Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.13 / 40
Chapter 13

Hành lang nghe được nhịp tim

Lối vào cống ngầm số Bảy nằm khuất hẳn sau nếp gãy của vách đá phía tây sân Bạch Thạch, bị che đậy bởi một tấm lưới sắt đúc nặng nề bám đầy rêu nhớt và lớp vôi khoáng đọng lại qua nhiều thập kỷ ẩm ướt.

Mép lưới sắt hoen rỉ tì ngập vào gờ đá vôi xám xịt, nơi rãnh thoát nước lộ thiên của khu ngoại môn trút xuống toàn bộ cặn bẩn sau mỗi buổi sớm tập luyện. Xung quanh khe nẹp đá hẹp ấy, từng mảng địa y màu tím thẫm bám chặt lấy bề mặt gồ ghề, lẫn vào bùn quặng đọng lại thành những vệt sền sệt, bốc lên thứ mùi chua nồng của sắt rỉ mục và nước ngâm than đá. Cứ mỗi khi ngọn gió núi từ đỉnh Lạc Hạc quất chéo qua góc sân đá, tấm lưới lại khẽ run lên, phát ra tiếng ken két khô khốc, rợn người, tựa hồ như một bộ hàm răng kim loại đang nghiến chặt vào lòng đá để ghìm giữ bóng tối phía dưới.

Lê Vãn dừng bước ngay trước rào chắn. Chị đặt chiếc hòm gỗ mun đựng đồ nghề trắc địa xuống phiến đá ướt dưới chân, tiếng chân đế bọc đồng va vào mặt đá nứt nẻ phát ra một âm thanh trầm gọn. Chị không vội vàng đụng đến chốt xích, mà thò bàn tay chai cứng vào trong vạt áo choàng thợ đo làm bằng vải thô tẩm dầu, rút ra một cuộn giấy bản đã ố vàng bốn mép. Trên mặt giấy, dấu triện son hình chiếc compa lồng trong bánh răng cưa của Viện Công Tượng vẫn còn nguyên bờ mép sắc sảo, đỏ thẫm như một vệt máu chưa khô hẳn.

"Giấy phép kiểm tra rò rỉ thủy văn và bảo trì định kỳ đường ống ngầm số Bảy," Lê Vãn cất giọng. Giọng chị trầm, đều đều, phẳng lặng như mặt nước giếng sâu không một gợn sóng, đưa thẳng văn bản về phía người đang đứng sừng sững chắn trước lối bậc thang dốc ngược. "Do chấp sự phân viện Quản lý Công Trình ký duyệt vào đầu giờ Ngọ. Thời hạn khảo sát: bốn canh giờ tính từ lúc mở then."

Hạ Từ không lập tức đưa tay tiếp nhận. Nàng đứng thẳng tắp trên bậc thềm đá sa thạch cao hơn một bậc, mũi giày da viền bạc bấm chặt vào mép đá trơn trượt. Bàn tay trái của nàng đặt hờ lên miệng bao kiếm bọc da cá đuối viền đồng thau, ngón cái tì nhẹ vào chuôi kiếm, giữ cho mũi kiếm luôn chúi xuống một góc ba mươi độ chuẩn xác theo quy phạm nghiêm ngặt của Chấp Pháp viện. Bộ đạo bào nội môn màu lam đậm của nàng không có lấy một nếp gấp thừa thãi, vạt áo sạch bong không vương một hạt bụi tro, tạo nên sự tương phản gay gắt với vẻ lem luốc, ẩm mốc của ba con người đang đứng đợi dưới chân rào.

Đôi mắt phượng của Hạ Từ hẹp dài, sắc lạnh như lưỡi dao cạo, quét chầm chậm qua từng chi tiết: từ chiếc hòm trắc lượng nặng trịch có dây đai da đóng đinh tán của Lê Vãn, bao tải thô đựng đục thép và búa con quấn chặt bên hông Ninh Chiêu, cho đến dáng đứng hơi khom về phía trước cùng chiếc gậy chống bằng gỗ nghiến bọc sắt của Tống Hoài. Ánh nhìn của nàng dừng lại lâu nhất nơi bàn tay trái của Ninh Chiêu—bàn tay đang được quấn kín mít bằng những lớp băng vải thô ngả màu xám tro, chỉ để lộ ra năm đầu ngón tay khẳng khiu, hơi co quắp.

"Công văn mang đúng ấn tín," Hạ Từ lên tiếng sau khi ngón tay nàng miết dọc qua từng nét chu sa và kiểm tra độ giòn của dấu niêm phong bằng sáp đỏ dưới góc tờ lệnh. Giọng nói của nàng trong trẻo nhưng lạnh buốt, mang theo uy quyền tuyệt đối của kẻ nắm giữ quy chế tông môn. "Nhưng lệnh thiết quân luật do Quan Tế Đỗ Kính vừa ban bố đầu giờ Thìn cấm tất cả mọi người tự tiện tiếp cận khu vực dẫn khí ngầm. Viện Công Tượng có quyền đo đạc mực nước rỉ, nhưng Chấp Pháp viện có toàn quyền bắn hạ tại chỗ bất kỳ ai bước lệch khỏi phạm vi công tác nửa bước."

Nàng trao trả lại tờ giấy cho Lê Vãn, đoạn xoay nửa người bước sang một bên, để lộ ra ổ khóa đồng thau to bằng nắm tay trẻ con đang ghìm chặt then cài cửa ngầm. Trên bề mặt khóa, những rãnh hoa văn hình mây uốn lượn đã bị rỉ xanh bịt kín gần hết.

"Ta đi cùng," Hạ Từ lạnh lùng bổ sung, lời nói dứt khoát không để lại bất kỳ khoảng trống nào cho sự thương lượng. "Ta có nhiệm vụ giám sát hành trình từng bước chân của ba người. Bước chân của thợ rèn đi đến đâu, dụng cụ của trắc lượng sư chạm vào chỗ nào, thanh kiếm này sẽ ghi nhận đến đó. Nếu có bất kỳ hành vi nào vượt quá việc đo lường lưu lượng nước rỉ và kiểm tra xỉ quặng, ta sẽ lập tức kích hoạt chuông báo động trên thắt lưng."

Tống Hoài đứng sau lưng Lê Vãn chỉ khẽ nhếch khóe môi. Một nụ cười mỉa mai thoáng hiện qua chòm râu lởm chởm bạc màu tro rồi biến mất rất nhanh. Anh không nói một lời, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng lạo xạo nhỏ xíu trong vòm họng. Lặng lẽ, Tống Hoài đưa tay chỉnh lại dải đai vải thô to bản đang siết chặt ngang thắt lưng để giữ cho thanh nẹp cột sống bằng gỗ phong không bị xô lệch, rồi dùng đầu ngón tay khẽ hất nhẹ vào vai Ninh Chiêu.

Ninh Chiêu bước lên phía trước. Bàn chân cô đạp vững vàng trên phiến đá trơn nhẫy bùn quặng. Bàn tay phải của cô—với những vết chai sần dày cộp nơi lòng bàn tay và gốc ngón trỏ tích tụ sau hàng vạn nhát búa quai—rút chiếc kìm mỏ quạ bằng thép tôi từ bao da bên hông. Bàn tay trái co rút cứng đờ của cô khẽ tì lên chốt sắt làm điểm tựa giảm lực phản hồi.

Cô không dùng sức mạnh thô bạo. Ngón tay Ninh Chiêu lách đầu kìm vào khe hẹp giữa ngạnh khóa và then cài, cổ tay xoay nhẹ một góc mười lăm độ, khớp hông hơi chùng xuống theo đúng bộ pháp dồn lực của thợ rèn khi ghìm đe. Một tiếng *cách* khô giòn, đanh gọn vang lên. Then sắt bật mở, nhả ra một đám bụi rỉ màu nâu đỏ bay là đà trong không khí.

Cánh cửa lưới sắt nặng nề rên rỉ khi Ninh Chiêu đẩy nó vào trong. Một luồng khí ẩm xộc ra, mang theo thứ mùi thối rữa nồng nặc của bùn lắng lâu năm, rêu mục và mùi tanh lợm giọng của nước toan khoáng, táp thẳng vào mặt bốn người.

* * *

Càng xuống sâu qua những bậc đá dốc đứng, không gian càng biến đổi một cách quái đản.

Những bậc thang đá sa thạch được đẽo gọt thô thiển từ thời khai sơn mở cống trơn nhẫy vì lớp màng nhờn nhớt của quặng khoáng phân hủy, cắm dốc ngược xuống lòng vực tối tăm như một cái họng khổng lồ nuốt chửng ánh sáng ban ngày. Chỉ sau khoảng năm mươi bậc đá đầu tiên, cái ẩm ướt buốt giá của vũng nước trên mặt đất hoàn toàn biến mất. Không khí chuyển đổi đột ngột, trở nên khô khốc, nóng hầm hập như thể cả nhóm đang bước chân vào một lò than đá khổng lồ vừa mới được cời bỏ lớp tro mặt.

Một mùi lưu huỳnh khét lẹt xộc thẳng vào sống mũi, nồng nặc và buốt rát đến mức cuống họng Ninh Chiêu co thắt lại. Cô phải mím chặt môi, nén một cơn ho khan đang chực bùng lên cào xé lồng ngực.

Trong quầng sáng vàng vọt, tù mù hắt ra từ ngọn đèn dầu khoáng treo bên hông Lê Vãn, vách đá hai bên không còn giữ lại vẻ tự nhiên trần trụi. Chúng đã được quét phủ một lớp vữa tôi từ xỉ quặng xám xịt, dày cộp, loang lổ những vệt rạn nứt hình mạng nhện kéo dài từ trần vòm xuống tận chân tường.

Và sâu phía sau lớp vữa đá nứt nẻ ấy, một âm thanh trầm đục, liên hồi bắt đầu dội thẳng vào màng nhĩ họ. Đó là tiếng rền rĩ, vo ve nghẹt thở của một luồng khí áp lực cực cao đang cuồn cuộn chảy qua hệ thống ống ngầm chôn sâu trong lòng núi Lạc Hạc. Âm thanh ấy không giống tiếng nước lũ gầm thét trong hẻm sâu, cũng chẳng giống tiếng gió lùa qua các hang động tự nhiên; nó phát ra thứ tần số cơ học khô khốc, cứng nhắc, đều đặn đến mức rợn người, tựa như nhịp đập của một trái tim bằng thép nguội đang co bóp không ngừng trong lồng ngực đá vôi.

Tống Hoài dừng lại ở chiếu nghỉ của tầng bậc thứ ba. Một tay anh bấu chặt vào gờ đá nhô ra bên vách, hơi thở rít lên qua kẽ răng run rẩy. Đốt sống thứ tư—nơi kiếm cốt của anh bị bẻ gãy sáu năm về trước—dường như đang bị đánh thức bởi thứ chấn động vô hình truyền qua thớ đá. Toàn bộ cơ lưng của anh co giật từng chặp, từng đợt đau nhói như có ai dùng dùi sắt nung đỏ chọc thẳng vào tủy sống.

"Tiếng quạt thổi cưỡng bức của tầng ngầm số Năm..." Tống Hoài thì thầm, giọng anh khàn đặc, vỡ vụn ra giữa tiếng ầm ì của vách đá. "Họ đang ép áp suất dòng linh khí từ các đỉnh phụ gom về trục chính. Mười năm trước, khi ta còn đi tuần ở đoạn cống này, đường ống chỉ hơi rung lên vào những dịp đại lễ ba năm một lần. Giờ thì... thứ súc sinh này chạy cả ngày lẫn đêm, không ngơi một nhịp thở."

Hạ Từ khẽ nhíu mày. Nàng đứng ngay phía sau Tống Hoài hai bậc thang, bàn tay phải siết chặt chuôi kiếm hơn một chút, các khớp ngón tay trắng bệch ra dưới ánh đèn dầu. Ánh mắt nàng nhìn lướt qua sống lưng còng rạp và lớp áo thô đẫm mồ hôi của người cựu kiếm tu.

Là một đệ tử nội môn lớn lên trong khuôn phép nghiêm cẩn của các bài kinh thư tông môn, từ nhỏ nàng đã được dạy rằng hệ thống dẫn khí ngầm của Huyền Khuyết là một chuỗi trận pháp hộ sơn tự nhiên, vận hành bằng linh mạch tinh thuần của trời đất để nuôi dưỡng kết giới ngăn chặn gió tro độc hại tràn vào thung lũng. Nhưng thứ âm thanh sắt thép nặng nề, tiếng gầm rú cơ học và mùi khét lẹt của kim loại cháy này hoàn toàn xa lạ với những gì được chép trong *Địa Mạch Thập Nhị Quyển*.

"Đừng nói xằng bậy," Hạ Từ cất giọng lạnh tanh, nhưng ngữ điệu đã thoáng chút gượng gạo, không còn giữ được vẻ ung dung ban đầu. "Viện Công Tượng đang xả cặn tro định kỳ trước mùa bão gió tro tháng Chín. Tiếp tục đi xuống, chúng ta mới chỉ đi được một phần ba nhánh dẫn phụ."

Lê Vãn không tham gia vào cuộc tranh cãi. Chị quỳ một chân xuống mặt sàn đá nóng rẫy, mở nắp chiếc hòm gỗ mun. Từ bên trong những ngăn chứa lót nhung đen đã sờn rách, chị rút ra các cuộn dây chì mảnh được bọc một lớp sáp ong chống ăn mòn. Chị dùng một chiếc búa con bằng đồng gõ nhẹ vào đầu móc sắt, găm chặt mấu giữ vào một kẽ nứt địa tầng. Đôi tay thoăn thoắt, chị bắt đầu giăng dây đánh dấu khoảng cách dọc theo mép tường: cứ đúng mười trượng một nút thắt kép, chuẩn xác và lạnh lùng như một thợ may đang đo đạc từng tấc vải liệm.

Sau mỗi đoạn dây chì được kéo căng tắp, Lê Vãn lại rút từ túi da đeo ngang ngực một que thử rung chấn bằng đồng thau dài chừng hai gang tay. Đầu que được tiện ren xoắn, gắn một quả lắc nhỏ bằng huyền thiết đen nhánh, nặng chịch. Chị cắm ngập mũi que vào một kẽ nứt địa tầng đang rỉ ra thứ bột đá mịn như phấn.

Quả lắc huyền thiết ngay lập tức rung lên bần bật, va đập liên hồi vào thành que bảo vệ, phát ra những tiếng *tinh... tinh... tinh* dồn dập, buốt óc.

"Tần số dao động vượt mức an toàn ba phần mười," Lê Vãn lẩm bẩm, mắt dán chặt vào các vạch chia độ li ti khắc trên thân que đo, đầu ngón tay dính bột than nhanh chóng ghi chép các con số vào cuốn sổ tay bọc da dầu. "Dòng năng lượng ngầm này không hề tản mạn ra các trụ phòng hộ xung quanh sườn núi Lạc Hạc như sơ đồ phòng ngự công bố. Toàn bộ lưu lượng... ít nhất chín phần mười lưu lượng đang bị cưỡng bức bóp nghẹt lại, nén thẳng vào một trục ống duy nhất dẫn về phía đài Huyền Khuyết."

"Chị có chắc không?" Ninh Chiêu bước lại gần, cúi đầu nhìn dòng mực đen đặc và những con số chi chít trên trang sổ của Lê Vãn.

Cô ngồi xổm xuống, tháo lớp găng tay thô ở tay phải, áp lòng bàn tay trần đầy chai sạn vào phiến đá cạnh que đo. Xuyên qua lớp da dày, cô có thể cảm nhận rõ ràng thớ đá hoa cương bên dưới lớp vữa đang rên xiết. Kim loại bên trong lòng núi đang phải chịu một tải trọng uốn cong cực lớn—thứ tải trọng khổng lồ mà chỉ những đe rèn đại quy mô khi dập phôi kiếm ngàn lớp mới có thể sản sinh ra được. Vách đá không chỉ rung, nó đang oằn mình lại dưới một áp lực cơ học tàn khốc.

"Số liệu trắc địa không biết nói dối," Lê Vãn đáp, giọng khô khốc. "Địa tầng tự nhiên không bao giờ rung chuyển ở tần số ba mươi nhịp một khắc với biên độ ổn định tuyệt đối như thế này. Phải có một cỗ máy bơm cơ học hoặc một trận pháp cưỡng chế áp lực đang vận hành hết công suất ở đáy vực."

Chị đứng dậy, cẩn thận lau sạch bụi bám trên que thử rung chấn rồi cất nó vào bao da. Tiếp đó, Lê Vãn lấy ra từ đáy hòm một thiết bị kỳ lạ hình bán nguyệt đúc bằng đồng thau bóng loáng. Thiết bị này to cỡ một chiếc đĩa ăn, mặt trên được bảo vệ bằng một tấm kính thạch anh trong suốt, bên dưới là một cây kim chỉ bằng hợp kim bạc mỏng manh treo lơ lửng trên một trục xoay tí hon, xung quanh viền khắc đầy các phù hiệu phương vị cổ.

"Đây là máy dò phân cực linh áp do thầy ta—Phạm Duy—tự tay chế tạo mười lăm năm trước," Lê Vãn nói, ánh mắt chị thoáng chốc tối sầm lại khi nhắc đến tên người thầy đã khuất. "Nó phản ứng với các dao động bản nguyên của linh lực có định hình. Ta sẽ kiểm tra độ rò rỉ của vách đá."

Lê Vãn cầm thiết bị bằng cả hai tay, từ từ áp phần đế đồng phẳng lì vào vách đá xám phủ đầy vôi quặng. Cây kim bạc bên trong mặt kính thạch anh khẽ lay động nhẹ theo quán tính của bước chân rồi lập tức nằm im bất động, chỉ thẳng tắp vào vạch số không màu đen.

Ninh Chiêu tò mò bước tới. Cô rút thanh đục bằng thép thường bên hông mình ra, thử chạm mũi sắt nhọn hoắt vào mép ngoài của thiết bị cảm ứng. Cây kim đo vẫn đứng yên như chết, không có lấy một ly dao động. Ngay cả khi Tống Hoài đưa chiếc gậy gỗ nghiến bọc sắt của mình chạm vào vách đá bên cạnh, cây kim cũng chỉ nhích nhẹ một phần mười vạch do xung lực cơ học thuần túy truyền qua sàn đá, hoàn toàn không có bất kỳ phản ứng năng lượng nào.

"Đá vôi và sắt nguội không mang linh tính định hình," Lê Vãn giải thích, ánh mắt chị lướt qua Ninh Chiêu rồi đột ngột dừng lại, ghim chặt vào người Hạ Từ. "Nó không phản ứng với những thứ tạp chất vô tri."

Lê Vãn quay người, hai tay bưng thiết bị đồng thau tiến lại gần nữ kiếm tu nội môn.

"Hạ chấp pháp, xin cô đứng yên một lát."

Hạ Từ khẽ nhíu mày cảnh giác. Nàng lùi lại nửa bước theo bản năng phòng ngự của một người luyện kiếm lâu năm, bàn tay siết chặt lấy chuôi kiếm:

"Ngươi định làm trò gì? Ta đã nói thanh kiếm này không phải là thứ để các ngươi tùy tiện mang ra đo đạc—"

Lời nàng chưa dứt thì Lê Vãn đã đưa mặt sau của chiếc đĩa thau đến vị trí cách lồng ngực Hạ Từ chừng một gang tay.

Một âm thanh rít chói tai bỗng nhiên bùng nổ từ bên trong cỗ máy.

*Ò... ò... è...*

Âm thanh kim loại cọ xát the thé, rợn người xé toạc không gian ngột ngạt của đường hầm. Cây kim bằng hợp kim bạc lập tức quay cuồng điên loạn trên trục xoay, đập mạnh liên hồi vào thành kính thạch anh như một con thú hoang bị nhốt trong lồng sắt đang phát cuồng. Toàn bộ vỏ đồng thau của cỗ máy rung bần bật trên tay Lê Vãn, các bánh răng tinh vi bên trong nghiến ken két dưới một áp lực vô hình cực lớn. Không gian xung quanh Hạ Từ dường như đặc quánh lại, một làn sóng xung động mờ nhạt, mắt thường khó lòng nhìn thấy bắt đầu tỏa ra từ ngực nàng, cuốn lấy luồng khí vo ve đang chảy ngầm sau lớp vữa vách đá vôi.

"Cái gì thế này..." Hạ Từ thảng thốt lùi phắt lại một bước lớn, lưng đập mạnh vào thành cống.

Nhưng ngay khi nàng lùi lại, âm thanh vo ve sau vách đá không hề biến mất. Ngược lại, từ sâu trong lòng vách đá sau lưng nàng, một nhịp đập trầm đục, tàn nhẫn bỗng dội ngược ra, khóa chặt lấy khoang ngực nàng với một lực hút kinh hoàng.

Sắc mặt Hạ Từ thoắt cái trắng bệch như sáp ong.

"Ư..."

Một tiếng rên nghẹn ứ, đớn đau bật ra khỏi cuống họng nàng. Thanh kiếm bên hông nàng rơi tuột khỏi tay, rơi leng keng xuống bậc đá. Hạ Từ đưa cả hai bàn tay bấu chặt lấy ngực áo trước xương ức, sống lưng cong gập lại, hai đầu gối run rẩy khuỵu xuống.

Nàng có cảm giác rõ ràng như một mũi khoan nung đỏ đang cắm sâu vào lồng ngực mình, xoay tít và bòn rút từng dải sợi năng lượng tinh thuần nhất mà nàng đã khổ luyện tích tụ suốt tám năm ròng rã. Kiếm cốt ở giai đoạn Kết Cốt sơ thành của nàng—thứ cấu trúc cộng hưởng linh hoạt kết tinh từ máu thịt, kinh mạch và ý chí kiếm đạo—đang run rẩy, co thắt dữ dội, bị bức tường đá vô tri kia hút nạp một cách mù quáng, tham lam như một miệng cống đói khát lâu ngày.

"Thu hồi khí tức lại! Khóa chặt huyệt Đản Trung!" Tống Hoài quát lên, giọng đanh thép và đầy kinh nghiệm chiến đấu.

Anh lao tới trong một sải bước, dùng đầu gậy gỗ nghiến đập mạnh vào gót chân Hạ Từ, ép nàng phải hạ thấp trọng tâm, xoay hai mũi chân vào trong theo thế đứng phòng ngự gốc rễ của kiếm môn.

"Đừng dùng kiếm ý chống cự! Càng phát lực, trận ngầm càng nhận diện kiếm cốt của cô là tải nạp bổ sung và rút mạnh hơn! Ép nó xuống! Đưa nó về đan điền!"

Hạ Từ run rẩy làm theo trong vô thức. Nàng cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, vị tanh nồng lan tỏa trong khoang miệng. Bằng tất cả sức tàn, nàng cố gắng ép luồng kiếm khí đang sôi trào trong kinh mạch lặn sâu vào tủy xương, cắt đứt hoàn toàn sự dao động cộng hưởng với không gian bên ngoài.

Phải mất đến hơn mười nhịp thở nặng nề, dồn dập, tiếng rít chói tai từ chiếc đĩa thau của Lê Vãn mới dịu dần rồi tắt ngấm. Cây kim bạc run rẩy vài lần rồi từ từ chỉ về vạch an toàn.

Hạ Từ tựa hẳn lưng vào vách đá ướt lạnh, mồ hôi hột túa ra như tắm ướt đẫm hai bên thái dương, dính bết những lọn tóc đen nhánh vào vầng trán tái mét. Đôi mắt nàng mở to trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định, tràn ngập sự bàng hoàng và kinh hãi tột độ.

Đây là lần đầu tiên trong đời nàng nếm trải cảm giác này. Thứ mà nàng tôn thờ, thứ gọi là "đại trận bảo hộ tông môn" mà các trưởng lão Chấp Pháp viện luôn ca ngợi, lại hành xử như một loài tà thú ký sinh gớm ghiếc, trực tiếp rình rập và nuốt chửng chính nền tảng tu vi của đệ tử môn phái.

"Cơ chế cộng hưởng chọn lọc..." Lê Vãn chậm rãi hạ cỗ máy xuống, giọng nói của chị trầm thấp nhưng từng từ như búa tạ giáng xuống đe rèn. "Kim loại thường không phản ứng. Thể xác phàm nhân như Ninh Chiêu không phản ứng. Ngay cả kinh mạch đã vỡ nát kiếm cốt của Tống Hoài cũng bị bỏ qua vì không đủ phẩm cấp. Nhưng khi gặp người có kiếm cốt sống đã định hình... vách đá này lập tức mở van hút nạp cưỡng bức."

Chị ngước mắt nhìn Hạ Từ. Trong ánh mắt của người thợ đo đạc ấy không hề có sự chế giễu hay đắc thắng, chỉ có một nỗi chua xót lạnh lẽo đến tận cùng:

"Hạ chấp pháp, cô vẫn tin rằng hệ thống cống ngầm này chỉ đơn thuần là đường dẫn linh khí để bảo vệ dân làng Lò Khê khỏi gió tro sao? Một trận pháp phòng hộ chân chính không bao giờ được thiết kế để đói khát kiếm cốt của chính những người bảo vệ nó."

Hạ Từ run rẩy ngẩng đầu lên. Bờ môi tái nhợt của nàng mấp máy vài lần nhưng không thốt nên lời. Niềm tin sắt đá mà tông môn đã nhồi nhét vào tâm trí nàng từ thuở mười tuổi—rằng Thanh Lư Tông là bức thành trì chở che muôn dân, rằng mọi sự hy sinh đều là vì đại đạo—đang rạn nứt từng mảng lớn trước cơn đau buốt nhức vẫn còn âm ỉ nơi lồng ngực. Nàng cúi xuống nhìn bàn tay mình, những ngón tay thon dài vốn kiêu hãnh cầm kiếm nay lại run rẩy không sao kiểm soát nổi.

"Đi tiếp thôi," Ninh Chiêu khẽ lên tiếng, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.

Cô nhặt thanh kiếm bọc da cá đuối dưới đất lên, trao trả lại cho Hạ Từ rồi nhìn sâu vào đường hầm tối tăm phía trước.

"Chúng ta không có nhiều thời gian đâu. Đỗ Kính đã tăng cường tạp dịch xuống tầng ngầm từ sáng, nếu lính gác đi tuần đổi ca, tất cả chúng ta sẽ bị chôn sống ở đây."

* * *

Bốn người tiếp tục lần mò bước đi trong bóng tối đặc quánh của lòng đất.

Con đường dốc thoải dần, nhưng mặt đất ngày càng trơn trượt bởi những vũng nước đọng màu rỉ sắt đỏ quạch. Một đường ống dẫn bằng đồng đen to bằng hai người ôm chạy ngoằn ngoèo dọc theo vách hầm bên phải, thân ống rịn ra những giọt mồ hôi nước toan khoáng bốc khói mờ mờ. Dưới đáy rãnh nước chạy song song với đường ống, bùn đen sền sệt bốc lên thứ mùi tanh nồng của quặng kim loại bị nấu chảy dở dang, hòa lẫn với mùi bùn rữa.

Đi được chừng một trăm trượng nữa, quầng sáng của ngọn đèn dầu quét qua một khúc quanh hẹp, nơi vách đá vôi tự nhiên đột ngột nhường chỗ cho một đoạn vòm cuốn nhân tạo xây bằng đá hộc kiên cố.

Ninh Chiêu bỗng khựng lại. Cô giơ bàn tay phải lên, ra hiệu cho cả nhóm dừng bước.

"Nhìn vách đá kìa," cô thì thầm, giọng chùng xuống, chỉ đầu búa về phía bức tường vôi bên trái.

Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn lập tức rọi vào vách đá. Trên bề mặt lớp vôi vữa trát thô đã đông cứng từ nhiều tuần trước, chi chít những vệt cào cấu sâu hoắm.

Đó là dấu vết móng tay của con người—hàng chục, hàng trăm vệt cào loạn xạ, chồng chéo lên nhau. Có những chỗ, lớp vữa đá bị cào tróc ra thành từng mảng lớn, để lại những vệt máu khô thâm đen đã hóa thành một lớp màng quánh lại trong kẽ đá nứt. Những vết cào ấy dồn dập, tuyệt vọng, kéo dài từ tầm ngực người lớn xuống tận sát mặt đất ẩm ướt, như thể người để lại chúng đã bị một sức mạnh khủng khiếp nào đó lôi lê đi trên sàn đá trong khi hai bàn tay điên cuồng bấu víu vào bất cứ thứ gì có thể bám trụ.

Hạ Từ vô thức bước lại gần bức tường. Đầu ngón tay nàng run rẩy chạm vào một vệt móng tay đã lún sâu vào lớp vữa khô. Kích thước của vệt cào rất nhỏ, chỉ tương đương với bàn tay của một thiếu niên mười sáu, mười bảy tuổi.

"Không có dấu vết vũ khí chém đỡ," Tống Hoài cúi rạp người xuống nhìn những vết cọ xát kéo dài trên nền đá, giọng nói của anh trầm đục như tiếng vọng từ dưới đáy mồ sâu. "Họ bị tước hết kiếm trước khi đưa xuống đây. Bị trói giằng hai tay ra sau bằng xích khóa linh lực, rồi bị lôi đi như súc vật vào lò mổ. Kẻ nào cố vùng vẫy bấu víu vào vách đá thì sẽ để lại những vết này."

Hạ Từ lùi lại một bước, hơi thở nàng trở nên dồn dập, đứt quãng. Nàng vô thức đưa tay chạm vào vạt áo trước ngực mình—nơi cất giấu cuốn sổ tay bọc da trâu. Cuốn sổ ấy ghi chép tỉ mỉ tên tuổi, xuất thân của mười hai đệ tử tuần tra ngoại viện đã mất tích không một dấu vết trong hai tháng qua. Những cái tên đó, từng người một, đều từng được Chấp Pháp viện ghi chú bằng một dòng chữ son ngắn gọn: "Điều động đặc biệt vì nhiệm vụ cơ mật của tông môn."

Đột nhiên, ánh mắt tinh tường của một người thợ rèn nơi Ninh Chiêu bắt gặp một tia sáng lấp lánh yếu ớt phát ra từ một hốc đá nứt toác ngay dưới chân đoạn vách bị cào nát.

Ninh Chiêu ngồi thụp xuống. Cô cẩn thận dùng đầu ngón tay gạt lớp bùn khoáng nhờn nhớt và những mảnh vôi vụn rơi vãi. Đầu ngón tay cô chạm vào một vật dẹp, thô ráp, mép cạnh sắc nhọn.

Đó là một tấm thẻ bài bằng gỗ thị—loại thẻ bài định danh quen thuộc cấp cho đệ tử ngoại viện của Thanh Lư Tông. Tấm thẻ đã bị bẻ gãy mất một góc nhọn, sợi dây đeo bằng chỉ gai thô bị giật đứt tung tóe thành từng sợi xơ xác. Trên bề mặt gỗ bám đầy một lớp tro xám khô khốc, bết chặt lại không thể gột sạch.

Ninh Chiêu dùng vạt áo thô của mình cẩn thận lau đi lớp bùn đất bám trên mặt thẻ bài.

Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu, ba chữ khắc chìm bằng lối chữ triện thô vụng hiện rõ mồn một:

*Lục Viễn Chu.*

Bên cạnh cái tên ấy, một ký hiệu hình thoi khắc sâu bằng mũi dao con—dấu hiệu mà các đội tuần tra ngoại viện dùng để đánh dấu phiên hiệu tuần tra của mình—đang rỉ ra một chút dịch tro màu xám nhạt, tanh tưởi.

Hạ Từ đứng chết trân tại chỗ. Toàn thân nàng cứng đờ như một pho tượng đá dựng giữa đường hầm ẩm mốc.

"Lục Viễn Chu..." Ninh Chiêu khẽ đọc to cái tên ấy lên, rồi từ từ đứng dậy, ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt đang cắt không còn hột máu của nữ chấp pháp. "Bùi Sách từng nhắc đến cái tên này với tôi ở góc lò rèn sân Bạch Thạch. Cậu ta nói Viễn Chu là đứa nhỏ nhất trong đội tuần tra ca ba, mới mười bảy tuổi, vừa ngưng tụ được kiếm ý sơ khai vào mùa thu năm ngoái. Hai tháng trước, cậu ta được điều động về cổng số Bảy làm nhiệm vụ trực đêm... và từ đó không bao giờ trở lại nữa."

Ninh Chiêu giơ tấm thẻ bài gãy góc bằng gỗ thị lên ngang tầm mắt Hạ Từ.

"Hạ chấp pháp, trong cuốn sổ tay giấu trong ngực áo cô, có tên của cậu thiếu niên này không?"

Một sự im lặng ngột ngạt như nghìn cân đá tảng đè nặng xuống đáy hành lang ngầm. Chỉ có tiếng kim loại rung rền từ đường ống dẫn khổng lồ và tiếng thở dốc nghẹn ngào của Hạ Từ vang vọng trong không gian ẩm thấp. Nữ kiếm tu nội môn siết chặt hai nắm tay đến mức móng tay găm sâu vào da thịt, máu tươi rỉ ra từ kẽ ngón tay, nhỏ từng giọt xuống mặt đá xám.

Nàng không thể trả lời. Nàng không có cách nào để trả lời. Sự thật hiển hiện trên tấm thẻ bài gỗ thị mục nát này đã nghiền nát tất cả những lý lẽ tự dối mình, những bức tường thành giáo điều cuối cùng mà nàng cố bấu víu bấy lâu nay.

Lục Viễn Chu không hề đào tẩu sang Ma đạo, không hề chết vì tẩu hỏa nhập ma như những bản báo cáo sạch sẽ nằm trên bàn nghị sự của phân viện Chấp Pháp. Cậu thiếu niên mười bảy tuổi ấy đã bị kéo lê qua chính hành lang này, hai bàn tay rách toạc cào cấu vào vách đá trong sự tuyệt vọng cùng cực, trước khi bị nuốt chửng vào bóng tối vô tận của lòng đất sâu.

"Chúng ta đến đáy vực rồi," giọng nói khô khốc của Tống Hoài cắt ngang khoảng lặng chết chóc.

Anh chỉ chiếc gậy gỗ nghiến về phía trước, nơi ánh sáng ngọn đèn dầu khoáng hoàn toàn bị bóng tối nuốt chửng.

* * *

Hành lang đá hẹp đột ngột mở rộng ra thành một khoảng không gian khổng lồ, sâu hun hút như đáy của một hố sụt địa tầng tự nhiên nằm sâu trong lòng núi Lạc Hạc.

Ở đây, nhiệt độ tăng vọt lên ngùn ngụt, hơi nóng phả vào mặt rát bỏng như thể họ đang đứng ngay trước cửa miệng của một lò luyện thép đang sôi trào. Không khí loãng đến mức mỗi hơi thở đều như hít phải tàn tro nóng rẫy.

Chặn ngang toàn bộ đáy vực sâu hoắm ấy là một cánh cổng bằng đồng đen khổng lồ, sừng sững cao hơn ba trượng, rộng đến mức nuốt trọn cả hai vách núi đá vôi dựng đứng hai bên. Mặt cổng không hề bằng phẳng nhẵn nhụi, mà được đúc nổi những hoa văn cổ xưa, kỳ dị và gớm ghiếc: chín nhánh rễ cây bằng kim loại đen đúa, uốn lượn ngoằn ngoèo như những xúc tu khổng lồ, cắm sâu từ trên đỉnh vòm đá cắm thẳng xuống nền đất nứt nẻ dưới chân cổng.

Và ở chính giữa chín nhánh rễ kim loại ấy, nơi tất cả các đường gân đồng hội tụ về một mối, là một hốc rỗng hình người sâu chừng nửa tấc.

Hốc rỗng ấy mang đầy đủ kích thước và tỷ lệ của một thân thể thiếu niên trưởng thành: đầu, tứ chi, lồng ngực. Nhưng xung quanh viền của hốc rỗng bằng đồng đen ấy, hàng chục chiếc vòng kẹp bằng hợp kim đồng thiếc—thứ vòng kẹp mang đúng kích thước và khoảng cách của bốn vết lõm tròn mà Ninh Chiêu từng nhìn thấy trên vai những phu dịch bị liệt tàn phế ở y xá Thạch Tuyền—đang há miệng chờ đợi, đen ngòm và lạnh lẽo giữa luồng hơi nóng hầm hập của lòng đất.

Chín nhánh rễ bao quanh một con người.

Không phải để tôn vinh, không phải để phong thánh. Mà là để cắm rễ, để giam cầm, để trói buộc, và để bòn rút đến giọt tủy sống cuối cùng của những kiếm cốt còn non trẻ.

Cả bốn người sững sờ đứng chôn chân trước cánh cổng đồng đen ma quái, ngột ngạt đến mức không thốt nên lời.

Đột nhiên—

Một tiếng rung trầm đục vang lên từ tận cùng lòng đất, kéo theo tiếng đá nứt toác khô khốc ngay trên đỉnh đầu họ.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories