Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.16 / 40
Chapter 16

Tro cũng có đường đi

Lê Vãn trải rộng tấm bản đồ trắc đạc còn ướt nước bùn lên mặt bàn thuốc của y xá, bên cạnh là mảnh thép Hàn Tủy và lọ tro khoáng thu từ cống ngầm số Bảy.

Mùi dấm toan nồng gắt từ các hũ thuốc vỡ ban nãy vẫn còn lẩn khuất trong từng kẽ ván sàn, quyện chặt lấy mùi tanh lợ của dịch phổi và máu khô. Ngọn đèn dầu hạt cải leo lét đặt giữa bàn hắt những cái bóng vặn vẹo lên vách đá hoa cương xám lạnh của gian chái cách ly. Bên ngoài hành lang, tiếng ủng sắt của bốn gã lính Chấp Pháp viện do Đỗ Tuyên để lại thỉnh thoảng lại gõ cồm cộp xuống nền đá, lạnh lùng và đều đặn như nhịp của một chiếc đồng hồ nước đếm ngược. Mỗi bước chân nện xuống là một lần lớp đinh sắt dưới đế giày nghiến vào vụn sỏi, dội qua bức vách đá dày nửa thước thành những tiếng vang đanh gọn, nặng nề như tiếng chày nện cối.

Lê Vãn không buồn lau vệt bùn bết trên gò má hốc hác. Đôi bàn tay nứt nẻ vì ngâm nước độc của chị run rẩy gạt phẳng ba trang giấy đo đạc còn sót lại sau vụ sụp cống ngầm. Từng thớ giấy dó thô đã ngấm nước bùn trương phềnh, mềm nhũn như lá rữa, nhưng lớp mỡ cừu quét lót chống ẩm ở mặt sau vẫn giữ cho những đường kẻ ô vuông không bị nhòe nhoẹt hoàn toàn. Dù phần lớn các mép giấy đã bị mủn rách, để lộ ra những sợi xơ thực vật tưa như xơ mướp, những cột số liệu ghi vội bằng bút chì dầu vẫn hiện lên sắc cạnh, đen thẫm và lì lợm dưới ánh lửa tù mù.

"Nhìn vào đây," Lê Vãn hạ giọng, ngón tay trỏ ấn mạnh xuống một đồ thị bị đứt quãng giữa chừng. Móng tay chị xước xát, viền móng đóng một lớp cáu ghét màu nâu đỏ của bùn khoáng chưa kịp cọ rửa. "Trước khi vòm cống số Năm phát nổ vì sụt áp suất cục bộ, thiết bị phân cực của ta đã kịp ghi lại độ biến thiên linh áp trong lòng đất. Nhịp sụt không phải là một đường dốc tự nhiên như khi địa mạch rò rỉ hay sập hang thông thường. Địa mạch tự nhiên khi rạn vỡ sẽ xả áp theo dạng sóng thoải, biên độ dao động phân rã chậm dần theo hàm số mũ bởi lực ma sát của các tầng đá vôi xung quanh. Nhưng đồ thị này hoàn toàn trái ngược. Nó sụt giật cục theo đúng chu kỳ: sáu mươi nhịp một khắc, biên độ nén lên tới chín phần mười. Cứ đúng một nhịp đập của tim người lớn, toàn bộ áp suất tích tụ lại bị hút rỗng vào một hốc tiêu năng ngầm, tạo ra chân không tức thời trước khi dội ngược trở lại."

Chị với tay tháo chiếc nút bấc bọc da nhờn của chiếc lọ lưu ly nhỏ. Miệng lọ vừa mở, một luồng khí hăng nồng xực lên, mang theo vị đắng ngắt làm tê rần đầu lưỡi. Lê Vãn cẩn thận nghiêng miệng lọ, đổ một nhúm tro mịn màu xám chì lên tờ giấy bản trắng đặt cạnh ngọn đèn. Lớp tro không tơi xốp như tro củi rơm rạ thông thường, mà bết dính vào nhau thành từng mảng nhỏ li ti, óng ánh sắc kim loại sẫm dưới ánh sáng vàng đục.

"Mẫu tro này ta cạo từ thành trong của ống xả đáy cống số Bảy, ngay dưới bệ đỡ của đoạn van tiết lưu thứ nhất. Ta đã hòa với toan khoáng và đem sấy trên ngọn đèn dầu để kiểm tra phản ứng khử. Tro rơi từ mây trời trong các hiện tượng thiên kiếp tự nhiên sẽ chứa hơn bảy phần tinh thể ngọc thạch cháy dở và bụi khí quyển tầng cao, có kết cấu xốp rỗng đa diện và tan biến ngay khi gặp toan nóng mà không để lại cặn lắng. Nhưng nhúm tro này thì sao? Nhìn vào độ kết tủa dưới đáy đĩa sứ ban nãy xem. Tám mươi phần trăm thành phần là lưu huỳnh thô, bồ hóng than cám rẻ tiền của mỏ Lạc Hạc, và cặn oxit sắt bị cháy cưỡng bức trong môi trường thiếu dưỡng khí."

Lê Vãn ngước lên, ánh mắt quầng thâm bốc lên một ngọn lửa khô khốc. Những đường gân máu đỏ ửng chằng chịt trong lòng trắng mắt chị, tương phản dữ dội với làn da tái mét vì kiệt sức và nhiễm độc khí mỏ:

"Tro ở lễ phi thăng của Tạ Vân hoàn toàn không phải tàn tích thiên lôi giáng xuống từ trời cao. Mây ngũ sắc chỉ là trò diễn bằng bột phốt-pho và muối đồng nung cháy. Chúng được tạo ra từ đáy lò nung bên dưới đài tế, rồi bị một cỗ quạt thổi áp lực cực lớn đẩy xả cưỡng bức qua hệ thống ống dẫn ngầm xuyên qua các vách núi để phun thẳng lên không trung. Người ta tạo ra một cơn mưa tro nhân tạo để che mắt toàn bộ trấn Lò Khê, khiến hàng vạn người quỳ lạy tung hô ân huệ của trời đất, đồng thời dùng chính áp lực xả đó để đẩy chất thải lỏng tẩu tán xuống lòng đất. Khói bụi bay lên trời để người phàm chiêm bái, còn bùn độc và xương tủy thì tống thẳng vào cổ họng của những kẻ sống dưới đáy cống."

Ninh Chiêu không đáp lời ngay. Lời của Lê Vãn như một nhát búa nện trúng vào khối sắt nguội đặc quánh trong đầu cô. Cánh tay trái của cô vẫn còn quấn chặt nẹp tre cố định, từng dải vải xô ngả màu cháo lòng siết lấy phần cẳng tay sưng húp. Những ngón tay co rút vì bỏng gân buốt nhói từng cơn theo nhịp đập của mạch máu, tựa như có ai đang luồn những sợi chỉ cước nung đỏ qua từng thớ cơ rồi giật mạnh theo mỗi nhịp thở. Bằng bàn tay phải còn lành lặn, cô với lấy chiếc kính phóng đại bằng thấu kính đá thạch anh gọng đồng mà bác sĩ Trần Mộc thường dùng để gắp mảnh vụn xương trong phòng mổ.

Mặt thấu kính dày dặn, viền đồng đã xỉn màu xanh gỉ đồng điếu, nhưng độ trong suốt của lõi thạch anh tự nhiên vẫn hoàn hảo. Cô đặt mảnh thép gãy của kiếm Hàn Tủy dưới ánh đèn, rê thấu kính thạch anh rà sát mép gãy gồ ghề.

Mảnh thép dài chưa đầy nửa gang tay, lạnh ngắt và nặng trĩu. Khi Ninh Chiêu dịch chuyển thấu kính, ánh sáng ngọn đèn dầu hội tụ lại thành một vệt sáng hình elip lướt chầm chậm qua từng thớ kim loại. Dưới độ phóng đại của kính, những bí mật ẩn sâu trong kim loại dần phơi bày. Mảnh kiếm không hề có dấu vết nóng chảy tức thời do sét đánh hay linh hỏa thuần khiết của thiên kiếp. Không có bất kỳ vết rỗ xốp hay hiện tượng hạt kim loại biến dạng hình cầu đặc trưng của nhiệt độ cực hạn trên một ngàn độ C. Ngược lại, trên bề mặt hợp kim ba ngàn lớp kẹp lõi mềm trứ danh do cha cô rèn ra, chằng chịt những rãnh xước hình lưỡi liềm li ti, uốn lượn theo một chiều duy nhất. Mép thép bị mài mỏng dính, nham nhở như thể vừa bị một dòng cát thạch anh trộn lẫn axit đặc chà xát với tốc độ xé gió suốt một thời gian dài.

"Đây là dấu tích của xói mòn thủy lực học," giọng Ninh Chiêu khàn đục, ngón tay cái miết nhẹ lên sống kiếm lạnh buốt. Bề mặt thép không còn độ bóng mịn như gương của kỹ thuật mài nước truyền thống nhà họ Ninh; nó nhám ráp và lồi lõm những vết rỗ xâm thực sâu hoắm, như da của một loài bò sát bị lột dở. "Cha ta từng dạy, khi dòng linh dịch mang áp suất cao bị bóp nghẽn qua một van hẹp, tốc độ dòng chảy sẽ tăng vọt lên gấp hàng chục lần, biến các hạt khoáng chất li ti thành hàng ngàn mũi đục tí hon. Các bọt khí sinh ra do sụt áp cục bộ khi vỡ ra sẽ tạo ra những vụ nổ vi mô, xé toạc bề mặt cứng nhất của kim loại. Nhìn các vi rãnh này mà xem, chúng đều xoáy theo chiều kim đồng hồ, sâu ở đầu đón dòng và nông dần ở đuôi thoát. Thanh kiếm Hàn Tủy của tiền bối Du Hành không hề tan biến vào hư không giữa lằn ranh mây trời."

Cô đặt kính thạch anh xuống bàn, âm thanh va chạm giữa đồng và gỗ vang lên đanh gọn trong không gian tĩnh mịch:

"Nó đã bị kẹt lại trong một miệng van xả thải ngầm suốt mười bốn năm. Dòng linh dịch áp lực cao cuộn lẫn cặn tro và toan khoáng bào mòn nó ngày này qua tháng khác, cho đến khi mỏi kim loại khiến nó gãy vụn. Và khi cỗ máy ngầm kích hoạt đợt xả cực hạn cho lễ phi thăng của Tạ Vân, áp suất dội ngược đã tống mảnh vỡ này ngược trở lại lòng mương thải. Mười bốn năm trước, Du Hành không phi thăng. Ông ta đã bị cỗ máy này nuốt chửng ngay tại chân đài tế, và thanh kiếm bản mệnh của ông bị cuốn vào đường ống như một mảnh rác cơ khí làm tắc nghẽn van xả."

"Nghĩa là mọi thứ phế liệu kim loại và tro cốt... đều chảy ngược xuống lòng đất," Tống Hoài đứng dựa lưng vào cột gỗ góc phòng, trầm giọng đúc kết. Anh đang dùng dải vải thô siết chặt lại thanh nẹp thau đỏ sau lưng. Cơn đau từ đốt sống bị nát sáu năm trước đang cắn xé cơ thể anh sau chuyến vượt ngục dưới cống bùn, nhưng gương mặt phong trần ấy chỉ đanh lại, không để lộ nửa điểm rên rỉ. Từng giọt mồ hôi túa ra từ chân tóc mai, chảy dài qua những vết sẹo chém cũ trên cằm, nhỏ xuống vạt áo rách bươm. Dưới lớp áo mỏng, khung nẹp thau đỏ kêu răng rắc mỗi khi anh gồng mình giữ thăng bằng, như một bộ xương ngoài nhân tạo gánh vác phần cơ thể đã tàn phế. "Một cỗ máy nghiền khổng lồ đội lốt thánh địa. Kẻ leo lên đỉnh cao chỉ là cái vỏ rỗng, còn toàn bộ tinh hoa thực sự đều bị bòn rút để nuôi dưỡng bánh răng trong bóng tối."

Từ trên chiếc giường nẹp gỗ kê sát góc tường cách ly, một tiếng ho khan yếu ớt vang lên ngắt quãng dòng suy nghĩ của họ. Âm thanh khô khốc, tắc nghẽn như tiếng rít của chiếc bễ lò rèn bị rách da.

Hạ Từ đã tỉnh. Gương mặt cô trắng bệch như bột thạch cao, hai bờ môi khô nứt rớm máu tươi thành từng vệt sẫm màu. Hai dải xương sườn số tám và số chín bị gãy nát vừa được bác sĩ Trần Mộc nắn chỉnh và nẹp bằng thanh gỗ thị kẹp đồng khiến mỗi nhịp thở của cô đều nặng nề như có đá tảng đè nghiến lên lồng ngực. Tấm chăn chiên thô phủ trên người cô phập phồng run rẩy theo từng hơi hít vào nông và ngắn. Nhưng đôi mắt của người nữ chấp pháp nội môn giờ đây sáng quắc một cách kỳ lạ, không còn vẻ ngờ vực, cũng không còn sự do dự của kẻ đứng giữa ranh giới môn quy. Ánh nhìn ấy đã bị lột bỏ hoàn toàn lớp sương mù giáo điều của Chấp Pháp viện.

"Bùi Sách... lấy được... chưa?" Hạ Từ thều thào, mỗi âm tiết thốt ra đều kéo theo một cơn run rẩy nơi cơ hoành. Cô cố nhấc bả vai lên nhưng cơn đau nhói buốt từ màng phổi bị tổn thương khiến hàm răng cô va vào nhau lập cập.

Cánh cửa ngách thông sang buồng thuốc xì xào mở hé. Một luồng gió mang theo mùi thảo dược khô và hơi lạnh ngoài hành lang lùa vào gian phòng. Bùi Sách lách người vào trong nhanh như một con sóc trườn qua kẽ đá. Cậu thở không ra hơi, vạt áo tạp dịch bết dính tro bụi và mồ hôi chua loét, ống quần xắn cao để lộ đôi cẳng chân trầy xước rướm máu vì quệt vào đá sắc. Cậu vội vã cài then gỗ bên trong, tra chốt chẹn ngang cánh cửa rồi tựa lưng vào mép ván, lồng ngực phập phồng dữ dội như vừa chạy trốn khỏi vuốt nanh cầm thú. Từ trong bọc áo lót sát ngực, cậu run rẩy rút ra một tập hồ sơ dày cộp bọc da cừu điều, bên ngoài vẫn còn nguyên dải niêm phong bằng sáp đỏ in hình hoa sen ba cánh lồng kiếm cụt của viện Chấp Pháp.

"Lấy được rồi! Đội tuần tra tầng hầm vừa đổi gác lúc canh tư, tôi dùng chìa khóa của tỷ tỷ mở ngăn kéo thứ ba tủ mật Chấp Pháp viện đúng như lời dặn," Bùi Sách vừa lau mồ hôi trán vừa thở dốc, đặt tập hồ sơ lên bàn cạnh đống tro khoáng. Bàn tay cậu vẫn còn run lẩy bẩy, các đầu ngón tay dính đầy muội than. "Lũ linh khuyển ngoài sân bị mùi Huyền Thạch Toan ban nãy làm điếc mũi nên không đánh hơi được. Nhưng lính gác bắt đầu kiểm tra số thẻ bài trực ban rồi. Tôi nghe thấy tiếng quản đinh hò hét điểm danh ở sân kho phía tây."

Ninh Chiêu bước lại gần giường, khẽ đỡ nhẹ vai Hạ Từ, chêm thêm một cuộn chăn dạ cũ sau lưng để cô thở dễ dàng hơn. Hạ Từ gật đầu yếu ớt, ra hiệu cho Ninh Chiêu mở tập hồ sơ ra.

Tập tài liệu là bản thống kê phân bổ nhân lực và điều động đệ tử ngoại viện trong suốt hai mươi bốn tháng qua, góc trên cùng mỗi trang đều có dấu triện chu sa đỏ thẫm của phủ Quan Tế do chính tay Đỗ Kính phê duyệt. Những nét mực chu sa đỏ như máu tươi, sắc sảo và tàn nhẫn, đè lên những cột tên người thẳng tắp.

Lê Vãn nhanh chóng lật từng trang, ngón tay lướt qua hàng loạt cái tên bị đánh dấu mực đen: Lục Viễn Chu - đội tuần tra ca ba; Trần Khôi - đội bảo trì quạt gió; Triệu Mẫn - tạp dịch chuyển quặng... Dưới mỗi cái tên là một dấu gạch chéo dứt khoát bằng mực tàu đặc, bên cạnh ghi chú ngắn gọn bằng ba chữ: *Đã điều chuyển*. Không ghi rõ nơi đến, không có biên bản bàn giao đơn vị mới, cũng không có người tiếp nhận ký tên. Tổng cộng bốn mươi hai cái tên.

Tống Hoài cúi xuống, ánh mắt sắc lẹm lướt qua phần ghi chú tu vi đính kèm bên cạnh mỗi hồ sơ. Anh ghé sát ngọn đèn dầu, ngón tay to bè chỉ vào một cột số liệu kỹ thuật bị cố tình viết bằng cỡ chữ nhỏ li ti ở góc dưới: "Khoan đã. Nhìn vào cột hạch định kiếm cốt xem."

Ninh Chiêu ghé mắt nhìn vào dòng mực son nhỏ li ti. Tim cô thắt lại, một cảm giác ớn lạnh bò dọc sống lưng.

Bên cạnh tên của Lục Viễn Chu, mười bảy tuổi: *Khảo nghiệm kiếm đài mùa thu, xương sống phát quang ba tấc, kiếm cốt sơ cấp ngưng tụ bảy phần.* Bên cạnh tên của Trần Khôi: *Vừa vượt qua Luyện Thân tầng chín, xương sườn kết kiếm tủy dạng non.* Bên cạnh tên của Triệu Mẫn: *Kiếm mạch thủ túc liên thông, tủy đan kết tinh thể thô.*

Toàn bộ bốn mươi hai người mất tích không hề có một ai là phế nhân hay kẻ ốm yếu bị sa thải. Không có một ai là kẻ phạm tội hay vi phạm môn quy bị trục xuất. Ngược lại, một trăm phần trăm trong số họ đều là những đệ tử ngoại viện xuất sắc nhất, những thiếu niên phàm trần vừa mới chạm tới ngưỡng cửa ngưng tụ kiếm cốt sơ cấp qua các đợt khảo nghiệm nghiêm ngặt của tông môn. Những mầm non khỏe khoắn nhất, những đứa trẻ mang trong mình khát vọng đổi đời bằng mồ hôi và máu trên thao trường gió bụi.

"Chúng không chọn ngẫu nhiên," giọng Tống Hoài lạnh như băng giá ngàn năm dưới đáy vực. Ánh mắt anh tối sầm lại, gân xanh trên trán giật liên hồi. "Chúng nuôi dưỡng họ ở ngoại viện, bắt họ lao dịch, cho họ tập kiếm, đợi cho đến khi cơ thể họ tự chắt lọc được chút kiếm cốt tinh khiết đầu đời... rồi viện cớ điều động trực đêm để đưa thẳng vào buồng nạp lực. Những người có kiếm cốt sơ thành là nguồn tải sống ổn định nhất, dễ dung hòa nhất cho trận ngầm. Tủy sống của họ chưa bị cố hóa hoàn toàn như các kiếm tu đại thành, linh lực tính thuần phác, có thể dễ dàng bị bẻ gãy và dẫn xuất thành chất dẫn cao cấp cho cỗ máy."

Hạ Từ nhắm nghiền mắt lại, hai giọt nước mắt lăn dài qua gò má dính đầy bụi than, rơi xuống tấm nẹp gỗ ngực. Đôi bàn tay cô bấu chặt lấy mép nẹp đến mức khớp ngón trắng bệch, móng tay cắm sâu vào lớp vải thô đến bật máu. Sự sụp đổ của một niềm tin kéo dài cả đời còn đau đớn hơn hai dải xương sườn gãy đang cọ xát vào màng phổi. Mười mấy năm trời tuân thủ giới luật, mười mấy năm trời tin rằng thanh kiếm trong tay mình là biểu tượng của công lý tông môn, để rồi giờ đây nhận ra mình chỉ là một kẻ lùa gia súc vào lò mổ.

"Tôi đã đích thân ký giấy chuyển giao... năm người trong số họ..." Giọng Hạ Từ nghẹn lại trong cổ họng, vỡ vụn thành những tiếng nấc khô khốc. "Lục Viễn Chu... chính là tôi trao lệnh bài cho nó. Thằng bé cười rất tươi, nó bảo với tôi rằng cuối cùng cha mẹ nó ở xóm thợ dưới chân núi sẽ không phải nhịn đói qua mùa đông nữa... Tôi cứ ngỡ... họ được chọn vào đội dự bị nội môn để bồi dưỡng riêng..."

"Cô không biết, tội đó không thuộc về cô," Ninh Chiêu đặt bàn tay thô ráp của mình lên mu bàn tay lạnh ngắt của Hạ Từ, siết nhẹ. Hơi ấm từ lòng bàn tay cô truyền qua da thịt người nữ chấp pháp, nhưng không thể xua tan cái lạnh lẽo thấu xương đang vây hãm gian phòng. "Kẻ ký lệnh phê duyệt cuối cùng là Đỗ Kính. Hắn biến sự tận tụy của cô thành công cụ che giấu tội ác."

"Nhưng những người này bị đưa đi đâu? Đáy cống số Bảy chỉ là nhánh dẫn phụ," Lê Vãn lập tức kéo các tài liệu lại gần nhau, giọng chị dứt khoát cắt ngang cơn xúc động. Trong thời khắc sinh tử, sự tỉnh táo của lý trí là chiếc phao cứu sinh duy nhất.

Bằng sự mẫn cảm sắc bén của một trắc lượng sư từng làm việc tại Cục Địa Mạch, Lê Vãn bắt đầu ghép nối các mảnh ghép rời rạc. Chị trải phẳng ba tập tài liệu lên mặt bàn gỗ: bên trái là tập phiếu kho cháy dở thu được từ kho Nam Trụ ghi rõ các chuyến hàng phôi kim loại chịu tải; ở giữa là tập phiếu vận chuyển tro của phu xe Ngô Phúc với những mốc giờ chênh lệch bất thường giữa các trạm trung chuyển; và bên phải là tấm bản đồ địa mạch cổ ố vàng của thầy Phạm Duy để lại mười năm trước, với những nét vẽ tay tỉ mỉ mô tả mạng lưới hang động karst ngầm của rặng Lạc Hạc.

Ngón tay Lê Vãn chấm mực đen, vẽ một đường nối từ đài Huyền Khuyết trên đỉnh núi, chạy ngoằn ngoèo qua cống dẫn ngầm số Bảy, cắt ngang đáy kho Nam Trụ. Các đường ống xả cặn, đường khí nén và rãnh dẫn linh dịch từ bảy nhánh phụ đều không hề dừng lại ở chân núi Thanh Lư. Chúng không hề đổ ra sông Lạc hay các bãi xỉ quặng lộ thiên như trong các bản vẽ quy hoạch công khai mà môn phái đệ trình lên triều đình. Thay vào đó, tất cả các tuyến cống hộp bằng đá hoa cương đều tiếp tục đâm sâu xuống lòng thung lũng đá vôi, xuôi theo độ dốc địa tầng cổ xưa, luồn lách qua các tầng đá phiến sét không thấm nước.

Điểm giao nhau cuối cùng của mọi tuyến ống xả thải ngầm hiện lên rõ rệt trên tấm bản đồ cũ.

Đó là một vùng trũng khô cằn nằm cách tông môn ba mươi dặm về phía đông nam—nơi một ngôi làng cổ đang chết mòn bên cạnh một miệng giếng đã cạn trơ đáy suốt nửa thế kỷ qua. Xung quanh miệng giếng ấy là những cánh đồng đá nứt nẻ, nơi cỏ dại cũng không thể mọc nổi vì đất đai đã bị nhiễm phèn và muối khoáng nặng.

"Giếng Mặc," Lê Vãn thở hắt ra, ngón tay ấn mạnh vào vòng tròn mực đỏ trên bản đồ của Phạm Duy. Vòng tròn ấy đã phai màu theo năm tháng, nhưng vết mực ngấm sâu vào thớ giấy như một vết chàm không thể gột rửa. "Mọi đường xả áp, mọi cặn bã và tro kim loại nặng đều dẫn thẳng về trạm điều áp ngầm đặt dưới đáy Giếng Mặc. Thầy ta từng ghi chú bên lề: *'Nơi điều hòa nhịp thở của rễ cổ'*. Trạm điều áp ở đó kiểm soát toàn bộ van cân bằng của đại trận! Đáy giếng cạn ấy chính là van an toàn khổng lồ của toàn bộ hệ thống ngầm núi Thanh Lư. Nếu trạm điều áp Giếng Mặc ngưng hoạt động, toàn bộ áp suất dội ngược sẽ xé toạc các cống ngầm và nổ tung đài Huyền Khuyết từ bên dưới!"

"Giếng Mặc..." Tống Hoài lẩm bẩm, chân mày anh nhíu chặt lại như đang lục lọi một ký ức xa xôi chìm trong bóng tối của quá khứ. "Chờ đã. Trong đợt kiểm tra kho lưu trữ kỹ thuật của Công Tượng viện sáu năm trước, ta từng thấy một tập hồ sơ duy tu công trình ngoài núi..."

Anh bước nhanh lại góc bàn, lật mở tập phụ lục đi kèm hồ sơ Chấp Pháp mà Bùi Sách vừa mang về. Đó là biên bản tổng kiểm kê các trạm điều áp ngoại vi được lập từ mười một năm trước—thời điểm trước khi đại biến Bổ Khuyết xảy ra, trước khi cha của Ninh Chiêu mất tích và trước khi bản thân Tống Hoài bị đánh gãy cột sống tống vào ngục tối.

Những ngón tay chai sạn của Tống Hoài lật giở từng trang giấy vàng giòn. Giấy kêu sột soạt, mùi mốc meo của thời gian bốc lên nồng nặc. Anh lướt qua các hạng mục cơ khí phức tạp: khớp cầu chịu tải bằng hợp kim đồng-niken, trục xoay giảm chấn bọc cao su lưu hóa, cửa van ba ngả điều tiết áp lực nghịch chuyển... Từng bản vẽ kỹ thuật hiện ra với độ chuẩn xác tuyệt đối, từng mặt cắt của hệ thống van xả được thể hiện bằng những đường mực thanh mảnh nhưng vô cùng chuẩn xác.

Đến trang cuối cùng ghi biên bản nghiệm thu kỹ thuật cụm van cân bằng áp suất số Ba tại trạm ngầm Giếng Mặc, ánh mắt Tống Hoài bỗng nhiên đóng băng.

Anh đứng sững sờ, bất động như một pho tượng đá giữa gian phòng hẹp. Bàn tay anh đang giữ mép giấy bỗng siết chặt lại khiến tờ tài liệu cổ nhăn nhúm.

Ninh Chiêu nhận thấy sự biến đổi bất thường trên nét mặt của người cựu kiếm tu. Sắc mặt Tống Hoài từ trầm ngâm chuyển sang tái nhợt, rồi từ tái nhợt chuyển sang một vẻ bàng hoàng tột độ mà cô chưa từng thấy ở người đàn ông dạn dày sương gió này. "Có chuyện gì vậy, Tống tiền bối?"

Tống Hoài không trả lời bằng lời ngay lập tức. Cổ họng anh giật giật, anh nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng như vừa uống phải mật gấu. Chậm rãi, vô cùng chậm rãi, anh xoay tập hồ sơ về phía Ninh Chiêu, ngón tay run rẩy chỉ vào dòng chữ ký cuối cùng dưới mục: *'Thợ cả phụ trách gia công và hiệu chỉnh van cân áp ngầm'*.

Nét mực đen mười một năm trước đã ngả sang màu nâu sẫm của gỉ sắt. Nhưng ba vết đục chấn nghiêng mười bảy độ đóng chìm vào lớp sáp niêm phong bên cạnh chữ ký thì không thể nào nhầm lẫn được. Đó là dấu ấn được tạo ra từ một chiếc đột thép tôi bằng nước lạnh đáy suối, một góc vát độc nhất vô nhị chỉ có một người trên đời này sử dụng.

Dưới vết sáp là nét chữ rắn rỏi, gãy gọn, từng nét móc dứt khoát mang đậm phong cốt của một người cả đời lấy búa đe làm lẽ sống, lấy sắt thép làm tiếng nói:

*Ninh Trác.*

Căn phòng rơi vào một khoảng im lặng chết chóc.

Sự im lặng đặc quánh lại như khối kim loại nguội ngắt trong khuôn đúc. Chỉ còn tiếng bấc đèn nổ tanh tách từng chặng ngắn, tiếng dầu sôi liu riu trong đĩa đèn và tiếng thở dốc nặng nhọc, đứt quãng của Hạ Từ trên giường bệnh. Bốn bức tường đá hoa cương dường như đang co lại, ép chặt lấy lồng ngực của từng người.

Ninh Chiêu nhìn chằm chằm vào cái tên ấy. Ba vết đục chấn nghiêng mười bảy độ. Máu trong người cô dường như đông cứng lại thành đá tảng. Đầu óc cô rỗng không trong một tích tắc, rồi một cơn chấn động dữ dội ập đến như sóng thần quét qua tâm trí.

Ba vết đục chấn—dấu ấn độc môn của xưởng Lò Ninh. Dấu ấn mà cha cô đã cẩn trọng khắc lên sống kiếm Hàn Tủy của Du Hành mười bốn năm trước. Dấu ấn mà ông đã đóng lên mặt đe đá ngầm dưới hầm xưởng cũ trong thị trấn, nơi ông đã cầm tay cô rèn nhát búa đầu tiên của đời thợ. Và giờ đây, dấu ấn ấy nằm ngạo nghễ, lạnh lùng trên biên bản nghiệm thu cụm van cân bằng áp suất của một cỗ máy bòn rút kiếm cốt con người.

Mười một năm trước. Đúng vào cái năm mà ông bỏ lại cô trong căn nhà xập xệ ngập tràn bụi than, không một lời từ biệt, không một bức thư để lại.

Người cha lầm lì, nghiêm cẩn, người từng dạy cô rằng thanh kiếm rèn ra là để bảo vệ kẻ yếu trước gió tro, rằng người thợ rèn không bao giờ được phép phản bội kim loại, bởi kim loại phản chiếu tâm can của kẻ tôi luyện nó... Người cha ấy đã đích thân đặt tay chế tạo và nghiệm thu van điều áp cho cỗ máy địa ngục này trước khi ông biến mất không dấu vết.

Từng câu nói của ông trong quá khứ dội về như những lưỡi cưa cứa vào da thịt cô. *“Chiêu nhi, sắt thép không biết nói dối. Nó nhận ngọn lửa nào thì giữ lại nhiệt lượng đó. Ngươi trút tà tâm vào lò rèn, sản phẩm đúc ra sẽ mang theo độc khí.”* Vậy thì ngọn lửa nào đã nung nấu trong tim ông khi ông tiện những trục van này? Áp lực nào đã khiến ông ký tên vào bản giao kèo với bóng tối?

Liệu ông là kẻ đồng lõa, vì vinh hoa hay vì sự mê muội trước cơ quan thuật đỉnh cao mà bán đứng linh hồn cho Đỗ Kính? Hay ông là nạn nhân bị giam cầm, bị ép buộc phải vung búa dưới mũi kiếm đe dọa? Hay... khủng khiếp hơn cả, ông chính là kẻ đã thiết kế nên trái tim cơ khí của toàn bộ hệ thống đại trận này?

Nỗi hoang mang tột độ như một lưỡi dao nung đỏ khoét sâu vào tâm can Ninh Chiêu. Đôi bàn tay cô run lên bần bật, vết bỏng ở tay trái nhói buốt dữ dội như thể ngọn lửa thiêu kho Nam Trụ lại bùng lên thiêu đốt da thịt cô một lần nữa. Cơn đau thể xác và cơn đau tinh thần hòa quyện vào nhau, làm tầm mắt cô nhòe đi sau làn sương mỏng của nước mắt kìm nén.

"Chiêu nhi..." Tống Hoài khẽ gọi, giọng anh trầm xuống đầy lo ngại. Anh bước lên nửa bước, bàn tay to lớn đặt hờ lên vai cô nhưng không dám siết mạnh. Anh hiểu nỗi đau này. Mất đi đức tin vào người mình tôn kính nhất còn tàn khốc hơn việc bị tước đoạt kiếm mạch.

Ninh Chiêu cắn chặt môi dưới. Vị tanh mặn của máu tươi lan tỏa nơi đầu lưỡi kéo cô giật phắt về thực tại khắc nghiệt. Cô hít sâu một hơi luồng không khí nồng mùi dấm toan và lưu huỳnh, siết chặt nắm tay phải cho đến khi các khớp xương kêu răng rắc. Đôi mắt nhòe lệ chớp mạnh một cái, ngọn lửa mờ mịt tan biến, nhường chỗ cho một vẻ lạnh lùng đanh thép như thép nguội tôi qua dầu:

"Dù là vì lý do gì, đáp án duy nhất nằm ở Giếng Mặc. Tôi phải đến đó. Nếu ông ấy bị ép buộc, tôi sẽ tìm ra tung tích của ông ấy. Còn nếu... nếu ông ấy thực sự là kẻ tạo ra con quái vật này, chính tay tôi sẽ đập nát những gì ông ấy đã dựng nên."

*Rầm!*

Tiếng cánh cửa ngách buồng thuốc đột ngột bị giật tung khiến tất cả giật thót mình. Âm thanh then gỗ va đập vào khung cửa vang lên chát chúa giữa đêm thanh vắng.

Bùi Sách—người vừa được phái ra ngoài canh chừng hành lang cách đây chưa đầy nửa khắc—hớt hải lao vào, mặt cắt không còn giọt máu. Hai mắt cậu mở trừng trừng vì hoảng loạn, hơi thở dồn dập đứt quãng. Cậu vội vã quay người đóng sập cửa lại, chốt liền ba then sắt lớn, hai tay giữ chặt then cài như sợ hãi có ai đó đang đuổi ngay sát gót:

"Nguy rồi! Có biến lớn!"

"Nói nhỏ thôi! Chuyện gì?" Tống Hoài lập tức đưa tay nắm lấy chuôi thanh kiếm phôi thép non đặt cạnh mép bàn, tư thế hơi chùng xuống, cơ thể sẵn sàng phát lực dù tấm lưng đang nhói buốt.

"Đỗ Kính... Quan Tế Đỗ Kính vừa ban bố lệnh giới nghiêm toàn diện!" Bùi Sách thì thào trong cơn hoảng loạn tột cùng, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Cậu nuốt nước bọt, chỉ tay về phía đỉnh núi mịt mùng tro bụi: "Lệnh được phát đi từ đỉnh Huyền Khuyết cách đây nửa khắc bằng hỏa tiễn đỏ! Toàn bộ kho lưu trữ hồ sơ của Chấp Pháp viện và Công Tượng viện đều bị niêm phong bằng bùa phong tỏa cấp một! Hai đội tuần tra vũ trang hạng nặng mang giáp sắt và linh khuyển của phủ Quan Tế đang tiến thẳng xuống rà soát từng tấc đất khu ngoại viện! Chúng phát hiện chìa khóa ngăn kéo thứ ba bị mất trộm rồi! Tên quản kho bị chém đầu ngay tại bậc cửa!"

Không khí trong phòng lập tức đặc quánh lại vì căng thẳng.

Bên ngoài hành lang cách ly, tiếng bước chân của bốn tên lính gác do Đỗ Tuyên để lại đột ngột dừng hẳn. Những âm thanh xì xào to nhỏ vang lên gấp gáp, tiếp theo sau là tiếng lách cách kim loại lạnh toát: tiếng rút kiếm khỏi bao và tiếng kéo lẫy nỏ phòng hộ. Mùi lưu huỳnh từ những mũi tên tẩm hỏa dược bắt đầu len lỏi qua khe cửa thông gió.

"Chúng sẽ ập vào đây kiểm tra trong vòng một tuần hương nữa," Lê Vãn không hề chần chừ, đôi bàn tay thoăn thoắt cuộn tròn các tấm bản đồ trắc đạc, kẹp chặt mảnh thép Hàn Tủy và gom mẫu tro khoáng nhét vào túi da thuộc chống nước. Chị dùng dây gai buộc chặt miệng túi, khoác chéo qua ngực. "Nếu bị bắt ở đây cùng đống hồ sơ và mảnh kiếm này, tất cả sẽ bị tống thẳng vào ngục Nam Trụ gán tội phản nghịch. Không ai trong chúng ta sống sót qua đêm nay."

"Phải rời núi ngay trong đêm nay," Tống Hoài quyết định dứt khoát, ánh mắt nhìn xoáy vào Ninh Chiêu và Lê Vãn. "Không thể chần chừ thêm một khắc nào nữa. Khi vòng vây của phủ Quan Tế khép lại, ngay cả một con ruồi cũng không thoát khỏi núi Thanh Lư. Con đường duy nhất của chúng ta là hướng về Giếng Mặc."

Ninh Chiêu gật đầu, vội vã thu dọn kính thạch anh và bọc mảnh kiếm Hàn Tủy vào lớp vải dầu dày. Nhưng khi cô quay lại giường bệnh nhìn Hạ Từ, bước chân cô khựng lại.

Hạ Từ nằm đó, hơi thở yếu ớt như ngọn đèn cạn dầu. Hai dải xương sườn gãy, màng phổi vừa mới cầm máu, thể lực hoàn toàn kiệt quệ sau những đòn tra tấn tinh thần và thể xác. Một chuyến vượt núi đường trường ba mươi dặm trong đêm bão tro, băng qua những vách đá lở và rãnh xói hiểm trở, sẽ giết chết cô ngay trên đường đi trước khi kịp nhìn thấy ranh giới thung lũng.

"Để tôi... cõng cô ấy," Bùi Sách cắn răng bước tới mép giường, cúi thấp người xuống. "Dù có phải bò, tôi cũng cõng tỷ tỷ ra khỏi đây."

"Không được," một giọng nói yếu ớt nhưng đanh thép vang lên.

Hạ Từ gạt tay Bùi Sách ra. Bàn tay cô không còn nhiều sức lực, nhưng sự kiên quyết trong ánh mắt thì không ai có thể lay chuyển được. Cô chống một khuỷu tay xuống nệm đá thô, nghiến răng chịu đựng cơn đau xé ngực để ngồi tựa lưng vào vách tường đá hoa cương. Mồ hôi lạnh vã ra như tắm trên vầng trán thanh tú của người nữ kiếm tu, ướt đẫm những lọn tóc mai dính bết vào má.

"Tôi... không thể đi cùng các người," Hạ Từ thở dốc, từng lời nói đều rành rọt dù ngực cô phập phồng đau đớn. "Nếu tôi biến mất cùng lúc với các người, Đỗ Kính sẽ lập tức hiểu rằng nội bộ Chấp Pháp viện đã phản bội hoàn toàn. Hắn sẽ phát lệnh truy nã đỏ toàn bờ cõi Hạ Lĩnh, phong tỏa mọi nẻo đường dẫn đến Giếng Mặc, dựng các trạm kiểm soát linh áp ở mọi hẻm núi. Các người thậm chí không thể bước chân ra khỏi bãi tro chân núi."

"Cô ở lại đây một mình sẽ bị Đỗ Tuyên nghiền nát," Ninh Chiêu cau mày phản đối gay gắt. "Hắn đang tìm kiếm một cái cớ để thanh trừng cô."

"Không. Tôi là đệ tử nội môn Chấp Pháp viện, có lệnh bài thụ phong của Viện chủ tiền nhiệm," khóe môi Hạ Từ khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lùng, kiêu hãnh dù khuôn mặt vẫn trắng bệch vì đau đớn. "Vết thương trên người tôi là thật, do sập cống ngầm khi thừa hành công vụ trước sự chứng kiến của cả trăm đệ tử ngoại viện. Trần Mộc sẽ làm chứng tôi bị dập màng phổi bất tỉnh suốt từ đêm qua đến giờ, không hề rời khỏi giường bệnh nửa bước. Chiếc chìa khóa đó... tôi sẽ báo là bị rơi mất dưới đáy vực cống số Bảy khi khối đá vòm sập đè xuống."

Cô nhìn thẳng vào mắt Ninh Chiêu, ánh mắt rực sáng một niềm tin sắt đá, không chút lay chuyển:

"Tôi ở lại y xá này là nội ứng hợp pháp duy nhất của các người trên núi Thanh Lư. Đỗ Kính dù lộng quyền đến đâu cũng không thể tùy tiện xử tử một chấp pháp viên nội môn bị thương nặng mà không qua xét xử công khai của các viện. Môn quy của tổ sư lập ra vẫn còn đó, các lão chấp sự bảo thủ vẫn đang nhìn vào hắn. Tôi sẽ nằm ở đây, dùng danh phận này để giám sát mọi động thái của phủ Quan Tế, và tiếp tục thu thập danh sách những người bị điều động mới qua mạng lưới y xá. Đi đi... tìm ra sự thật ở Giếng Mặc. Đem sự thật đó trở về... đập tan cỗ máy của chúng!"

Tống Hoài nhìn sâu vào mắt Hạ Từ. Giữa hai người họ—những kẻ từng mang trên mình chiếc áo choàng của tông môn rồi bị chính tông môn phản bội—có một sự thấu hiểu không cần lời nói. Anh đứng thẳng người dậy, siết chặt tay thành nắm đấm đặt trước ngực, khẽ cúi đầu kính trọng: "Bảo trọng. Hãy giữ lấy mạng sống. Chúng ta sẽ trở lại."

Ninh Chiêu siết chặt bàn tay Hạ Từ một lần cuối. Bàn tay của người thợ rèn thô ráp bọc lấy những ngón tay gầy guộc của người nữ kiếm tu. Cô không nói thêm lời thừa thãi nào. Trong thế giới khắc nghiệt của gió tro và quyền lực tông môn tàn bạo này, sự hy sinh thầm lặng của những người dám ở lại đối mặt với bão tố đôi khi còn nặng nề và nguy hiểm hơn cả kẻ dấn thân vào hiểm cảnh ngoài ngàn dặm.

"Bùi Sách, dẫn đường," Ninh Chiêu quay sang người đệ tử ngoại viện, giọng dứt khoát. "Cậu có chắc chắn lối ra sau chuồng ngựa còn dùng được không?"

"Chắc chắn! Đó là đường phu chuồng ngựa lén gánh phân và cỏ mục ra bãi xỉ chân núi mỗi đêm để đổ trộm, không có chuông linh lực cảnh giới," Bùi Sách gật đầu dứt khoát. Cậu hít sâu một hơi để lấy lại bình tĩnh, tròng chiếc áo tơi tẩm dầu gai đen xỉn lên người, kiểm tra lại con dao găm dắt sau thắt lưng và chiếc túi cứu thương thô sơ bên hông.

Bác sĩ Trần Mộc từ gian ngoài lặng lẽ bước vào buồng cách ly. Khuôn mặt già nua đầy những nếp nhăn sâu hoắm của ông trầm lặng như mặt hồ nước mùa đông. Ông không nói một lời thừa thãi, chỉ lẳng lặng nhét vào tay Tống Hoài một bọc thuốc bột cầm máu gói trong lá sen khô và ba viên đan dược giảm đau thô chế do chính tay ông nghiền từ vỏ cây liễu và nhựa thuốc phiện. Ông đưa mắt nhìn thi thể người lao dịch già vẫn nằm bất động, lạnh ngắt trên bàn mổ đằng xa, thở dài một tiếng nghẹn ngào từ đáy ngực:

"Gió tro ngoài kia đang nổi lớn. Lớp tro dày sẽ xóa sạch dấu chân, nhưng cũng có thể chôn sống các người nếu lạc đường trong thung lũng. Đi cẩn thận."

Nói đoạn, bàn tay gầy gò của người thầy thuốc già với lên, dứt khoát mở chốt cánh cửa sổ nhỏ bằng gỗ thông nhìn ra khe núi tối om phía sau y xá.

Tống Hoài đi đầu. Anh ghé sát tai vào khung cửa sổ lắng nghe ngóng động tĩnh trong gió rít suốt vài nhịp thở. Khi chắc chắn không có tiếng tuần tra bên ngoài, tay nắm chặt thanh kiếm phôi thép non, thân hình gầy guộc nhưng vững chãi của anh lách qua khung cửa sổ hẹp, đáp nhẹ xuống gờ đá bên ngoài không gây ra một tiếng động nhỏ. Tiếp theo là Lê Vãn, bọc tài liệu được chị ôm chặt trước ngực như ôm chính mạng sống của mình.

Ninh Chiêu quay đầu nhìn lại Hạ Từ một lần nữa.

Dưới ánh đèn dầu lay lắt, người nữ chấp pháp nội môn khẽ gật đầu, một ánh nhìn kiên định trao gửi trọn vẹn niềm tin. Sau đó, Hạ Từ nhắm nghiền mắt lại, buông lỏng toàn bộ cơ thể, giả vờ chìm vào cơn hôn mê sâu trên giường bệnh, chuẩn bị đón nhận cơn thịnh nộ sắp giáng xuống từ phủ Quan Tế và những lời thẩm vấn hiểm độc của Đỗ Tuyên. Bác sĩ Trần Mộc nhanh chóng kéo tấm chăn phủ kín ngực cô, cầm lấy một chiếc khăn tẩm giấm toan bắt đầu lau chùi những vệt máu giả trên thành giường.

Ninh Chiêu cắn răng, xoay người phóng mình qua bậu cửa đá, đáp nhẹ xuống lớp đất mùn ẩm ướt phía sau y xá.

Bầu trời đêm đen đặc như một vũng mực tàu khổng lồ úp sụp xuống rặng núi Lạc Hạc. Không có trăng, không có sao, chỉ có những dải mây tro xám chì cuồn cuộn trôi sát sạt trên đỉnh đầu. Gió rít từng cơn điên cuồng qua các khe đá hoa cương, mang theo những luồng tro khoáng xám xịt, khô khốc và nồng nặc mùi lưu huỳnh quất rát rạt vào da thịt trần. Tro lọt vào mắt cay xè khiến mi mắt sưng húp, bám vào kẽ răng lạo xạo mỗi khi há miệng thở.

Bùi Sách cúi rạp người sát mặt đất, cử động thoăn thoắt dẫn cả nhóm men theo rãnh thoát nước ngập ngụa cỏ dại và bùn lầy phía sau dãy chuồng ngựa ngoại viện. Mùi phân ngựa ủ men nồng nặc xực lên cay mũi, át đi mùi mồ hôi và hơi thở gấp gáp của họ, vô tình tạo thành một lớp bình phong tự nhiên che chắn khứu giác nhạy bén của lũ linh khuyển săn mồi.

Phía xa trên các tháp canh bằng gỗ lim của sân Bạch Thạch, những ngọn đuốc phòng hộ đỏ quạnh quét qua quét lại trong màn sương tro dày đặc. Ánh lửa chập chờn rọi sáng những bóng lính tuần tra bọc giáp sắt đang hối hả di chuyển. Tiếng chuông báo động ngầm—loại chuông đồng không đáy phát ra tần số trầm đục chỉ rung chuyển dưới lòng đất—bắt đầu ngân vang từng hồi dồn dập từ hướng sảnh Chấp Pháp, rung chuyển cả những phiến đá dưới chân họ.

Đỗ Kính đã bắt đầu cuộc thanh trừng. Lưới sắt của phủ Quan Tế đang giăng ra khắp núi.

"Chỗ này!" Bùi Sách thì thầm qua kẽ răng, dừng lại trước một góc khuất tăm tối nơi hàng rào mắt cáo bằng dây thép gai bị lớp phân ngựa và rơm rạ mục chôn vùi một nửa. Cậu dùng một đoạn cọc gỗ mục nạy mạnh mép lưới thép đã bị rỉ sét ăn mòn đứt đoạn từ trước, tạo thành một khe hở hình tam giác vừa đủ cho một người bò trườn qua.

Tống Hoài lách người qua trước. Dù khung nẹp lưng bằng thau đỏ cấn mạnh vào vết thương cũ khiến mồ hôi túa ra như tắm, anh vẫn nghiến răng trườn qua êm ru, lập tức xoay người cảnh giác quét mắt nhìn bốn phía sườn đồi hoang vu. Tiếp theo là Lê Vãn, rồi đến Ninh Chiêu. Khi Bùi Sách vừa trườn qua sau cùng và cẩn thận kéo đống rơm rạ mục phủ kín lại lỗ hổng, một tràng sủa rống chói tai của đàn linh khuyển bỗng vang lên từ phía cổng chính ngoại viện, kèm theo tiếng vó ngựa bọc sắt dồn dập gõ trên đường đá hoa cương.

Tiếng quát tháo và ánh đuốc bừng lên rực trời phía sau lưng họ. Nhưng tất cả đã muộn một bước.

Họ đã thoát ra ngoài phạm vi kiểm soát trực tiếp của Thanh Lư Tông.

Trước mặt họ không có đường mòn, không có lối đi lát đá êm ái của bậc thang môn phái. Chỉ có những dải dốc đá lở lởm chởm, những hẻm vực sâu hun hút và bãi tro xám cằn cỗi trải dài vô tận trong đêm tối mịt mùng. Gió tro từ thung lũng thốc ngược lên sườn núi, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt của vùng đất Hạ Lĩnh trước mùa bão lớn. Gió gầm rú như dã thú đói mồi, quất những vạt bụi đá rát bỏng vào lưng áo họ.

Ninh Chiêu siết chặt bọc vải bọc mảnh kiếm Hàn Tủy trước ngực. Khối kim loại lạnh buốt cấn vào xương thịt cô qua lớp áo rách, truyền đi một cảm giác tê tái buốt tận tâm can, nhưng ngọn lửa cháy trong lồng ngực cô—ngọn lửa của sự thật, của mối nghi ngờ về người cha mười một năm bặt vô âm tín, và nỗi phẫn uất trước sự tàn độc của lũ giả nhân giả nghĩa—thì nóng rực hơn bất kỳ lò than nào ở trấn Lò Khê.

Bốn bóng người lặng lẽ hòa vào màn đêm bụi bặm, cắm đầu bước đi trên lớp tro dày lún ngập mắt cá chân. Mỗi bước chân đạp xuống đều phát ra tiếng lạo xạo khô khốc, bỏ lại sau lưng ngọn núi Thanh Lư uy nghiêm giả tạo với những công trình ngầm đẫm máu đồng môn.

Phía xa dưới thung lũng khô cằn, ngọn hải đăng cạn của Giếng Mặc le lói một đốm sáng đỏ quạnh quẽ. Đốm sáng ấy chập chờn trong bão tro như một con mắt đỏ ngầu của số phận đang chờ đợi họ bước vào màn sương tăm tối.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories