Chỗ đặt một con người
Bậc thang đá đen dẫn xuống một vòm hang ngầm nhân tạo rộng lớn, nơi chín luồng sáng xanh xám lạnh lẽo rọi thẳng vào những chiếc bệ sắt sừng sững giữa sàn đá.
Không gian bên dưới lòng đất sâu thẳm mở rộng ra thành một khoảng vòm bát úp khổng lồ, các phiến đá hoa cương ghép vách đã bị hơi ẩm và khí độc gặm nhấm suốt nhiều thập kỷ, phủ lên mình lớp rêu khoáng màu tro xám nhờ nhờ. Không khí nơi đây đặc quánh một thứ mùi hỗn hợp ghê tởm: mùi dầu biến tính dùng để bôi trơn các trục cơ khí hạng nặng, mùi toan khoáng cay sè xộc thẳng vào cuống họng làm bỏng rát niêm mạc, và nồng nặc nhất là thứ mùi tanh nồng lợm giọng của chất đạm hữu cơ bị hun khô qua năm tháng. Đó không phải mùi của xác chết đang phân hủy tự nhiên, mà là mùi của máu thịt và tủy sống bị nướng chín chậm rãi dưới áp lực nhiệt cơ học, ngưng đọng lại trong các ngóc ngách tối tăm không bao giờ thấy ánh mặt trời. Tiếng gió rít cơ học từ sâu trong các hốc xả áp ngầm dội về, trầm đục và nhịp nhàng như hơi thở nặng nề của một con quái vật sắt thép khổng lồ đang nằm phục dưới đáy sâu.
Ninh Chiêu siết chặt quai búa tạ đeo chéo sau lưng. Bản dây da bò thuộc đã ngấm đẫm mồ hôi lạnh, cọ sát vào bờ vai ê ẩm của cô. Bàn tay trái quấn những vòng băng vải thô dính máu khô đen két khẽ co giật từng chặp theo từng nhịp tim đập dồn dập. Mỗi lần gót giày đinh của cô chạm xuống bề mặt bậc đá hoa cương cuối cùng, một chấn động nhỏ lại truyền thẳng qua lớp xương cẳng chân lên tận đốt sống lưng, cảnh báo sự hiện diện của một vùng linh trường nghịch chuyển đầy quái dị.
Cả ba người đứng sững lại trước cảnh tượng mở ra giữa đại sảnh.
Chín cái giá bằng kim loại đúc dày dặn, cao vượt đầu người trưởng thành, xếp thành một hình vòng cung hoàn hảo xoay quanh miệng một hố sụt tròn sâu hoắm ở vị trí trung tâm. Khoảng cách giữa các giá sắt đều tăm tắp, chuẩn xác đến từng phân lóng tay như thể được định vị bởi những chiếc compa đo đạc của các đốc công công trình cơ khí nghiêm cẩn nhất. Chúng hoàn toàn không phải là những bệ thờ thần linh trang nghiêm, cũng chẳng phải đài đặt linh vị của các bậc tiền bối khai sơn phá thạch, càng không mang bất kỳ dáng dấp nào của khí cụ phong ấn trận pháp truyền thống.
Mỗi chiếc giá được đúc phỏng theo tư thế đứng thẳng của một con người trưởng thành, với các chi tiết kim khí xù xì, gồ ghề và nặng nề đến tàn nhẫn. Phần chân đế của mỗi chiếc giá là một khối gang đúc đặc hình vuông rộng bốn thước, được cắm chặt xuống nền đá hoa cương bằng bốn chiếc bu-lông cỡ lớn bằng thép nguội. Đầu bu-lông to bằng nắm tay trẻ con, ren xoắn thô ráp, và tất cả đều đã bị tán chết bằng đục hoa văn bẹp rúm, bẻ gập mép thép để khóa vĩnh viễn toàn bộ cấu trúc cơ khí quái đản đó vào xương sống của lòng đất, ngăn chặn mọi khả năng lay chuyển hay tháo dỡ từ bên ngoài.
Lê Vãn nâng cao ngọn đèn dầu khoáng bọc trong chiếc lồng đồng bảo hộ. Bước chân chị khẽ khàng nhưng dồn dập, gót giày vải nện dè dặt trên mặt đá trơn trượt. Quầng sáng vàng vọt tù mù quét qua từng bệ sắt, rọi sáng lớp kim loại màu xám đen bóng nhẫy dầu mỡ và làm lộ rõ những chi tiết lạnh gáy khiến sống lưng người ta tê dại.
Mỗi giá sắt đều có hai vòng đai thép bản rộng nửa tấc ở vị trí ngang cổ tay người đứng, mép đai được mài tròn để tránh cắt đứt động mạch nhưng bề mặt trong lại xẻ rãnh khía ca-rô nhằm tăng tối đa ma sát bám giữ. Ở tầm cổ chân là hai vòng kẹp xích cơ khí gắn then cài tự khóa, liên kết với hệ thống cóc hãm răng cưa ở phía sau. Trên đỉnh cao nhất của mỗi giá, ngang tầm đầu người, là một khung vòm bán nguyệt bằng sắt ôm trọn lấy phần hộp sọ, hai bên thái dương được trang bị hai chốt ép cơ học có ren xoắn siết ngoài, đầu chốt bọc một lớp đệm đồng thau mỏng đã biến dạng lồi lõm vì phải chịu lực ép cực lớn từ hai phía màng tang của vô số người từng bị cố định tại đây.
Nhưng thứ khiến ánh mắt người thợ rèn như Ninh Chiêu phải thắt nghẹt lại, khiến buồng phổi cô co thắt dữ dội, chính là dải trục kim loại chạy dọc theo sống lưng của giá đỡ.
Dọc theo đường cong uốn lượn phỏng theo giải phẫu cột sống của con người—bắt đầu từ vị trí đốt sống cổ C1 chạy dài liên tục xuống tận vùng xương cụt—là một hệ thống cơ khí tinh vi gồm đúng ba mươi hai chấu kẹp bằng bạc trắng sáng loáng. Những chấu kẹp này hoàn toàn đối lập với vẻ thô kệch của phần khung sắt bao quanh; chúng được chế tác với độ chính xác kim hoàn tuyệt đối. Bề mặt các chấu bạc không hề phẳng mịn mà được tiện những hàng răng cưa nhỏ li ti, đầu chấu vát nhọn chừng ba phân, hơi khoằm xuống và uốn cong như những chiếc móng vuốt của loài chim săn mồi hung dữ, chực chờ găm thẳng vào khoảng trống giữa các gai đốt sống lưng.
“Đây không phải đồ tế lễ...” Giọng Lê Vãn khô khốc, vỡ vụn ra trong cổ họng như thể chị vừa nuốt phải một vốc cát tro nóng. Chị đưa tay áo quẹt vội những giọt mồ hôi lạnh đang túa ra ròng ròng trên trán, cây thước đồng kẹp dưới nách kêu lạch cạch run rẩy theo từng nhịp thở dồn dập. “Đây là giá gông cơ học... kẹp chết cơ thể từ đằng sau.”
Tống Hoài bước lại gần, bước chân anh hơi khập khiễng. Đốt sống thứ tư sau lưng anh bắt đầu nhói buốt, từng cơn đau buốt như kim châm lan tỏa khắp các nhánh rễ thần kinh tủy sống khi anh tiến sâu vào phạm vi linh trường nghịch chuyển đang bao trùm căn phòng ngầm. Anh dừng lại cách chiếc giá sắt ngoài cùng bên trái đúng ba bước chân, ánh mắt lạnh như băng vụn quét qua từng chi tiết cơ khí:
“Không chỉ kẹp. Nhìn kỹ góc nghiêng của các ngàm bạc đi. Ba mươi độ xiên chếch vào trong. Chúng được thiết kế để khi cơ thể người bị ép chặt vào đai sắt, các chấu bạc này sẽ theo chuyển động của then siết cưỡng bức lách qua màng gân, khóa chặt vào khớp xương sống. Nếu nạn nhân giãy giụa, ngàm sẽ tự động siết sâu hơn.”
Tống Hoài đưa bàn tay gầy guộc sờ ra sau gáy mình, nơi có một vết sẹo lõm sâu hoắm—di chứng của lần bị phế bỏ kiếm cốt sáu năm về trước—đang giật từng hồi nhức nhối. Những ký ức đẫm máu về trạm nạp lực số Bảy, về những cỗ quan tài sắt bọc chì và tiếng gào thét bị bóp nghẹt dưới hầm sâu dội về như sóng triều, gõ dồn dập vào màng nhĩ anh.
Lê Vãn ngồi thụp xuống dưới chân chiếc giá thứ nhất, hạ thấp ngọn đèn dầu soi sát vào mặt đá hoa cương.
“Ninh Chiêu, nhìn này.”
Ninh Chiêu bước nhanh tới, cúi gập người xuống. Ánh mắt nhà nghề của một thợ rèn lò cao lập tức nắm bắt được đường nét của cơ cấu dẫn động ngầm bên dưới sàn đá.
Dọc theo phần lưng ghế, ngay phía sau hàng chấu kẹp bạc, có một rãnh xẻ lòng máng rộng chừng ngón tay cái. Rãnh này được tráng một lớp bạc mỏng lấp lánh nhưng bề mặt kim loại đã bị ố xỉn và rỗ hoa chanh vì tác động ăn mòn của hóa chất qua thời gian dài. Rãnh xẻ chạy thẳng tắp từ vị trí đốt sống cổ xuống tới tận đáy bệ gang, nối liền trực tiếp vào một chiếc phễu thu gom chất lỏng bằng đồng thau gắn âm dưới sàn đá hoa cương. Đáy phễu ăn sâu hoắm xuống một đường ống xả cặn tro ngầm bọc chì dày dặn, miệng ống rỉ ra những giọt nước toan khoáng màu vàng đục, bốc lên mùi khét lẹt quen thuộc của lớp bùn tro nhớp nhúa dưới đáy đài Huyền Khuyết.
Lê Vãn rút mũi dao trổ nhỏ bằng thép gió từ trong bao da bên hông, cẩn thận cạo nhẹ vào mép phễu thu gom đồng thau. Một lớp vảy cặn màu trắng đục bong ra, rơi lả tả vào lòng bàn tay phủ lớp da mỏng manh của chị.
“Là muối khoáng và tủy xương biến tính...” Lê Vãn thì thầm, giọng nói chìm nghỉm giữa tiếng rít cơ học đơn điệu của các đường ống xả áp ngầm. “Cặn này... có cấu trúc tinh thể rỗ tổ ong y hệt mẫu dịch lấy từ các thanh nẹp xương trong rương khóa của bác sĩ Trần Mộc ở y xá Thạch Tuyền. Cơ cấu này không chỉ dẫn năng lượng... Nó dùng chất lỏng buốt lạnh áp lực cao bơm vào tủy sống nạn nhân, rồi thu gom hỗn hợp tủy và kiếm ý bị hòa tan chảy xuống đường ống ngầm này.”
Ninh Chiêu cảm thấy lồng ngực mình như bị một tảng đá ngàn cân đè nén đến ngạt thở. Phổi cô thắt lại, từng luồng dưỡng khí hít vào đều sực nức mùi chết chóc tanh tưởi và mục ruỗng. Hình ảnh những người bệnh nằm la liệt ở y xá Thạch Tuyền với đôi bàn tay trắng bệch mất hết cảm giác gân cốt, những vết bầm tròn đối xứng rùng rợn trên vai những người phu dịch khổ sai, và lời thì thào trăn trối đứt quãng của người lao dịch trẻ tuổi trong căn phòng cách ly tăm tối dội về như tiếng búa nện vào màng nhĩ: *“Họ xích chúng tôi vào chín giá sắt... rãnh đồng dẫn dịch lạnh rút tủy sống...”*
Mọi mảnh ghép rải rác, rời rạc mà cô thu thập được—từ máng xối xỉ than ở Lò Ninh, kho dược liệu Nam Trụ, cho tới đáy cống ngầm ẩm thấp số Bảy—giờ đây đã liên kết hoàn chỉnh lại với nhau, hiện nguyên hình thành một cỗ máy nghiền nát đồng loại bằng sắt thép sừng sững, trần trụi ngay trước mắt cô.
Ninh Chiêu bước chầm chậm dọc theo chín chiếc giá sắt, ánh mắt đếm từng cái một theo nhịp thở dồn dập.
Một. Hai. Ba.
Đến chiếc giá số ba, bước chân cô đột ngột khựng lại.
Không gian xung quanh chiếc giá số ba lạnh buốt hơn hẳn những chiếc bệ khác, một luồng hàn khí vô hình dường như đang rỉ ra từ từng thớ kim loại nguội ngắt. Khung kim loại của nó có vẻ đã phải chịu tải trọng cơ học và xung lực phản chấn lớn hơn rất nhiều so với tám chiếc còn lại; lớp sơn chống gỉ màu xám tro trên thanh giằng ngang đã bị bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra lớp thép non bị rỉ sét ăn lẹm thành từng hốc nham nhở. Ninh Chiêu từ từ quỳ một chân xuống nền đá hoa cương lạnh toát dưới chân giá số ba.
Trên mặt sàn đá bám một lớp bụi tro khoáng dày cộp, cô nhìn thấy những mẩu kim loại nhỏ nằm vương vãi cạnh miệng phễu thu gom. Ninh Chiêu dùng những ngón tay thô ráp chai sần của bàn tay phải nhặt lên một mẩu vụn kim loại sắc nhọn.
Đó là một đoạn nẹp xương bằng hợp kim đồng thiếc bị vỡ vụn làm ba đoạn, mép gãy cháy sém đen thui như thể vừa trải qua một đợt phóng điện cực mạnh, bề mặt rỗ chằng rịt những lỗ lục giác tổ ong nghiêng đúng ba mươi độ. Kích thước bản nẹp và độ cong của thanh hợp kim này lớn hơn hẳn nẹp của các đệ tử ngoại môn thông thường—nó được chế tạo riêng cho một người có khung xương cao lớn, bờ vai rộng và các đốt sống dày dặn của một kiếm tu đã đạt tới cảnh giới cao thâm.
Và ngay trên thanh ngang bằng thép chống gỉ ở vị trí ngang tầm tay vịn của chiếc giá số ba, Ninh Chiêu nhìn thấy những vệt cào.
Đó hoàn toàn không phải là vết đục, vết giũa hay vết cọ xát vô tình của đồ nghề cơ khí trong quá trình lắp ráp. Đó là những rãnh cào sâu hoắm, cày nát lớp sơn chống gỉ, ăn sâu vào cả thớ thép tôi nguội bên dưới. Những đầu móng tay người trong cơn đau đớn tột cùng tột bực đã cào cấu vào thanh sắt, giằng xé trong tuyệt vọng đến mức bật móng, để lại những vệt máu khô quánh đã chuyển sang màu đen thẫm, bám chặt vào từng khe nứt tế vi của kim loại suốt hàng chục năm ròng rã.
Bàn tay phải của Ninh Chiêu run lên bần bật. Cô đưa mắt so sánh kích thước của khung kẹp hộp sọ, độ mở của vòng đai ngực và khoảng cách giữa hai vòng đai cổ tay ở chiếc giá số ba với những thông số kỹ thuật trong cuốn sổ rèn cũ kỹ của cha mà cô đã thuộc lòng từng nét chữ, từng dấu chấm phẩy.
Tầm vóc này... vừa khít. Vừa khít đến rợn người với quy cách cơ thể của kiếm tu Du Hành mà Ninh Trác từng tỉ mỉ ghi lại khi đo đạc thể trạng để rèn thanh kiếm Hàn Tủy mười sáu năm về trước.
‘ONG...’
Một âm thanh trầm đục đột ngột nổ tung bên trong lồng ngực Ninh Chiêu.
Dưới lớp áo vải thô dính đầy bụi than và vệt dầu máy, mảnh vỡ kiếm Hàn Tủy—thanh thép nguội mà cô nhặt được từ máng làm nguội ở phế tích Lò Khê—đột ngột phát ra một luồng hàn khí thấu xương thấu thịt. Nhịp rung của nó không còn là những xung động ngắt quãng, yếu ớt như lúc ở kho Nam Trụ hay trên đường trốn chạy dưới mưa bom bão đạn nữa. Nó giật nảy lên bần bật, đập liên hồi vào xương ức cô, phát ra một tần số dao động buốt giá cực mạnh, tựa như một tiếng thét phẫn nộ bị chôn vùi dưới mười tầng băng địa ngục bỗng nhiên tìm thấy lối thoát.
Hàng chấu kẹp bằng bạc trên giá số ba lập tức phản ứng với dao động đó. Ba mươi hai chiếc chấu bạc khẽ rung lên bần bật, va đập vào các rãnh trượt cơ khí tạo thành một chuỗi âm thanh ken két sắc nhọn vang vọng khắp vòm hang đá đen. Sự cộng hưởng cơ học và linh tính giữa mảnh thép gãy và hệ thống ngàm kẹp diễn ra mãnh liệt đến mức lớp tro khoáng bám trên bề mặt giá số ba bị hất tung lên, bay lơ lửng thành một làn khói xám nhạt bao quanh bệ sắt như một lớp sương mù chết chóc.
Ninh Chiêu ngã ngửa ra sau, một tay ôm chặt lấy ngực áo, toàn thân cứng đờ.
Hàn khí tràn qua lớp da thịt, thốc thẳng vào tâm trí cô với một sức ép khủng khiếp. Không có bất kỳ một hình ảnh thần tiên nào hiện ra. Không có một khung cảnh tiên giới huy hoàng rực rỡ, không có bóng dáng người kiếm tu phi thăng giữa mây ngũ sắc thoát tục, cũng chẳng có một lời truyền thừa bí thuật hay kiếm quyết cao siêu nào của Du Hành như những câu chuyện huyền thoại mà người đời vẫn truyền tai nhau thêu dệt.
Thứ duy nhất truyền qua mảnh kiếm Hàn Tủy là một cảm giác nghẹt thở kinh hoàng.
Đó là cảm giác buồng phổi bị ép xẹp lép dưới một sức nặng cơ học tàn nhẫn, cổ họng ứ nghẹn thứ dịch tanh nồng của máu tươi hòa lẫn với độc toan khoáng chất, các đốt sống lưng như bị hàng ngàn mũi khoan sắt cùng lúc cày xới, bòn rút từng giọt tủy sống và kiếm ý đã tích lũy qua cả một đời tu luyện khổ ải. Một sự giam cầm tuyệt đối, lạnh lẽo, bất lực và đau đớn đến mức muốn phát điên lên nhưng không thể nào phát ra nổi một tiếng thét thành lời qua chiếc chốt ép thái dương đang khóa chặt xương hàm.
“Ninh Chiêu!”
Tiếng gọi gấp gáp và đanh thép của Tống Hoài kéo giật cô trở về với thực tại nghiệt ngã. Anh lao tới như một tia chớp, bàn tay thô ráp đầy vết chai kiếm đặt mạnh lên vai cô, dùng thế ấn vai khóa lực giật ngược trọng tâm của cô ra xa khỏi chiếc giá số ba đúng ba bước chân.
Nhịp rung của mảnh kiếm Hàn Tủy dịu dần khi khoảng cách bị kéo giãn, nhưng hơi lạnh vẫn còn đọng lại trên bờ môi mím chặt của Ninh Chiêu, biến sắc mặt cô thành một màu trắng bệch như người chết đuối vừa được vớt lên từ đáy hồ băng.
“Cộng hưởng kiếm cốt...” Tống Hoài thở dốc, mắt găm chặt vào hàng chấu kẹp bạc của giá số ba, lồng ngực anh phập phồng dữ dội. “Mảnh kiếm nhận ra nơi nó từng bị bẻ gãy. Du Hành... đã bị kẹp chết tại chính chiếc bệ này mười bốn năm trước.”
Cơn choáng váng qua đi rất nhanh, nhường chỗ cho một ngọn lửa cuồng nộ bốc cháy rừng rực thiêu đốt tâm can Ninh Chiêu.
Mười bốn năm. Suốt mười bốn năm ròng rã, cả cái trấn Lò Khê này chăng đèn kết hoa, ca ngợi ngày lành đại lễ, ngước nhìn lên cửa trời Huyền Khuyết trên đỉnh núi mây mờ để tôn thờ những kẻ được chọn phi thăng. Hàng ngàn thợ rèn, phu than, dân nghèo còng lưng đóng từng đồng thuế duy tu trận pháp, nuốt từng ngụm tro bụi tàn phá lá phổi để cung phụng cho một nghi lễ thiêng liêng mà họ ngỡ là bảo vệ sự sống cho vùng đất này. Và kết quả của sự tôn kính ngây thơ đó là gì?
Là chín cái giá tra tấn bằng sắt đúc bẩn thỉu giấu kín dưới lòng đất sâu, nơi những kiếm tu tinh anh nhất bị bắt vít chết xuống nền đá hoa cương, bị khoan tủy bòn rút từng giọt kiếm cốt như những con lợn trên bàn mổ xẻ của phường đồ tể, rồi tro tàn của họ bị tống qua đường ống xả ngầm như phế liệu cặn bã không hơn không kém!
“Khốn nạn...”
Tiếng chửi rủa rít qua kẽ răng nghiến chặt của Ninh Chiêu, run rẩy và nghẹn ứ. Đôi mắt người thợ rèn vằn lên những tia máu đỏ ngầu. Mọi sự nhẫn nhịn, mọi sự cẩn trọng và điềm tĩnh mà Tống Hoài đã cố gắng rèn giũa cho cô trong những ngày qua dường như bị thiêu rụi hoàn toàn trước sự thật tàn bạo đang phơi bày một cách trơ trẽn trước mắt.
Cô giật phắt chiếc búa tạ hạng nặng sau lưng ra.
Bàn tay phải vạm vỡ siết chặt lấy thân cán gỗ nghiến, các khớp ngón tay trắng bệch vì dùng lực quá độ. Ninh Chiêu xoay hông, hạ thấp trọng tâm theo đúng bộ pháp phát lực của thợ rèn lò rèn, dồn toàn bộ sức nặng của thân thể, toàn bộ kình lực Luyện Thân và cơn thịnh nộ ngút trời vào một cú vung búa toàn lực. Đầu búa bằng thép tôi đen ngòm xé rách không khí, rít lên một tiếng xé gió kinh hoàng, nhắm thẳng vào cụm chấu bạc và khớp bản lề trung tâm của chiếc giá số ba mà giáng xuống.
Cô muốn đập nát thứ quái thai này. Cô muốn nghiền vụn từng chiếc chấu bạc vô nhân tính, bẻ gãy từng vòng đai trói buộc đẫm máu, đập tan cái địa ngục cơ khí dối trá đã nuốt chửng Du Hành, nuốt chửng những đệ tử vô tội và có thể là cả cha cô trong những ngày tháng đen tối nhất!
“DỪNG LẠI!”
Một bóng người lao vụt qua tầm mắt cô.
Không màng đến hiểm nguy chết người, Lê Vãn liều mình lao tới, cả thân hình mảnh khảnh chồm lên, hai cánh tay gầy guộc ôm chặt lấy thân cán búa ngay khi đầu búa chỉ còn cách chấu bạc chưa đầy nửa thước. Sức nặng và quán tính cú vung của một thợ rèn Luyện Thân khiến Lê Vãn bị hất văng sang một bên, nhưng lực ôm ghì tuyệt vọng bằng cả tính mạng của chị đã làm chệch hướng rơi của khối thép nặng chục cân.
‘KENGGGG!’
Đầu búa đập sạt qua mép đá hoa cương cạnh chân bệ sắt, cày tung một mảng đá lớn, tóe ra những chùm tia lửa chói lòa trong bóng tối mịt mùng của hang ngầm. Lực phản chấn dội ngược qua cán gỗ làm bàn tay trái đang bị thương của Ninh Chiêu toác miệng băng, máu tươi rỉ ra thấm đẫm lớp vải thô, rỏ từng giọt đỏ thẫm xuống mặt đá xám.
“Chị làm cái gì thế hả?!” Ninh Chiêu gầm lên, hai mắt quầng đỏ nhìn trừng trừng vào Lê Vãn đang ngã sõng soài trên sàn đá. “Chị không nhìn thấy cái gì ở đây à? Chị không thấy máu, không thấy nẹp xương, không thấy người ta bị xẻ thịt rút tủy ở chỗ này sao?! Phải phá nát nó đi! Phải đập nát cái lò mổ này trước khi Đỗ Kính lôi thêm chín mạng người nữa xuống đây!”
Lê Vãn lồm cồm bò dậy, hai bàn tay chị trầy xước rướm máu vì cọ xát vào đá dăm nhọn hoắt, nhưng ánh mắt của người khảo cứu trận pháp không hề có lấy một tia lùi bước hay khiếp sợ. Chị đứng phắt dậy, dang hai tay chắn ngang trước chiếc giá số ba, giọng chị gay gắt đến lạc cả đi giữa tiếng rít u u của gió ngầm:
“Cô điên rồi à, Ninh Chiêu?! Cô vung một nhát búa đập nát nó thì giải quyết được cái gì? Thỏa mãn cơn giận của cô à?!”
“Đây là tội ác!” Ninh Chiêu siết chặt cán búa, bước dấn lên một bước, lồng ngực phập phồng dữ dội như một lò bễ đang thổi lửa. “Để thứ này tồn tại thêm một khắc là sỉ nhục những người đã chết! Nó phải bị hủy diệt!”
“Đập nát một cái khung sắt thì màn chắn bên trên có ngừng hút người không? Đỗ Kính có ngừng gom chín tải sống không?!” Lê Vãn quát thẳng vào mặt Ninh Chiêu, từng lời đanh thép như mũi dùi đâm vào không gian đặc quánh mùi dầu biến tính. “Cô nhìn lại đi! Toàn bộ hệ thống đường ống xả áp, các rãnh dẫn bạc này đều nối liền với trụ chống chịu lực của đại trận! Chúng ta còn chưa đo đạc xong tần số cộng hưởng, chưa vẽ lại được sơ đồ mạch dẫn cải tạo, chưa biết van ngắt nhánh nằm ở tầng nào! Nếu cô đập vỡ cấu trúc này ngay bây giờ, chốt áp suất ngầm sẽ nổ tung, buồng kín này sẽ sập, và chúng ta sẽ vĩnh viễn mất sạch manh mối về cách thức nó duy trì màn chắn bảo hộ bên trên!”
“Tôi không cần biết màn chắn quái quỷ gì của các người!” Ninh Chiêu rống lên, nước mắt giận dữ chực trào nơi khóe mắt. “Màn chắn bảo vệ mạng sống cho người dân mà phải đổi bằng máu của chín con người bị kẹp chết ở đây sao? Đó là trò giết người man rợ! Lê Vãn, chị lúc nào cũng chỉ có số liệu, chỉ có sơ đồ, chỉ có những bản vẽ chết tiệt của chị! Chị nhìn những vết cào móng tay này đi! Người ta đã cào đến bật móng, cào đến nát xương ở chỗ này đấy! Chị muốn giữ lại thứ đồ tể này để làm gì? Để ngắm nghía nghiên cứu à?!”
“Tôi giữ lại để giải bài toán căn cơ!” Lê Vãn không hề nao núng, bước lên một bước đối diện sát sạt với Ninh Chiêu, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào chiếc phễu thu gom dưới chân giá. “Cô tưởng tôi không đau sao? Thầy tôi chết trong cống ngầm mười năm trước, xác còn không tìm thấy, tôi mang danh phản đồ bị đuổi khỏi Cục Địa Mạch suốt sáu năm trời! Tôi đến đây không phải để xem triển lãm tội ác! Tôi đến để tìm bằng chứng vật chất, tìm cách bóc tách tuyến rút cốt này ra khỏi trận pháp gốc để cứu những người tiếp theo mà không làm sụp đổ toàn bộ màn chắn của cả vùng Hạ Lĩnh! Cô đập nát nó lúc này, chẳng những không cứu được ai, mà còn biến toàn bộ cái chết của Du Hành, của thầy tôi, của những người đi trước thành vô nghĩa!”
Hai người phụ nữ đứng đối diện nhau trong gang tấc, hơi thở nóng rực phả vào không khí buốt giá. Một bên là cơn thịnh nộ bộc phát của người thợ rèn muốn vung búa quét sạch bất công ngay trước mắt; một bên là sự kiên định sắt đá của người khảo sát muốn nắm giữ quy luật để triệt tiêu tai họa từ gốc rễ. Không khí căng thẳng đến mức tưởng chừng chỉ cần một cử động nhỏ nữa thôi, búa thép sẽ lại vung lên và máu sẽ đổ.
“ĐỦ RỒI!”
Một giọng nói trầm thấp, đanh thép vang lên cắt ngang cuộc tranh cãi.
Tống Hoài bước tới giữa hai người. Anh không rút kiếm, cũng không dùng kình lực, chỉ vung chiếc gậy gỗ mun trong tay cắm mạnh xuống khe đá hoa cương giữa Ninh Chiêu và Lê Vãn.
‘CỘC!’
Âm thanh va chạm khô khốc vang vọng khắp đại sảnh ngầm, dội lại từ các góc tường đá như một hồi chuông cảnh tỉnh. Ánh mắt Tống Hoài quét qua Ninh Chiêu, rồi dừng lại trên gương mặt tái nhợt nhưng kiên quyết của Lê Vãn.
“Hạ búa xuống, Ninh Chiêu,” Tống Hoài ra lệnh, giọng điềm tĩnh nhưng chứa đựng uy quyền không thể chối từ của một cựu kiếm thủ từng trải qua vô số sinh tử trên chiến trường. “Và Lê Vãn, lùi lại nửa bước.”
Ninh Chiêu cắn chặt môi đến ứa máu, cánh tay run rẩy từ từ hạ thấp chiếc búa tạ xuống mặt đá.
Tống Hoài nhìn thẳng vào mắt Ninh Chiêu, giọng trầm xuống:
“Tôi hiểu cảm giác của cô. Sáu năm trước, tại trạm số Bảy, khi nhìn thấy họ đẩy đệ tử vào buồng nạp, tôi cũng chỉ có một ý nghĩ duy nhất: rút kiếm chém nát tất cả. Và cô biết kết quả là gì không? Tôi bị đánh nát đốt sống thứ tư, kiếm cốt vỡ vụn, bị biến thành một phế nhân mang danh tẩu hỏa nhập ma, còn cỗ máy ngầm vẫn tiếp tục vận hành suốt sáu năm qua, nuốt chửng thêm hàng chục con người nữa.”
Anh quay sang nhìn chiếc giá số ba, ánh mắt chất chứa nỗi đau đớn mạn tính không bao giờ nguôi ngoai:
“Hủy diệt một cái vỏ sắt thì dễ, Ninh Chiêu. Một nhát búa của cô có thể đập nát chiếc giá này, nhưng ngày mai Đỗ Kính sẽ cho thợ rèn một chiếc giá khác thay thế vào. Muốn giết một con quái vật cơ khí, cô không thể chỉ bẻ gãy một cái răng nanh của nó. Cô phải tìm ra khớp nối sống còn, tìm ra van ngắt dòng, và đánh sập nó từ bên trong quy chế vận hành. Đó là cách duy nhất để không ai phải bước lên chín chiếc giá này nữa.”
Ninh Chiêu buông lỏng các ngón tay, cán búa trượt khỏi lòng bàn tay rơi xuống đất với một tiếng cạch khô khốc. Cô cúi đầu, hai vai run lên từng chặp trong cơn kìm nén uất nghẹn.
Tống Hoài quay sang Lê Vãn, giọng nghiêm khắc không kém:
“Nhưng Lê Vãn, cô cũng phải nhớ lấy nguyên tắc an toàn chung của chúng ta. Dữ liệu của cô không được phép đánh đổi bằng tính mạng hay sự an toàn của cả nhóm. Chúng ta ở trong lòng địch, đứng trên miệng cống xả thải ngầm của Thanh Lư Tông. Mọi hành động đo đạc, sao chép phải có giới hạn thời gian rõ ràng. Không có chuyện nán lại để thu thập trọn vẹn từng con số khi nguy hiểm cận kề. Hiểu chưa?”
Lê Vãn hít sâu một hơi, khẽ gật đầu, đưa tay quệt mồ hôi trên trán: “Tôi hiểu. Tôi chỉ cần dập lại sơ đồ mạch cải tạo và ghi chép mã số cơ cấu.”
Tống Hoài thở ra một hơi dài, sắc mặt anh hơi tái đi vì vết thương sau lưng lại bắt đầu nhức nhối khi đứng lâu trong linh trường nghịch chuyển. Anh rút chiếc gậy mun lên, quay người bước về phía vách đá đối diện để rà soát lối thoát hiểm.
“Lấy giấy bản và than củi ra đi,” Tống Hoài nói, giọng trầm đục. “Chúng ta chỉ có tối đa nửa canh giờ trước khi—”
Lời nói của anh đột ngột đứt quãng.
Tống Hoài đứng sững bên vách đá hoa cương, toàn thân cứng đờ. Người cựu kiếm thủ Minh Kiếm đột ngột giơ một bàn tay lên, năm ngón tay xòe rộng ra hiệu im lặng tuyệt đối.
Cả hang ngầm lập tức chìm vào một khoảng lặng chết chóc.
Ninh Chiêu nín thở, hai tai căng ra hết mức để bắt lấy từng rung động cơ học quen thuộc của thợ rèn.
Từ sâu bên trong đường ống xả áp bọc chì ăn sâu vào lòng vách đá phía sau chín chiếc giá sắt, một chuỗi âm thanh lách cách kim loại khô khốc bắt đầu vang lên. Ngay sau đó là một tiếng ‘ục... ục...’ trầm đục, dữ dội, như thể có hàng ngàn khối bùn khoáng và nước toan đang bị nén nghẹt lại trong lòng ống.
Âm thanh nước chảy róc rách thường ngày bỗng nhiên ngưng bặt trong nửa nhịp thở.
Rồi, một tiếng rít cơ khí chói tai vang lên khi các van một chiều ngầm bị đảo chiều cưỡng bức. Tiếng dòng chảy đặc quánh gầm réo, đảo ngược hướng chảy, bắt đầu cuộn trào từ phía đài Huyền Khuyết thốc ngược về phía đại sảnh Cửu Giá với một áp lực kinh hoàng.