Mở bằng việc đã làm
Miệng giếng cạn sâu hun hút phả lên từng đợt dưỡng khí khô khốc, nồng nặc mùi mỡ bò chống gỉ đã biến tính qua hàng chục năm chôn vùi trong lòng đất. Thứ mùi hôi dầu bết dính ấy quyện chặt vào vị chua nồng của quặng pyrit phong hóa, tạo thành một tầng xú khí nặng trịch quẩn quanh đáy vực.
Gió bấc rít qua miệng giếng tựa như tiếng rên rỉ nghẹn ứ bật ra từ một cổ họng khổng lồ bị bóp nghẹt giữa tầng tầng đất đá. Dây thừng bện bằng sợi gai dầu tẩm hắc ín căng tròn dưới sức nặng hai người, thớ gai thô ráp cọ sát vào bờ đá hoa cương miệng giếng tạo nên những âm thanh ken két nhức óc, rải xuống những vụn xơ đen sém. Ninh Chiêu bám chặt hai đế giày bọc da thú vào vách đá trơn tuột phủ đầy rêu chết, hạ dần trọng tâm theo từng nhịp thả dây nhịp nhàng, rắn rỏi của Tống Hoài ở phía trên miệng đất. Không khí càng xuống sâu càng đặc quánh mùi lưu huỳnh lẫn toan khoáng, lạnh buốt và cay sè xộc thẳng vào cuống họng, làm rát buốt từng nhánh phế quản mỗi bận hít sâu.
Chạm đáy giếng sau một nhịp trượt dài và cú hãm dây dứt khoát, Ninh Chiêu lập tức xoay nửa vòng người, hạ gót chân phải cắm vững trên lớp bùn khô nứt nẻ chằng chịt như mai rùa. Bụi xỉ xám dưới chân bay lên mù mịt, bám vào gấu quần thô. Lê Vãn tụt xuống ngay sau cô một thân người, vạt áo chẽn bó sát luồn gọn trong đai lưng da thú, chiếc túi da đựng đồ nghề trắc địa đeo chéo trước ngực va lách cách vào thành đá côm cốp. Đôi bàn tay mảnh khảnh nhưng rắn rỏi của người phụ nữ từng làm việc cho Cục Địa Mạch mau lẹ tháo gút dây gai, giật mạnh hai nhịp ngắn phát tín hiệu an toàn lên đỉnh giếng.
Sau lưng phiến đá bát giác trám chì mà họ vừa khảo sát lúc nửa đêm, một lối vách khoét sâu vào tầng đá nền hoa cương mở ra như một vết chém hung hiểm của thợ mỏ cổ. Đi hết đoạn ngách hẹp chừng năm bước chân nghiêng người lách qua từng gờ đá lởm chởm, một vòm cửa khổng lồ sừng sững hiện ra dưới ánh đèn dầu hạt cải leo lét.
Đó là một cánh cửa vòm bằng đá phiến đen tuyền, bề mặt nhẵn bóng như từng bị mài mòn bởi hàng ngàn lượt ma sát cơ học qua bao kỷ nguyên vận hành ngầm. Trên phiến đá đen nặng ngàn cân ấy, ba ổ khóa bằng hợp kim sẫm màu bố trí đối xứng hoàn hảo theo hình một tam giác cân, chĩa đỉnh nhọn xuống dưới nền móng. Mỗi ổ khóa có một miệng rãnh hình thang ngược, bên trong lộ ra các ngàm răng cưa cơ khí dày đặc, phủ một lớp bụi khoáng xám xịt nhưng các then chốt thép tôi bên trong vẫn lấp lánh ánh kim loại lạnh tanh, không hề có lấy một vảy gỉ mục.
Lê Vãn quỳ một gối xuống phiến đá nền lạnh buốt, chiếc túi da mở toang sang bên hông. Bằng những cử động thuần thục như một người thợ mổ xẻ cỗ máy sống, chị lấy ra chiếc ống thủy tinh hình chữ U chứa chất lỏng màu hổ phách cùng thanh đo góc bằng đồng thau sáng bóng. Chị cẩn thận luồn đầu kim loại mảnh như cọng rơm vào khe hở nhỏ nhất ở ổ khóa đỉnh chóp, mắt dán chặt vào mực chất lỏng đang nhấp nhô bên trong ống thủy tinh chia vạch vi phân.
“Áp suất tĩnh trong khoang ngầm cao hơn bên ngoài hai phần mười,” Lê Vãn thì thầm, hơi thở ngưng tụ thành làn khói trắng mỏng tang rồi nhanh chóng tan biến vào bóng tối đậm đặc. “Khí thoát ra từ khe rãnh không có mùi tanh nồng của linh huyết hiến tế, cũng không có dao động sóng linh thức sót lại. Đây hoàn toàn là một hệ thống cân bằng áp suất đối trọng cơ học thuần túy của phàm nhân cơ quan thuật.”
Chị di chuyển đầu dò kim loại sang hai ổ khóa chân đế bên dưới. Tiếng kim loại gõ nhẹ ‘tách, tách’ vang lên khô khốc, thăm dò độ đàn hồi của các lò xo lá ẩn sâu trong lòng đá.
“Không có trận pháp nhận diện giọt máu hay dấu ấn linh lực nào cả,” Lê Vãn ngẩng đầu lên, ánh mắt phản chiếu ánh lửa đèn dầu lấp lánh sự kinh ngạc lẫn thận trọng tột độ. “Cánh cửa này được thiết kế để mở bằng sức nặng và lực cơ học của con người. Một hệ thống đối trọng bằng dây xích và puly thủy lực nằm sâu sau vách đá hoa cương. Nó đòi hỏi phải tạo ra một lực đè cơ học đồng thời lên cả ba chốt theo một tỷ lệ phân bổ trọng lượng tuyệt đối chuẩn xác: đỉnh chốt chịu bốn phần, hai chốt đáy mỗi bên gánh ba phần lực. Lệch một khắc lực, đối trọng sẽ nghẽn cứng.”
Ninh Chiêu không đáp ngay. Cô cúi sát mắt vào các miệng ổ khóa hình thang ngược. Đôi mắt của một thợ rèn cả đời vùi đầu bên bể than và búa sắt, quen đọc từng thớ gỉ, từng vết mỏi kim loại lập tức nhận ra những điểm bất thường bên dưới lớp muội than xám xịt.
“Địa tầng ở đây đã bị sụt lún nghiêm trọng,” Ninh Chiêu đưa ngón tay trỏ phải—ngón tay chai sần thô ráp vì cầm búa nặng mười mấy năm—chạm nhẹ vào mép rãnh trượt của ổ khóa bên trái. “Vách đá bị nghiêng sang phía đông nam ít nhất ba phân sau các đợt dư chấn mười năm qua. Khung cửa đá phiến bị vặn vẹo trong lòng núi, khiến ổ khóa bên trái bị ép lún sâu hơn ổ bên phải hai ly. Các then chốt thép bên trong đã hơi cấn rỉ, khe hở trượt không còn độ hở chuẩn xác như thiết kế ban đầu.”
Lê Vãn ghé sát bóng đèn dầu hơn, vặn bấc đèn nhô cao thêm một hạt gạo. Chị dùng que sắt gạt nhẹ một mảng cặn xám đóng quanh ngàm răng cưa của then thứ hai. Đột nhiên, một giọt chất lỏng màu bạc đục ánh lên dưới ánh lửa vàng, chuyển động lăn tròn tròn không bám dính trên bề mặt gỉ sét rồi đọng lại ở một ống mao dẫn bằng đồng đỏ nằm khuất bên trong.
“Thủy ngân lỏng,” sắc mặt Lê Vãn đanh lại, ngón tay chị khẽ siết chặt thanh đo góc bằng đồng. “Khóa bảo hộ phá hoại cưỡng bức. Bên trong mỗi ổ khóa đều gắn một bầu thủy tinh chứa thủy ngân liên động với chốt cân bằng. Nếu chúng ta dùng xà beng nạy bừa, hoặc tạo lực đè lệch pha vượt quá sai số nửa khắc, hoặc phân bổ lực sai lệch giữa ba chốt, chốt thủy ngân sẽ lập tức vỡ toang do chênh lệch đối trọng trọng lực. Toàn bộ khoang xả áp ngầm phía sau sẽ xả ra toan khí ngạt bít kín đáy giếng trong chớp mắt. Chúng ta sẽ chết ngạt trước khi kịp bám vào dây thừng leo lên miệng giếng.”
Ninh Chiêu vẫn bất động, ánh mắt như đóng đinh vào từng chi tiết của bề mặt cánh cửa. Dưới ánh sáng chập chờn nhập nhòe, cô nhìn thấy những vết đục nham nhở quanh mép viền đá phiến đen. Đó không phải vết nứt tự nhiên của địa tầng. Có ít nhất hai lớp vữa gắn khác nhau hiện hữu: lớp dưới là vôi vỏ sò trộn mật mía xám xịt từ thời cổ xưa, bám chắc như đá tảng; còn lớp trên là xi măng xỉ sắt pha keo da trâu màu đen bóng—loại vữa trám chịu nhiệt công nghiệp giá rẻ mà Viện Công Tượng thường cấp phát cho các xưởng mỏ ở Hạ Lĩnh ba thập kỷ trở lại đây. Cánh cửa này từng bị cạy mở, gia cố và cải tạo bởi ít nhất hai thế hệ thợ khác nhau.
Đặc biệt, ở rãnh trượt bằng đồng dưới chân vách đá, một vệt dầu máy màu vàng nhạt vẫn còn độ dính quánh, chưa hề bị bụi tro khoáng đóng bánh hoàn toàn. Vệt dầu này không thể quá ba tháng tuổi.
Gần đây vẫn có người ra vào bảo dưỡng cỗ máy ngầm này.
“Chúng ta không thể dùng đòn bẩy gỗ ấn trực tiếp vào các then rỉ sét này được,” Ninh Chiêu đứng thẳng dậy, xoay khớp cổ tay phải nghe một tiếng ‘rắc’ giòn giã. “Muốn lực đè cơ học truyền đều vào ngàm đối trọng mà không làm vỡ bóng thủy ngân, ta phải có ba chốt đệm phụ trợ cắm nối dài. Ba chốt này phải bù trừ chính xác góc nghiêng hai ly của địa tầng bị vặn và độ mòn của then rỉ sét. Một cái thẳng tắp ở đỉnh, một cái vát góc mười bảy độ sang trái, một cái vát lượn chín độ hai tầng sang phải.”
“Em làm nổi không?” Lê Vãn ngẩng lên nhìn cô, ánh mắt mang theo sự hoài nghi kỹ thuật rất tự nhiên của một người xuất thân từ cơ quan khảo sát trắc địa địa mạch triều đình. “Độ chính xác cơ học này phải tính bằng phần mười của ly. Một nhát búa lệch, một góc dũa sai là mất mạng cả ba người chúng ta dưới họng giếng này.”
“Lò Khê sống bằng sắt thép, chết cũng vì sắt thép,” Ninh Chiêu đáp, thanh âm khô khốc, phẳng lặng như khi nói về việc canh lửa cho một mẻ phôi thép thô. “Đưa toàn bộ số đo góc lệch và thông số rãnh trượt đây.”
***
Trong màn đêm bao phủ thôn Giếng Mặc, Từ Bách lẳng lặng dẫn hai người luồn qua bãi phân bò khô cong, mở tung nắp hầm bí mật giấu dưới lớp rơm rạ sau gian chái chuồng bò. Một mùi đất ẩm, mùi tro bếp và mùi mỡ cừu cũ ùa ra. Lão thợ mỏ già lôi từ góc kẹt ra một chiếc đe nhỏ bằng thép non nặng chừng bốn mươi cân đã mẻ một góc, cùng một chiếc lò than dã chiến đúc bằng đất sét trộn rơm mục nứt nẻ. Chiếc bễ thụt tay bằng da dê đã vá víu chằng chịt bằng chỉ gai, nhưng khi lão kéo thử một nhịp, luồng gió phì phì thổi ra vẫn đủ mạnh và gom gió tốt để nhóm đỏ một cụm than cám.
“Mười một năm trước, thợ cả Ninh Trác từng ngồi đúng trên tảng đá hộc này để mài chiếc then số Ba,” Từ Bách nói, giọng khàn đặc như tiếng hai hòn sỏi cọ xát vào nhau dưới đáy mương. Ông run rẩy với tay lên xà gồ mái nhà dính đầy mạng nhện, gỡ xuống một thanh đồng thau nguyên khối dài hơn một gang tay, xỉn màu vì ám khói rơm rạ qua nhiều năm tháng. “Thép già ở chốn này không kiếm đâu ra, bọn quan binh lùng sục từng tấc sắt vụn. Nhưng thanh đồng thau dẻo của chiếc guồng nước cơ khí cũ này thì lão còn liều mạng giữ lại được. Con bé cầm lấy mà gõ.”
Ninh Chiêu đón lấy thanh đồng thau từ tay lão. Trọng lượng nặng đầm tay, thớ kim loại đặc quánh, bề mặt đã ngả màu xanh gỉ đồng nhưng cốt kim loại bên trong vẫn dẻo dai và chịu lực nén tuyệt vời. Cô gật đầu, đặt thanh đồng lên mặt đe mẻ.
Trên miệng giếng cạn phía ngoài đồi hoang, Tống Hoài đã leo lên từ bao giờ. Người kiếm tu phế cốt không thể tham gia vào những việc đòi hỏi sức quai búa liên tục và sự khéo léo tuyệt đối của cổ tay thợ rèn, nhưng bóng dáng anh đứng sừng sững trên gờ đất cao của thôn Giếng Mặc như một cây tùng trơ trọi giữa gió tro mù mịt.
Tống Hoài di chuyển khẽ khàng dọc theo hàng rào mắt cáo rỉ sét bao quanh miệng giếng cạn. Dưới đôi chân nhẹ bỗng của một kiếm khách từng đạt cảnh giới ngự kiếm, lớp sỏi đá vụn không hề phát ra một tiếng lạo xạo. Đôi mắt sắc lạnh như chim ưng của cựu đệ tử Minh Kiếm quét qua từng bụi cây gai khô khốc và bờ mương cạn dẫn nước vào làng. Anh rút từ trong bọc vải thô ra những sợi dây tơ tằm mảnh nhuộm màu bùn đất, căng ngang cách mặt đất ba tấc ở bốn góc hiểm yếu quanh lối mòn dẫn vào tháp canh của Chấp Pháp viện.
Đầu mỗi sợi dây tơ được buộc khéo léo vào những chiếc chuông đồng nhỏ bọc vải vụn—tiếng kêu phát ra sẽ chỉ đủ trầm đục để tai người phục kích nghe thấy trong phạm vi mười trượng mà không làm kinh động đến bầy linh khuyển tuần tra đêm khét tiếng nhạy bén của phủ Quan Tế.
Anh đi dọc theo bờ mương cạn nứt nẻ, gạt vài nhánh gai khô, vạch sẵn ba đường rút lui riêng biệt: một đường luồn dưới gầm cống sập dẫn thẳng ra cánh đồng tro hoang phía tây, nơi gió quẩn sẽ xóa sạch dấu vết mùi cơ thể; một đường bám theo rãnh dẫn nước cũ trườn về chuồng bò nơi Bùi Sách đang nằm phục canh chừng; đường cuối cùng là ngách khe nứt địa chấn dẫn sâu vào lòng mỏ than bỏ hoang Lạc Hạc. Tống Hoài cúi xuống, dùng đầu gậy mun vạch ba vệt đứt đoạn trên lớp bụi xám ở miệng cống ngầm, sau đó lặng lẽ ngồi thụp xuống sau bờ đá hoa cương, chiếc áo tơi tẩm dầu gai hòa lẫn hoàn toàn vào bóng tối nhập nhòe của màn đêm lạnh giá.
Dưới căn hầm đá nhỏ hẹp của Từ Bách, ngọn lửa than cám bắt đầu bùng lên màu đỏ quạnh dưới nhịp thụt bễ đều đặn của lão thợ già. Khói than cay nồng cuộn tròn rồi men theo đường ống thông gió bằng đất nung thoát ra giữa đống phân bò, tiêu biến vào không khí đêm mà không để lại cột khói đáng ngờ nào.
Ninh Chiêu ngồi xổm bên chiếc đe nhỏ. Cô quấn thêm một lớp vải gai tẩm dầu mè nguội quanh bàn tay trái. Vết bỏng sâu từ vụ cháy kho Nam Trụ chưa bao giờ thôi hành hạ cơ thể cô. Các dải gân duỗi co rút cứng đờ, bốn ngón tay quắp lại như móng vuốt chim ưng trúng tên, lớp da thịt non màu đỏ tía kéo căng đến mức chỉ cần một cử động gập ngón bất cẩn là những vết nứt da lại toác hoác ra, rỉ thứ dịch vàng nhớp nháp lẫn máu tươi buốt nhức đến tận màng xương.
Nhưng lúc này, trước một cỗ máy cơ quan đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối, cô không thể chỉ dùng một tay phải.
Cầm chiếc kìm sắt gắp phôi đồng đỏ rực đặt lên mặt đe, Ninh Chiêu nghiến chặt quai hàm đến mức hai bên quai hàm bạnh ra, phát ra tiếng ken két khô khốc. Bàn tay trái tàn phế của cô phải gồng hết toàn bộ sức lực còn sót lại của bó cơ cẳng tay để ghì chặt lấy cán kìm kẹp phôi. Sức nóng hầm hập từ cục đồng nung đỏ phả thẳng vào lớp vảy bỏng mỏng manh, tạo nên một cơn đau rát rạt như có hàng ngàn mũi kim nung lửa châm thấu vào từng đầu mút thần kinh. Cơn co giật cơ học chạy dọc từ cổ tay lên tận bả vai, khiến trán cô vã mồ hôi đầm đìa, từng giọt mồ hôi mặn chát lăn xuống khóe mắt xót buốt, làm mờ đi tầm nhìn.
“Cố định góc mười bảy độ!” Ninh Chiêu quát khẽ qua kẽ răng, giọng khàn đặc vì khói than và cơn đau giằng xé.
Lê Vãn ngồi đối diện bên kia đe, hai đầu gối quỳ thẳng, ngón tay giữ chặt chiếc thước đo góc bằng đồng thau, mắt dán chặt vào từng vạch chia độ nhỏ li ti: “Vát thêm nửa ly ở gờ chặn phía ngoài! Nếu mặt tiếp xúc không phẳng tuyệt đối, lực đè của đòn bẩy khi ấn xuống sẽ biến thành lực xoắn vặn, làm gãy ngàm răng cưa bên trong ổ khóa!”
‘Keng! Keng! Keng!’
Tiếng búa sắt rơi xuống mặt đe đều đặn, đanh gọn và dứt khoát. Ninh Chiêu không thể quai búa vung cao bằng cả hai tay như những ngày còn ở xưởng đúc kiếm Lò Khê, cô buộc phải vận dụng triệt để từng bài học bộ pháp và cách mượn phản lực mà Tống Hoài đã kiên nhẫn chỉ dạy trên bãi gạch nung: hạ thấp đan điền, dồn toàn bộ trọng tâm xuống gót chân phải cắm chặt trên nền đá, mượn phản lực từ mặt đất truyền ngược qua khớp gối, xoay nhẹ khớp hông, phóng thẳng năng lượng tích tụ lên cánh tay phải cầm búa. Nhát búa của cô không bổ xuống bằng sức mạnh cơ bắp đơn thuần của kẻ phàm phu, mà rơi xuống chính xác, lạnh lùng như một quả lắc đồng hồ cơ khí điểm từng khắc thời gian.
Mỗi nhát búa giáng mạnh xuống phôi đồng nóng đỏ rực, chiếc kìm sắt ở bàn tay trái lại rung lên bần bật. Chấn động kim loại truyền thẳng vào các vết thương hở, khiến những thớ thịt cháy xém của Ninh Chiêu co thắt dữ dội. Lớp băng vải gai nhanh chóng thấm đẫm một mảng máu đỏ thẫm hòa lẫn dịch vàng, nhuộm đen cán kìm sắt trơn trượt. Nhưng cô không hề buông lỏng dù chỉ nửa phân lực kẹp. Mỗi khi cơn đau buốt xương tủy bốc lên đỉnh đầu, Ninh Chiêu lại cắn chặt môi dưới đến bật máu tươi, ánh mắt lạnh băng khóa chặt vào từng góc vát của khối đồng đang dần biến dạng dưới sức nặng của nhát búa.
Chiếc chốt thứ nhất: thẳng tắp như một mũi tên đồng, dài bốn tấc hai phân, chuôi chốt mang hình chữ T có xẻ rãnh trượt dẫn hướng.
Chiếc chốt thứ hai: uốn cong lệch mười bảy độ về bên trái, phần đầu chốt được dũa nhẵn bóng như đầu đạn đại bác thu nhỏ để dễ dàng trượt qua các khe răng cưa rỉ sét mà không vướng cặn khoáng.
Đến chiếc chốt thứ ba—chiếc chốt phức tạp và hiểm hóc nhất với góc vát lượn hai tầng chín độ để bù trừ cho độ lún nghiêng của vách đá hoa cương—bàn tay trái của Ninh Chiêu gần như đã tê dại hoàn toàn. Bột than cám bay lơ lửng trong hầm bám chặt vào các kẽ nứt da thịt lở loét làm vết thương xót buốt đến run rẩy toàn thân.
Không thể dùng ngón tay bóp kìm được nữa, cô liền dùng răng cắn chặt đầu dây buộc nẹp gỗ, kéo căng hết mức để ép các khớp xương ngón tay trái ngậm chặt lấy chuôi kìm sắt, rồi dùng chính xương cẳng tay tì đè lên đùi phải để tạo thành một điểm tựa chết không thể lay chuyển.
Cô cầm chiếc giũa thép mỏng bằng tay phải, kiên trì đưa từng đường qua lại. Tiếng kim loại cọ xát ‘xoẹt... xoẹt... xoẹt...’ vang lên nhẫn nại, khô khốc giữa đêm đen sâu thẳm. Từng ly kim loại thừa rớt xuống thành những hạt bụi đồng óng ánh trên nền đất ẩm ướt. Mồ hôi nhỏ tong tỏng từ cằm cô xuống mặt đe, bốc lên những làn khói xèo xèo mỏng manh.
Gần hai ngày hai đêm trôi qua trong căn hầm ngột ngạt không thấy ánh mặt trời. Không ai ngủ quá một canh giờ. Cứ sau mỗi lượt gõ búa, Lê Vãn lại dùng thước cặp kẹp vào thân chốt, đối chiếu với những phép tính lượng giác ghi chép vội vàng trên mảnh giấy bọc trà cũ kỹ.
Khi giọt sáp nến cuối cùng trên bàn trắc địa của Lê Vãn lụi tàn thành một vũng tro mờ, ba chiếc chốt đồng thau nằm ngay ngắn trên tấm vải bố sạch. Chúng không hề bóng bẩy hay tỏa ra hào quang lung linh như những món pháp khí bóng lộn của các trưởng lão nội môn các đại tông phái, mà thô ráp, xù xì những vết búa gõ thủ công và vết giũa tay trần trụi. Nhưng từng góc nghiêng, từng rãnh khuyết, từng gờ chặn trên ba thanh đồng đều khớp một cách hoàn hảo đến rợn người với các con số trên bản vẽ kỹ thuật mà Ninh Trác để lại mười một năm về trước.
***
Canh ba của đêm thứ hai.
Bão tro ngoài thung lũng dường như đã bớt gầm rú, nhưng lớp sương mù khoáng chất buốt giá lại đặc quánh lại, phủ kín khắp các nẻo đường mòn dẫn vào thôn Giếng Mặc. Không gian tĩnh mịch đến mức có thể nghe thấy tiếng rạn nứt của những cành cây gai đóng băng, chỉ thỉnh thoảng có tiếng đá lở lạo xạo từ sườn núi Lạc Hạc xa xăm vọng lại như tiếng bước chân của kẻ vô hình.
Dưới đáy giếng cạn sâu thẳm, ngọn đèn dầu hạt cải được che chắn cẩn thận sau tấm chắn gió bằng thiếc, chỉ để lộ một khe sáng hẹp bằng ngón tay rọi thẳng vào cánh cửa đá phiến đen tuyền.
Cả ba người đã tề tựu đông đủ quanh vòm đá. Tống Hoài đã trườn xuống đáy giếng an toàn sau khi đích thân kiểm tra lại toàn bộ hệ thống dây chuông cảnh giới trên miệng giếng và xác nhận toán tuần tra đêm của Chấp Pháp viện vừa quay về trạm đóng quân cách đó bốn dặm để đổi ca. Hơi lạnh từ y phục của anh mang theo mùi sương muối và mùi cỏ cháy.
Ninh Chiêu quỳ gối trước vòm cửa đá, hai đầu gối cắm chặt xuống lớp bùn khô nứt nẻ. Hơi thở cô nén lại thành một nhịp thở sâu, chậm và hoàn toàn tĩnh lặng. Toàn bộ sự đau đớn từ bàn tay trái dường như bị ý chí sắt đá phong tỏa lại sau lớp cơ thể gầy gò. Bàn tay phải của cô cầm chiếc chốt đồng thẳng tắp, nhẹ nhàng tra vào miệng rãnh hình thang ngược của ổ khóa đỉnh chóp tam giác.
‘Cạch.’
Một tiếng ngàm kim loại khớp vào nhau ngọt lịm vang lên trong bóng tối tĩnh mịch. Đầu chốt bằng đồng thau dẻo đã lách qua lớp gỉ sét dày cộm bên ngoài, ép khít khao vào then trượt bên trong mà không hề tạo ra bất kỳ chấn động gãy vỡ hay tiếng rít cọ xát lạc điệu nào.
Tiếp đó, cô đưa chiếc chốt vát mười bảy độ vào ổ khóa bên trái, và chiếc chốt uốn hai tầng chín độ vào ổ khóa bên phải. Ba chiếc chốt đồng thau vươn ra khỏi bề mặt phiến đá đen như ba chiếc sừng kim loại vững chãi, tạo thành một hệ thống ngàm tiếp lực hoàn chỉnh, triệt tiêu toàn bộ độ vặn nghiêng hiểm hóc của địa tầng bị sụt lún.
Từ Bách run rẩy đứng nép vào góc tường đá phía xa, hai bàn tay gân guốc ôm chặt chiếc búa tạ hạng nặng, mắt mở trừng trừng, sẵn sàng đập vỡ then xả khẩn cấp theo đúng lời thợ cả dặn năm xưa nếu toan khí bùng phát từ khe nứt.
Tống Hoài và Lê Vãn bước lên một bước, mỗi người cầm một thanh đòn bẩy bằng gỗ dẻ gai già dài sáu thước đã được đẽo phẳng hai đầu để tăng diện tích tiếp xúc lực. Ninh Chiêu cầm thanh đòn bẩy thứ ba, đứng ở vị trí trung tâm đối diện với chốt đỉnh chóp.
“Nhớ lấy,” giọng Lê Vãn thì thầm, hơi thở căng thẳng đến mức run rẩy trên bờ môi khô khốc, “đây là hệ thống cân áp ba điểm nối tầng. Nếu ai phát lực nhanh hơn dù chỉ nửa nhịp thở, bầu thủy ngân ở ổ khóa đó sẽ vỡ toang ngay lập tức dưới áp lực dầu. Lực đè phải chìm sâu, phân bổ đều đặn và giữ nguyên vị trí trong suốt mười nhịp thở để đối trọng cát lỏng phía sau vách đá kịp chảy qua phễu điều tốc trọng lực.”
Tống Hoài đặt hai bàn tay thô ráp, chai sần lên thân đòn bẩy gỗ. Đốt sống thứ tư bị tổn thương sau lưng anh khẽ nhói lên một cơn đau âm ỉ quen thuộc mỗi khi vận sức cơ học thuần túy, nhưng tư thế đứng của người cựu kiếm thủ Minh Kiếm vẫn vững chãi như một khối bàn thạch cắm rễ vào lòng đất. Đôi mắt anh nhìn thẳng vào ba điểm tựa kim loại, lồng ngực phập phồng điều hòa luồng chân khí ít ỏi còn sót lại trong kinh mạch tàn phế.
“Ninh Chiêu giữ chốt đỉnh, phát lực bốn phần,” Tống Hoài trầm giọng ra lệnh, từng từ rành rọt như hiệu lệnh trên sa trường năm cũ. “Lê Vãn chốt phải, ba phần lực. Tôi chốt trái, ba phần lực. Nhìn vào nhịp thở của tôi mà đồng khởi.”
Ninh Chiêu dùng cánh tay phải kẹp chặt thanh đòn bẩy gỗ dẻ gai, khuỷu tay trái nẹp chặt thanh gỗ phụ tì chặt vào bụng dưới để định hướng góc rơi. Toàn bộ cơ bắp trên lưng cô căng phồng lên dưới lớp áo vải thô rách rưới.
“Chuẩn bị...” Tống Hoài đếm khẽ, ánh mắt sắc như thép nguội. “Một... Hai... Ba... ĐÈ!”
Ba thanh đòn bẩy gỗ đồng loạt hạ xuống theo một phương vuông góc tuyệt đối.
‘Khực!’
Một âm thanh kim loại va chạm khô khốc vang lên từ sâu trong lòng khối đá phiến đen.
Cảm giác phản hồi truyền ngược qua thân gỗ dẻ gai nặng trịch như thể họ đang dùng sức đè lên cả một ngọn núi đá ngầm dưới đáy biển sâu. Ninh Chiêu cắn chặt răng, gót chân phải lún sâu thêm nửa tấc vào lớp đất cứng, toàn bộ sức nặng và phản lực của thân thể cô dồn thẳng xuống đầu chốt đồng thau. Đầu chốt thẳng lún sâu vào ổ khóa nửa tấc trong một chuyển động êm ru.
Ở bên trái, Tống Hoài hạ thấp khớp gối, dùng kỹ thuật khóa khớp vai điêu luyện triệt tiêu chấn động dội ngược, ép chiếc chốt lệch mười bảy độ trượt ngọt ngào vào rãnh đá bị nghiêng mà không hề cọ vào thành ống thủy tinh chứa thủy ngân. Bên phải, Lê Vãn dùng cả trọng lượng cơ thể ghì chặt đòn bẩy, mồ hôi ướt đẫm trán chảy dài xuống má, giữ vững mức ba phần lực không hề dao động dù chỉ một sợi tóc.
Trong lòng vách đá sâu thẳm, một chuỗi âm thanh lách cách rợn người bắt đầu chuyển động nhịp nhàng.
Đó không phải là tiếng rít chói tai của ma sát kim loại khô khốc bị rỉ sét, mà là tiếng chuyển động rầm rì, trầm đục của những khối đối trọng bằng đá và cát khoáng nặng hàng vạn cân đang trượt trên những máng dẫn bằng gang đúc ngầm bên trong cấu trúc vách đá. Lực cơ học phân bổ chuẩn xác từ ba chiếc chốt đồng thau đã kích hoạt các van xả áp bí mật, mở đường cho dòng chảy đối trọng giải phóng then cài trung tâm bằng thép tôi.
Một làn gió lạnh thấu xương, mang theo mùi của đá vôi ẩm mốc bị giam cầm hàng thế kỷ và mùi dầu bảo dưỡng biến tính, từ từ phì ra qua các khe nứt quanh mép vòm cửa.
‘RẦM... ẦM... ẦM...’
Tiếng đá tảng ma sát nghiến vào nhau rền vang như sấm sét nghẹn ứ dưới đáy địa ngục.
Khối đá phiến đen khổng lồ nặng ngàn cân—thứ đã đứng sừng sững bít kín lối vào này suốt mấy mươi năm qua—từ từ rung chuyển dữ dội. Những mảng vôi vữa cổ và muội tro bám trên mép cửa nứt toác ra từng mảng lớn, rơi lả tả xuống nền giếng tạo thành những đám bụi xám mù mịt. Rãnh trượt bằng đồng dưới chân vách đá kêu lên ken két khi vệt dầu máy cũ màu vàng nhạt bị ép dạt sang hai bên mép máng.
Cánh cửa đá từ từ trượt ngang sang vách đá bên phải, để lộ ra một khe nứt tối đen như họng của một con quái thú khổng lồ đang há miệng trong lòng đất.
Từ khe nứt ấy, một luồng khí lạnh buốt giá phả thẳng vào mặt ba người, cuốn theo những tiếng rít cơ học xa xăm, mơ hồ vọng lại từ một độ sâu không thể đo đếm.
Cửa vào di tích Cửu Giá đã mở.
Dưới đáy sâu của bậc thang đá đen, chín cột sáng mờ ảo chập chờn phát ra những tiếng rung rợn người.