Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.17 / 40
Chapter 17

Giếng cạn vẫn thu thủy phí

Gió bấc rít lên từng hồi qua những rặng đồi trọc, cuốn theo bụi tro xám mịt mù táp rát bỏng vào da thịt khi nhóm Ninh Chiêu đặt chân vào rìa thôn Giếng Mặc. Nơi đây, những nếp nhà tranh xơ xác trơ trọi như những bộ xương khô, nép mình một cách tuyệt vọng dưới bóng đen sừng sững của một tòa tháp canh bằng đá đen đã nứt toác một đường dài từ đỉnh xuống tận chân móng. Vết nứt ấy rộng chừng nửa gang tay, bị trám tạm bợ bằng vôi vữa trộn tro xỉn màu, trông hệt như một vết chém thấu xương chưa từng khép miệng trên thân thể cằn cỗi của vùng đất trũng.

Không khí ở Giếng Mặc ngột ngạt và nặng trĩu một thứ mùi kỳ quái: mùi đất khô hạn lâu năm quyện với mùi tro quặng lưu huỳnh khét lẹt. Lớp bụi khoáng mịn như bột phấn bay lơ lửng trong không gian, bám vào kẽ móng tay, luồn vào từng sợi vải, đọng lại nơi cuống họng một vị đắng nghét, khô khốc. Cỏ cây hai bên bờ mòn dẫn vào xóm đã chết rũ từ lâu; những thân gai góc khẳng khiu mang trên mình một lớp muội xám tro dày cộm, hễ có bước chân người khẽ chạm phải là gãy vụn ra từng khúc lạo xạo dưới đế giày. Cả ngôi làng như bị chôn vùi trong một nấm mồ bụi xám, nơi sự sống chỉ còn thoi thóp qua từng hơi thở ngắt quãng.

Ở khúc quanh đầu làng, nơi một chái chuồng bò bỏ hoang đã sập nửa mái ngói âm dương, Tống Hoài ra hiệu dừng bước. Anh đưa mắt quét qua trục lộ chính dẫn thẳng lên huyện lỵ—con đường duy nhất mà xe ngựa của nha môn có thể di chuyển thuận tiện. Bùi Sách lập tức hiểu ý. Người thiếu niên khẽ gật đầu, thân hình mảnh khảnh thu gọn lại sau bức vách đá đổ nát, lưng tì vào xà gỗ mục, trường cung cùng bao tên gỗ bọc vải tẩm dầu đã sẵn sàng bên hông. Vị trí này cho phép hắn quan sát toàn bộ ngã ba dẫn vào thôn mà không để lộ bóng hình dưới ánh ngày ảm đạm.

Bố trí xong chốt bọc hậu, ba người còn lại kéo sụp vành nón mê, cúi gằm mặt, bước chậm rãi men theo bờ tường đá thấp tiến vào bãi đất trung tâm thôn Giếng Mặc.

Ngay tại khoảng đất trống ấy, một cảnh tượng hỗn loạn và ngột ngạt đang diễn ra dưới làn mưa bụi âm u.

Hơn hai mươi hộ dân của thôn Giếng Mặc—gần như toàn bộ số nhân khẩu còn sót lại sau những đợt di dân trốn nợ—đang bị dồn ép thành một vòng tròn co cụm quanh miệng một cái giếng khổng lồ. Miệng giếng được xếp bằng những khối đá tảng đen bóng, to bằng cả thân trâu mộng, rìa đá mòn vẹt vì hàng trăm năm dây thừng cọ xát. Thế nhưng, tận cùng trong lòng giếng sâu hun hút ấy lại không hề có lấy một giọt nước. Đáy giếng trơ khấc ra một lớp bùn khô nứt nẻ như vảy tê tê, xám ngoét và bốc lên mùi phèn lưu huỳnh chua lòm. Vết nứt trên lớp bùn ấy đã nằm im lìm suốt tám năm trời, kể từ ngày mạch nước ngầm trù phú cuối cùng nuôi sống cả vùng đất này đột ngột rút cạn sạch sau một cơn địa chấn bí ẩn làm rung chuyển cả dãy Hoang Sơn.

Đứng sừng sững đối diện với đám dân làng đói khát là bốn sai nha của phủ Quan Tế. Bọn chúng khoác trên mình giáp da thuộc nhuộm màu xám chì đặc trưng của ty thu thuế, thắt lưng bản rộng đeo đao dẹt bằng sắt rèn thô, tay lăm lăm những ngọn roi bện bằng gân bò nẹp vòng đồng sắc lẻm. Tên lại dịch đứng đầu có khuôn mặt lưỡi cày xám ngoét, ria mép tỉa nhọn hoắt, tay lật giở côm cốp cuốn sổ da bọc mép bằng lá đồng. Tiếng gã the the cất lên, sắc nhọn như dao cạo xé toạc màn gió buốt:

"Hộ số bảy, Trương Tam! Nộp hai cân thóc mạch cùng ba phân bạc vụn! Thủy phí mùa bão tro và tiền duy tu mạng lưới phòng hộ Huyền Khuyết quý này của nhà ngươi chưa đủ một ly, định giở trò trốn thuế sao?"

Một người đàn ông trung niên gầy gò đến mức xương sườn hằn rõ từng thanh dưới lớp áo vá chằng chịt bằng bao tải gai, run rẩy quỳ rạp dưới nền đất lạo xạo bụi tro. Hai mắt anh ta đỏ hoe, váng tro khoáng đóng thành từng mảng khô nơi khóe mi:

"Bẩm lại gia... lạy các quan lớn rủ lòng thương! Giếng làng này đã cạn kiệt tám năm có lẻ rồi! Nước ăn, nước uống của cả thôn phải chia phiên nhau, nửa đêm đi bộ hơn bảy dặm đường núi sang tận vách đá Lạc Hạc hứng từng bát nước rỉ về lóng cặn, gạn lọc ba tầng mới dám húp một ngụm. Nhà con ba miệng ăn, hai đứa nhỏ mắc chứng ho ra máu đen cả tháng trời nay, thóc mạch vụ này gặp bão tro sớm lép hạt gần hết... Cúi xin quan trên cho khất lại phần bạc vụn, đợi qua mùa gió tro gom góp..."

"Khất à?" Tên sai nha trừng mắt, cổ tay vung lên. Ngọn roi gân bò xé gió rít 'vút' một tiếng kinh hoàng, quất thẳng xuống phiến đá cách mặt Trương Tam chỉ nửa tấc, làm đá vụn và bụi xám bắn tung tóe vào trán người đàn ông rách rưới. "Màn chắn Huyền Khuyết không có linh thạch và thủy phí duy tu thì lấy gì chống chọi với bão tro cho cả dải Hạ Lĩnh này? Không có trận pháp che chở, cả cái làng rách nát này đã biến thành một đống xương khô ráo rọi từ tám đời trước rồi! Nước không trồi lên miệng giếng là do mạch ngầm sâu dưới lòng đất được chuyển đi nuôi dưỡng trụ phòng hộ của tông môn! Dân hèn các ngươi ngày ngày hít thở dưới sự che chở của Quan Tế đại nhân mà dám tiếc mấy phân bạc vụn à?"

Hắn vừa gầm gừ vừa giậm mạnh chiếc bốt da bọc sắt lên góc bao tải mạch lép kẹp của Trương Tam, khiến những hạt mạch lép vỡ nát, văng vãi ra nền đất bẩn. Không dừng lại ở đó, gã hất hàm ra hiệu cho hai tên lính lệ phía sau xông tới. Mặc cho tiếng khóc thét van xin, bọn chúng thô bạo giật phăng chiếc kiềng đồng thau mỏng dính—vật kỷ vật duy nhất còn sót lại—trên cổ người vợ đang ôm chặt đứa bé đỏ hỏn quấn trong tã rách.

Tiếng gào khóc của người mẹ hòa lẫn vào tiếng ho hen sù sụ nghẹn ứ của những người già đang đứng co ro chung quanh, bốc lên giữa không gian đặc quánh mùi tro lạnh một nỗi thống khổ tột cùng.

Từ mép đám đông, một ông lão lưng còng rạp xuống, mái tóc muối tiêu bết chặt bụi xám vội vã chen qua những bóng người tiều tụy bước lên phía trước. Ông mặc chiếc áo chẽn bằng da hươu cạo trọc đã sờn rách nhiều chỗ, trên thắt lưng lủng lẳng một chùm chìa khóa sắt to bản đã rỉ sét cùng chiếc móc gầu sứt sẹo—dấu hiệu nhận biết của người giữ giếng suốt cả đời ở cái thôn hẻo lánh này.

"Đội trưởng Trần, xin ngài bớt giận! Bớt giận cho dân đen nhờ!" Ông lão—Từ Bách—chắp hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ chằng chịt những vết sẹo kẹp đá vái lia lịa trước mũi giày tên lại dịch. "Thôn Giếng Mặc chúng tôi bao năm qua chưa từng dám chậm trễ một ly thuế lệ nào của bản phủ. Nhưng năm nay bão tro ập về sớm quá, tro độc quẩn trong thung lũng khiến lũ trẻ mắc chứng ho tro ăn thủng cả phế quản. Chúng không có cháo cầm hơi thì không thể nào sống sót qua nổi mùa đông này đâu. Lão là kẻ giữ giếng cạn, xin lấy danh dự ba đời coi sóc miệng giếng tổ tiên này ra bảo lãnh, xin quan lớn cho khất lại phần bạc của ba hộ nghèo kiệt quệ nhất thôn..."

"Danh dự của một lão già giữ giếng cạn đáng mấy đồng tiền kẽm?" Tên sai nha họ Trần gầm lên một tiếng đầy khinh bỉ. Đôi mắt ti hí của gã lóe lên tia tàn nhẫn, bàn tay hộ pháp hộ pháp vung ra, đẩy mạnh một chưởng vào giữa ngực Từ Bách. "Cút ngay ra chỗ khác, đồ già lẩm cẩm cản trở công vụ!"

Lực đẩy bất ngờ kèm theo kình lực của một kẻ tu luyện Luyện Thân tầng ba hung bạo giáng xuống. Thân hình gầy còm, còng rạp của Từ Bách chao đảo dữ dội như một thân cây khô trước gió lốc. Lưng ông lão đổ gập về phía sau, gót chân vấp phải mép đá tảng gồ ghề của miệng giếng cạn. Nếu ngã ngửa xuống nền đá tảng lởm chởm hay trượt chân lọt vào khoảng hở miệng giếng sâu hun hút, đốt sống lưng già nua ấy chắc chắn sẽ vỡ vụn ra từng mảnh.

Nhưng ngay trong tích tắc ngàn cân treo sợi tóc, một bóng người khoác áo tơi tơi tả đã bước lên một bước cực kỳ chuẩn xác.

Tống Hoài xuất hiện sau lưng Từ Bách nhẹ tựa một chiếc bóng ma trơi. Anh không hề rút kiếm, cũng không để lộ ra dù chỉ nửa tia linh lực mong manh nhằm tránh đánh động các chuông cảnh báo áp suất được bố trí đâu đó quanh vùng. Bằng một động tác dứt khoát, điềm tĩnh đến lạnh lùng, chiếc gậy gỗ mun thô kệch trong tay anh quét ngang một góc nghiêng mười bảy độ.

Đầu gậy điểm chuẩn xác vào hõm xương chậu của Từ Bách, đồng thời cánh tay trái của Tống Hoài ép sát vào mạn sườn, biến toàn bộ khung xương và cơ bắp của mình thành một trụ đỡ vững chãi như bàn thạch. Lực xô hung bạo từ tên sai nha truyền qua thân già của Từ Bách, giáng thẳng vào thân gậy mun, rồi theo trục đùi và gót chân Tống Hoài phân tán trọn vẹn xuống phiến đá ngầm dưới đất. Toàn bộ kình lực Luyện Thân tầng ba bị triệt tiêu không còn một mống, chỉ làm tung lên một vòng bụi tro mỏng manh quanh đế giày rách của anh.

Từ Bách ngơ ngác chớp mắt. Ông lão thấy thân mình không hề ngã nhào, ngược lại như vừa tựa vào một bức tường thành êm ái nhưng vững chãi vô cùng, nâng đỡ trọn vẹn sống lưng già cỗi.

Tên sai nha họ Trần trừng mắt nhìn người đàn ông què quặt chống gậy vừa xuất hiện. Bàn tay gã đang đặt trên chuôi đao bỗng khựng lại; gã cảm nhận rõ ràng lực đẩy đầy sát khí của mình vừa đâm vào hư không, bị một thứ lực đạo quái dị nuốt chửng hoàn toàn. Gã nheo mắt nhìn kỹ nhóm ba kẻ lạ mặt vừa tới—Ninh Chiêu cúi gằm mặt, kéo vạt áo che kín cánh tay trái đang quấn nẹp vải thô; Lê Vãn lầm lũi ôm chặt một bọc vải gai thô dày; còn Tống Hoài thì khập khiễng ho khan từng cơn sù sụ như một kẻ sắp gần đất xa trời.

Nghĩ rằng đó chỉ là sự tình cờ may mắn của một lũ phu trắc địa bần hàn, tên sai nha nhổ toẹt một bãi nước bọt lẫn tro xám xuống phiến đá:

"Lũ ăn mày ở đâu chui ra dám xía vào chuyện công vụ của phủ Quan Tế? Hừ, hôm nay coi như gom hết số mạch lép này trừ nợ. Nhớ lấy, ngày mai đúng giờ Thìn, nếu không gom đủ mười lăm đồng bạc trắng tiền bảo hộ nộp về nha môn, phủ sẽ cắt toàn bộ đường cấp thuốc trị ho tro của thôn, đồng thời sai người phong tỏa luôn con đường gánh nước độc đạo lên vách Lạc Hạc! Lũ giòi bọ các ngươi tự liệu lấy cái mạng rách!"

Bốn tên sai nha hầm hố quẳng bao thóc mạch lên lưng ngựa trạm, thắt chặt quai cương, giật nốt chiếc kiềng đồng thau bỏ vào túi riêng rồi vung roi thúc ngựa phi nước đại. Tiếng vó ngựa nện thình thịch trên nền đá cứng, để lại một vệt bụi tro mù mịt quất thẳng vào những khuôn mặt bàng hoàng, câm lặng và bất lực của người dân thôn Giếng Mặc.

***

Đám đông dân làng tan dần trong tiếng khóc nghẹn ngào của người mẹ trẻ và tiếng thở dài sầu thảm của những bóng người lưng còng lầm lũi quay về túp lều rách. Khi khoảng đất trống chỉ còn lại tiếng gió rít qua miệng giếng cạn, Từ Bách mới run rẩy quay người lại nhìn Tống Hoài.

Đôi mắt đục ngầu, phủ đầy tia máu đỏ của người giữ giếng cả đời lập tức nhận ra thanh niên có dáng đi khập khiễng này tuyệt đối không phải là phàm nhân bần hàn. Cú đỡ vừa rồi của anh không hề dùng đến sức gân cốt thô thiển của kẻ phàm phu, mà là một kỹ thuật mượn lực và triệt tiêu lực tinh diệu tột bực—thứ công phu chỉ có ở những bậc thầy kiếm thuật đã tôi luyện thân thể đến mức thấu triệt từng thớ thịt, khớp xương.

"Đa tạ tráng sĩ cứu mạng lão già này..." Từ Bách thở dài sườn sượt, hai tay ôm chặt lấy chiếc móc gầu sứt sẹo trước ngực, giọng nói run rẩy theo từng cơn gió lạnh. "Nhưng các vị từ phương nào tới đây? Thôn Giếng Mặc này giờ chỉ có nợ nần, đói khát và tro độc. Đến nước uống từng ngụm còn phải đong đếm từng giọt, cơm không có lấy một hột lót dạ, thật sự không có chỗ nào cho khách lạ dừng chân đâu."

Tống Hoài khẽ thu chiếc gậy mun lại, lắc đầu bình thản: "Chúng tôi là thợ rèn và phu trắc địa chạy nạn tro khoáng từ mé dưới Lò Khê lên, đang tìm đường vòng qua dãy Hoang Sơn. Đi ngang qua thấy chuyện bất bình, chút chuyện mọn mượn lực chống đỡ, lão trượng không cần để bụng làm gì."

Ninh Chiêu không nói lời nào từ nãy đến giờ. Ánh mắt cô chăm chú quan sát một cỗ máy kỳ dị dựng ở góc bãi đất trống, cách miệng giếng cạn chừng mười trượng.

Đó là một cỗ guồng lọc nước nhiễm tro ba tầng, khung làm bằng gỗ bách đã mủn mục, giằng lại bằng những thanh sắt rèn thô kệch. Cỗ máy này vốn được thiết kế để lọc tách cặn tro khoáng nặng ra khỏi nước suối lấy từ vách đá về trước khi chia cho dân làng sử dụng. Thế nhưng hiện tại, cỗ guồng nằm im lìm, phủ đầy rỉ sét màu nâu đỏ. Trục quay chính làm bằng sắt rèn phân đoạn đã bị gãy gập làm đôi ngay tại khớp nối then chốt, các nan quạt lọc bằng lưới đồng đan mắt cáo bị ngoại lực vặn vẹo đến cong queo, kẹt cứng ngắc vào rãnh đá dẫn bùn xả cặn. Phía dưới máng hứng bằng gỗ thông, chỉ còn lại một vũng nước đen ngòm, hôi nồng nặc mùi lưu huỳnh và dầu khoáng ứ đọng, trên mặt nổi từng mảng váng dầu xám xịt như da rắn.

Ninh Chiêu bước chầm chậm tới gần cỗ máy, đưa những ngón tay chai sạn của bàn tay phải gõ nhẹ lên thanh giằng chịu lực chính.

'Cộc... cộc...'

Âm thanh kim loại phát ra trầm đục và nặng nề, một biểu hiện không thể nhầm lẫn của loại sắt bị om nhiệt nhiều lần trong môi trường yếm khí, lại phải chịu tải trọng lệch tâm trong suốt một thời gian quá dài.

"Trục truyền động này bị xé gãy vì người thợ đóng chốt mộng ban đầu không hề chừa khe hở giãn nở nhiệt cho then cài," Ninh Chiêu cất giọng trầm tĩnh, ngữ điệu đều đặn của một người thợ đã thấu suốt bản tính của từng thanh sắt, thỏi thép. "Mùa gió tro khí hậu hanh khô, nhiệt độ ma sát tăng cao đột ngột khiến vòng bi trượt bằng đồng thau giãn nở, kẹt cứng vào cổ trục. Khi người đạp guồng gắng sức dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể để đạp, trục sắt non không chịu nổi mô-men xoắn tức thời nên đã tự xé toạc ngay tại rãnh then chốt yếu nhất."

Từ Bách tròn mắt kinh ngạc, vội vã bước từng bước ngắn đuổi theo sau cô gái trẻ: "Cô nương... cô chỉ nhìn qua mà đã biết được bệnh của nó sao? Cỗ guồng này do thợ rèn danh tiếng trên huyện đúc cho làng từ ba năm trước, bị gãy trục đúng đợt gió tro dữ dội tuần trước. Không có nó lọc tách bớt tro khoáng, nước suối múc về đục ngầu như nước vôi tôi, dân làng uống vào là bụng dạ cồn cào, bọn trẻ con ho rách cả cổ họng. Lão gom góp từng đồng kẽm rỉ trong thôn suốt mấy ngày qua mà vẫn không đủ một góc tiền công để mời thợ lò trên huyện về tháo ra hàn lại..."

"Không cần hàn nối bằng đồng thau, và ở đây cũng không cần đến một lò rèn lớn," Ninh Chiêu quay đầu lại nhìn ông lão giữ giếng, ánh mắt đen lánh toát lên vẻ cương nghị vững vàng. "Tôi sửa được cỗ guồng này. Hoàn toàn miễn phí. Chỉ xin lão trượng cho chúng tôi một góc hiên che chắn gió tro đêm nay, cùng một ấm nước đun sôi để rửa vết thương."

Từ Bách ngơ ngẩn nhìn cô gái mảnh khảnh, ánh mắt dừng lại ở cánh tay trái quấn chặt nẹp gỗ và vải thô của cô, rồi lại nhìn sang vẻ điềm nhiên của Tống Hoài cùng dáng vẻ thâm trầm của Lê Vãn. Nhận ra trong đáy mắt những con người phong trần này không hề có nửa tia xảo trá hay vụ lợi, đôi môi khô nứt của ông lão run rẩy: "Thật... thật sự sửa được sao? Đồ nghề... trong căn hầm đá sau nhà lão có một cái đe sắt nhỏ và mấy cây búa tạ của đám thợ đào giếng năm xưa để lại!"

Ninh Chiêu không hề chần chừ một khắc nào. Cô cởi chiếc túi vải thô dày đeo bên hông xuống, mở nắp để lộ bộ đục thép gió mài vẹt chuôi và chiếc búa cầm tay nặng ba cân rưỡi đã bóng loáng mồ hôi do cha cô—Ninh Trác—truyền lại.

Dù cẳng tay trái đau buốt nhức nhối mỗi khi gân cơ co rút, nhưng các bài tập điều hòa lực từ khớp vai, hông và cột sống mà Tống Hoài uốn nắn cho cô suốt những ngày trốn chạy vừa qua đã bắt đầu phát huy tác dụng rõ rệt. Ninh Chiêu hạ thấp trọng tâm, dùng đầu gối phải tì chặt đoạn trục truyền động bị gãy vào một khe đá hoa cương tự nhiên làm điểm tựa chịu lực. Tay phải cô vung búa lên. Động tác không hề có một chút sức thừa thãi, dứt khoát và chuẩn xác đến từng ly.

'Keng! Keng! Keng!'

Tiếng búa gõ đanh gọn, vang dội nhịp nhàng phá tan bầu không khí u uất, ngột ngạt của thôn Giếng Mặc.

Ninh Chiêu không hề dùng sức tàn đập bừa bãi vào kim loại. Mỗi nhát búa giáng xuống đều được tính toán điểm rơi chuẩn xác vào từng thớ thép bị xé rách, khéo léo lợi dụng nhiệt ma sát do nhát búa sinh ra và lực chấn nguội để gá tạm khớp nối then hình chữ U trở lại vị trí cũ. Tiếp đó, cô dùng đầu đục thép gió vạt bớt hai ly mép kim loại đã bị biến tính giòn xốp ở vùng biên.

Từ trong túi đồ nghề của cha, Ninh Chiêu chọn ra hai thanh then cài bằng sắt non dự phòng, cẩn thận dùng giũa vạt bạt góc nghiêng. Áp dụng kỹ thuật gá lồng then đối xứng mà cha từng cầm tay chỉ việc năm xưa, cô đóng chặt hai đầu trục gãy vào nhau, tạo thành một liên kết tự khóa bằng lực ma sát mà không làm lệch lạc độ đồng tâm của toàn bộ hệ trục quay.

Chỉ trong vòng chưa đầy hai khắc đồng hồ, bằng đôi bàn tay thợ rèn thuần thục và con mắt đo đạc cữ chuẩn xác đến từng phân, Ninh Chiêu đã nắn thẳng lại toàn bộ các nan quạt lọc bằng đồng bị cong vênh. Cô đón lấy hũ mỡ trăn cũ từ tay Từ Bách, bôi một lớp mỏng làm trơn các khớp trượt rồi đặt tay lên cần quay, dùng sức đẩy nhẹ.

'Két... rào... rào...'

Chiếc guồng quay tít đều đặn, chuyển động êm ru không hề phát ra một tiếng lách cách va đập nào. Cặn bùn lắng đọng trong máng bị cánh quạt đẩy ngược ra rãnh xả, dòng nước đục ngầu chứa tro khoáng từ từ chảy qua các lớp vải gai và than củi vụn, để rồi rỉ ra từng giọt nước trong vắt đầu tiên, rơi tí tách, trong trẻo xuống chiếc thùng gỗ bên dưới.

Những người dân thôn Giếng Mặc còn nán lại gần đó trố mắt nhìn cảnh tượng trước mắt, rồi những tiếng reo hò mừng rỡ nghẹn ngào đồng loạt bật thốt lên. Người đàn ông tên Trương Tam vội vã lao tới, chìa chiếc bát sành mẻ hứng lấy dòng nước sạch mát lành, hai tay run bần bật mang về túp lều cho đứa con đang lên cơn sốt.

Từ Bách đứng chôn chân nhìn dòng nước trong veo tuôn chảy không ngừng từ cỗ guồng vừa được hồi sinh kỳ diệu. Hai bờ mi nhăn nheo của ông lão ứa ra những giọt nước mắt đục ngầu. Ông quay ngoắt lại, nhìn chằm chằm vào từng đường nét trên khuôn mặt lấm lem bụi than của Ninh Chiêu, rồi quét mắt qua dáng đứng tĩnh như núi của Tống Hoài và vẻ điềm tĩnh sắc bén của Lê Vãn. Giọng ông lão hạ thấp xuống đến mức tối đa, chỉ vừa đủ cho ba người nghe thấy giữa tiếng nước chảy:

"Đi theo lão mau. Nhanh lên, trước khi tai mắt của phủ Quan Tế kịp quay trở lại."

***

Căn hầm đá sau nhà Từ Bách nằm lọt thỏm sâu dưới một ụ đất nhân tạo phủ đầy dây leo khô cháy xơ xác. Lối vào hầm được che chắn bằng một cánh cửa gỗ sồi dày ba tấc, chốt then bên trong là một thanh đá phiến nguyên khối nặng trịch.

Khi then đá hạ xuống với một tiếng 'cạch' khô khốc, toàn bộ tiếng gió bấc gào thét man dại và bụi tro mù mịt bên ngoài lập tức bị ngăn cách hoàn toàn. Trong căn hầm chỉ còn lại mùi ẩm mốc đặc trưng của vách đá vôi ngấm nước mưa lâu năm, quyện với mùi dầu mè cháy leo lắt từ ngọn đèn đĩa đặt trên chiếc bàn đá gồ ghề.

Từ Bách lập cập bê ra một chiếc nồi đất nung đã nứt mép, bên trong là thứ cháo củ mài nấu loãng toẹt, chỉ lơ thơ vài mẩu củ thái mỏng và rắc một nhúm muối thô xám ngoét.

"Nhà chẳng còn gì ngon để thết đãi các vị ân nhân," ông lão gạt vội giọt nước mắt trên khóe mi, chia đều ba bát cháo nhỏ đẩy về phía ba người. "Mấy củ mài này lão phải lén trèo xuống tận đáy khe Trầm Đới đầy khí độc mới đào được vài củ còi cọc. Nước sạch mà cô nương vừa cứu cho làng chính là cái phao giữ mạng sống cho đám trẻ con trong thôn suốt mùa tro này."

Ninh Chiêu bưng bát cháo ấm nóng bằng bàn tay phải chai sần, không hề câu nệ húp từng ngụm nhỏ. Vị ngọt thanh nhạt nhẽo của củ mài hòa lẫn vị mặn chát, đắng đót của muối thô lan tỏa nơi đầu lưỡi, xua tan đi phần nào cái lạnh buốt thấu xương đã ngấm sâu vào da thịt cô suốt nhiều ngày ròng trốn chạy. Tống Hoài và Lê Vãn cũng lặng lẽ ăn hết phần cháo của mình, không để thừa lại dù chỉ một hạt, bày tỏ sự trân trọng tuyệt đối trước sinh kế đạm bạc nhưng chan chứa ân tình của người giữ giếng già nua.

Chờ cho ba người buông bát, Từ Bách mới đứng dậy. Ông bước chầm chậm về phía góc khuất tăm tối nhất của căn hầm, quỳ gối gạt đi lớp rơm rác mục nát, cạy một phiến đá lát nền ẩm ướt lên.

Từ hốc đá sâu bên dưới, ông run rẩy lôi lên một chiếc hòm gỗ mun bọc da trâu đã mốc xanh từng mảng lớn. Tra chiếc chìa khóa đồng rỉ sét vào ổ khóa cổ, ông mở nắp hòm. Bên trong không hề có vàng bạc, châu báu hay linh thạch quý giá, mà chỉ có một xấp sổ sách dày cộp, giấy bản đã ngả sang màu vàng ố của thời gian, mép giấy quăn queo và ám đầy muội tro.

"Các vị tuyệt đối không phải là thợ rèn hay phu trắc địa bình thường đi ngang qua đây," Từ Bách ngẩng đầu lên, ánh mắt đục ngầu nhìn thẳng vào đôi mắt đen sâu thẳm của Ninh Chiêu. "Cái cách cô nương nhìn vào vết nứt của trục sắt, cách cô nương ghìm búa, nắn then... giống hệt như ánh mắt của một người mười một năm về trước từng đứng ngay tại cái sân này."

Ninh Chiêu siết chặt hai bàn tay trên mặt bàn đá lạnh ngắt, trái tim cô đập thình thịch từng hồi dồn dập trong lồng ngực: "Lão trượng... người mười một năm trước đó... rốt cuộc là ai?"

Từ Bách không vội trả lời ngay. Đôi bàn tay gầy guộc đầy sẹo của ông run rẩy trải từng tập sổ sách lên mặt bàn đá lồi lõm:

"Đây là toàn bộ sổ giao nhận vật tư duy tu giếng cạn của thôn Giếng Mặc do ba đời nhà lão ghi chép suốt hai mươi năm qua. Dân làng quanh vùng chỉ biết còng lưng ra nộp thủy phí cắt cổ cho một cái giếng không có lấy nửa giọt nước, ai cũng tưởng số bạc ấy nộp lên nha môn để nuôi đám lính lệ. Nhưng họ không hề biết... cái giếng cạn này mỗi tháng vẫn lén lút 'uống' vật tư nhiều hơn cả một xưởng đúc vũ khí cỡ lớn của tông môn!"

Lê Vãn lập tức kéo chiếc đĩa đèn dầu lại gần hơn, đôi ngón tay thon dài lật giở từng trang sổ ghi chép nguệch ngoạc nhưng vô cùng tỉ mỉ bằng mực nho pha mật cá. Ninh Chiêu và Tống Hoài ghé mắt nhìn vào, và hơi thở của Ninh Chiêu bỗng nghẹn ứ lại nơi cuống họng.

Từng trang sổ đều ghi chép rõ ràng định mức vật tư do các đoàn xe bọc sắt kín mít của phủ Quan Tế bí mật vận chuyển đến Giếng Mặc vào giữa đêm khuya khoắt: - *Tháng Ba năm ngoái: Sáu trăm cân than chì nghiền mịn loại cực phẩm, bốn mươi hũ mỡ bôi trơn chịu nhiệt cao cấp Nam Trụ, mười hai thùng dầu dẫn linh loại một.* - *Tháng Bảy: Tám trăm cân than chì, năm mươi hũ mỡ chịu nhiệt Nam Trụ, mười sáu thùng dầu dẫn linh.* - *Tháng Mười: Đột biến tăng vọt lên một ngàn hai trăm cân than chì, một trăm hũ mỡ bôi trơn chịu nhiệt, ba mươi thùng dầu dẫn linh cao áp!*

"Hãy nhìn vào chu kỳ giao nhận này xem," ngón tay Lê Vãn lướt nhanh trên những con số, giọng chị trầm thấp nhưng sắc lạnh như lưỡi dao cạo trên mặt băng. "Lượng mỡ bôi trơn chịu nhiệt và than chì luôn tăng vọt gấp đôi, thậm chí gấp ba vào đúng một tháng trước mỗi mùa bão tro lớn tràn qua thung lũng! Than chì nghiền mịn là vật liệu duy nhất dùng để giảm ma sát cho các khớp chuyển động cơ khí chịu tải trọng cực hạn dưới áp suất khổng lồ. Còn dầu dẫn linh... thứ dầu đắt đỏ này chỉ được dùng trong các trận pháp cưỡng bức dòng linh lực cao áp đi qua các đường ống dẫn bằng kim loại đặc biệt. Tại sao một cái giếng nước bỏ hoang tám năm nay lại cần đến hàng ngàn cân mỡ bôi trơn và than chì mỗi năm để làm gì?"

"Vì nó chưa bao giờ bị bỏ hoang cả!" Từ Bách thì thào, giọng ông run bần bật lên vì một nỗi sợ hãi đã đè nén suốt bao năm tháng. "Tất cả số vật tư khổng lồ đó, cứ mỗi tuần trăng khuyết, người của phủ Quan Tế lại áp giải phu phen khiêng thẳng xuống cánh cửa hầm niêm phong bằng chì dưới đáy giếng cạn! Mỗi lần xe vật tư về, bọn chúng đều cho quân phong tỏa toàn bộ thôn xóm, cấm tiệt bất kỳ ai bén mảng ra khỏi cửa sổ. Lão là kẻ giữ giếng, có bổn phận duy nhất là phải ký tên điểm chỉ vào sổ kiểm đếm số thùng giao nhận ngay tại miệng hầm đá dưới đáy vực."

Tống Hoài chống hai tay lên đầu gậy gỗ mun, đôi mắt anh lóe lên tia sáng lạnh lẽo như sương đêm: "Lão trượng, vừa rồi lão nhắc tới một người thợ mười một năm trước... Người đó đã xuống đáy giếng làm gì?"

Từ Bách hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo da hươu cạo trọc. Đôi mắt mờ đục của ông như đang nhìn xuyên qua bức tường đá dày đặc, trôi ngược về quá khứ mười một năm về trước:

"Mười một năm trước, vào đúng mùa bão tro lớn nhất trong vòng nửa thế kỷ, đáy giếng cạn đột nhiên phát ra những tiếng gầm rú rung chuyển lòng đất suốt ba ngày ba đêm. Tiếng kim loại cọ xát vào đá tảng gầm rít như tiếng quái vật bị giam cầm dưới địa ngục, làm nứt toác cả tòa tháp canh bằng đá đen của thôn. Rồi trong một đêm mưa tro mịt mùng không thấy rõ bàn tay, phủ Quan Tế bí mật áp tải một toán thợ rèn gồm bảy người đến đây. Họ không hề mặc y phục của tông môn, không đeo huy hiệu của bất kỳ bang phái nào, mặt ai nấy đều xám ngoét vì mệt mỏi và sợ hãi. Người thợ cả dẫn đầu toán người ấy là một người đàn ông trạc tứ tuần, vóc người tầm thước, đôi mắt trầm lặng ít nói, mang bên hông một chiếc túi da thô chứa đầy những chiếc đục thép gió mài vẹt chuôi."

Máu trong toàn bộ kinh mạch của Ninh Chiêu như đông cứng lại thành băng.

Chiếc túi da đựng đục thép gió mài vẹt chuôi... Đó chính là chiếc túi da mà cha cô nâng niu suốt cả cuộc đời, chiếc túi mà cô đang mang bên hông lúc này!

"Toán thợ rèn đó bị nhốt chặt dưới đáy giếng ròng rã nửa tháng trời để gia cố một cụm van ngầm khổng lồ," Từ Bách tiếp tục kể, giọng nghẹn ngào ngắt quãng. "Đêm cuối cùng trước khi bọn lính áp giải họ rời đi trong đêm tối, người thợ cả ấy đã lén men theo bậc đá trèo lên căn hầm này tìm lão để xin một gáo nước sạch uống. Khi lão trao gáo nước cho ông ấy, lão thấy hai bàn tay ông ấy rộp bỏng chằng chịt, ngón trỏ và ngón cái bám đầy muội than chì đen nhánh không thể rửa sạch. Ông ấy uống cạn gáo nước, nhìn lão một hồi lâu trong im lặng, rồi bất thần rút từ trong ngực áo ra một cuộn giấy da cừu nhét chặt vào tay lão."

"Cha... ông ấy đã nói những gì với lão trượng?" Ninh Chiêu chồm người về phía trước, hai mắt long lanh ngấn lệ, giọng cô run rẩy không sao kìm nén nổi.

Từ Bách nhìn thẳng vào khuôn mặt đang kích động tột cùng của Ninh Chiêu, thì thầm nhắc lại từng chữ, từng câu đã in sâu vào tâm khảm của ông suốt hơn bốn ngàn ngày đêm đằng đẵng:

"'Lão trượng, công trình nằm sâu dưới đáy cái giếng cạn này không phải dùng để dẫn nước, mà là một cỗ máy nghiền nát sinh linh tàn bạo nhất thế gian. Tôi đã buộc phải sửa lại van cân bằng áp suất cho nó hoạt động êm hơn, nhưng nếu sau này có một ngày lão thấy đáy giếng rỉ ra thứ bùn đen khét lẹt mùi lưu huỳnh lẫn tanh máu tươi... thì tuyệt đối đừng nghe lời quan sai dụ dỗ. Hãy tìm cách dùng búa đập vỡ then sắt thứ ba mà chạy trốn thật xa! Nhớ lấy lời tôi, đập vỡ then sắt thứ ba!'"

Ninh Chiêu cảm thấy toàn bộ lồng ngực mình như bị một tảng đá nặng vạn cân đè sụp xuống. Hơi thở cô dồn dập, buốt nhức tận tâm can.

*Đập vỡ then sắt thứ ba mà chạy!*

Lời cảnh báo tuyệt vọng đó... cha cô mười một năm trước đã biết tất cả! Ông đã tận mắt chứng kiến cỗ máy tàn độc nằm sâu dưới lòng đất này hoạt động, ông đã bị quyền lực của tông môn ép buộc phải dùng tài nghệ cơ khí của mình để gia cố van cân bằng cho nó. Nhưng người thợ rèn ấy đã không hoàn toàn khuất phục. Trong bóng tối của sự cưỡng ép, ông đã âm thầm cài cắm lại một cơ chế ngắt khẩn cấp—một chiếc then sắt thứ ba có thể đập vỡ để phá hủy toàn bộ hệ thống cân bằng khi tai họa giáng xuống!

"Cuộn giấy da cừu... cuộn giấy da người thợ cả trao cho lão trượng hiện giờ ở đâu?" Ninh Chiêu nghẹn ngào hỏi, những ngón tay cô bấu chặt vào mép bàn đá đến mức móng tay trắng bệch.

Từ Bách không đáp. Ông lại thò tay sâu vào đáy chiếc hòm gỗ mun, cẩn thận lôi ra một cuộn giấy da cừu dài chừng hai gang tay, bên ngoài được bọc kỹ bằng nhiều lớp vải dầu chống ẩm màu nâu sẫm. Ông run rẩy mở từng nếp gấp vải dầu, trải phẳng cuộn da cừu lên mặt bàn đá lồi lõm trước ánh đèn le lắt.

Hiện ra trước mắt ba người là một bản vẽ sơ đồ kỹ thuật chi tiết đến kinh ngạc của cụm van cân áp ngầm số Ba, đặt sâu dưới đáy Giếng Mặc. Từng nét mực tàu sắc sảo, dứt khoát vẽ lại toàn bộ hệ thống đường ống xả cặn bằng gang dẻo, trục cam chịu lực, các vòng đệm làm kín bằng chì đúc và cụm ba chiếc then khóa an toàn nằm nối tiếp nhau.

Thế nhưng, điều khiến tim Ninh Chiêu đập loạn xạ, máu dồn lên thái dương không phải là cấu trúc trận pháp phức tạp, mà là những chi tiết cơ khí hiển hiện rõ mồn một trên từng mối ghép.

Ở các mối ghép mặt bích chịu áp lực thủy tĩnh cao nhất, các đinh tán kim loại không hề được tán tròn đều theo quy chuẩn thông thường của Viện Công Tượng Thanh Lư Tông. Toàn bộ đinh tán trên bản vẽ đều được thể hiện dưới dạng tán bẹt thành hoa văn năm cánh xòe rộng—đây chính là kỹ thuật 'đinh tán tán hoa' độc môn của dòng họ Lò Ninh! Kỹ thuật này giúp phân tán lực xé ngang cực kỳ hiệu quả khi kim loại co giãn đột ngột dưới tác động của nhiệt độ khắc nghiệt.

Chưa dừng lại ở đó, ngay bên cạnh hình vẽ then khóa số Ba, có một dòng chữ viết tay nhỏ xíu ghi chú kích thước bước ren cơ khí: *'Bước ren nghịch hai ly rưỡi, góc vát mười bảy độ'*.

Đúng mười bảy độ!

Con số mười bảy độ ấy trùng khớp hoàn toàn với góc mài trên vết đục thứ ba ở mảnh vỡ kiếm Hàn Tủy mà Tống Hoài lưu giữ, trùng khớp hoàn toàn với góc vát then chốt giảm chấn trong cuốn sổ tay cơ khí mà Ninh Chiêu đã tự tay đào hố chôn sâu dưới đáy máng nước xưởng Lò Ninh trước đêm chạy trốn!

Chính là cha cô. Ninh Trác thực sự đã từng ở đây. Bàn tay thô ráp của ông đã từng chạm vào từng thớ kim loại này, đã từng tự tay đo đạc, chế tác và đặt chiếc then khóa an toàn này vào lòng cỗ máy ngầm tàn bạo của Thanh Lư Tông!

Một giọt nước mắt nóng hổi bất giác rớt xuống mặt giấy da cừu khô khốc, làm nhòe đi một góc nét mực cũ kỹ đã mười một năm tuổi. Ninh Chiêu nghiến chặt hàm răng đến mức bật máu tươi nơi khóe môi để ngăn không cho một tiếng nấc nghẹn ngào bật thốt ra ngoài.

Suốt mười một năm qua, trong tâm trí cô, cha luôn là một người thợ rèn hiền lành, chất phác, cả đời chỉ biết quẩn quanh bên đe sắt, lò than, cặm cụi rèn từng lưỡi cày, con dao cho dân làng thôn dã. Giờ đây, vết tích tay nghề đỉnh cao của ông lại hiển hiện trần trụi ngay trên bản vẽ của một mắt xích trong cỗ máy chuyên bòn rút linh căn và kiếm cốt đồng môn! Cha cô rốt cuộc đóng vai trò gì trong tội ác này? Ông là kẻ đồng lõa vì miếng cơm manh áo, hay là một nạn nhân bất lực bị giam hãm trong vòng xoáy tàn nhẫn của tông môn?

Một bàn tay thô ráp nhưng ấm áp đặt nhẹ lên bờ vai đang run rẩy của cô. Tống Hoài không buông một lời an ủi sáo rỗng nào. Anh chỉ siết nhẹ vai người học trò nhỏ, ánh mắt sâu thẳm như đáy hồ đêm đông truyền sang cô một sự kiên định tĩnh lặng: Hãy tìm ra toàn bộ sự thật trước khi phán xét một con người.

Lê Vãn cúi sát khuôn mặt thanh tú vào bản vẽ, chiếc kính thấu tròng gắn trên mắt phải phản chiếu ánh đèn dầu bập bùng: "Sơ đồ này cho thấy toàn bộ cụm van số Ba nằm ngay dưới chân bệ đá đáy giếng, ẩn sau một lớp niêm phong bằng chì đúc dày nửa tấc. Nếu chúng ta muốn thâm nhập vào đường ống ngầm dẫn thẳng về phía đài Huyền Khuyết mà không làm kích hoạt chuông cảnh giới áp suất của phủ Quan Tế, con đường duy nhất là đi xuyên qua khe hở của van xả cặn này."

"Đêm nay," Ninh Chiêu đưa tay gạt phắt giọt nước mắt trên má, giọng cô đanh lại, lạnh lùng và cứng cỏi như thanh thép vừa được tôi qua nước lạnh. "Chúng ta phải xuống đáy giếng."

***

Canh ba đêm.

Trận bão tro ngoài thung lũng gầm rú dữ dội nhất kể từ đầu mùa. Từng cơn gió lốc quất bụi xám mịt mù mù mịt qua các khe núi, biến bầu trời đêm thành một bức màn đen đặc quánh, không một vì sao nào có thể lọt qua. Cả thôn Giếng Mặc chìm sâu trong giấc ngủ nặng nề, mệt mỏi sau một ngày bị đày đọa, chỉ thỉnh thoảng vang lên tiếng thở khò khè, ho hắng của những đứa trẻ mắc chứng ho tro độc. Xa xa trên đỉnh tháp canh bằng đá đen, ánh đuốc đỏ quạnh của toán lính tuần tra quét qua quét lại từng chặp rồi lại nhanh chóng bị nuốt chửng sau màn tro bụi mịt mùng.

Bùi Sách từ điểm quan sát ở chái chuồng bò hoang bò rạp người men theo chân tường đá trở về căn hầm, khẽ gõ ba tiếng cộc cạch lên then gỗ.

Cửa hầm hé mở, thiếu niên lách mình vào trong, thì thào báo cáo: "Đội tuần tra trên tháp canh vừa đổi ca. Tên lính mới gác đang quay lưng vào góc khuất để tránh gió tro, chúng ta có một khoảng trống chừng hai khắc đồng hồ trước khi hắn tuần tra trở lại hướng này."

Ba người lập tức hành động không một chút chậm trễ. Tống Hoài nhận nhiệm vụ ở lại trên miệng giếng để cảnh giới và giữ đầu dây thừng gai chịu lực. Thể xác tàn phế với kiếm cốt đã vỡ nát của anh không cho phép thực hiện những động tác leo trèo luồn lách linh hoạt trong không gian hẹp dưới lòng đất, nhưng nhãn lực phi phàm, kinh nghiệm trận mạc dày dạn cùng đôi tai có thể phân biệt từng tiếng gió rít của cựu Minh Kiếm tu chính là tấm lá chắn bảo vệ an toàn nhất cho hai người bên dưới.

Ninh Chiêu và Lê Vãn quấn chặt từng vòng dây thừng gai quanh thắt lưng, ngậm chặt những thanh đoản đao sắc bén vào miệng để rảnh hai tay. Cả hai nhẹ nhàng bám vào những hốc đá trơn trượt trên thành giếng, từ từ tụt sâu vào lòng vực thẳm đen ngòm.

Thành giếng sâu hơn mười trượng, xây hoàn toàn bằng những khối đá hoa cương đen ken dày sít sao, không hề có lấy một kẽ hở lớn. Càng tụt xuống sâu, không khí chung quanh càng trở nên ngột ngạt, đặc quánh và lạnh buốt thấu xương. Bụi tro khoáng tích tụ qua nhiều năm bám đầy trên các bề mặt đá gồ ghề, trơn tuột như bôi mỡ.

Cẳng tay trái bị bỏng và nẹp gỗ của Ninh Chiêu nhức buốt dữ dội mỗi khi phải tì đè vào vách đá để giữ thăng bằng cho cơ thể. Nhưng cô nghiến chặt răng chịu đựng, đều đặn điều hòa nhịp thở theo đúng bài học Luyện Thân mà Tống Hoài đã truyền dạy: hạ thấp trọng tâm, phân phối toàn bộ lực tải sang chân phải và cánh tay phải khỏe mạnh, biến từng nhịp thở thành sự phối hợp nhịp nhàng của các khớp xương.

'Bịch.'

Hai bàn chân Ninh Chiêu cuối cùng cũng chạm vào đáy giếng.

Đáy giếng cạn trơ trẽn, không hề có lấy một vũng bùn ướt át nào, mà chỉ toàn là lớp bùn khô cứng cặn lại từ tám năm về trước, nứt nẻ thành từng mảng lớn như mai rùa. Nhưng ngay khoảnh khắc đế giày của Ninh Chiêu đạp lên lớp đất đá vụn dưới đáy, toàn bộ sống lưng cô bỗng chốc lạnh toát, lông tơ dựng ngược.

Một mùi rỉ sét kim loại nồng nặc—thứ mùi đặc trưng của thép hợp kim bị ăn mòn dữ dội trong môi trường nhiệt độ cao và toan khoáng đậm đặc—từ dưới các khe nứt bốc lên sặc sụa, xộc thẳng vào cánh mũi khiến cổ họng cô nghẹn ứ, cay xè.

Ở chính giữa đáy giếng, lấp sau một lớp đất đá vụn được cố ý rải lên để ngụy trang, là một phiến đá tảng hình bát giác khổng lồ.

Toàn bộ đường viền mép của phiến đá bát giác ấy được trám kín hoàn toàn bằng một dải chì đúc dày tới nửa tấc. Dải chì đen xỉn vì thời gian, trên bề mặt dập nổi chìm một dấu triện hình hoa sen cụt cánh—dấu triện đặc trưng của Viện Giám sát và Chấp pháp nội môn Thanh Lư Tông!

Lê Vãn lập tức quỳ sụp một chân xuống nền đá, rút lưỡi dao cạo bằng thép gió cẩn thận cạo đi lớp muội xám bám trên bề mặt dải chì niêm phong. Lớp chì đúc đã bị toan khoáng từ bên dưới ăn mòn rỗ chằng chịt như tổ ong, từ những lỗ rỗ li ti ấy rỉ ra từng giọt chất lỏng màu vàng khè, bốc lên những sợi khói mỏng cay nồng mùi a-xít. Chị rút thanh đo góc bằng đồng thau từ trong bọc vải gai, nheo mắt nhìn qua kính thấu tròng, cẩn thận luồn đầu dò kim loại vào một khe nứt nhỏ nơi mép chì bị nứt toác do áp lực ngầm.

Gió bấc trên miệng giếng xa xăm vẫn gầm rú từng cơn qua vòm đá hẹp, nhưng ở tận đáy vực sâu hun hút này, không khí lại chuyển động theo một quy luật hoàn toàn khác.

Lê Vãn áp tai vào vách đá giếng sâu, thì thầm: Dưới đáy giếng không có nước, nhưng có tiếng gió rít của cơ cấu cân bằng áp suất.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories