nhòe nhoẹt. Bên cạnh cậu, năm đệ tử ngoại viện mặc áo cộc vải thô lem luốc bùn than đang cặm cụi phết bột hồ làm từ củ dong gai lên mép giấy. Thứ hồ dán tự chế quánh đặc, bốc mùi chua nồng của tinh bột lên men, được quết bằng những thanh tre vót mỏng. Mỗi người một việc, lặng lẽ và cẩn mật như những người thợ đang ráp ngòi cho một quả bộc lôi khổng lồ giấu dưới móng nền thị trấn.

Mỗi tờ cáo thị là một bản sao chép tỉ mỉ đến từng chi tiết kỹ thuật, không hề chứa đựng những lời hiệu triệu hoa mỹ hay khẩu hiệu rỗng tuếch, mà được trình bày lạnh lùng, chặt chẽ như một tập hồ sơ giải phẫu:

Bên trái tờ giấy là bản dập than củi lấy trực tiếp từ nhật ký vận hành buồng áp lực Cửu Giá. Từng dòng chữ ngay ngắn ghi rõ niên hiệu Thiên Hưng ba mươi hai, dưới mục kiểm kê khoáng vật phụ trợ là mã số thanh lý thanh kiếm Hàn Tủy của kiếm tu Du Hành. Từng nét dập nổi gồ ghề phơi bày sự thật trần trụi: thanh kiếm danh chấn một thời không hề theo chủ nhân phi thăng cõi tiên như lời tụng ca rêu rao của đài tế, mà bị đưa vào máy nghiền trục lăn, đập vụn thành bột khoáng thô, rồi nung chảy ở nhiệt độ một ngàn tám trăm độ dưới đáy lò ngầm để làm chất dẫn dòng linh áp cho đài Huyền Khuyết.

Ở giữa tờ cáo thị là bản sao các phiếu kho Nam Trụ mang dấu triện chu sa hình hoa sen khuyết của Viện Giám sát và Chấp pháp. Những con số thời gian được khoanh tròn bằng mực đen đậm đặc, chỉ rõ sự sai lệch chết người kéo dài đúng hai canh giờ: thời điểm đài tế phát thông cáo khép cửa buồng thử nghiệm hoàn toàn lệch pha với thời điểm chiếc xe rùa chở tro của Ngô Phúc kẽo kẹt lăn bánh qua cổng gác ban đêm. Khoảng trống hai canh giờ ấy chính là lúc người sống bị bẻ gãy ý thức, lúc những thanh kiếm cốt chưa kịp nguội bị rút sống ra khỏi tủy tạng người tu luyện.

Bên phải tờ giấy là trích lục Bệnh án mật số 47 do chính tay bác sĩ Trần Mộc chấp bút dưới ánh đèn hầm y xá Thạch Tuyền. Từng nét chữ sắc sảo, dứt khoát như dao mổ mô tả chuẩn xác cấu trúc rỗ tổ ong lục giác trên các đốt sống L1 đến L5 của nạn nhân—những vết lún cơ học sâu hoắm, bờ mép cháy xém vì nhiệt ma sát cao tần. Đó là hậu quả không thể chối cãi của cơ chế cưỡng bức bòn rút kiếm cốt bằng kẹp cơ khí ba mươi hai chấu uốn khoằm, chứ tuyệt đối không phải do chứng dịch tro khoáng hay hiện tượng tẩu hỏa nhập ma tán khí như những thông cáo y tế giả mạo mà phủ Quan Tế vẫn phát ra suốt bao năm qua để lừa mị dân nghèo.

Tuyệt đối không một chữ nào nhắc tới tên họ của Ngô Phúc, Từ Bách hay người nhà của lão Quách. Những cái tên sống sót đều được Ninh Chiêu và Bùi Sách cẩn thận giấu kín dưới những ký hiệu mã kho vô danh, chừa cho họ một con đường sống trong bóng tối, một lối thoát hiểm nơi xóm thợ trước sự truy lùng ráo riết của quân tuần sai.

"Xong một trăm bản cuối cùng rồi, tỷ Ninh Chiêu," Bùi Sách khẽ thì thào, tiếng nói khản đặc vì hít phải quá nhiều bụi mực cay nồng và khói đèn dầu lạc. Cậu đưa tay áo chùi mồ hôi trên trán, để lại một vệt muội than đen sì ngang chân mày. "Các ngả đường dẫn vào ngoại viện và xóm thợ đã có người của chúng ta cắm chốt. Giờ Mão ba khắc, cổng đổi ca mở ra là hồ vừa kịp khô."

Ninh Chiêu đứng bất động bên bệ cửa sổ vỡ ở góc xưởng, nơi vách đá nứt toác thông ra vực sâu. Gió sớm từ rặng Lạc Hạc hun hút thổi vào, mang theo hơi lạnh buốt giá đặc trưng của mùa đông sắp tới cùng mùi lưu huỳnh ngai ngái lơ lửng trong không khí. Cẳng tay trái của cô quấn chặt lớp vải gai thô dày cộp, nẹp gỗ ép sát xương để giữ cho các dải gân duỗi không bị co giật sau chấn thương nặng từ vụ nổ áp lực lò thử nghiệm đêm qua ở chân trụ số Bốn. Vải băng đã ngả màu xám xịt vì bụi, rỉ ra vài vệt dịch vàng nhạt nơi đầu nẹp cọ sát vào da thịt.

Tay phải cô buông thõng, nhưng các ngón tay chai sần đang siết nhẹ chuôi thanh kiếm sắt thô bản dày. Thanh kiếm rèn dở không vỏ, không chạm khắc bất kỳ hoa văn nào, bề mặt còn hằn nguyên những vết búa tạ gồ ghề và lớp vảy xỉ màu lam đen chưa mài bóng. Nó không có hào quang của kiếm tu nội môn, chỉ có gờ sống kiếm thẳng tắp, dày dặn và sức nặng đầm tay của thứ kim loại được tôi luyện hàng chục lần dưới sức nén của thợ rèn Lò Khê.

"Phân tán thành từng cặp," Ninh Chiêu quay lại, ánh mắt bình thản nhưng sâu hoắm như miệng giếng lò đã tắt lửa. Ánh sáng vàng vọt hắt lên gò má gầy guộc của cô, làm nổi bật đường nét cương nghị nơi khóe cằm. "Dán trước ở các bể nước sinh hoạt xóm Lò Vôi, giếng thợ rèn bến Than, tường ngoài chợ than Lò Khê và các bảng tin lao dịch cổng Nam. Thấy tuần tra lập tức tản ra đường rãnh thoát nước ngầm, không được giằng co, không được manh động. Việc của chúng ta là để người dân nhìn thấy giấy trắng mực đen trước khi mặt trời lên khỏi đỉnh Huyền Khuyết."

Năm đệ tử ngoại viện đồng loạt gật đầu. Trong mắt họ không còn vẻ hoang mang, sợ sệt thường ngày của những kẻ đội sổ nơi học viện. Họ lặng lẽ chia nhau từng xấp giấy còn âm ấm mùi hồ ướt, cẩn thận bọc lại trong những tấm bao tải gai tẩm dầu chống nước, giấu sâu xuống đáy các sọt chở than cám thô sơ. Từng người một khom lưng, luồn qua cửa hầm bí mật chui ra con mương cạn phía sau xưởng than, biến mất vào màn sương mù xám đục đang cuộn trôi dưới chân thung lũng.

***

Khi ánh bình minh xám xịt như màu chì rạch một đường ngang qua dãy núi đá vôi nham nhở, trấn Lò Khê thức dậy trong một bầu không khí khác thường.

Không có tiếng chuông thanh bình báo đổi ca như mọi ngày. Gió từ rãnh núi rít qua các ống khói lò rèn nguội ngắt, tạt những tảng bụi xỉ bay là là trên mặt đất lầy lội. Bầu trời không xanh, một màu vàng vọt u ám bao trùm khắp ngóc ngách, báo hiệu lớp mây tro ngoài biển xa đang dồn dập kéo vào đất liền.

Tại giếng nước công cộng đầu chợ than Lò Khê—nơi hàng trăm phu lò, thợ bốc dỡ và thợ rèn tụ tập mỗi sớm tinh sương để rửa mặt, súc miệng và xách những thùng nước đầu tiên về làm nguội xỉ đe—một đám đông đã ken đặc vây kín bức tường gạch xỉ nứt nẻ. Những chiếc đòn gánh, thùng tôn, gầu gỗ bị vứt lăn lóc dưới chân tường bùn lầy. Những tiếng xì xào ban đầu chỉ râm ran như tiếng dế rúc dưới đống xỉ than mục, nhưng rồi nhanh chóng lan ra, va đập vào vách đá, đặc quánh lại thành một nỗi kinh hoàng nghẹt thở.

"Bản dập Cửu Giá... Thanh kiếm Hàn Tủy... Nhìn con dấu này xem! Triện đồng của Viện Giám sát!"

"Du Hành tiên sinh mười bốn năm trước không hề lên cõi tiên? Kiếm bị đập vụn nung chảy dưới đáy lò ngầm sao? Trời đất quỷ thần ơi, cả đời ta tôn thờ thanh kiếm ấy..."

Một người thợ già tóc hoa râm, lưng còng rạp như cánh cung gãy, hai bàn tay chai sần nứt nẻ chằng chịt những vết sẹo bỏng xỉ hàn, run rẩy đưa ngón tay trỏ đen đúa lần theo từng nét chữ trên tờ cáo thị dán trên vách gạch. Đôi mắt mờ đục của lão dán chặt vào dòng chữ sao chép hồ sơ điều động nhân sự mật:

*Mã LK-2-12: Trần Khôi. Trưng dụng ngày mười bảy tháng Bảy năm Thiên Hưng ba mươi tư. Lý do báo tử chính thức: nhiễm độc tro khoáng cấp tính.*

"Khôi... Trần Khôi..." Lão thợ già lảo đảo lùi lại nửa bước, chiếc gầu múc nước bằng tôn rỉ sét trên tay rơi choảng xuống nền đá, nước lạnh bắn tung tóe lên ống quần vải thô rách tơi tả của lão.

Lão bấu chặt lấy ngực áo, hơi thở dồn dập như bể rèn rách da: "Trần Khôi là thằng Hai nhà tôi... Ngày nó đi, chấp sự phủ Quan Tế cưỡi ngựa đến tận cửa xóm rước nó đi, nói nó có căn cốt dẻo dai, được chọn vào đội bảo hộ nghi lễ đặc biệt trên đỉnh núi... Chúng nó hứa mỗi tháng gửi về mười đồng bạc trợ cấp gia đình... Ba tháng sau, chúng nó đem về cho tôi một hũ sành tro xám, bảo nó chết vì ngạt khí trong hầm ngầm, dặn không được mở nắp vì uế khí... Trời đất ơi, chúng nó xẻ lưng nó rút tủy! Chúng nó kẹp đinh sắt vào xương sống nó để đốt lò!"

Tiếng gào khóc xé lòng của người cha già như một mồi lửa ném thẳng vào đống rơm khô tích tụ bao năm uất ức. Âm thanh ấy nhọn hoắt, đâm xuyên qua màn sương mù buốt giá, xé toạc lớp vỏ bọc bình yên giả tạo mà phủ Quan Tế đã dày công duy trì.

Dọc theo con đường lầy lội từ bến xe than kéo về trung tâm chợ, người ta đổ ra đường mỗi lúc một đông. Những người phụ nữ bế con nhỏ quấn tã rách, những bà mẹ già mất con bao năm mòn mỏi ngóng trông tin tức nơi núi cao, những người thợ lò cả đời còng lưng chịu thuế má nặng nề, chịu ăn cám nuốt bụi than chỉ để đổi lấy sự che chở mong manh của màn chắn phòng hộ... tất cả đều chết lặng trước những con dấu đỏ lòm và bản trích lục bệnh án của y xá Thạch Tuyền.

Bệnh án mật số 47 không thể làm giả. Không một kẻ bịa chuyện nào có thể vẽ ra thứ ngôn ngữ giải phẫu lạnh lùng đến tàn nhẫn ấy: dấu triện chu sa của viện Dược Sư, nét chữ nghiêng dứt khoát quen thuộc của bác sĩ Trần Mộc, từng dòng giải phẫu về những đốt xương bị hủy hoại hoàn toàn bởi cơ cấu kẹp cơ khí ba mươi hai chấu uốn khoằm đập thẳng vào mắt họ.

Sự thật không còn là lời đồn thổi mông lung của phường vô lại nơi quán rượu lúc canh tàn. Sự thật được đóng dấu bằng chính máu thịt của bốn mươi hai đứa con em vùng Lò Khê bị gạch tên trong hai năm qua. Những chuyến "điều động đặc biệt", những lời hứa hẹn về tiền trợ cấp gia đình, những tấm bảng gỗ vinh danh người tình nguyện hiến thân cho sự bình an của mười vạn sinh mạng dưới chân rặng Lạc Hạc... hóa ra chỉ là cái bẫy bọc nhung tinh vi để đưa những thiếu niên vừa nhú kiếm cốt vào máy nghiền sống dưới đáy đài Huyền Khuyết.

"Lũ súc sinh phủ Quan Tế!"

"Chúng nó giết con chúng ta để giữ cái đài tế rách nát của chúng nó!"

"Nuốt máu trẻ con để tu tiên! Lũ quỷ đội lốt người!"

Nỗi sợ hãi khi vượt qua một ngưỡng giới hạn nhất định sẽ không còn biến thành sự phục tùng hèn nhát, mà bùng nổ thành cơn cuồng nộ mù quáng. Một thợ lò lực lưỡng quắc mắt, cơ bắp cuồn cuộn dưới lớp áo vá giật phắt chiếc búa tạ đóng đe giắt bên hông, gầm lên một tiếng man dại xé toạc không gian. Hàng chục phu mỏ khác lập tức phụ họa, mắt long lên sòng sọc, vung xà beng, chĩa sắt gỉ, đòn gánh nện rầm rầm xuống mặt đường ray chở than đá.

"Đến kho Nam Trụ! Bắt thằng Đỗ Tuyên đền mạng!"

"Đòi lại xác con em chúng ta! Đòi lại công đạo!"

"Đập tan cái lũ ăn thịt người!"

Đám đông hàng ngàn người như một dòng lũ đen ngòm, cuốn theo bụi than và đất cát cuồn cuộn đổ về phía đông nam thị trấn, nơi kho dược Nam Trụ án ngữ sừng sững như một pháo đài biệt lập. Cơn thịnh nộ không dừng lại ở việc trừng phạt những kẻ nắm quyền bóc lột. Trong đám đông bị kích động bởi sự hoảng loạn tột cùng, khi niềm tin vào hệ thống sụp đổ tan tành, những tiếng la hét thất thanh bắt đầu biến dạng thành một ảo tưởng hủy diệt:

"Không chỉ có kho thuốc! Các trụ chắn... chín cái trụ đá quanh núi đều là vật tế nuốt người!"

"Đúng thế! Trụ đá đứng đó là còn chôn người sống! Đập vỡ các trụ đá đi! Phá hết thì chúng nó không còn chỗ để chôn sống con cái chúng ta nữa!"

"Đập vỡ trụ đá! Trụ đá là ma trận hút máu! Không có trụ thì không còn hiến tế!"

Lời đồn đại gieo rắc sự điên cuồng lan nhanh như lửa bén dầu thông giữa mùa khô hạn. Nỗi đau mất mát biến thành sự mù quáng tột độ. Một bộ phận thợ lò quá khích, mắt đỏ ngầu tơ máu, bắt đầu tách khỏi dòng người đang tiến về kho Nam Trụ. Họ hò hét nhau kéo theo những sợi xích sắt vận tải khổng lồ—thứ xích chuyên dùng để kéo toa xe mỏ nặng hàng chục tấn—rầm rộ chuyển hướng, hướng thẳng về phía bờ đông thị trấn, nơi Trụ phòng hộ số Hai sừng sững cắm sâu vào sườn đá vôi.

***

Tại kho dược Nam Trụ, bầu không khí hỗn loạn và ngột ngạt không kém gì một bãi tha ma vừa bị đào bới.

Đỗ Tuyên đứng trên bậc tam cấp bằng đá xanh trước cửa kho lớn, gương mặt bảnh bao, trắng trẻo thường ngày giờ đây xám ngoét không còn một giọt máu. Gã vừa nghe tiếng hò hét rung chuyển mặt đất từ đầu dốc tràn xuống, vừa cuống cuồng chỉ trỏ đám gia nhân đang vội vã bốc những hòm gỗ bọc da kín mít lên ba cỗ xe ngựa kiên cố đóng chốt sắt ở cửa sau.

"Nhanh tay lên! Lũ ngu xuẩn này! Cẩn thận mấy hòm đan dược thanh phế thượng hạng và cao linh chi mỏ Lạc Hạc!" Đỗ Tuyên nghiến răng ken két, dậm chân thình thịch xuống sàn đá, chửi rủa lạc cả giọng. "Rơi vỡ một lọ là chặt đầu cả lũ chúng mày! Đem hết các hòm có niêm phong đỏ lên xe trước!"

Tay gã nắm chặt lấy đốc thanh đoản kiếm nạm bạc bên hông, nhưng các khớp ngón tay run rẩy đến mức thanh kiếm va vào bao kêu lách cách. Đầu gối gã mềm nhũn, suýt nữa ngã quỵ xuống bậc thềm nếu không có tên quản sự phụ kịp đỡ lấy nách.

Gã biết rất rõ những gì ghi trên tờ cáo thị kia là thật từng dấu chấm, dấu phẩy. Không ai hiểu rõ hơn gã. Chính bàn tay gã đã ký duyệt hàng trăm lượt phiếu giao nhận dầu bôi trơn cao áp và than cám nung lò đặc chủng; chính gã đã bí mật điều động đội xe chở tro đêm của Ngô Phúc dưới danh nghĩa dọn dẹp phế phẩm luyện kim; và cũng chính gã, vào đêm xảy ra sự cố rò rỉ khí độc, đã đích thân châm ngọn đuốc thiêu rụi toàn bộ hầm số Hai để xóa sạch dấu vết tủy kiếm tu bị chiết xuất thành khoáng hiếm.

Giờ đây, khi bức màn che đậy dơ bẩn bị giật phăng giữa thanh thiên bạch nhật, Đỗ Tuyên hiểu rằng kẻ đầu tiên bị đám dân đen xé xác thành trăm mảnh để tế cờ không phải là Đỗ Kính trên đỉnh núi cao xa xôi, mà chính là gã.

"Quản sự, cổng trước bị vây kín rồi! Chúng nó đông quá, đang dùng xà beng nạy bản lề cổng rào sắt!" Một tên lính canh kho hớt hải chạy xộc vào từ hành lang hông, trán bê bết máu tươi chảy ròng ròng xuống mắt vì bị đá ném trúng. "Cổng rào sắp sập rồi! Chúng nó mang cả búa đe ra đập!"

"Đóng chặt cổng sau lại! Châm lửa đốt đống rơm rác bãi xe đánh lạc hướng rồi đánh xe men theo hẻm núi chuồn về phía núi Thanh Lư!" Đỗ Tuyên hét lên thé giọng, nhảy tót lên cỗ xe ngựa đầu tiên, giật lấy dây cương từ tay tên phu xe run lẩy bẩy. Gã hoàn toàn bỏ mặc đám phu kho và gia nhân đang chen lấn, giẫm đạp lên nhau trong sân sau để tìm đường thoát thân.

Đúng lúc cánh cổng gỗ bọc sắt kiên cố của kho dược Nam Trụ phát ra tiếng răng rắc ghê người, sắp sửa đổ sụp dưới sức ép của hàng ngàn người dân cuồng nộ, một hồi tù và bằng sừng trâu vang lên đanh thép, trầm đục từ phía chân đồi phía bắc.

Tiếng vó ngựa bọc sắt nện dồn dập, đều đặn như sấm dội trên nền đá xanh.

Hai đội chấp pháp vũ trang của phủ Quan Tế, mỗi đội đúng ba mươi người mặc giáp sắt xám đen phủ kín từ đầu đến chân, tay lăm lăm trường kích ba mũi và khiên đồng bản rộng, như hai bức tường thép lạnh lùng xé toạc màn sương, rẽ đám đông tràn tới. Động tác của họ đồng bộ đến đáng sợ, mỗi bước chân nện xuống đều mang theo sát khí lạnh lẽo của những cỗ máy giết người được huấn luyện chuyên nghiệp.

Dẫn đầu đoàn quân là một chấp sự nội môn mặt sắt đen sì, cưỡi trên lưng con tuấn mã bọc giáp da. Gã giơ cao lệnh bài mạ vàng khắc chìm biểu tượng đỉnh núi Huyền Khuyết tỏa ánh lân quang sắc lạnh.

"Phủ Quan Tế có lệnh!"

Tiếng quát kèm theo linh lực Dẫn Ý của tên chấp sự vang lên rền rĩ, như tiếng kim loại cọ xát vào nhau, đè bẹp hoàn toàn tiếng la hét hỗn loạn của đám đông. Sóng xung kích vô hình từ giọng nói khiến hàng chục người đứng gần lảo đảo, màng nhĩ đau nhức nhối.

"Toàn trấn Lò Khê lập tức bước vào tình trạng thiết quân luật cấp một!" Tên chấp sự gằn từng tiếng, mắt quét qua đám đông như lưỡi đao cạo qua da thịt. "Cấm tụ tập quá năm người trên đường phố! Cấm mang vũ khí sắt thép ra khỏi nơi cư trú! Kẻ nào cầm vũ khí, xúi giục bạo loạn, phá hoại công trình phòng hộ của tông môn đều bị coi là mưu phản, chém đầu tại chỗ không cần xét xử, bêu đầu nơi cổng chợ!"

Đám đông thợ lò khựng lại. Những chiếc búa tạ giơ cao lơ lửng giữa không trung. Trước rừng kích nhọn hoắt sáng loáng và những mũi tên sắt đen nhánh đã giương sẵn trên cánh nỏ căng dây của đội chấp pháp, sự uy nghiêm tàn bạo của quyền lực tông môn tích tụ hàng trăm năm vẫn tỏa ra một sức nặng ghê gớm, bóp nghẹt khí thế hừng hực vừa bùng lên.

"Tất cả các kho thuốc, kho lương trong trấn tạm thời niêm phong dưới sự kiểm soát quân sự của phủ Quan Tế!" Tên chấp sự tiếp tục quát lớn, giọng điệu không chút gợn sóng cảm xúc. "Cắt toàn bộ định mức than đá loại một và than cám của tất cả các xưởng rèn thuộc trấn Lò Khê kể từ giờ khắc này! Xưởng nào dám mở lò, xưởng nào chứa chấp kẻ rải truyền đơn phản nghịch, lập tức tịch thu toàn bộ tài sản, đày cả họ đi lao dịch khổ sai nơi Trầm Đới!"

Đòn trừng phạt tàn nhẫn giáng xuống chuẩn xác vào yết hầu của giới thợ.

Cắt than đá đồng nghĩa với việc dập tắt mọi lò rèn; dập tắt lò rèn đồng nghĩa với việc chặt đứt hoàn toàn miếng cơm manh áo của hàng vạn gia đình ngay trước mùa bão tro nghiệt ngã. Không có than sạch để đốt lò sưởi, người già và trẻ nhỏ trong xóm thợ sẽ chết rét, chết ngạt khi tro độc tràn về.

Một sự im lặng ngột ngạt, đè nén đến phát khóc bao trùm lấy quảng trường trước kho dược Nam Trụ. Những cánh tay cầm búa đe, xà beng từ từ hạ xuống, run rẩy trong bất lực. Không phải vì họ nguôi giận, mà vì nỗi tuyệt vọng nghẽn ứ nơi cổ họng, biến thành những tiếng nghiến răng ken két trong bóng tối.

Thế nhưng, quân chấp pháp đã đến quá muộn để kiểm soát toàn bộ thị trấn. Ở một góc khác, nhóm thợ lò quá khích kéo về Trụ phòng hộ số Hai thì không có ai ngăn cản. Cơn điên loạn của họ đã tìm được một mục tiêu cụ thể để trút hận.

***

Gió tro từ phía đông bắc bắt đầu thổi từng cơn rát mặt qua hẻm núi Lò Khê.

Bầu trời vốn đã xám xịt nay càng thêm tối tăm, từng mảng mây bụi nặng nề cuộn xoáy như một tấm thảm chì khổng lồ chực sụp xuống đè nát mười vạn sinh linh dưới chân núi. Không khí khô khốc, mang theo vị chua chát của quặng lưu huỳnh bị nung cháy, hít vào buồng phổi nghe rát buốt như có dăm thủy tinh cọ xát.

Dưới chân vách đá phía đông thị trấn, Trụ phòng hộ số Hai sừng sững đứng đó như một ngọn tháp cụt bằng đá phiến đen. Thân trụ rộng hơn ba trượng, ăn sâu vào nền móng địa mạch tự nhiên của dãy núi, bề mặt khắc chi chít những đường rãnh dẫn năng lượng đã đóng vảy xỉ khoáng lâu năm. Đỉnh trụ đang phát ra những tiếng vo vo trầm đục, rung chuyển mặt đất theo từng chu kỳ, phóng lên không trung một quầng sáng màu lam mờ nhạt—bức bình phong duy nhất ngăn cản những đợt tro độc mang toan tính hủy diệt tràn thẳng vào khu dân cư đông đúc nhất của xóm Thợ, xóm Lò Vôi và khu chợ Than.

Lúc này, chân trụ đá đã bị quấn chặt bởi ba vòng xích sắt kéo xe mỏ cỡ lớn, mỗi mắt xích to bằng cổ tay người lớn, rỉ sét loang lổ. Gần hai trăm thợ lò và dân nghèo đang bám chặt vào hai đầu dây xích, hai chân đạp lún vào đất cát, kéo căng sợi xích như một dây đàn khổng lồ sắp đứt. Hàng chục cây xà beng thép dài cả trượng đã chèn sâu vào các khe nứt chân đế bằng đá hoa cương, lợi dụng các gờ đá làm điểm tựa để nạy bung toàn bộ kết cấu móng.

"Một... hai... ba... KÉO!"

Một gã thợ mỏ gầy guộc, hai mắt vằn đỏ như mắt thú dại, vừa kéo xích vừa gào lên khản giọng: "Kéo sập nó đi! Đập nát cái cột đá nuốt người này! Đỗ Kính lấy mạng con tao nuôi nó, tao đập nát nó xem lão lấy cái gì để tế trời!"

"KÉO! DẬP NÓ ĐI!"

Những tiếng ken két rợn người vang lên rền rĩ khi kim loại cọ sát, nghiến ngấu vào đá cứng. Mảnh vữa xi măng xỉ sắt gắn kết chân trụ bắt đầu rạn nứt, nổ lách tách rồi rơi lả tả xuống đất từng mảng lớn. Quầng sáng lam trên đỉnh trụ lập tức chập chờn, co giật liên hồi như ngọn đèn dầu trước cơn giông bão. Địa mạch bên dưới rung lên từng đợt gắt gao. Chỉ cần vài nhịp kéo dồn lực của hai trăm con người đang phát cuồng kia, kết cấu chịu tải của trụ số Hai sẽ sụp đổ hoàn toàn, kéo theo toàn bộ mảng màn chắn phía đông tan rã thành mây khói trong nháy mắt.

"DỪNG TAY LẠI!"

Một tiếng quát sắc bén vang lên từ trên mỏm đá cao phía trên bờ hào xả xỉ.

Âm thanh không hề mang theo uy áp linh lực cuồn cuộn của tu sĩ Kết Cốt, nhưng lại có cái đanh thép, lạnh lùng của tiếng thép tôi gặp nước lạnh, dội thẳng vào màng nhĩ của đám đông đang cuồng loạn, khiến nhịp hô kéo xích bỗng khựng lại nửa nhịp.

Một bóng người từ trên bờ dốc cao hơn một trượng thoăn thoắt nhảy xuống. Thân hình rơi xuống nhẹ như chim nhạn, nhưng khi chạm đất lại vững vàng như một trụ đá, hai gót chân nện lún sâu vào lớp đá dăm trên khoảng đất trống nằm ngay giữa đám đông và chân trụ đá.

Ninh Chiêu.

Cô mặc chiếc áo thợ rèn ngắn tay bằng vải bạt thô nhuộm vỏ cây vẹt góc, vạt áo đã sờn rách loang lổ những vệt dầu máy đen sì và muội than bám chặt vào từng thớ vải. Cánh tay trái quấn băng nẹp trắng áp sát vào lườn sườn, bất động hoàn toàn, nhưng cánh tay phải lại vác thanh kiếm sắt bản dày ngang vai. Bàn chân cô nện vững chãi trên nền đá dăm lởm chởm, hai vai thả lỏng tự nhiên như bản lề cơ khí hoàn hảo mà Tống Hoài từng khổ công uốn nắn suốt bao năm qua, tạo nên một thế đứng sừng sững, bất động như cọc mốc cắm sâu vào lòng địa mạch.

Phía sau cô, Bùi Sách và ba đệ tử ngoại viện thở không ra hơi, mồ hôi nhễ nhại cuốn theo bụi than thành những dòng đen đúa trên má. Họ tay xách theo những cuộn dây thừng gai to bản và các bao tải cát ướt nặng trịch, vội vã dàn thành hàng ngang che chắn ngay trước mép móng trụ đang rạn nứt.

"Ninh Chiêu? Con gái thợ cả Ninh Trác?" Gã thợ mỏ cầm đầu buông lỏng tay xích, quắc mắt nhìn cô, lồng ngực gã phập phồng dữ dội, giọng gầm gừ như thú hoang: "Mày đến đây làm gì? Xưởng Lò Ninh của nhà mày cũng vừa bị niêm phong rồi, mày còn muốn làm chó săn cho phủ Quan Tế để giữ cái cột đá ma quỷ này à?"

"Đúng đấy! Đập nó đi! Nó là đồ ăn thịt người! Tránh ra không chúng tao đập luôn cả mày!" Đám đông phía sau lập tức gào thét phẫn nộ, những chiếc xà beng và búa đe giương cao lởm chởm trong không trung, sẵn sàng lao vào nghiền nát bất cứ kẻ nào dám cản đường.

Ninh Chiêu không hề lùi lại nửa bước. Đôi mắt cô phẳng lặng như mặt nước giếng sâu, không một gợn sóng sợ hãi. Cô chậm rãi hạ thanh kiếm sắt từ trên vai xuống, không dùng linh lực gầm rú, chỉ dùng sức nặng tự thân của thanh sắt và lực cổ tay dứt khoát, cắm phập mũi kiếm sâu nửa tấc vào kẽ nứt giữa hai phiến đá lát dưới chân.

*Coong!*

Tiếng thép va vào đá đanh gọn, dội lại vách núi vang vọng. Bàn tay phải chai sần của cô đặt hờ lên chuôi kiếm, đôi mắt sắc lạnh quét qua từng khuôn mặt lem luốc bùn than, những đôi mắt vằn đỏ giận dữ nhưng ẩn sâu bên trong là nỗi kinh hoàng tột độ của những con người đang đứng bên bờ vực diệt vong.

"Tôi là thợ rèn Lò Khê, cả đời cha tôi và tôi sống bằng hạt than cám, bằng giọt mồ hôi mặn chát của mảnh đất này, không phải đệ tử ngậm thìa vàng của tông môn mà làm chó săn cho ai cả!" Giọng Ninh Chiêu vang lên rõ ràng, từng chữ rành rọt át cả tiếng gió rít qua hẻm núi. "Tôi cầm thanh kiếm này đến đây không phải để đánh nhau với các bác, các chú. Tôi đến đây để bảo các người: nếu muốn chết cả nút, muốn chôn sống cả nhà mình thì cứ việc kéo thêm một nhịp xích nữa đi!"

Đám đông sững lại trước thái độ lạnh băng, không chút nao núng của cô gái trẻ. Gã thợ mỏ cầm đầu nghiến răng, cơ mặt co giật: "Mày dọa ai? Mày bảo chúng tao không được đập? Không đập vỡ nó thì con cháu chúng ta sẽ lần lượt bị chúng nó bắt đi làm vật tế! Mày không thấy bản cáo thị dán ngoài chợ à?"

"Các người nghĩ đập vỡ cái trụ này thì Đỗ Kính sẽ sợ hãi mà bước ra đầu hàng sao? Nghĩ đập vỡ nó thì con em các người sẽ sống lại sao?" Ninh Chiêu bước lên nửa bước, chỉ thẳng mũi kiếm về phía bầu trời phía đông bắc. "Mở to mắt ra mà nhìn lên trời xem! Gió tro từ biển đông bắc chỉ còn bốn ngày nữa là tràn ngập thung lũng này! Trụ số Hai này là lá chắn duy nhất, là bức tường cuối cùng ngăn tro độc tràn vào xóm Thợ, xóm Lò Vôi và toàn bộ khu dân cư phía đông này!"

Cô quay phắt lại, mũi kiếm quét một vòng chỉ thẳng vào thân trụ đá đang rung rinh:

"Bên trong trụ đá này là kết cấu dẫn mạch cơ học thời cổ, do tiền nhân tạo dựng để bảo bọc đất này! Bản thân nó là sắt đá, là mồ hôi của tổ tiên thợ rèn, nó không có tội! Kẻ có tội là Đỗ Kính và lũ người đã cải tạo van áp lực để bòn rút tủy người sống! Các người đập vỡ một cỗ máy vô tri thì giải quyết được cái gì?"

Cô dừng lại một nhịp, lồng ngực phập phồng điều hòa hơi thở sâu của tầng đáy Luyện Thân, ánh mắt găm thẳng vào gã thợ mỏ cầm đầu đang run rẩy:

"Bác Trương, nhà bác ở ngay chân dốc xóm Lò Vôi đúng không? Vợ bác bị bệnh tro mạn tính nằm liệt giường ba năm nay, đứa con gái nhỏ mới lên sáu tuổi ngày nào cũng ra giếng múc nước cho bác. Bác có biết nếu cái trụ này đổ sụp xuống bây giờ thì điều gì sẽ xảy ra không? Quầng sáng phòng hộ sẽ tắt ngấm ngay lập tức! Gió tro mang theo toan khoáng đậm đặc sẽ ùa vào thung lũng trong vòng nửa canh giờ! Mười vạn con người dưới chân núi này sẽ chết ngạt, mắt mù, phổi thối rữa ra trước khi các người kịp leo lên đến bậc thềm đài Huyền Khuyết để chạm vào một sợi tóc của Đỗ Kính!"

Những người thợ đứng đầu hàng xích sắt bắt đầu biến sắc. Một vài người vô thức buông lỏng bàn tay, quay đầu nhìn về phía những mái nhà lợp ngói xỉ thấp lè tè dưới thung lũng, nơi khói bếp mỏng manh của gia đình họ vẫn đang lơ lửng bốc lên trong gió lạnh.

"Đỗ Kính ngồi trên đỉnh núi cao hàng ngàn trượng!" Ninh Chiêu cất cao giọng, từng lời như nhát búa nện thẳng vào thực tế tàn khốc mà họ đang cố tình lảng tránh. "Trên đó có đại trận phòng hộ riêng biệt, có mật thất đào sâu trong lòng đá hoa cương, có đan dược quý, có sáp lọc khí tích trữ đủ dùng cho ba năm ròng rã! Lão không chết vì bão tro! Lão chỉ cần ngồi trên đài cao nhìn xuống, nhìn mười vạn người chúng ta tự tay đập vỡ lá chắn sinh tồn duy nhất của chính mình, rồi tự chôn sống lẫn nhau trong tro bụi! Các người tưởng làm thế là trả thù cho con em mình sao? Đó là tự sát tập thể! Đó là đem mạng sống của cha mẹ, vợ con các người dâng lên đĩa bạc để giúp Đỗ Kính xóa sạch mọi chứng cứ mà chúng ta vừa vất vả phơi bày ra ánh sáng!"

Sự im lặng bao trùm lấy chân trụ đá. Chỉ còn tiếng gió rít qua các khe nứt và tiếng xích sắt chùng xuống, cọ vào nền đá lách cách run rẩy.

Những bàn tay gân guốc từng siết chặt xích sắt bắt đầu buông lỏng trong vô thức. Người thợ mỏ tên Trương từ từ buông hai tay ra khỏi mắt xích lạnh buốt. Chiếc búa tạ trên tay gã thõng xuống chạm mặt đất, đầu gối gã khuỵu xuống, đôi vai gầy guộc sụp xuống trong nỗi đau đớn và bế tắc cùng cực.

"Vậy... vậy chúng tôi phải làm gì đây hả Ninh Chiêu?" Gã thợ già bật khóc, nước mắt làm trôi đi những vệt muội than trên gò má nhăn nheo. "Đỗ Kính ban bố thiết quân luật rồi... Quân chấp pháp mang đao kiếm khóa chặt các ngả đường... Lão cắt hết than của các xưởng rèn... Lão đóng cửa toàn bộ kho thuốc Nam Trụ... Không có than đốt lò, thợ rèn chết đói, người già chết cóng... Giữ cái trụ này thì con cái chúng tôi cũng sẽ lần lượt bị chúng nó bắt đi làm vật tế... Sống thế nào được nữa đây?"

Nhiều người đàn bà phía sau đã bắt đầu ôm mặt khóc nấc lên. Tiếng khóc nghẹn ngào, ai oán lan nhanh trong gió lạnh, hòa vào tiếng rên xiết của núi rừng trước cơn giông bão.

Ninh Chiêu hít một hơi sâu, rút thanh kiếm sắt lên khỏi kẽ đá, mũi kiếm dứt khoát chỉ về phía những bao tải cát mà nhóm Bùi Sách vừa mang tới:

"Sống bằng chính đôi tay của người thợ! Sự thật đã phơi bày trên từng bức tường, chúng ta không thể lùi bước, nhưng muốn đòi lại máu nợ thì trước hết phải sống sót qua mùa bão tro này đã! Đỗ Kính cắt than đá của tông môn, chúng ta tìm than sạch dự trữ trong dân! Lão khóa kho thuốc, y xá Thạch Tuyền của bác sĩ Trần Mộc vẫn còn các bài thuốc xông thanh phế bằng thảo mộc tự nhiên! Ngay bây giờ, buông xích sắt ra!"

Cô bước nhanh tới mép chân trụ, cúi người dùng một tay vần một tảng đá hộc nặng cả tạ chèn chặt vào khe nứt vừa bị cạy bung móng:

"Đóng bao cát lại! Đưa đá hộc đến đây gia cố bờ hào quanh chân trụ số Hai! Đào rãnh xả cặn tro sâu thêm hai thước để giảm áp lực dòng chảy khi gió lớn tràn về! Thanh niên và thợ lò khỏe mạnh chia nhau dồn than sạch, củi khô vào các hầm trú ẩn sâu trong lòng đá! Người già, trẻ nhỏ gom lại, chuẩn bị sẵn xe kéo và bạt tẩm dầu để sẵn sàng di tản về các khu trú ẩn kiên cố khi bão tro đạt đỉnh! Chúng ta tự bảo vệ lấy gia đình mình, không cầu xin tông môn ban phát ân huệ, nhưng tuyệt đối không được tự tay phá hủy đường sống của chính mình!"

Những lời dứt khoát, rành mạch và thực tế của Ninh Chiêu như một dòng nước lạnh tạt thẳng vào cơn mê muội cuồng loạn của đám đông. Người thợ Lò Khê vốn quen với lao động chân tay, quen với việc đối mặt với hiểm nguy dưới lòng đất bằng những hành động cụ thể hơn là những lời than khóc sáo rỗng. Khi một người thợ rèn có uy tín đứng ra vạch cho họ thấy từng bước kỹ thuật phải làm để sinh tồn, nỗi sợ hãi mù quáng dần dần nhường chỗ cho bản năng tự vệ có tổ chức.

Nhưng đúng lúc một vài thợ lò bắt đầu rụt rè tiến lại gần những bao cát của Bùi Sách, một giọng nói sang sảng, ồm ồm vang lên từ phía sau hàng rào đá:

"Nói thì nghe dễ lắm, Ninh Chiêu!"

Đám đông dạt ra hai bên như sóng rẽ. Một người đàn ông vạm vỡ, trạc ngoài bốn mươi tuổi, khoác chiếc áo da trâu thuộc dày cộp bước ra. Hai cánh tay gã cuồn cuộn những múi cơ sắt đá, đen bóng màu muội than lâu năm. Trên vai và ngực gã còn dính những vệt máu khô đóng vảy đen nhánh—hậu quả của vụ nổ lò thử nghiệm đêm qua ở trụ số Bốn mà gã đã đích thân tham gia cứu hộ.

Vũ Kha.

Chủ xưởng rèn lớn nhất nhì trấn Lò Khê, đối thủ cạnh tranh gay gắt, một mất một còn suốt mười mấy năm qua của xưởng Lò Ninh. Gã là người nắm giữ huyết mạch vật tư, các hợp đồng cung ứng thép lá và kiểm soát hơn nửa số thợ rèn tay nghề cao dưới chân núi. Đám đông xôn xao, nhiều người e ngại lùi lại phía sau. Vũ Kha vốn có mối quan hệ làm ăn sâu rộng với mạng lưới vận tải của kho Nam Trụ, việc gã đột ngột xuất hiện ở đây khiến không ít người nghi ngờ gã đến để thi hành lệnh thiết quân luật của quân chấp pháp.

Vũ Kha bước thẳng tới trước mặt Ninh Chiêu, dừng lại cách cô chỉ ba bước chân. Đôi mắt ti hí nhưng sắc bén như dao cạo của gã thợ rèn kiêu ngạo nhìn xoáy vào cô gái trẻ, rồi lướt xuống thanh kiếm sắt thô ráp và cánh tay trái quấn nẹp gỗ của cô.

"Cô bảo dân chúng gom than sạch, nhưng cô có biết toàn bộ than đá loại một của mỏ Lạc Hạc đã bị quân chấp pháp niêm phong tại các trạm cân từ đầu giờ Thìn không?" Vũ Kha gằn từng tiếng, giọng đầy vẻ khiêu khích nhưng đáy mắt lại ẩn chứa một tia giông bão. "Cô bảo gia cố bờ hào, nhưng có biết muốn giữ màng chắn không nổ tung khi linh áp ngoài kia nhảy vọt thì cần bao nhiêu chốt ngắt cơ học không?"

Ninh Chiêu không hề né tránh ánh nhìn sắc như dao của gã. Cô đứng thẳng lưng, bình thản đáp:

"Tôi biết. Cần ít nhất sáu mươi chiếc chốt thép gió ba lớp có góc mài khuyết mười bảy độ theo đúng bản vẽ kỹ thuật của cha tôi. Và cần ba mươi tấn than sạch không chứa độc lưu huỳnh để duy trì các lò sưởi hầm trú ẩn cho mười vạn người trong ba ngày bão lớn."

Vũ Kha nhìn cô chằm chằm suốt mấy nhịp thở dài nghẹt thở. Cả sườn núi im phăng phắc, chỉ có tiếng gió rít qua khe đá. Bất chợt, khóe miệng đầy râu quai nón của gã nhếch lên, tạo thành một nụ cười khô khốc, gằn từng chữ:

"Cô bé con... cô nhớ bài bản vẽ của lão Ninh Trác kỹ đấy."

Gã quay phắt người lại đối diện với hàng trăm thợ lò đang nín thở theo dõi, vung cánh tay gân guốc như gọng kìm thép lên cao, giọng nói vang dội như sấm truyền khắp sườn núi đá:

"Lũ chấp pháp phủ Quan Tế nghĩ cắt định mức than là bóp chết được thợ rèn Lò Khê sao? Bọn chúng ngồi trên đài cao quá lâu nên lú lẫn hết cả rồi!"

Gã rút phắt chiếc búa rèn cán ngắn giắt sau lưng đai da, vung một đòn sấm sét chém ngang không khí, nện thẳng xuống sợi dây xích sắt đang quấn quanh chân trụ số Hai.

*KEEENG!*

Tia lửa bắn tung tóe chói lòa. Mắt xích bằng sắt nguội vỡ đôi thành hai nửa, văng tung tóe ra nền đá vụn.

"Xưởng rèn của Vũ Kha này còn một kho than ngầm cất giấu từ năm ngoái—ba mươi lăm tấn thép gió và than cám loại tốt nhất mỏ Lạc Hạc!" Vũ Kha hét lớn trước ánh mắt bàng hoàng, sững sờ của toàn thể đám đông. "Từ giờ khắc này, mở toang cửa kho ngầm! Chia đều than sạch cho tất cả các hầm trú ẩn xóm Lò Vôi và xóm Thợ! Mười hai bễ rèn của xưởng tôi sẽ đỏ lửa thâu đêm! Toàn bộ thợ cả, thợ phụ tập trung về xưởng, gia công toàn bộ các chốt ngắt nhánh theo đúng bản vẽ kỹ thuật của Lò Ninh!"

Một tiếng ồ kinh ngạc rộ lên trong đám đông, rồi nhanh chóng vỡ òa thành những tiếng hò reo vang dội, rung chuyển cả vách đá vôi. Những giọt nước mắt tuyệt vọng biến thành những nụ cười rạng rỡ trên những khuôn mặt đen nhẻm bùn than.

Vũ Kha quay lại nhìn Ninh Chiêu, ánh mắt gã ánh lên vẻ kiên định, thô ráp của một người thợ đã dứt khoát rũ bỏ mọi toan tính vị kỷ, đê hèn để chọn đứng về phía sinh tồn của đồng loại. Gã chìa bàn tay to bè, nứt nẻ và đen nhẻm vì muội than ra trước mặt cô:

"Bản vẽ chốt ngắt nhánh của Ninh Trác... đưa đây cho tôi. Lò Khê này không chỉ có một mình nhà họ Ninh biết rèn thép!"

Ninh Chiêu nhìn bàn tay thô ráp của đối thủ cũ, khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười hiếm hoi—nụ cười đầu tiên sau chuỗi ngày dài đằng đẵng chìm trong bóng tối và máu lửa. Cô đưa bàn tay phải chai sạn nắm chặt lấy bàn tay Vũ Kha. Hai bàn tay thợ rèn siết chặt lấy nhau, thô ráp, cứng cỏi và vững chắc như hai khối thép vừa tôi qua lửa đỏ.

"Bùi Sách!" Ninh Chiêu quay lại, cất giọng đầy sức sống và dứt khoát. "Đưa bản vẽ cho anh Vũ Kha! Các bác, các chú, bắt tay vào việc thôi! Dựng lại bờ hào, bảo vệ trụ số Hai!"

"RÕ!"

Tiếng đáp đồng thanh vang dội cả một góc trời, át đi cả tiếng gầm gừ của gió độc ngoài hẻm núi. Không còn sự hoảng loạn, không còn những tiếng đập phá điên cuồng, mù quáng. Hàng trăm con người lập tức túa ra như một tổ kiến thợ có kỷ luật: người vần đá hộc, người xúc cát ướt đóng bao, những chiếc xe kéo chở vật tư bắt đầu chuyển bánh rầm rập trên nền đường ray gia cố chân trụ. Mạng lưới thợ thủ công Lò Khê, lần đầu tiên sau ba mươi năm chịu sự đè nén của đài cao, đã tự mình đứng dậy tổ chức một trật tự sinh tồn độc lập hoàn toàn với bộ máy cai trị của tông môn.

***

Trong khi đó, trên đài cao Huyền Khuyết lộng gió tro mù mịt, sương muối phủ trắng những phiến đá hoa cương lạnh lẽo.

Quan Tế Đỗ Kính đứng chắp tay sau lưng bên lan can đá chạm trổ hình hoa sen cụt cánh, tà áo bào thêu chỉ bạc bay phần phật trong gió bấc lạnh buốt. Từ độ cao này nhìn xuống, thị trấn Lò Khê dưới chân núi không hề bốc cháy trong cảnh hỗn loạn, tự diệt vong như những tính toán ban đầu của phủ Quan Tế. Ngược lại, những đốm lửa lò rèn bắt đầu bùng lên đỏ rực ở khu xưởng thợ, những đoàn người trật tự khiêng đá đắp bờ hào quanh trụ số Hai hiện rõ mồn một qua chiếc kính viễn vọng bằng thạch anh trên tay ông ta.

Chiếc nhẫn bạc trên ngón trỏ phải của Đỗ Kính bắt đầu phát ra những luồng lân quang màu lam nhấp nháy liên hồi, tần số rung động nhanh gấp ba lần bình thường. Địa mạch dưới chân đài tế đang co thắt dữ dội, áp suất tụt dốc không phanh báo hiệu bão tro ngoài biển lớn đã bắt đầu chuyển hướng sớm hơn dự kiến.

Tiếng bước chân gấp gáp của Đỗ Tuyên vang lên phía sau, gã thở hổn hển, quỳ sụp xuống sàn đá: "Chú... chú ơi! Đám thợ lò không chịu đập trụ... Chúng nó... chúng nó liên minh với con ranh Ninh Chiêu và thằng Vũ Kha rồi! Than ngầm của xưởng Vũ Kha đã mở kho phát cho dân... Kế hoạch dùng hỗn loạn để xóa sổ nhóm điều tra hỏng rồi!"

Đỗ Kính không quay đầu lại. Khuôn mặt già nua với những nếp nhăn khắc khổ của ông ta đanh lại như đá tảng, đôi mắt đục ngầu nhìn về phía đường chân trời phía đông bắc—nơi một bức tường tro xám khổng lồ cao hàng ngàn trượng đang chậm rãi nuốt chửng ánh sáng mặt trời.

Màn chắn không thể chờ đợi thêm một khắc nào nữa.

Trên đài cao, Đỗ Kính nhìn xuống thị trấn hỗn loạn, lạnh lùng hạ lệnh:

"Chuyển ngay các tải sống xuống hầm ngầm, chuẩn bị khởi động đại trận trước thời hạn."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories