Một người tốt ký lệnh xấu
Mùi khói trầm thơm ngát cuộn tròn trong không khí buốt giá, từng đợt từng đợt đè bẹp thứ mùi tanh nồng kinh niên của mủ thuốc, giấm chua và lưu huỳnh bốc lên từ các rãnh xả của y xá Thạch Tuyền.
Đó tuyệt nhiên không phải thứ trầm vụn giá rẻ nén bột keo mà lũ phu mỏ thường mua ở mấy gian hàng xén chân đèo để đốt cúng thần thổ địa. Làn khói mảnh dẻ, xanh lơ như sợi tơ nhện bay lơ lửng giữa sương sớm mù đặc là đàn hương ngâm tẩm dầu linh thông—thứ dược liệu đắt đỏ chỉ có lò chưng cất trung tâm của viện Dược mới đủ năng lực bào chế. Hơi trầm vừa chạm vào đầu mũi đã mang lại cảm giác the mát, dìu dịu thấm sâu vào cuống họng, làm dịu đi những cơn co thắt ran rát nơi phế quản của những kẻ quanh năm hít phải bụi đá và tro khoáng.
Cỗ xe ngựa bốn bánh đồ sộ của phủ Quan Tế nghiến trên nền đá phiến ướt lạnh, phát ra những tiếng lục cục nặng nề mà êm ru. Bốn thớt ngựa kéo đều thuộc giống thảo nguyên to lớn, ức nở nang, bờm được chải mượt và bốn móng đều bịt sắt dày, giẫm nhịp nhàng xuống mặt đường trơn trượt. Thân xe đóng bằng gỗ hồ đào nguyên khối đã qua ba lần ngâm sáp chống ẩm, bóng loáng như gương, phản chiếu những mảng trời màu chì ảm đạm. Trên hai cánh cửa xe và mui vòm phía trước, gia huy hoa sen ba cánh lồng chiếc thước đo cân áp của phủ Quan Tế được khảm bằng bạc nguội, lấp lánh sắc lạnh sau lớp sương muối chưa kịp tan.
Đám đông đang chen chúc nghẹt thở trước bậc thềm y xá từ lúc canh năm bỗng dạt sang hai bên. Phu mỏ quấn giẻ rách quanh cổ chân, phu xe chở tro hai hốc mắt bám đen muội than, cùng thân nhân của những người bệnh nằm la liệt trên cáng tre đồng loạt nín bặt tiếng rên xiết. Khoảng sân lót đá sa thạch thô ráp, nhớp nháp bùn xám và nước rỉ thuốc bỗng chốc lộ ra một lối đi thênh thang. Giữa bầu không khí ngột ngạt chỉ còn lại tiếng thở dốc nặng nhọc, tiếng ho rù quyện trong cổ họng, rồi nhanh chóng vỡ òa thành những tiếng xì xào, tiếng reo khe khẽ run rẩy đầy vẻ sùng kính:
"Quan Tế đại nhân... Quan Tế đại nhân đích thân tới!"
"Có xe thuốc rồi! Có than sưởi mùa đông và bột dược liệu thanh phế rồi!"
"Đại nhân không quên người ở hốc đá này..."
Bậc lên xuống bằng đồng thau chạm rãnh chống trượt từ từ hạ xuống mép đá, phát ra tiếng chạm khô khốc mà dứt khoát. Người bước xuống đầu tiên không phải đám thị vệ mặc huyền giáp, tay lăm lăm côn đồng hay đao dẹp như thiên hạ vẫn thấy ở các phân viện khác, mà chính là Quan Tế Đỗ Kính.
Ông đã bước sang tuổi năm mươi sáu. Dáng dấp Đỗ Kính dong dỏng cao, bờ vai hơi xuôi nhưng sống lưng thẳng tắp như một thân tùng cổ thụ mọc nghiêng trên vách đá Lạc Hạc. Ông không khoác những tấm áo thụng bằng lụa gấm thêu kim tuyến xa hoa, cũng không mang linh giáp hộ thân nặng nề của một tu sĩ Kết Cốt viên mãn. Trên người Đỗ Kính chỉ là một bộ đạo bào màu tro xám cắt may vừa vặn, viền quanh cổ áo và mép tay là một đường chỉ bạc mảnh như sợi tóc—giản dị đến mức nếu đặt ông vào giữa đám tú tài nghèo hay các giáo thụ già dạy vỡ lòng ở ngoại viện, người ta sẽ chẳng thể nhận ra sự khác biệt. Mái tóc hoa râm được búi chặt ghìm lại bằng một chiếc trâm gỗ đàn mộc trơn nhẵn, không chạm trổ.
Thế nhưng, phong thái trầm tĩnh toát ra từ từng bước chân của ông lại mang theo cái uy nghi vô hình của kẻ nắm giữ sự sống và cái chết của hàng vạn sinh linh vùng Hạ Lĩnh. Gương mặt Đỗ Kính có những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt và hai bên cánh mũi—dấu vết của những đêm thức trắng bên bản đồ địa mạch và sổ sách tiếp liệu. Đôi mắt ông không đục mờ theo năm tháng mà sáng quắc, ôn hòa mà thấu suốt, khi đưa mắt nhìn quanh sân, ánh mắt ấy dường như chạm vào từng khuôn mặt xanh xao, từng mảnh đời tiều tụy đang co ro trong manh áo tơi.
Chân Đỗ Kính vừa chạm xuống phiến đá ướt của bậc thềm, từ góc hàng hiên bên phải bỗng có bóng người lảo đảo nhào ra.
Đó là một người thợ mỏ già cả, người quấn manh chiếu rách cột bằng dây gai, đôi ống chân khẳng khiu như cành củi khô bám đầy bụi quặng đỏ. Cơn ho ập đến dữ dội khiến ông lão gập gập cả thân người lại, lồng ngực gầy guộc phập phồng co giật như cái bễ rèn rách da, từ kẽ môi thâm sì trào ra từng búng dãi đen đặc quánh lẫn tro than của chứng bệnh ho tro giai đoạn cuối. Ông lão loạng choạng ngã chúi về phía trước, hai bàn tay khẳng khiu chực vồ xuống nền đá lởm chởm.
Hai tên thị vệ áp tải bước sau lập tức đưa tay nắm lấy chuôi đoản đao bên hông, bước chân chuyển dịch định lao lên chắn gió.
"Dừng tay."
Đỗ Kính khẽ cất lời, một bàn tay giơ lên ngăn lại. Giọng ông không lớn nhưng mang theo luồng chân khí ngưng tụ, đánh tan luồng gió lạnh đang thốc qua mái hiên. Ông không hề ngần ngại sải bước dài tới, tà áo xám phất nhẹ, hai cánh tay vững chãi vươn ra đỡ lấy nách người thợ mỏ già ngay trước khi trán ông ta kịp đập xuống gờ đá sắc cạnh.
"Bác Trương, đừng vội quỳ."
Giọng Đỗ Kính trầm ấm, vang nhẹ bên tai người thợ già như dòng nước ấm rót vào giữa đêm đông. Lời nói chứa đựng một luồng nội tức điều hòa cực kỳ êm dịu, khiến không chỉ người bệnh mà cả những kẻ đứng quanh bán kính một trượng cũng cảm thấy lồng ngực mình bớt đi đôi phần nghẹt thở.
Bàn tay phải của Đỗ Kính khẽ áp vào đốt sống lưng thứ ba của ông lão. Không cần tụ khí phô trương, một luồng kình lực ấm áp, nhu hòa như mầm cây nảy chồi âm thầm xuyên qua lớp áo tơi mục nát dính đầy bụi than đá, chạy dọc theo kinh lạc tì phế, nhẹ nhàng xoa dịu những nhánh phế quản đang co thắt dữ dội. Người thợ mỏ già hắt mạnh ra một búng đờm tro đặc quánh rơi tõm xuống rãnh thoát nước bên thềm, sau đó buồng phổi ông ta như được nới rộng ra một khoảng, nhịp thở dồn dập run rẩy dần dần chậm lại.
"Đại... Đại nhân..." Người thợ mỏ run rẩy ngẩng đầu lên, hai hốc mắt đục ngầu ứa ra những giọt nước mắt lăn dài trên gò má xám ngoét vì bụi quặng. "Đứa cháu út của tôi... nó mới mười hai tuổi đầu... theo xe kéo xỉ than ngoài bãi ba tháng nay... ngực nó bắt đầu đau như có kim châm, đêm nào cũng ho ra máu cục... Nhà tôi hết sạch tiền đổi phiếu thuốc tháng này rồi... xin đại nhân xót thương..."
"Ta nhớ nhà bác ở xóm Lò Vôi phía tây," Đỗ Kính ôn tồn nói, bàn tay ông vẫn áp nhẹ sau lưng giữ nhịp dẫn khí bình ổn, ánh mắt nhìn thẳng vào đôi mắt đục ngầu của người thợ già với sự quan tâm chân thực, không hề có lấy một gợn diễn kịch hay bố thí. "Vợ bác mất năm ngoái vì gió độc tràn qua khe núi số Ba, một mình bác gánh ba miệng ăn trong nhà. Đứa nhỏ tên là Thằng Vượng phải không? Đáng lẽ ở tuổi nó, viện Công Tượng chưa được phép tiếp nhận làm phu chuyển xỉ nặng."
Người thợ mỏ già sững sờ, bờ môi tím tái run bần bật, không thốt nên được một lời hoàn chỉnh.
Đám đông xung quanh cũng lặng ngắt như tờ. Từng ánh mắt đổ dồn về phía người đàn ông áo xám viền bạc. Giữa một vùng Hạ Lĩnh rộng lớn bạt ngàn với hàng vạn phu mỏ, phu xe, thợ rèn lam lũ thay đổi từng ngày từng tháng, một vị Quan Tế đứng đầu phủ cai quản lại nhớ rõ ngóc ngách của một xóm nghèo xơ xác, nhớ rõ năm mất của một người đàn bà vô danh, và nhớ cả tên một đứa trẻ con nhà thợ quặng thấp hèn.
Đỗ Kính quay sang viên thư lại mang tráp sổ đi sát phía sau, dặn dò rành rọt từng chữ:
"Ghi vào sổ cấp phát đặc biệt: Miễn trừ toàn bộ định mức nộp quặng tháng này và tháng sau cho gia đình Trương Lão Tam. Trích ngay từ xe tiếp liệu của ta ba hòm thuốc bột thanh phế hảo hạng chuyển thẳng vào kho dược y xá Thạch Tuyền, giao đích danh cho bác sĩ Trần Mộc sắc thuốc định kỳ cho phu mỏ khu vực Lò Vôi. Đứa trẻ phải chuyển ngay sang chân quét lá và phơi thuốc ở vườn thảo mộc ngoại viện, không được để nó bước chân vào các đường hầm chứa tro nữa."
"Tạ... tạ ơn Quan Tế đại nhân! Đại nhân cứu mạng cả nhà tôi! Đại nhân là bồ tát tái sinh!"
Người thợ già run rẩy toan quỳ sụp xuống dập đầu lia lịa trên nền đá ướt át, nhưng Đỗ Kính đã dùng hai tay đỡ lấy cùi chỏ ông lão, nhẹ nhàng nâng dậy. Ông vỗ nhẹ lên mu bàn tay thô ráp, nứt nẻ như vỏ cây khô của người thợ mỏ rồi mới quay bước về phía dãy bàn phát thuốc dã chiến kê trước cửa y xá.
Ninh Chiêu đứng nép mình bên cạnh khung cửa sổ xưởng mài nằm ở rìa sân trong, ngón tay vô thức siết nhẹ quanh chuôi chiếc đục thép gió giắt bên hông. Bàn tay trái của cô vẫn còn quấn lớp băng nẹp tre dày cộm, màng xương mu bàn tay râm ran nhức nhối dưới cái lạnh buốt của buổi sớm vùng núi cao.
Cô chăm chú quan sát từng cử chỉ của Đỗ Kính qua khe chấn song gỗ. Người đàn ông này không có vẻ gì là kẻ đạo đức giả. Từng lời nói, từng cái đỡ tay, thậm chí cả hơi ấm chân khí ôn hòa mà ông ta vừa truyền qua lưng người bệnh đều thuần hậu, chân thực đến mức không thể nghi ngờ. Đó là sự chăm sóc của một người thực lòng coi trọng tính mạng của từng con người dưới quyền cai quản của mình, thấu hiểu nỗi khổ ải của tầng lớp đáy cùng xã hội.
Thế nhưng, chính người này lại là người đã bình thản ký những sắc lệnh thiết quân luật tàn nhẫn, điều phối hàng đoàn xe chở tro niêm chì chạy âm thầm trong đêm tối, và đứng trên đỉnh đài Huyền Khuyết chứng kiến những kiếm tu kiệt xuất biến mất vào miệng cỗ máy nghiền nát linh cốt.
Sự mâu thuẫn tột cùng ấy đè nặng lên ngực Ninh Chiêu, ngột ngạt và buốt giá hơn cả những đám tro khoáng đang bay lơ lửng ngoài sân.
Đúng lúc đó, từ phía dãy bàn phát thuốc đầu hồi y xá bỗng vang lên tiếng cãi vã bị đè nén nhưng đầy giận dữ.
"Này chấp sự đại nhân! Định mức tháng này của phu xe Nam Trụ chúng tôi là ba gói thuốc hoàn tán huyết và một thỏi sáp lọc khí cơ mà? Sao chia vào bao của tôi chỉ có đúng một gói thuốc bột phẩm cấp ba vụn nát thế này? Chỗ này làm sao đủ cho anh em chống chọi qua ca làm việc mười sáu canh giờ dưới đường hào tro?"
Một người phu xe tráng kiện, cánh tay để trần loang lổ những vết sẹo bỏng do axít khoáng và nước vôi ăn sâu vào thịt, đang bức xúc giữ chặt lấy mép bàn gỗ dày. Đối diện với anh ta là một viên chấp sự ngoại môn béo tốt, mặc áo chẽn lụa xanh thêu hình lò luyện, mặt mày hách dịch gạt phắt bàn tay thô kệch của người phu xe ra:
"Định mức ghi trên giấy là định mức tối đa trong điều kiện kho dược đủ hàng! Ngươi có biết mùa gió tro năm nay đến sớm, thuốc men trên tông môn chuyển xuống bị hao hụt dọc đường không? Có bấy nhiêu đó nhét vào mồm là phúc phận của cả họ nhà ngươi rồi, không lấy thì cút xéo sang một bên cho người khác nhận! Còn dám đứng đây lải nhải gây rối, ta báo cho đội tuần tra gông cổ lại, tống vào hầm than chịu tội bây giờ!"
Người phu xe nghiến răng kèn kẹt, nắm đấm siết chặt run rẩy, gân xanh trên trán giật liên hồi nhưng không dám vung tay, vì ngay phía sau viên chấp sự có hai tên tạp dịch to con đang cầm gậy gỗ bọc sắt lăm lăm nhìn chằm chằm.
"Có chuyện gì ồn ào ở đây?"
Một giọng nói điềm đạm vang lên cắt ngang bầu không khí căng thẳng. Đám đông quanh bàn phát thuốc lập tức rẽ sang hai bên như nước gặp mũi thuyền. Đỗ Kính chắp hai tay sau lưng, thong thả cất bước tới.
Viên chấp sự béo tốt vừa thấy bóng dáng đạo bào màu xám tro viền chỉ bạc thì nụ cười hách dịch trên mặt lập tức đông cứng lại, mặt cắt không còn một giọt máu. Gã vội vàng khom lưng, cúi rạp người xuống gần sát mặt bàn:
"Bẩm... bẩm Quan Tế đại nhân! Tên phu xe thô bỉ này không biết điều, định mức phân phối đã định sẵn theo sự điều phối của ty Tiếp Liệu, hắn lại dám đòi hỏi thêm xách nhiễu, làm chậm trễ tiến độ phát thuốc cứu tế cho bà con..."
Đỗ Kính không thèm nhìn viên chấp sự lấy một cái. Ánh mắt ông lướt qua gói thuốc bột mỏng dính nằm trơ trọi trên mặt bàn gỗ xù xì, rồi dừng lại trên chiếc bao tải lanh sờn rách mà người phu xe đang ôm trước ngực. Đôi mắt người đứng đầu phủ Quan Tế khẽ nheo lại. Một tia sắc lạnh lướt qua trong đáy mắt ông trong tích tắc—nhanh và sắc bén đến mức nếu không chăm chú nhìn kỹ, người ta sẽ ngỡ đó chỉ là ảo giác do ánh sương mai phản chiếu.
"Đưa sổ xuất kho của ty Tiếp Liệu cho ta," Đỗ Kính nói, giọng vẫn rất nhẹ nhàng, bằng phẳng.
Viên chấp sự run rẩy đưa hai tay bưng cuốn sổ bìa da trâu dâng lên. Đỗ Kính lật lật mấy trang đầu, ngón tay thon dài, sạch sẽ của ông lướt đi thoăn thoắt trên những hàng chữ son xen lẫn mực đen. Không khí xung quanh như đặc quánh lại theo từng tiếng lật giấy *xoạt... xoạt...* Chỉ mất chưa đầy mười nhịp thở, ngón tay ông đã dừng lại ở một góc trang giấy có nếp gấp mép rất nhỏ.
"Tháng này, phủ Quan Tế chuẩn y cho phân trạm Nam Trụ sáu trăm phần thuốc tán huyết phẩm cấp hai, một ngàn hai trăm thỏi sáp lọc khí do viện Dược trực tiếp tinh chế. Số lượng này được tính toán dựa trên danh sách chính xác một trăm tám mươi phu xe và bốn trăm thợ mỏ đang trực tiếp đào rãnh cản tro," Đỗ Kính ngước mắt lên nhìn thẳng vào viên chấp sự, giọng nói bỗng chốc đanh lại như thép nguội đập xuống đe. "Nhưng trong sổ này, ngươi lại dùng mực mỡ trâu viết đè lên số liệu ban đầu. Ngươi chia một phần thuốc chuẩn thành ba phần thuốc bột phẩm cấp ba độn tro thân cây phỉ, còn toàn bộ sáp lọc khí nguyên chất thì giữ lại trong hòm riêng. Ngươi định mang số thuốc dôi dư đó ra chợ đen Lò Khê bán cho các phường buôn lậu với giá mười đồng bạc một thỏi, có đúng không, Lưu chấp sự?"
Mồ hôi lạnh túa ra như tắm trên trán viên chấp sự họ Lưu, chảy ròng ròng xuống cằm béo phị. Gã quỵ sụp hai đầu gối xuống nền đá ướt át, toàn thân run rẩy như cầy sấy giữa trời tuyết:
"Đại nhân tha mạng! Tiểu nhân... tiểu nhân nhất thời bị ma quỷ ám ảnh... Xin Quan Tế đại nhân niệm tình tiểu nhân có người anh họ đang làm việc ở kho quặng trung tâm..."
"Phủ Quan Tế dùng thuốc để giữ mạng cho người làm việc dưới rãnh tro, không phải dùng thuốc để nuôi lũ chuột bọ đục khoét xương tủy đồng bào," Đỗ Kính lạnh lùng cắt ngang, không để cho kẻ gian dứt lời phân bua. "Lột bỏ lệnh bài chấp sự. Tịch thu toàn bộ tài sản tại tư gia của hắn để sung vào quỹ cứu tế y xá Thạch Tuyền. Ngay hôm nay, trục xuất hắn khỏi ngoại môn, áp giải xuống tầng mỏ đáy sâu số Bốn làm phu cào xỉ trong ba năm. Kẻ nào dám can thiệp hay xin giảm nhẹ, Chấp Pháp viện sẽ xử đồng tội."
Hai thị vệ mặc giáp đen lập tức tiến lên như hai cái bóng. Một người túm lấy gáy áo giật mạnh lệnh bài bằng đồng bên hông viên chấp sự bẻ gãy làm đôi, người kia khóa chặt hai cánh tay mập mạp của gã quặt ra sau lưng, lôi xềnh xệch gã đi trên nền đá giữa những tiếng khóc lóc, van xin thảm thiết vang vọng khắp sân y xá.
Đám đông người dân xung quanh ồ lên một tiếng đầy hả hê, sau đó đồng loạt cúi đầu kính cẩn trước vị Quan Tế anh minh.
Đỗ Kính không tỏ ra đắc ý, ông đích thân bước tới trước bàn phát thuốc, tự tay mở chiếc hòm gỗ khóa đồng mà thị vệ vừa khiêng từ xe xuống. Nắp hòm mở ra, để lộ những thỏi sáp lọc khí màu xanh ngọc bích xếp ngay ngắn thành từng lớp, cùng những gói thuốc hoàn bọc giấy sáp đỏ au tỏa mùi thảo mộc nồng đượm xua tan đi cái lạnh buốt giá.
Ông nhặt một phần thuốc đầy đủ, đặt tận tay người phu xe Nam Trụ đang đứng chết trân vì bàng hoàng:
"Đây là phần của anh và đồng đội. Cứ ba ngày một lần, cầm thẻ bài trực tiếp đến gặp bác sĩ Trần Mộc để kiểm tra nhịp thở. Nếu có kẻ nào dám bớt xén dù chỉ một hạt bột thuốc, cứ đến thẳng cổng phủ Quan Tế gõ chuông khiếu nại. Ta chịu trách nhiệm cho từng gói thuốc phân phát ở mảnh đất này."
"Đa... đa tạ đại nhân! Đa tạ Quan Tế đại nhân!" Người phu xe nghẹn ngào, hai tay ôm chặt gói thuốc vào lòng như ôm một báu vật sinh tử, khóe mắt đỏ hoe.
Ninh Chiêu đứng sau chấn song cửa sổ xưởng mài, bàn tay siết chặt chuôi đục đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, lớp da non dưới vết bỏng nhói lên từng cơn.
Sắc bén, quyết đoán, thấu hiểu ngọn ngành sổ sách kế toán gian lận và nắm rõ từng chân tơ kẽ tóc của bộ máy tiếp liệu phức tạp. Đỗ Kính không chỉ là một tu sĩ Kết Cốt uy quyền, ông ta là một nhà quản trị kiệt xuất. Một con người như thế, nếu đặt vào bất kỳ một tông môn hay một triều đình phồn hoa nào, đều sẽ là một vị quan mẫu mực được vạn dân lập đền thờ sống, được ca tụng trong sử sách.
Và chính sự hoàn hảo, sự tận tâm không một tì vết ấy lại khiến Ninh Chiêu cảm thấy một luồng ớn lạnh buốt giá chạy dọc từ gáy xuống thắt lưng.
Một kẻ ác độc đơn thuần, tham lam tiền tài xác thịt thì rất dễ nhận diện và dễ đối phó. Nhưng một kẻ nhân từ, làm việc thiện một cách chu toàn và chân thành, lại có thể lạnh lùng nghiền nát sinh mạng con người trong một cỗ máy ngầm vì một "đại cuộc" nào đó... kẻ đó mới thực sự đáng sợ đến mức làm người ta tuyệt vọng.
Sau khi phân bổ lại người tiếp quản bàn phát thuốc dã chiến, Đỗ Kính cất bước đi về phía dãy hành lang phụ dẫn vào khu buồng bệnh nhân nặng. Bác sĩ Trần Mộc trong bộ áo choàng gai sờn rách hai bên vai vội vã từ trong phòng bệnh bước ra cúi mình nghênh đón.
Khi đi ngang qua góc xưởng phụ—nơi Ninh Chiêu đang đứng sửa dọn những dụng cụ nẹp xương—bước chân của Đỗ Kính bỗng nhiên chậm lại.
Ánh mắt sắc sảo của ông dừng lại trên chiếc bàn gỗ bào nhẵn kê sát vách đá hoa cương. Trên mặt bàn xếp thành một hàng ngay ngắn hai mươi thanh nẹp xương bằng hợp kim đồng thiếc. Những thanh nẹp này vốn bị cong queo, vặn vẹo sau các vụ sập hầm hoặc bị ngoại lực đè nén đến biến dạng, nay đã được nắn thẳng tắp trở lại. Các mép gờ sắc nhọn bị mài nhẵn thín, quét một lớp dầu cá bảo quản bóng loáng, không hề để lại một vết rạn nứt hay dấu búa đập cẩu thả nào trên bề mặt kim loại nguội.
Đỗ Kính bước hẳn vào trong góc xưởng mài. Đám thị vệ lập tức dừng bước ngoài bậu cửa, giữ khoảng cách cung kính.
Bác sĩ Trần Mộc hơi biến sắc, ngón tay khẽ giật giật toan bước lên phía trước che chắn, nhưng Đỗ Kính đã đưa tay nhặt một thanh nẹp dài chừng một thước lên xem xét. Những ngón tay dài, sạch sẽ của vị Quan Tế khẽ vuốt dọc theo sống nẹp, cảm nhận sự chuẩn xác tuyệt đối của độ dốc và góc uốn chịu lực của thớ kim loại.
"Uốn nguội bằng thế đòn bẩy, triệt tiêu phản lực dọc theo thớ kim loại mà không dùng nhiệt làm biến tính hợp kim đồng thiếc," Đỗ Kính chậm rãi cất lời, trong giọng nói lộ rõ sự tán thưởng của một người cực kỳ am tường về cơ khí rèn đúc. "Tay nghề nắn kim khí nguội tinh xảo bực này, ở cả vùng ngoại viện này tuyệt đối không có người thứ hai làm được."
Ánh mắt ông chuyển từ thanh nẹp kim loại sang người đang đứng cúi đầu bên cạnh bàn đá.
Ninh Chiêu mặc bộ quần áo thợ thô kệch bằng vải chàm nhuộm lá chàm rừng, mái tóc đen buộc túm gọn gàng phía sau gáy bằng sợi dây gai mỏng. Gương mặt cô bình thản không chút gợn sóng, nhưng cơ bắp toàn thân đã âm thầm tiến vào trạng thái buông lỏng tựa như bản lề ngâm dầu mà Tống Hoài đã chỉ điểm đêm qua—sẵn sàng xoay trục, lùi bước bất cứ lúc nào nếu biến cố nổ ra.
Đỗ Kính nhìn vào dải băng vải xám đang quấn chặt bàn tay trái của cô, rồi ánh mắt ông dừng lại trên chiếc túi da đựng bộ đục ba cạnh giắt bên thắt lưng.
"Ngươi là con gái của Ninh Trác ở xưởng Lò Ninh dưới trấn Lò Khê, phải không?"
Câu hỏi thốt ra nhẹ nhàng như một lời thăm hỏi bâng quơ giữa những người hàng xóm cũ lâu ngày gặp lại, nhưng lại khiến không khí trong góc xưởng phụ như đông cứng lại thành băng tuyết. Trần Mộc đứng bên cạnh nín thở, ngón tay giấu trong ống tay áo khẽ co giật từng chập.
Ninh Chiêu không hề né tránh. Cô ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm như giếng nước mùa đông của Đỗ Kính, khẽ cúi người thi lễ theo đúng quy củ của một thợ phụ ngoại viện:
"Bẩm Quan Tế đại nhân, tiểu nữ là Ninh Chiêu. Cha tôi quả thực là Ninh Trác, từng làm thợ rèn ở trấn Lò Khê."
Đỗ Kính khẽ mỉm cười. Nụ cười của ông ấm áp, mang vẻ hoài niệm chân tình không chút giả tạo:
"Mười một năm trước, khi ta còn làm Chấp sự trưởng phụ trách bảo trì các trụ chắn địa mạch dưới chân núi, cha ngươi từng nhận lệnh của viện Công Tượng chế tạo các khớp nối chịu áp lực cho hệ thống guồng nước sâu. Ông ấy là một người thợ phi thường. Cứng cỏi, ít lời, nhưng từng nhát búa đập xuống đe đều tính toán đến từng sợi gân của thớ thép. Nhìn cách ngươi nắn lại những thanh nẹp xương này mà không làm nứt thớ đồng thiếc, ta như nhìn thấy lại bóng dáng của Ninh Trác năm xưa."
Ninh Chiêu vẫn giữ vẻ mặt điềm đạm, khiêm nhường của một người thợ nghèo kiếm sống qua ngày:
"Đại nhân quá khen. Tiểu nữ chỉ học lỏm được chút tài mọn của cha để kiếm miếng cơm manh áo. Tay trái lại vừa bị bỏng lửa tàn phế, chẳng còn gõ nổi búa nặng, may nhờ bác sĩ Trần rủ lòng thương thu nhận làm việc vặt sửa nẹp đổi lấy thuốc men sống qua ngày đoạn tháng."
Đỗ Kính thở dài một tiếng, ánh mắt nhìn vào bàn tay trái quấn băng nẹp của cô chứa đầy sự tiếc nuối chân thành:
"Thật là đáng tiếc cho một bàn tay khéo léo. Người có tài ở vùng Hạ Lĩnh này vốn đã hiếm như lá mùa thu, huống chi lại là con nhà nòi của họ Ninh."
Nói đoạn, ông vô thức đưa tay xoay nhẹ chiếc nhẫn bạc trên ngón tay trỏ của bàn tay phải.
Cử chỉ vô thức ấy lập tức lọt vào tầm mắt của Ninh Chiêu. Con ngươi cô khẽ co rút lại một phần mười tấc, nhưng mi mắt nhanh chóng hạ xuống để che giấu chấn động trong lòng.
Chiếc nhẫn bạc trên tay Đỗ Kính không chạm khắc ngọc ngà châu báu lấp lánh, mà trên mặt nhẫn phẳng lì khắc chìm một phù hiệu hình chữ U khuyết góc, bên trong có ba đường rãnh đối xứng chạy vòng quanh một lõi tròn—đó chính là phù hiệu cân áp của mạch đất cổ xưa! Từng đường nét, tỷ lệ góc nghiêng của ba đường rãnh ấy giống hệt như những nét vẽ kỹ thuật trên các then chốt giảm chấn trong cuốn sổ rèn bí mật của cha cô để lại, và cũng giống hệt cơ cấu của chiếc chốt nẹp lưng mà Ninh Trác từng gia công riêng cho Tống Hoài năm đó!
Đỗ Kính không để ý đến cái nhìn thoáng qua của cô, hoặc giả ông biết rõ nhưng cố ý để lộ. Ông bước lại gần bàn đá thêm nửa bước, hạ thấp giọng xuống, ngữ điệu trầm ấm, đầy vẻ thấu hiểu và sẻ chia như một bậc trưởng bối trong gia đình:
"Ninh cô nương, ta biết xưởng Lò Ninh dưới trấn Lò Khê đang gặp muôn vàn khó khăn. Lệnh niêm phong tạm thời của phường than Nam Trụ và việc thiếu hụt than đá loại một đang khiến các lò rèn thủ công đứng trước nguy cơ lụi bại, phá sản. Một người thợ tài hoa như ngươi không nên chôn vùi cuộc đời ở góc y xá ẩm thấp đầy mùi máu mủ này."
Ninh Chiêu im lặng đứng nghe, hai tay buông thõng bên hông.
"Ta có thể ký một lệnh điều phối đặc biệt ngay bây giờ," Đỗ Kính tiếp tục nói, ánh mắt chân thành nhìn xoáy vào cô. "Cấp riêng cho Lò Ninh mười xe than đá loại một mỗi tháng từ mỏ than Lạc Hạc, đồng thời dỡ bỏ toàn bộ các cuộc thanh tra hành chính phiền toái của Nam Trụ đối với xưởng rèn của ngươi. Thậm chí, ta có thể bảo lãnh cho ngươi vào làm việc chính thức tại viện Công Tượng với đãi ngộ của một thợ cả, có đủ linh dược tốt nhất của viện Dược để điều trị, phục hồi hoàn toàn gân cốt cho bàn tay trái."
Điều kiện béo bở đến mức khó tin. Bất kỳ một người thợ rèn nào ở vùng Hạ Lĩnh này, nếu nhận được lời hứa ấy từ miệng Quan Tế Đỗ Kính, đều sẽ sẵn sàng quỳ lạy dập đầu cảm tạ ơn trời đất cứu vớt cả dòng họ.
Nhưng cái giá đi kèm bao giờ cũng là thứ nằm sau dấu phẩy.
"Đổi lại," Đỗ Kính chậm rãi nói, âm lượng hạ xuống rất thấp, chỉ đủ cho hai người đứng đối diện nghe thấy, "ngươi hãy giao lại cho ta mảnh thép vụn mà ngươi đã nhặt được trong máng nước làm nguội sau buổi trưa lễ phi thăng của Tạ Vân tiên sinh."
Góc xưởng phụ bỗng chốc chìm vào một sự im lặng nghẹt thở.
Tiếng nước thuốc nhỏ giọt từ máng thuốc bên ngoài hiên vọng vào nghe rõ mồn một từng nhịp: *Tách... tách... tách...* Đều đặn và lạnh lẽo.
Đỗ Kính nhìn Ninh Chiêu, ánh mắt không hề có vẻ đe dọa hay ép bức, ngược lại còn chan chứa sự lo lắng của một người bề trên đối với đứa con cháu dại dột đang cầm trong tay ngọn lửa nguy hiểm:
"Đó không phải là một món phế liệu bình thường đâu, Ninh cô nương. Mảnh thép đó rơi ra từ cửa trời Huyền Khuyết trong lúc dị tượng hỗn loạn. Nó mang theo tàn dư xung lực của địa mạch và sát khí không gian chưa được hóa giải, cực kỳ nguy hiểm cho phàm nhân nếu tiếp xúc lâu ngày. Phủ Quan Tế cần thu hồi nó để tiến hành nghi thức thanh tẩy và niêm phong an toàn trong trận pháp cách ly, tránh để tà khí rò rỉ làm tổn hại đến sinh linh vô tội trong trấn. Ta tin, là một người thợ hiểu rõ tính nết của kim loại, ngươi biết điều gì là tốt nhất cho bản thân và cho trấn Lò Khê."
Một lời đề nghị hoàn hảo đến rợn người.
Vừa có ân huệ cứu vớt sinh kế gia đình, vừa có danh vọng tiền tài, vừa có lý lẽ chính đại quang minh vì sự an nguy của cộng đồng, lại vừa khéo léo ám chỉ rằng ông ta đã biết rõ cô đang nắm giữ thứ gì trong tay. Mọi lối thoát dường như đã bị bịt kín bởi sự chu toàn ấy.
Ninh Chiêu khẽ rủ mi mắt xuống. Trong lồng ngực cô, mảnh kiếm Hàn Tủy đang được giấu kỹ dưới đáy bễ than của xưởng cũ dường như đang phát ra một luồng khí lạnh thấu xương, truyền qua từng thớ thịt.
Nếu cô chỉ là một cô thợ rèn ngây thơ cả đời chỉ biết gõ búa đập sắt, có lẽ cô đã run rẩy tin theo lời ông ta, trao ra mảnh kiếm ấy để đổi lấy cuộc sống an nhàn, đổi lấy nguồn than đá mà cô hằng khao khát cho xưởng rèn của cha. Nhưng cô đã nhìn thấy những chiếc nẹp xương rỗ tổ ong nằm trong rương khóa của Trần Mộc. Cô đã nhìn thấy hai phu dịch bị liệt đôi tay trắng bệch như sáp nến nằm thoi thóp trong góc tối. Và cô biết rõ hơn ai hết, mảnh thép đó không phải rơi từ "cõi tiên" nào cả, mà là di vật sót lại của Du Hành—kiếm tu đã bị cỗ máy ngầm tàn độc kia nghiền nát mười bốn năm trước.
Ninh Chiêu ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô lộ vẻ sợ hãi, bối rối và ngơ ngác rất đỗi tự nhiên của một thường dân nghèo hèn trước uy quyền tối thượng:
"Bẩm Quan Tế đại nhân... đại nhân nói đến mảnh thép trưa hôm đại lễ sao?"
Cô cắn chặt bờ môi dưới, ngón tay của bàn tay phải run rẩy chạm vào dải băng vải quấn trên tay trái, giọng nói nghẹn ngào pha lẫn nỗi hối hận tột cùng:
"Tiểu nữ... tiểu nữ quả thực có nhặt được một mẩu kim loại lạ rơi thủng mái ngói xưởng vào máng nước làm nguội trưa hôm ấy. Thấy chất thép lạ kỳ chưa từng thấy, tiểu nữ vốn định giữ lại để nghiên cứu thớ rèn của tiền nhân xem có học hỏi được gì chăng. Nhưng... nhưng đêm hôm kho dược Nam Trụ phát hỏa, tiểu nữ cùng phu xe Ngô Phúc đi ngang qua đó hỗ trợ dập lửa cứu người..."
Ninh Chiêu giơ bàn tay trái quấn nẹp tre lên ngang ngực áo, để lộ phần da thịt cháy sém còn rỉ dịch vàng ở mép ngón tay cái:
"Khi thanh xà sắt nóng đỏ trên mái kho sụp xuống đè nát tay tiểu nữ, chiếc túi vải đeo bên hông bị cào rách toạc ra. Mẩu thép đó... cùng toàn bộ đồ nghề mang theo bên mình đã bị rơi xuống mương cống nước thải ngập bùn độc ngoài cổng sau Nam Trụ, bị dòng nước xiết xả lò cuốn trôi mất tích rồi. Đêm đó đội lính của quản sự Đỗ Tuyên phong tỏa hiện trường gay gắt quá, tiểu nữ giữ được cái mạng tàn này bò về y xá Thạch Tuyền đã là may mắn lắm rồi, làm sao dám lội xuống cống nước toan mà mò lại..."
Đỗ Kính đứng bất động như một pho tượng đá giữa góc xưởng.
Ánh mắt ôn hòa của ông ta dán chặt vào từng biến chuyển nhỏ nhất trên cơ mặt Ninh Chiêu, lướt qua vết bỏng gân tay chân thực đến rùng mình, rồi dừng lại trên đôi mắt trong veo nhưng đầy vẻ khiếp sợ của cô thợ rèn trẻ tuổi.
Gió lạnh từ khe núi phía sau thổi thốc qua khung cửa sổ xưởng mài, làm vạt áo xám của Đỗ Kính khẽ lay động.
Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi chừng ba nhịp thở, nụ cười hiền hậu trên môi vị Quan Tế bỗng vụt tắt.
Thay vào đó là một vẻ lạnh lẽo, sâu thẳm và sắc nhọn như một lưỡi kiếm rỉ sét cắm sâu dưới đáy mồ hoang. Không khí xung quanh ông ta dường như chùng hẳn xuống, nhiệt độ trong góc phòng tụt dốc không phanh. Áp lực vô hình của một cường giả Kết Cốt viên mãn bao trùm lấy không gian, đè nặng lên lồng ngực khiến các khớp xương trên người Ninh Chiêu phát ra những tiếng kêu răng rắc rất nhỏ.
Nhưng rồi, sự sắc lạnh đáng sợ ấy tan biến nhanh như bọt xà phòng vỡ.
Đỗ Kính khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu tỏ vẻ thương cảm sâu sắc:
"Rơi mất rồi sao? Thật là đáng tiếc. Đáng tiếc cho một mối cơ duyên học hỏi của ngươi, và cũng đáng tiếc cho sự an toàn của thị trấn nếu mẩu dị vật nguy hiểm đó trôi dạt vào nguồn nước ngầm sinh hoạt."
Ông đặt thanh nẹp xương bằng hợp kim đồng thiếc trở lại mặt bàn đá, gõ nhẹ ngón tay có đeo chiếc nhẫn bạc lên mặt gỗ một tiếng *cộc* khô khốc:
"Nhưng không sao cả. Việc ngươi xông pha cứu người trong đám cháy chứng tỏ ngươi có tâm tính lương thiện, đúng là giữ được cốt cách con nhà Ninh Trác. Bàn tay bị thương cứ an tâm ở lại y xá này điều trị cho lành lặn. Còn về xưởng Lò Ninh... việc tiếp tế than đá ta sẽ xem xét lại sau."
Đỗ Kính xoay người, dứt khoát rảo bước đi ra khỏi xưởng mài:
"Trần đại phu, đi thôi. Cho ta xem danh sách những phu dịch bị suy kiệt phổi trong đợt gió tro vừa qua."
"Dạ... xin Quan Tế đại nhân đi lối này." Trần Mộc vội vã cúi đầu dẫn đường, bóng hai người nhanh chóng khuất sau khúc quanh của dãy hành lang buồng bệnh.
Ninh Chiêu đứng nguyên tại chỗ, lưng tựa chặt vào vách đá hoa cương lạnh ngắt của xưởng mài. Lúc này cô mới nhận ra toàn bộ lưng áo mình đã ướt đẫm mồ hôi lạnh từ lúc nào.
Đỗ Kính không tin lời cô hoàn toàn. Một con người tinh tường như ông ta không dễ bị lừa gạt như vậy. Thế nhưng, vụ cháy kho Nam Trụ đêm qua và vết thương bỏng thật sự trên bàn tay trái của cô đã tạo ra một lớp màn chắn hoàn hảo, khiến ông ta không có bất kỳ cái cớ danh chính ngôn thuận nào để ra tay bắt bớ hay thẩm vấn cô ngay tại chỗ.
Tuy nhiên, Ninh Chiêu hiểu rất rõ rằng khoảng thời gian hòa hoãn mong manh này sẽ không thể kéo dài được bao lâu.
***
Ngay đầu giờ chiều hôm ấy, bầu không khí tại ngoại viện Thanh Lư Tông bỗng chốc trở nên ngột ngạt và căng thẳng như một sợi dây cung bị kéo căng đến cực hạn.
Tại bảng yết thị lớn làm bằng đá hoa cương dựng sừng sững giữa sân Bạch Thạch, hàng trăm đệ tử tạp dịch, thợ phụ, phu xe và phu mỏ từ các xóm thợ chen chúc nhau xô đẩy, vây quanh một tờ công văn mới toanh dán đè lên các thông báo cũ, mép giấy còn ướt rượt màu mực đỏ son. Trên đầu tờ công văn đóng con dấu triện lòng máng hình hoa sen ba cánh lồng thước đo cân áp của phủ Quan Tế, bên dưới là chữ ký rồng bay phượng múa nhưng cứng cỏi, dứt khoát như dao khắc của đích thân Quan Tế Đỗ Kính.
Bùi Sách vừa chạy hớt hải từ trạm đưa thư của ty Bưu Dịch về, mặt mày tái mét không còn hột máu. Cậu luồn lách qua đám đông đang xì xào bàn tán, đưa bàn tay run rẩy kéo giật lấy tay áo Ninh Chiêu lùi ra mép lan can đá phía xa:
"Ninh Chiêu! Có biến lớn rồi! Lệnh thiết quân luật mới vừa ban bố trưa nay xong!"
Ninh Chiêu ngước mắt nhìn lên bảng đá hoa cương. Dù đứng cách xa hơn chục bước chân, thị lực sắc bén và thói quen đo đạc của một người thợ rèn vẫn giúp cô đọc rõ từng dòng chữ mang hơi hám chết chóc viết trên giấy bản vàng:
*“... Chiếu theo sự biến thiên bất thường của mạch ngầm và nguy cơ bộc phát sớm của mùa gió tro khoáng đỉnh Lạc Hạc, phủ Quan Tế ban hành điều lệ phòng hộ khẩn cấp:*
*Thứ nhất: Kể từ giờ Mùi ngày hôm nay, nghiêm cấm tuyệt đối mọi hoạt động đo đạc địa chấn, khảo sát thủy văn độc lập của toàn bộ các phân viện và nhân sự cá nhân dưới chân cửa trời Huyền Khuyết và khu vực khe núi Trầm Đới. Mọi thiết bị đo đạc, kính thạch anh, thước đo áp suất chưa qua kiểm định của phủ Quan Tế đều bị coi là vật cấm tàng trữ, kẻ vi phạm lập tức phế bỏ tu vi, tống giam vào ngục Nam Trụ.*
*Thứ hai: Để gia cố các vách ngăn áp lực và nạo vét rãnh cản tro trước kỳ Bổ Khuyết đại lễ, tăng gấp đôi hạn ngạch quân số tạp dịch cưỡng chế từ các xưởng rèn, xóm mỏ và đệ tử ngoại môn cho các tầng dẫn ngầm số Năm, số Sáu và số Bảy. Các ca trực đêm dưới chân đài Huyền Khuyết sẽ bắt đầu luân chuyển liên tục không gián đoạn kể từ ngày mai...”*
Đám đông phu dịch xung quanh bảng yết thị bắt đầu xôn xao dữ dội, những tiếng than khóc, tiếng thở dài nghẹn ngào vang lên rải rác từ những góc sân:
"Tăng gấp đôi lao dịch ngầm sao? Trời đất ơi, ca đêm ở cổng số Bảy... người xuống đó làm việc ba tháng trước còn chưa hồi phục nổi đôi tay, giờ lại bắt thêm người xuống cào xỉ?"
"Nhưng không gia cố rãnh cản thì gió tro tràn xuống trấn, cả nhà chết ngạt hết... Quan Tế đại nhân làm vậy cũng là vì giữ mạng cho mười vạn dân dưới chân núi này thôi..."
"Đúng đấy, năm ngoái gió tro tràn qua khe núi, nếu không có phủ Quan Tế mở trận chắn thì xóm Lò Vôi đã thành bình địa từ lâu rồi..."
"Đại nhân thức trắng đêm lo thuốc men cho chúng ta, mình chịu khổ một chút dưới hầm cũng là để giữ mạng cho con cái trong nhà..."
Những tiếng bàn tán chia rẽ, vừa sợ hãi tột cùng vừa cam chịu đến cùng cực, phản ánh chính xác tâm lý của những kẻ quanh năm sống phụ thuộc vào một chiếc ô che chở duy nhất. Họ sợ hãi cái chết dưới hầm tối, nhưng lại càng sợ hãi hơn cơn bão tro quặng nếu không có bàn tay che chắn của phủ Quan Tế.
Ninh Chiêu lặng người nhìn dòng chữ "tăng gấp đôi quân số tạp dịch cưỡng chế cho các tầng dẫn ngầm".
Đó tuyệt đối không phải là đi gia cố rãnh cản tro đơn thuần. Đó là gom người! Chu kỳ thu hoạch kiếm cốt mới đang được đẩy nhanh tiến độ hơn bao giờ hết, và Đỗ Kính đang chuẩn bị một lượng "tải sống" khổng lồ để hấp thụ chấn động trước khi mùa gió tro thực sự đổ ập xuống thung lũng.
"Cô đang nhìn gì thế?"
Một giọng nói khàn đặc quen thuộc vang lên bên tai cô. Ninh Chiêu quay đầu lại, thấy Tống Hoài đã đứng dưới bóng râm của hàng hiên hành lang tự lúc nào.
Anh mặc bộ đồ phu khiêng vác rách rưới bằng vải thô xám, trên vai vác một bó cọc tiêu bằng gỗ thông dùng cho việc trắc địa của Lê Vãn. Dù cố gắng đứng thẳng người, nhưng bàn tay phải của anh vẫn vô thức ấn chặt vào bên mạn sườn—nơi chốt nẹp lưng bằng đồng đỏ đang tì sát vào vết thương kiếm cốt bị vỡ vụn bên trong. Đôi mắt người cựu kiếm tu Minh Kiếm sâu hoắm, phản chiếu ánh nắng chiều nhạt nhòa đang rọi xiên qua những tán thông già trên sườn núi.
Ninh Chiêu bước lại gần bóng râm của mái hiên, hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu:
"Sáng nay ông ta đã đến y xá Thạch Tuyền. Tự tay đỡ một phu mỏ già, cấp thuốc, cách chức một viên chấp sự ăn chặn định mức ngay tại chỗ trước mặt hàng trăm con người. Ông ta nhớ cả tên một đứa trẻ con nhà nghèo ở xóm Lò Vôi. Rồi sau đó, ông ta đề nghị cấp than đá loại một cho Lò Ninh, đổi lại tôi phải nộp mảnh thép Hàn Tủy."
Tống Hoài khẽ nhếch mép, để lộ một nụ cười khô khốc, đắng ngắt như bã thuốc sắc ba lần:
"Và cô thấy ông ta là một người tốt, phải không?"
Ninh Chiêu im lặng một nhịp. Cô nhìn những phu dịch đang quỳ lạy trước bức ảnh thờ biểu trưng hoa sen ba cánh của phủ Quan Tế dựng ở góc sân Bạch Thạch, rồi nhìn xuống bàn tay trái tàn tật đang quấn băng của mình:
"Tôi thấy ông ta thực sự đau lòng khi thấy người dân nghèo bị bóc lột. Tôi thấy ông ta thực sự muốn cứu mười vạn mạng người dưới chân núi khỏi cơn bão tro quặng tàn khốc. Nhưng chính tay ông ta, chỉ vài canh giờ sau, lại ký một sắc lệnh đẩy thêm hàng trăm con người xuống cỗ máy nghiền nát tủy xương dưới lòng đất sâu."
"Đó chính là Đỗ Kính," Tống Hoài nói, giọng trầm đục như tiếng đá mài dưới đáy suối cạn. "Sáu năm trước, khi ta còn là một Minh Kiếm của tông môn, ta cũng từng đứng chung một chiến tuyến với ông ta dưới chân đài Huyền Khuyết. Đỗ Kính không phải loại tiểu nhân ham mê vàng bạc, bổng lộc hay quyền lực tầm thường như thằng cháu Đỗ Tuyên. Vợ ông ta, bà Vệ Lan, chết ngạt ngay trước mắt ông ta trong một mùa bão tro ba mươi năm trước, khi hệ thống màn chắn cổ bị sụp đổ hoàn toàn vì thiếu hụt năng lượng cân bằng."
Ninh Chiêu khẽ rùng mình, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.
"Kể từ ngày đó, trong đầu Đỗ Kính chỉ có duy nhất một chân lý: màn chắn phòng hộ của Huyền Khuyết phải hoạt động bằng mọi giá," Tống Hoài tiếp tục, ánh mắt nhìn xa xăm về phía những đỉnh núi phủ đầy sương xám. "Để cứu lấy chín mươi chín ngàn người sống trong an lành, ông ta sẵn sàng hy sinh một ngàn người làm chất đốt. Ông ta không hề lừa dối ai cả, cũng không hề coi rẻ những sinh mạng bị hy sinh. Ông ta thực lòng tin rằng mình đang gánh vác tội nghiệt thay cho cả thiên hạ, tin rằng việc bòn rút kiếm cốt của vài chục kiếm tu hay làm tàn phế vài trăm phu dịch là cái giá quá rẻ để đổi lấy sự tồn vong của cả một vùng đất Hạ Lĩnh này."
Tống Hoài nghiêng đầu, nhìn thẳng vào mắt Ninh Chiêu, ánh mắt nghiêm khắc đến mức tàn nhẫn:
"Và chính vì ông ta thực lòng tin vào điều đó, nên ông ta mới là kẻ nguy hiểm nhất trên cõi đời này. Một kẻ ác làm điều xấu vì lòng tham thì còn có thể dùng tiền tài để mua chuộc, dùng quyền lực để đe dọa hoặc dùng mưu kế để hạ bệ. Nhưng một người tốt làm điều ác vì đức tin cứu rỗi đồng loại... thì không có một lý lẽ nào, không có một sự khoan nhượng nào có thể ngăn cản bước chân của ông ta. Đối với ông ta, mảnh kiếm của Du Hành hay mạng sống của cô, của ta, đều chỉ là những viên sỏi lót đường cho bức tường thành bảo vệ sự sống mà thôi."
Ninh Chiêu siết chặt nắm tay phải. Từng lời nói của Tống Hoài như một nhát búa nung đỏ đập thẳng vào tâm trí cô, đánh vỡ tan những do dự cuối cùng trong lòng.
Không có bất kỳ sự thỏa hiệp nào có thể tồn tại giữa một bên muốn giữ lấy phẩm giá và sinh mạng của từng con người riêng lẻ, và một bên coi con người chỉ là vật liệu tiêu hao được định lượng trên sổ sách để duy trì sự ổn định của một trật tự tàn độc.
Dưới chân núi, tiếng còi đồng dõng dạc vang lên từng hồi dài báo hiệu đoàn xe của phủ Quan Tế bắt đầu rời khỏi ngoại viện.
Ninh Chiêu bước ra mép lan can đá sa thạch, phóng tầm mắt nhìn xuống con đường dốc quanh co uốn lượn men theo sườn núi Lạc Hạc. Cỗ xe bốn bánh bằng gỗ hồ đào của Đỗ Kính đi ở giữa, xung quanh là hàng chục cỗ xe thồ chở đầy các hòm thuốc bột thanh phế hảo hạng đang hướng về phía các thôn xóm nghèo nàn dưới thung lũng.
Đi đến đâu, người dân hai bên đường đều ùa ra quỳ lạy, tung những nắm hoa dại khô và những dải lụa xám để tạ ơn vị Quan Tế nhân từ đã mang lại sự sống cho họ trước mùa giông bão. Tiếng tung hô, tiếng cầu phúc hòa lẫn trong tiếng chuông đồng của cỗ xe ngựa, vang vọng khắp các hốc đá cằn cỗi.
Đoàn xe cứ thế khuất dần sau khúc quanh mù mịt khói tro của dốc núi.
Ninh Chiêu đứng chôn chân trong làn gió lạnh buốt, cảm nhận rõ rệt sự giằng xé tàn khốc đang đè nặng lên từng tấc đất của vùng Hạ Lĩnh này: một bộ máy cai trị dốc lòng che chở cho sự bình an bề mặt của cuộc sống thường nhật, và một hệ thống ngầm tàn độc đang bóp nghẹt từng sự thật đẫm máu dưới lòng đất sâu.
Muốn cứu những người như bác Trương, muốn bảo vệ những đứa trẻ như Thằng Vượng khỏi cái chết ngạt vì tro khoáng, người ta bắt buộc phải dựa vào thuốc men và màn chắn phòng hộ của Đỗ Kính; nhưng để thứ thuốc ấy và màn chắn ấy tiếp tục tồn tại, người ta lại phải im lặng nhắm mắt, ném những người như Tống Hoài, như những phu dịch ở cổng số Bảy vào miệng cỗ máy nghiền ngấu tủy xương tăm tối.
Sự thật không bao giờ có thể đổi lấy bằng sự cúi đầu cam chịu.
Bỗng nhiên, một bàn tay gầy gò nhưng rắn rỏi khẽ vỗ vào vai cô từ phía sau.
Ninh Chiêu giật mình quay lại.
Lê Vãn đang đứng đó, chiếc áo choàng trắc lượng sư lấm lem bùn đất và bụi đá, vạt áo còn vương mấy vệt nước rỉ màu gỉ sắt, hơi thở có phần gấp gáp sau chặng đường dài leo dốc từ khu vực hạ lưu lên. Không nói một lời thừa thãi, chị liếc nhanh nhìn quanh quất dãy hành lang vắng lặng, rồi luồn tay rút từ trong ống tay áo rộng ra một tờ công văn bằng giấy bản vàng có đóng dấu triện đỏ chói của phân viện Quản lý Công Trình.
Chị ghé sát tai Ninh Chiêu, thì thầm bằng một giọng nói dứt khoát đến lạnh buốt:
"Chúng ta có bốn canh giờ để xuống nhánh dẫn ngầm kiểm tra rò rỉ nước."