Bản đồ không chịu đứng yên
Trên căn gác mái ngập tràn mùi giấy kraft, mùi mực tàu khô khốc và thứ hương thơm ngai ngái của vụn gỗ bào, Minh đang nín thở ghì chặt chiếc thước kẻ kim loại sáng loáng xuống mặt bàn. Cậu tỉ mẩn dùng đầu ngòi bút chì kim loại 0.3 milimét căn chỉnh từng vạch ly nhỏ xíu cho mô hình ngã tư khu phố thu nhỏ bằng bìa các-tông. Từng khối nhà hình hộp, từng góc vát của vỉa hè cho đến những cột đèn đường uốn bằng dây đồng li ti đều phải tăm tắp tuân theo một tỉ lệ chính xác đến tuyệt đối. Đối với Minh, chỉ cần một đường kẻ trượt đi nửa vạch, toàn bộ cái trật tự mong manh mà cậu dốc sức dựng nên sẽ sụp đổ như một trò chơi xếp hình bị lỗi nhịp.
Đúng lúc mũi chì vừa chạm vào góc giấy chuẩn bị kéo một đường thẳng tắp, tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên những bậc cầu thang gỗ thông dốc đứng vang lên xé toạc bầu không khí tĩnh mịch.
Cánh cửa gác mái bật mở không một tiếng gõ báo trước. An đứng tựa vào khung cửa, thở dốc từng cơn nghẹn ngào, hai lồng ngực phập phồng sau lớp áo đồng phục sờn mép.
Minh giật nảy mình. Đầu ngòi chì kim gãy đánh “tách” một tiếng giòn tan, vạch một vệt xiên xẹo, đậm nét và xấu xí ngang qua góc ngã tư thu nhỏ mà cậu vừa mất cả buổi sáng nắn nót. Lồng ngực Minh thắt lại vì bực bội, nhưng phản xạ đầu tiên của cậu lại không phải là mắng An, mà là cuống cuồng dùng cùi chỏ đẩy sập mép ngăn kéo bàn học đang hé mở. Ở bên trong góc tối ấy, một chiếc phong bì bưu điện dán con tem mang hình phong cảnh miền núi xa xôi nằm lặng lẽ. Bức thư gửi từ công trường thủy điện heo hút của cha vừa được bác bưu tá đưa tới hồi bảy giờ sáng, và suốt hai tiếng đồng hồ qua, Minh chỉ dám lén nhìn nó chứ không đủ dũng khí để xé mép giấy. Cậu sợ phải đọc lại những câu chữ quen thuộc, những lời hứa hẹn mông lung không bao giờ ấn định một ngày về cụ thể.
Giấu kín bức thư vào bóng tối của hộc bàn, Minh quay ngoắt ra sau, đôi mày nhíu chặt lại sau cặp kính cận dày cộp, giọng cáu kỉnh quen thuộc bật ra:
“Cậu làm tớ gãy ngòi rồi đấy! Lệch mất hẳn hai vạch ly của góc phố số ba! Đã bảo bao nhiêu lần rồi, muốn lên gác thì phải gõ cửa đúng ba tiếng theo nhịp, đợi tớ trả lời mới được bước vào cơ mà?”
Nhưng An dường như chẳng hề bận tâm đến mớ quy tắc cứng nhắc ấy, cũng không buồn liếc nhìn cái ngã tư giấy bị vạch hỏng. Đôi má cô bé đỏ ửng vì phải leo dốc hết tốc lực, những sợi tóc mái bết dính mồ hôi bên thái dương. Trong đôi mắt mở to của em, Minh nhìn thấy một mớ cảm xúc hỗn độn đang giằng xé: có chút uất ức, sợ hãi còn sót lại sau trận cãi vã nghẹn ngào với mẹ bên mâm cơm sáng dở dang, nhưng trùm lên tất cả lại là một sự rực rỡ, kinh ngạc đến mức không thể kìm giữ thêm một giây nào nữa.
An lao tới mép bàn, chẳng thèm để ý đến những mô hình giấy mỏng manh, chộp lấy cổ tay Minh kéo giật về phía trước:
“Bỏ mấy cái thước kẻ chết tiệt đó lại đi, Minh! Cậu phải đi với tớ ngay bây giờ. Lên tận cùng dốc Mây. Có một chuyện... tớ thề danh dự là nếu không tận mắt nhìn thấy, cậu nhất định sẽ bảo tớ bị sốt xuất huyết hay phát điên mất thôi!”
“Cuối dốc Mây á?” Minh giằng tay lại, cố ghì gót chân xuống sàn gỗ. “Khu vườn của căn nhà gỗ chỗ bà Lam? Không được, tớ đã lên lịch trình rồi, tớ phải hoàn thiện xong bản đồ quy hoạch phân khu này trước mười giờ sáng để còn...”
Chẳng để cho Minh kịp phân trần về những con số và thời hạn biểu, An đã nắm chặt lấy vạt áo khoác của cậu, lôi tuột xuống những bậc thang gỗ kêu cót két. Minh hoảng hốt, trong cơn cuống cuồng chỉ kịp vơ vội lấy cuốn sổ tay kỹ thuật bìa cứng dắt vội vào cạp quần sau lưng, đồng thời thọc tay chộp lấy chiếc thước cuộn bằng thép bọc nhựa dẻo nhét tọt vào túi áo khoác ngoài rồi lảo đảo chạy theo bạn.
Hai đứa trẻ lao ra khỏi con ngõ nhỏ, cắm đầu chạy thục mạng dưới bóng râm của hàng sấu cổ thụ đang độ thay lá dọc triền dốc Mây. Gió sớm từ thung lũng thổi ngược lên mang theo hơi lạnh ngai ngái, rải những giọt sương đêm còn sót lại từ vòm lá xuống vai áo hai đứa. Nắng sớm vàng ươm như mật ong mới rót, xiên qua từng kẽ lá đan dày, hong khô dần lớp hơi ẩm bốc lên từ mặt đường nhựa lồi lõm sỏi đá. Càng lên cao, tiếng ồn ào của xe cộ dưới phố chợ càng lùi xa, nhường chỗ cho tiếng thông reo rì rào và tiếng chim sâu lích chích trong những bụi dâm bụt ven đường.
Khi bờ rào dâm bụt kết thúc, cánh cổng sắt sơn màu xanh lục đã rỉ sét nham nhở của khu vườn nhà bà Lam hiện ra, khép hờ hững bên hai trụ gạch rêu phong. Không một tiếng động, An đưa tay đẩy nhẹ cánh cổng, lách người qua khe hở hẹp rồi vẫy Minh đi theo. Bàn chân hai đứa giẫm lên lớp cỏ dại ướt sũng, len lỏi qua những luống cây mọc tự do không theo hàng lối, tiến thẳng về phía chiếc giếng đá cổ nằm khuất sau giàn hoa leo tím ngắt. Thành giếng ghép bằng những tảng đá xám xịt phủ đầy rêu xanh mướt, lòng giếng cạn trơ đáy từ bao năm nay chỉ còn đọng lại lớp lá mục ẩm ướt.
“Nhìn này!” An quỳ thụp hai gối xuống nền đất ẩm, giọng em hạ thấp xuống chỉ còn là một tiếng thì thào run rẩy, như thể một âm thanh quá lớn lúc này sẽ làm vỡ tan một bong bóng xà phòng vô hình.
Minh dừng lại, hơi thở vẫn còn đứt quãng sau chặng leo dốc dài. Cậu đưa tay đẩy gọng kính cận trượt xuống vì mồ hôi, cúi rạp người nhìn theo ngón tay trỏ run rẩy của An.
Ngay sát mép chân giếng đá, giữa một vạt đất phù sa màu nâu thẫm mịn màng như bột, một chồi non xanh biếc đang tĩnh lặng vươn lên.
Minh phải chớp mắt liên tục tới ba lần. Cậu tháo kính ra, lau vội vào vạt áo rồi đeo lại để chắc chắn rằng mắt mình không bị ảo giác do thiếu ngủ. Điều khiến lồng ngực cậu đập dồn không phải là tốc độ sinh trưởng bất thường của cái cây nhỏ bé này, mà là hình thù kỳ dị đến khó tin của hai chiếc lá mầm đầu tiên. Chúng hoàn toàn không xòe phẳng sang hai bên để hứng nắng như bất kỳ loài thực vật hạt kín nào mà cậu từng nghiên cứu qua sách vở sinh học. Ngược lại, hai chiếc lá mỏng manh, căng mọng nước ấy lại khum tròn một cách mềm mại, mép lá uốn lượn tinh xảo, úp sát vào nhau một cách đối xứng hoàn hảo, y hệt như một đôi bàn tay trẻ con đang nâng niu, che chở một bí mật vô hình và ấm áp ở khoảng trống bên trong.
“Cái... cái gì thế này?” Minh lắp bắp, những thuật ngữ khoa học mà cậu thuộc làu bỗng chốc nghẽn lại nơi cuống họng. “Không đúng... Về mặt giải phẫu và hình thái học thực vật, không thể có sự phân chia tế bào nào tạo ra cấu trúc cong gập đối xứng phi lý như thế này được! Đây là cây gì? Cậu tìm thấy nó ở đâu?”
“Hôm qua bà Lam cho tớ một hạt giống màu xám,” An thì thầm, khóe mắt hoe đỏ vẫn còn đọng lại vệt nước mắt khô của buổi sáng cãi lời mẹ, nhưng đôi đồng tử lại lấp lánh thứ ánh sáng thuần khiết. “Bà bảo hãy gieo nó xuống mảnh đất gần giếng cạn và nói cho đất nghe điều tớ ước ao nhất. Tớ đã khóc... tớ ước mẹ đừng nhìn tớ bằng ánh mắt thất vọng nữa, ước gì có ai đó giữ lấy tay tớ... Và sáng nay, khi tớ trốn nhà chạy lên đây, nó đã nhú lên như thế này rồi.”
Minh đứng bật dậy, lùi lại nửa bước. Trực giác của cậu lập tức dựng lên một bức tường phòng thủ dày đặc. Minh vốn không thể nào dung nạp được những thứ không thể giải thích bằng công thức, những hiện tượng nằm ngoài tầm kiểm soát của các định luật vật lý hay quy chuẩn đo lường.
Kể từ ngày cha cậu xách chiếc vali sờn góc bước lên chuyến xe khách đỏ quạch bụi đường để đi biền biệt tới những công trình ngổn ngang sỏi đá nơi biên giới xa xôi, những lá thư thưa thớt gửi về chẳng bao giờ có một chiếc tem hẹn ngày về đoàn tụ. Mẹ Hà thì luôn vùi mình vào những ca trực đêm thất thường ở trạm xá khu phố, mang theo về nhà mùi cồn sát trùng cay nồng và vẻ mệt mỏi triền miên. Trong căn nhà lúc nào cũng vắng lặng đến mức nghe rõ cả tiếng mọt nghiến gỗ trên xà nhà, thế giới của Minh chỉ tìm thấy sự an toàn khi mọi thứ được cậu đặt dưới những phép đo chính xác. Cậu khống chế nỗi cô đơn gặm nhấm và nỗi sợ hãi tột cùng về sự chia ly bằng những ô lưới milimét tăm tắp, bằng một cuốn thời gian biểu ghi kín từng mốc giờ ăn, giờ học, giờ vẽ, và bằng những bản vẽ phối cảnh phẳng phiu không bao giờ biết xê dịch hay phản bội lại người tạo ra nó.
“Không thể có chuyện phép thuật hoang đường thế này được,” Minh lẩm bẩm, giọng nói run rẩy vì cố gắng tìm lại thế cân bằng. Cậu lập tức thọc tay vào túi áo khoác, rút chiếc thước dây kim loại bóng loáng ra, đồng thời rút cuốn sổ tay kỹ thuật ra khỏi cạp quần. “Tất cả phải có nguyên nhân vật lý. Có thể là do từ trường cục bộ của mỏ đá ngầm dưới đáy giếng, hoặc độ ẩm và nồng độ khoáng chất đặc thù trong mạch nước ngầm đã tác động lên biểu bì lá mầm. Tớ sẽ lập một tấm bản đồ trắc địa tuyệt đối chính xác cho khu đất này. Từng gốc cây, từng lối đi, cả vị trí cái giếng và bán kính phát triển của cái mầm này nữa. Phải đo đạc đàng hoàng, vẽ lại bình đồ thì mới tìm ra quy luật được!”
Từ phía bậc thềm gỗ bên hiên căn nhà cũ, tiếng then cửa khẽ lách cách. Bà Lam bước ra, trên tay bưng một chiếc khay gỗ nhỏ đặt tách trà bốc khói nghi ngút, phả vào không gian mùi hoa cúc khô ngòn ngọt. Chiếc áo bà ba bằng vải thô màu nâu sẫm của bà như hòa lẫn vào màu gỗ của ngôi nhà. Bà không lên tiếng quở trách hay ngăn cản sự ồn ào của hai đứa trẻ, chỉ lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế mây đã bạc màu thời gian ở góc hiên, khóe mắt hằn sâu những nếp nhăn hiền từ mỉm cười dõi theo từng động tác của cậu bé mười một tuổi. Trên chiếc bàn trà con bằng gỗ mộc mộc mạc bên cạnh bà, một cuốn sổ khổ lớn bìa da sờn góc đang mở hờ, để lộ một góc giấy dó ố vàng vẽ chi chít những ký hiệu đo đạc ranh giới cổ xưa — một tấm bản đồ khu đất có niên đại dường như thuộc về một thời kỳ xa xăm nào đó mà lũ trẻ chưa từng biết tới.
Nhưng Minh lúc này chẳng còn tâm trí đâu để để mắt đến cuốn sổ trên bàn trà. Cậu quỳ một gối xuống nền đất, gài móc sắt của sợi thước dây vào một kẽ nứt ngay mép giếng cạn làm mốc chuẩn số không.
“An, giữ chặt đầu dây này ở đây! Đừng có buông tay ra đấy!” Minh ra lệnh với vẻ mặt nghiêm nghị, căng thẳng hệt như một kỹ sư thực địa đang chỉ huy công trường. Cậu đứng dậy, vừa lùi dần về phía sau vừa kéo căng sợi dây thép mỏng màu vàng rực: “Ba mét hai mươi lăm phân... Góc lệch ba mươi độ về phía bụi hoa mẫu đơn trắng.”
Minh hí hoáy lật mở trang giấy mới toanh trong cuốn sổ kỹ thuật, dùng bút chì kim và chiếc thước kẻ mang theo vạch một đường thẳng tắp, chia trang giấy thành những ô vuông tỉ lệ một phần năm mươi. Cậu muốn ép từng bụi cây cối mọc lộn xộn, từng tảng đá ẩm ướt và từng nhánh cỏ dại này vào trong một trật tự ngay ngắn, vuông thành sắc cạnh của riêng mình. Chỉ khi chúng nằm yên trên trang giấy có tọa độ rõ ràng, cậu mới thấy nhịp tim mình đập bình thường trở lại.
Thế nhưng, ngay khi Minh quay người lại, chuẩn bị kéo căng sợi dây thước về phía bụi cẩm tú cầu tím bên phải lối mòn, cậu bỗng khựng lại. Toàn thân cậu đông cứng.
Lối đi rải sỏi dưới chân cậu dường như vừa chuyển động.
Đó không phải là một cơn địa chấn làm rung chuyển mặt đất, mà là một sự biến chuyển êm ru, mềm mại như một cái trở mình trong giấc ngủ say. Mới chỉ một phút trước, bụi mẫu đơn trắng muốt kia rõ ràng nằm thẳng hàng với trục từ mép giếng đá chiếu sang, nhưng lúc này, khoảng cách giữa chúng lại dãn dài ra thêm một đoạn rõ rệt, ước chừng hơn cả một sải tay người lớn. Con đường lát đá dăm xám vốn dĩ chạy thẳng tắp từ cổng vào thềm nhà bỗng dưng uốn lượn thành một đường cong thoai thoải như một dải lụa mềm, nhẹ nhàng lách qua một khóm bạc hà dại vừa bung nở những chùm hoa li ti màu tím ngắt.
“Ơ kìa? Cái gì thế này?” Minh nhíu chặt mày, lùi lại hai bước, quỳ sụp xuống đo lại từ đầu. “Bốn mét mười phân? Sao lại có thể là bốn mét mười được? Vừa nãy chính mắt tớ nhìn thấy vạch số ba mét hai mươi lăm phân cơ mà!”
Nghĩ rằng mắt mình bị hoa, Minh vội vàng lấy cục gôm tẩy sạch vệt chì trên giấy, gọt lại đầu bút chì cho thật nhọn rồi hấp tấp kéo căng thước dây một lần nữa. Nhưng điều kỳ quái là, hễ cậu càng cố dùng sức ghì chặt đầu thước, càng cố nghiến răng căng phẳng sợi dây thép để ép các góc cạnh vào những ô lưới vuông vức vô cảm, thì mặt đất dưới chân lại khẽ cựa quậy một cách vô hình. Những bụi hoa mẫu đơn, cẩm tú cầu dường như có linh tính, chúng khẽ lay động cành lá như đang nghiêng mình né tránh sự áp đặt thô bạo của những con số vô hồn. Con đường sỏi lại uốn sang một góc khác, khiến cho tấm bản đồ vẽ dở trên tay cậu nhanh chóng biến thành một mớ nét vẽ gạch xóa lem nhem, những đường gióng đè lên nhau chằng chịt, hỗn loạn và hoàn toàn mất phương hướng.
“Không lý nào! Không thể nào có chuyện này được!” Trán Minh lấm tấm những hạt mồ hôi lạnh ngắt, dù gió sớm thổi qua mang theo hơi lạnh buốt. Hơi thở cậu dồn dập, lồng ngực thắt lại trong một cơn nghẹn ứ quen thuộc. Đôi bàn tay gầy gò của cậu run rẩy bấu chặt lấy mép cuốn sổ kỹ thuật đến mức mép bìa cứng quăn queo lại.
Sự bất an kinh hoàng bấy lâu nay lại trào dâng, bóp nghẹt lấy tâm trí cậu — cái cảm giác bất lực tột cùng khi mọi thứ tuột khỏi tầm tay kiểm soát, y hệt như cái buổi sáng mùa đông năm ấy, khi chiếc xe khách chở cha cậu nổ máy ầm ĩ rồi từ từ lăn bánh qua khúc quanh ngập gió, bỏ mặc cậu đứng trơ trọi giữa khoảng sân nhà ngập lá rụng với hai bàn tay buông thõng.
“Nó... nó phải nằm yên một chỗ chứ!” Giọng Minh lạc hẳn đi, run rẩy và bất lực như sắp khóc. “Tại sao nó cứ chạy lung tung thế này? Nếu không có kích thước chính xác, nếu không có tọa độ cố định... thì làm sao biết nơi này bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu? Làm sao biết ngày mai nó sẽ biến thành cái gì?”
Bà Lam khẽ nhấp một ngụm trà nóng, tiếng gốm chạm vào đĩa lách cách nhẹ tênh. Giọng bà trầm ấm, khoan thai vang lên giữa khoảng không gian tĩnh lặng của khu vườn:
“Cháu trai à, khu vườn này không phải là một khối bê tông đúc sẵn được đóng khung bằng sắt thép. Nó đang thở cùng với đất trời, và những lối đi này cũng có đôi chân, có linh hồn của riêng chúng. Nếu cháu bước vào đây với một cái khung sắt cứng nhắc trong đầu và tìm cách trói buộc nó lại, đất đai sẽ thấy ngột ngạt lắm đấy.”
An buông đầu thước dây ra, bước lại gần Minh. Nhìn thấy đôi vai bạn đang run lên từng chặp và đôi mắt ngấn nước sau tròng kính dày, An không còn trêu chọc hay cười cợt nữa. Cô bé ngồi xổm xuống bên cạnh Minh, nhẹ nhàng đặt bàn tay nhỏ bé, ấm áp của mình lên mu bàn tay đang co quắp vì căng thẳng của cậu bạn thân. Đôi mắt An tràn ngập sự thấu hiểu sâu sắc, bởi em nhận ra rằng đằng sau cái vẻ ngoài bướng bỉnh, khó chịu và nghiện thước kẻ ấy là một nỗi sợ hãi to lớn về sự mất mát, một nỗi cô đơn cũng giống hệt như nỗi buồn mà em đang phải mang trong lòng.
“Minh này,” An nói thật nhỏ nhẹ, giọng nói ấm áp và êm ái như một chiếc bánh mì vừa mới ra lò vào buổi sớm mùa đông. “Thả lỏng ra một chút đi. Cất chiếc thước kẻ đi đã nào. Khu vườn của bà Lam không muốn làm bài kiểm tra hình học của cậu đâu.”
Minh nhìn sững vào khuôn mặt An, rồi cúi đầu nhìn xuống mớ bản vẽ bị bôi xóa nát bấy, rách cả thớ giấy trên cuốn sổ tay kỹ thuật. Cậu hít một hơi thật sâu, nuốt sự cay đắng và nỗi hoảng loạn xuống đáy lòng. Những ngón tay đang co cứng của cậu dần dần nới lỏng ra. Minh đưa ngón tay cái gạt chiếc chốt khóa, sợi dây thước bằng thép lập tức phát ra tiếng ro ro quen thuộc rồi thụt sâu vào trong vỏ nhựa. Cậu lặng lẽ nhét chiếc thước cuộn và cây bút chì kim vào tận đáy túi quần, vai buông thõng xuống trong một tiếng thở dài nhẹ nhõm đến bất ngờ.
“Được rồi,” Minh cúi đầu, giọng lí nhí. “Vậy... bây giờ phải làm sao đây?”
“Đừng đo nữa. Cứ đi thôi,” An mỉm cười rạng rỡ, nắm lấy bàn tay Minh kéo cậu đứng dậy. “Đi bằng mắt, bằng chân của mình, đừng đếm xem mình đã bước được bao nhiêu bước.”
Lạ lùng thay, ngay chính khoảnh khắc Minh từ bỏ hoàn toàn ý định định lượng từng mét đất, không gian xung quanh dường như thở phào nhẹ nhõm và mềm mại trở lại. Lối đi rải sỏi dưới chân cậu thôi không còn dịch chuyển hay cựa quậy nữa; những viên sỏi trắng tròn trĩnh nằm yên ắng, vững chãi dưới đế giày ba-ta mòn vẹt của cậu. Mùi hương ngai ngái, ngòn ngọt của cỏ dại đẫm sương sau cơn mưa đêm nhẹ nhàng bốc lên, bao bọc lấy khứu giác. Lần đầu tiên sau nhiều tháng ngày chỉ biết cắm mặt vào những bản vẽ thẳng băng vô hồn trên căn gác xép, Minh để mặc cho An nắm tay dắt đi chầm chậm qua những luống cúc dại không tên, ngước nhìn lên vòm lá xanh ngắt để cảm nhận những vạt nắng ấm áp đang rọi xuống sau gáy, thay vì cứ mải miết săm soi xem góc nghiêng của ánh sáng là bao nhiêu độ.
Bà Lam chậm rãi bước từng bước êm ái từ thềm nhà gỗ xuống vườn. Trên tay bà là một chiếc đĩa gốm mộc nung thô mộc, bên trong đựng mấy hạt giống màu nâu sẫm, vỏ ngoài xù xì, gồ ghề trông chẳng khác nào những viên sỏi tí hon nhặt được bên bờ suối. Bà dừng lại trước mặt Minh, khẽ nghiêng chiếc đĩa về phía cậu:
“Cháu có muốn thử tự tay gieo một mầm sống không, cậu bé mê bản đồ?”
Minh ngập ngừng nhìn những hạt giống sần sùi nằm im lìm trên đĩa gốm. Cậu rụt rè thu tay lại: “Cháu... cháu không biết mình có ước mơ gì rõ ràng như An không. Cháu chẳng ước được đi đâu xa, cháu chỉ muốn...” Cậu ngập ngừng, cổ họng nghẹn đắng khi nghĩ về căn gác mái trống trải hun hút gió mỗi buổi chiều, về người mẹ trở về nhà với đôi mắt thâm quầng mệt mỏi, và người cha ở một miền đất xa xôi hun hút mà những nét vẽ trên giấy của cậu không bao giờ có thể vươn tới được. “Cháu chỉ muốn mọi thứ xung quanh mình đừng xáo trộn nữa. Cháu muốn mọi chuyện xảy ra đều có một trật tự nhất định... để cháu không phải lúc nào cũng nơm nớp lo sợ rằng sáng mai thức dậy, mình lại bị bỏ rơi hoặc đánh mất một điều gì đó quý giá.”
Bà Lam mỉm cười, ánh mắt bà hiền từ như mặt hồ phẳng lặng mùa thu, chan chứa một niềm tin cậy ấm áp:
“Vậy thì hãy gửi chính nỗi lòng đó vào đất, cháu trai à. Trật tự thực sự của cuộc đời này không phải là việc cháu cố công giam giữ tất cả mọi người, mọi vật vào trong một cái lồng sắt vuông vức bất di bất dịch. Trật tự là khi cháu có đủ niềm tin để hiểu rằng, dẫu ngoài kia bão giông có xô đẩy vạn vật đổi dời, thì những điều thực sự quan trọng và gắn kết với trái tim cháu vẫn sẽ luôn tìm được cách trở về đúng chỗ đứng của nó.”
Nghe những lời ấy, Minh khẽ cắn môi. Cậu đưa bàn tay run rẩy đón lấy một hạt giống màu nâu sẫm từ tay bà Lam. Hạt giống ram ráp, thô ráp nhưng lại mang theo một hơi ấm kỳ lạ như thể đang lưu giữ một nhịp đập bên trong lớp vỏ gỗ.
Minh quỳ gối xuống nền đất ẩm, ngay bên cạnh luống đất nơi mầm cây hình đôi bàn tay của An đang rung rinh trước gió. Lần này, không có chiếc thước cuộn bằng thép, không có góc đo ba mươi độ hay tỉ lệ xích một phần năm mươi. Minh dùng những ngón tay trần của mình nhẹ nhàng bới một hốc đất nhỏ xốp mềm, sâu chừng hai đốt ngón tay. Đất vườn mát lạnh, thơm nồng mùi mùn lá và sự sống luồn qua kẽ móng tay cậu. Cậu cẩn thận đặt hạt giống vào lòng đất ẩm, rồi dùng hai lòng bàn tay vun lớp đất mịn màng phủ kín lên trên.
Minh nhắm nghiền mắt lại. Cậu chủ động trút bỏ khỏi đầu mình những con số, những góc vuông, những đường kẻ chuẩn mực và cả nỗi sợ hãi mơ hồ về lá thư chưa dám đọc trong ngăn kéo bàn học. Cậu để cho sự tĩnh lặng, trong trẻo và thanh bình của khu vườn tràn ngập khắp tâm trí mình.
Khi Minh mở mắt ra và chống tay từ từ đứng dậy, một âm thanh cực nhỏ, tựa như tiếng vỏ hạt dẻ tách đôi — “tách” — vang lên rất khẽ từ sâu dưới lớp đất nâu ẩm ướt.
Mặt đất khẽ nứt ra một đường chỉ nhỏ li ti. Và rồi, ngay trước sự chứng kiến sững sờ của Minh và An, một chồi non màu xanh lục bảo chậm rãi, kiêu hãnh vươn mình đội đất nhô lên.
Nhưng chồi non của Minh hoàn toàn không giống với mầm cây của An. Nó không có hai chiếc lá khum tròn như đôi bàn tay ôm ấp. Từ thân mầm mập mạp chỉ nhú lên một chiếc lá duy nhất: phiến lá thuôn dài, thẳng tắp, mép lá sắc nét và vô cùng kiên định, vươn thẳng lên bầu trời như một mũi tên xanh biếc. Toàn bộ hình dáng của nó trông y hệt như chiếc kim từ tính của một chiếc la bàn hàng hải cổ xưa, luôn kiên nhẫn, vững vàng chỉ thẳng về đúng hướng bắc bất chấp mọi sự nhiễu loạn của không gian xung quanh.
Minh sững sờ nhìn chồi non màu lục bảo. Chiếc kính cận của cậu hơi trễ xuống, nhưng lần này cậu không buồn đẩy lên nữa. Một nụ cười hiếm hoi, nhẹ nhõm và rạng rỡ từ từ nở bừng trên gương mặt của cậu bé mười một tuổi vốn lúc nào cũng căng thẳng cau có. Lồng ngực cậu bỗng nhiên nhẹ bẫng, một cảm giác bình yên sâu thẳm tràn qua tâm can, tựa như một cơn bão ngầm cuộn trào bấy lâu nay bên trong cậu vừa tìm thấy một bến đỗ an toàn để thả neo.
“Nó... mọc thật rồi kìa Minh ơi!” An reo khẽ lên, không nén nổi vui sướng, chộp lấy bàn tay Minh lắc mạnh liên hồi.
“Ừ,” Minh khẽ gật đầu, đưa mu bàn tay quệt vội giọt mồ hôi trên trán, ánh mắt không thể rời khỏi chiếc lá nhỏ mang hình mũi kim kiên cường trước gió. “Nó mọc rồi. Thẳng tắp luôn.”
Hai đứa trẻ đứng sát bên nhau dưới bóng râm mát rượi của cây ngọc lan cổ thụ đầu hồi nhà, ngắm nhìn hai mầm non kỳ lạ — một mầm lá chở che và một mầm lá định hướng — đang cùng nhau tắm mình trong những tia nắng sớm tinh khôi của dốc Mây.
An quay sang nhìn Minh, nét mặt cô bé trở nên nghiêm trang khác thường, giọng em hạ thấp xuống thành một lời thề thì thầm nhưng chắc nịch:
“Chúng mình phải tuyệt đối giữ bí mật chuyện này nhé. Chỉ riêng hai đứa mình và bà Lam biết thôi. Từ ngày mai, mỗi buổi chiều sau giờ tan học ở trường Sao Mai, chúng mình sẽ cùng nhau lên đây gánh nước tưới và chăm sóc cho hai cái cây này lớn lên.”
Minh nhìn thẳng vào mắt bạn, khẽ mỉm cười gật đầu. Cảm giác cô độc, trống trải bấy lâu nay bủa vây lấy cậu trên căn gác xép dường như đã tan biến đi tự lúc nào:
“Tớ đồng ý. Tớ sẽ ghi một cuốn nhật ký để theo dõi tiến trình phát triển của chúng... nhưng tớ hứa danh dự là sẽ không dùng thước kẻ để ép nó phải lớn theo ý tớ nữa đâu.”
An bật cười khúc khích trước lời tự giễu chân thành của cậu bạn thân, tiếng cười giòn tan xua đi nốt những muộn phiền còn vương lại của buổi sớm. Gió sớm từ thung lũng lướt qua triền dốc Mây, cuốn theo hương hoa ngọc lan dịu ngọt và sự bình yên hiếm hoi phủ kín khắp khu vườn nhỏ cổ kính.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc hai đứa trẻ quay lưng lại, chuẩn bị bước nhanh ra cổng sắt để kịp giờ trống điểm vào lớp học buổi sáng, một âm thanh lạ lùng bất chợt vang lên từ góc vườn phía sau giàn hoa tím.
Đó là một tiếng sột soạt khô khốc của cành cây gãy, phát ra từ phía bức tường bao phủ đầy dây leo chằng chịt giáp ranh với con hẻm công trường mở rộng phía sau.
Từ trong bóng râm lờ mờ của bức tường rêu, một bóng người lạ vừa dọn đến khu phố đang đứng nép mình, dõi theo từng cử chỉ của hai đứa trẻ bằng một ánh mắt cảnh giác, lạnh lẽo và đầy toan tính.