Điều được giữ trong bản mới
Giọt mưa đầu đông lạnh buốt tí tách nhỏ qua những khe nứt nẻ trên mái hiên của gian xưởng tạm, rơi đập vào mảnh ngói vỡ dưới thềm đá, tạo thành chuỗi âm thanh lách tách khô khốc và rợn ngợp.
Mùi tro tàn ngấm nước mưa bốc lên thứ khí ngai ngái, tanh nồng, quyện chặt với mùi lưu huỳnh khét lẹt còn vương lại từ những mũi hỏa tiễn mà phân đội thu hồi của Chấp Sự Đường đã bắn phá vào đêm trước. Gian chái lợp ngói âm dương của xưởng Phùng Ký sau cơn hỏa hoạn nay chỉ còn lại một nửa mái che nghiêng ngả, những thân rui mè cháy sém gãy gục chĩa lên nền trời đêm đen đặc như những ngón tay khô quắt của bộ xương tàn. Chiếc bàn gỗ dẻ gai mặt sứt sẹo là thứ đồ đạc có kích thước lớn duy nhất còn nguyên vẹn hình hài sau đám cháy. Một góc bàn đã bị than củi táp đen nham nhở, để lại những vệt phồng rộp xám xịt, nhưng nửa mặt bàn còn lại đã được Lục An dùng lưỡi dao trổ bằng thép tôi cạo sạch từng lớp muội than, lau kỹ bằng khăn vải ướt rồi đặt lên đó chiếc nghiên đá xám sâu lòng, thỏi mực lưu ngân mài dở và xấp phôi giấy lưu ký theo chuẩn thức năm Khang Định thứ mười hai.
Trước chiếc bàn ấy, hơn chục đệ tử ngoại môn đang lặng lẽ rồng rắn đứng nép vào khoảng hiên hẹp còn sót lại. Nước mưa từ mép ngói chảy ròng ròng xuống bả vai, thấm ướt những tấm áo đạo bào màu xám xanh vá víu, nhưng không một ai lên tiếng giục giã, cũng không một ai bước chân rời hàng. Họ đứng đó trong sự tĩnh lặng nặng nề, đầu cúi thấp, hơi thở phả ra những làn sương trắng mờ mờ trong đêm giá.
Lão Phùng ngồi trên chiếc ghế đẩu gãy mất một bên thanh giằng ngang, cẳng chân trái bị nẹp chặt bằng bốn thanh nẹp tre cật cùng nhiều lớp vải xô thô ráp nhuốm bột thuốc xám tro, duỗi thẳng ra mép chiếc chiếu cói rách. Mỗi lần ông lão cử động thân mình để vươn tay với lấy chén nước làm ẩm nghiên mực, các khớp xương nơi đầu gối và mắt cá lại phát ra những tiếng lục khục khô khốc, kéo theo một cái nhăn mặt nhẫn nhịn hằn sâu những nếp rãnh trên vầng trán đen sạm. Dẫu vậy, ngón tay trỏ và ngón tay cái sần sùi chai sạn của người thợ già vẫn cẩn trọng miết phẳng từng gờ gấp, từng mép sợi của những tờ giấy đay thô ráp, xếp chúng thành từng xấp ngay ngắn đúng ba tờ một bộ, rồi đặt sang góc bàn bên tay phải của người học trò.
“Người tiếp theo.” Giọng Lục An cất lên đều đặn, âm sắc bình lặng đến mức gần như vô cảm, hoàn toàn không mang chút vội vã hay bồn chồn nào, tựa hồ như cái thời hạn nghiệt ngã của đại lễ Tĩnh Chuông vào đúng giờ Thìn sáng mai chưa từng tồn tại trên cõi đời này.
Một đệ tử trẻ tuổi bước ra khỏi bóng tối ẩm ướt dưới mép hiên. Trông gã trạc độ hai mươi mốt hai mươi hai tuổi, dáng người gầy guộc, hai bả vai nhô cao dưới lớp đạo bào ngoại môn đã sờn rách ở khuỷu tay và được đắp bằng hai miếng vải khác màu bằng những đường chỉ khâu vụng về. Gã ngập ngừng bước tới trước bàn, đôi guốc gỗ ướt sũng gõ cộc cạch xuống nền gạch tàu vỡ nát. Gã ngồi xuống chiếc ghế con đối diện với Lục An, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên mặt đùi, các khớp ngón tay siết chặt đến mức trắng bệch, không còn một giọt máu.
“Tên họ, pháp hiệu nếu có, cảnh giới tu vi hiện thời và hạn ngạch công đức ghi nhận trên thẻ bài?” Lục An cầm ngọn bút lông thỏ cán trúc, ngòi bút lơ lửng ngay phía trên dòng kẻ đầu tiên của tờ giấy bản, ánh mắt không hề rời khỏi các thớ giấy đay vàng nhạt, cất tiếng hỏi bằng thứ ngữ điệu lạnh lùng, chuẩn xác theo đúng quy tắc tác nghiệp của một thợ lưu ký độc lập.
Người thanh niên nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng giật giật, phát ra những thanh âm nghẹn ngào khó nhọc: “Đệ tử... đệ tử tên là Trần Thăng. Chưa từng được ban pháp hiệu. Hiện đang dừng ở Dẫn Khí tầng chín, tròn bốn năm sáu tháng... Thẻ bài công đức trên Chấp Sự Đường hiện còn tích lũy mười hai khối hạ phẩm linh thạch.”
Lục An đặt nhẹ ngọn bút lông xuống chiếc rãnh nhỏ nơi thành nghiên đá xám, ngẩng đầu lên, ánh mắt bình thản nhìn thẳng vào đôi đồng tử đang dao động dữ dội của người đệ tử trẻ tuổi: “Theo Điều lệ Lưu ký Ngoại môn ban hành năm Khang Định thứ mười hai, ngươi có toàn quyền lập bản trích lục tài sản cá nhân, liệt kê các khoản vay mượn pháp lý và xác lập ký sự tâm thức độc lập trước khi đặt chân bước lên đài tháp Tĩnh Chuông. Nhưng đêm nay, tại bàn ghi chép này của phường Phùng Ký, ta bổ sung một điều khoản đặc biệt ở mục thứ tư: Quyền từ chối chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dư vang thức hải cho bất kỳ bên thứ ba nào, kể cả ban quản sự tông môn hay các thương hội bảo trợ tài chính.”
Trần Thăng giật nảy mình, bả vai khẽ run rẩy. Gã hoang mang đưa mắt nhìn quanh những mảng tường loang lổ vết cháy, nhìn những thanh rui gãy rũ xuống bóng tối mịt mùng phía sau lưng Lục An, giọng run run: “Điều khoản đó... có hiệu lực thật sao, Lục sư huynh? Trên Chấp Sự Đường... người của Chu quản sự và các chấp sự thu hồi đều nói rằng, mỗi luồng khí tức dư vang thoát ra sau khi đột phá đều là tài sản chung của tông môn, dùng để tái nạp hộ sơn đại trận và bù đắp vào chi phí bảo dưỡng cỗ máy Tĩnh Chuông... Họ nói nếu không ký chuyển giao toàn bộ dư vang, thẻ bài của đệ tử ngoại môn sẽ bị treo, không được cấp phát đan dược và bổng lộc sau khi phá khiếu...”
“Thanh quy môn phái điều thứ bảy ghi rõ ràng từng câu từng chữ: Thức hải thuộc về quyền sở hữu tự nhiên của bản thể tu sĩ, việc tiến cảnh mất ký ức là do thiên luật cưỡng chế, hoàn toàn không phải là nghĩa vụ cống nạp hay tài sản thế chấp theo hợp đồng.” Lục An co ngón tay trỏ, gõ nhẹ lên một dòng chữ triện đỏ thắm đã được khắc bản in sẵn ở góc dưới của tờ giấy đay. “Chỉ cần ngươi không ký tên vào giấy tự nguyện hiến dâng, bất kỳ cỗ máy thu gom hay trận pháp nào cưỡng đoạt dư vang của ngươi mà không có lệnh chuẩn y bằng văn bản của Hội đồng ba ghế đều là hành vi cướp đoạt trái phép. Bản lưu ký này sẽ được đóng dấu giáp lai độc lập, cất giữ hoàn toàn ngoài hệ thống kho lưu trữ của tông môn. Khi ngươi bước xuống khỏi đài tháp với thức hải trống rỗng, nếu có kẻ nào chìa ra một văn tự nợ khống bảo rằng ngươi đã đem dư vang đi gán nợ, thì tờ giấy này sẽ là vũ khí pháp lý duy nhất giữ cho ngươi không bị tống xuống hầm quặng Hắc Thạch Lĩnh làm phu đào đá.”
Lão Phùng ngồi bên cạnh bỗng hắng giọng một tiếng khàn đục. Ông lão đưa bàn tay gầy gò đẩy đĩa son chu sa về phía trước mặt người đệ tử trẻ: “Nói những điều thật sự cần giữ lại đi. Đừng nói chuyện viển vông. Giấy mực ở cái xưởng tàn này không ghi những lời hứa suông của tông môn, chỉ ghi sự thật có thể đem ra đối chứng trước công đường.”
Trần Thăng thở hắt ra một hơi run rẩy, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới manh áo đạo bào mỏng mảnh. Gã run rẩy thò bàn tay lạnh ngắt vào vạt áo trong, lần giở một lúc lâu rồi lôi ra một tờ giấy bản đã ố vàng vì thời gian và khói bếp. Mép giấy đã mủn nát, rách tơi tả vì mồ hôi tay tiếp xúc quá nhiều lần, được gập lại làm tư một cách vụng về. Gã run rẩy đặt tờ giấy lên mặt bàn gỗ sứt sẹo, cẩn thận dùng đầu ngón tay vuốt phẳng từng nếp gấp.
Đó là một bức thư ngắn ngủi, nét chữ nguệch ngoạc xiêu vẹo như nét cào của trẻ nhỏ trên cát. Nhưng đập vào mắt Lục An không phải là những con chữ méo mó ấy, mà là một hình vẽ vụng về nằm ở góc dưới: hình một bàn tay trẻ con nhỏ xíu xiu, được in bằng thứ mực tàu đen kịt lem nhem, những ngón tay ngắn tũn xòe ra trên nền giấy xơ xác.
“Huynh... huynh làm ơn ghi giúp đệ,” Trần Thăng nghẹn ngào, đốt ngón tay run lên bần bật trên mép gỗ cháy xém. “Đứa bé tên là A Bảo. Mùa đông năm nay nó tròn ba tuổi. Mẹ nó... mẹ nó mất vì băng huyết ngay khi sinh nó ở làng gốm ven sông dưới chân núi... Trước ngày đệ dứt áo lên núi làm đệ tử ngoại môn, nó mới chỉ biết bập bẹ gọi một tiếng cha. Đệ đã hứa với nó... đệ hứa rằng khi nào đệ tích lũy đủ linh thạch, đột phá lên Tụ Mạch cảnh, được tông môn phân phát bổng lộc mười khối hạ phẩm linh thạch mỗi tháng, đệ sẽ đón nó lên xóm thợ Hạ Khê, mua cho nó một chiếc áo bông tử tế để nó không phải co ro qua mùa đông rét mướt...”
Lục An im lặng lắng nghe. Cậu cầm ngọn bút lông thỏ, nhúng nhẹ vào nghiên mực lưu ngân. Ngòi bút bắt đầu lướt trên bề mặt ráp của thớ giấy đay, tạo nên những âm thanh sột soạt dứt khoát và rành rọt. Từng nét chữ mực bạc pha đen hiện lên rõ ràng: họ tên đứa trẻ, năm sinh, vị trí căn nhà tranh vách đất tại làng gốm ven sông, tuyến đường gửi ngân lượng nuôi dưỡng định kỳ thông qua một hiệu thuốc bắc ở trấn Hạ Khê. Và cuối cùng, Lục An ghi lại một chi tiết đặc biệt quan trọng: vết bớt đỏ thắm hình hạt đỗ nằm ngay sau gáy đứa bé—dấu hiệu vật lý duy nhất để một người sau khi đã bị thiên luật xóa sạch ký ức cảm xúc có thể dùng mắt thường để xác nhận huyết thống ruột thịt của mình.
Ghi xong dòng chữ cuối cùng, Lục An xoay ngược tờ giấy lại, đẩy nhẹ về phía trước mặt Trần Thăng: “Đọc lại cho kỹ từng chữ. Sau khi ngươi bước lên đài tháp Tĩnh Chuông và đột phá thành công lên Tụ Mạch cảnh, thiên luật sẽ quét qua thức hải. Ngươi sẽ nhớ tên đứa bé, ngươi sẽ nhớ rằng mình có nghĩa vụ chu cấp linh thạch nuôi nó, nhưng toàn bộ cảm giác ruột thịt, sự xót xa, hơi ấm của tình thương yêu khi nhìn thấy hình vẽ bàn tay nhỏ bé này... tất cả sẽ biến mất hoàn toàn. Ngươi sẽ nhìn đứa con ruột của mình như nhìn một đứa trẻ hoàn toàn xa lạ mang tên A Bảo. Ngươi có hiểu rõ cái giá tàn khốc đó không?”
Trần Thăng cúi gằm mặt xuống. Đôi mắt gã dán chặt vào bức thư cũ kỹ trên bàn. Hai giọt nước mắt nóng hổi từ khóe mi gã rơi bộp xuống mặt bàn gỗ dẻ gai, làm loang lổ một vệt muội than đen xám. Bàn tay thô ráp đầy những vết chai do bửa củi và gánh nước của gã run rẩy chạm vào nét mực lem nhem hình bàn tay con trẻ. Bờ vai gầy dưới lớp áo rách rung lên từng chặp, ngực gã nghẹn lại thành những tiếng nấc cụt không thể thốt nên lời.
Cậu ta biết điều đó. Ở cái khu ngoại môn nghèo nàn này, có ai là không biết? Mới chỉ nửa tháng trước, tất cả bọn họ đều đã tận mắt chứng kiến cảnh Mạnh Du đứng trơ trơ như một pho tượng đá, đôi mắt vô hồn nhìn người mẹ già tóc bạc phơ quỳ lạy khóc lóc dưới chân núi sau ngày gã phá khiếu Phong Phủ. Gã nhớ bà ấy là mẹ trên danh nghĩa giấy tờ, nhưng trong tim gã, sợi dây mẫu tử thiêng liêng đã bị thiên luật cắt đứt lìa như một nhát chém tàn nhẫn.
Một khoảng im lặng kéo dài đến nghẹt thở bao trùm lấy gian xưởng đổ nát. Ngoài kia, gió lùa qua những chấn song gãy, kéo theo tiếng mưa rơi lộp độp trên mái tôn thủng, nghe buốt giá và hoang lạnh như tiếng sỏi ném vào đáy mộ.
Lục An nhìn đệ tử trẻ tuổi đang run rẩy trước mặt mình. Trong một thoáng chốc ngắn ngủi, một ý nghĩ bất giác lóe lên nơi tâm thức cậu: hay là khuyên gã dừng lại? Chỉ cần lùi lại một bước, chỉ cần gã từ bỏ ý định bước lên đài tháp sáng mai, chấp nhận mãi mãi dừng lại ở cảnh giới Dẫn Khí tầng chín, thì người cha này sẽ vĩnh viễn giữ được trọn vẹn tình thương yêu máu mủ với đứa con thơ nơi làng gốm. Tình phụ tử ấm áp ấy, dẫu có phải sống trong cảnh bần hàn, cơ cực và bị đám đệ tử nội môn khinh rẻ, chẳng lẽ lại không đáng giá hơn một bậc cảnh giới tu hành hư ảo sao?
Thế nhưng, Trần Thăng bỗng quệt mạnh tay áo rách qua khóe mắt. Gã ngẩng phắt đầu lên. Đôi mắt gã vẫn đỏ hoe, sưng mọng, nhưng sự run rẩy yếu đuối đã biến mất hoàn toàn, thay vào đó là một sự lì lợm, cay đắng đến tột cùng của một kẻ đã bị dồn vào bước đường cùng của sinh kế phàm trần.
“Đệ... đệ vẫn sẽ bước lên tháp vào sáng mai, Lục sư huynh.” Giọng Trần Thăng khàn đặc, nhưng từng chữ thốt ra lại dứt khoát, rành rọt lạ thường. “Nếu không đột phá lên Tụ Mạch, mùa đông năm nay con đệ sẽ chết đói, chết rét. Làng gốm năm nay vỡ nợ lò nung, người ta không có cơm ăn, chẳng ai chịu nuôi không một đứa trẻ mồ côi. Đệ cần mười khối linh thạch bổng lộc mỗi tháng của một tu sĩ Tụ Mạch cảnh. Dù sau ngày mai đệ không còn cảm thấy xót xa hay thương yêu nó nữa... chỉ cần tờ giấy lưu ký này nhắc cho đệ nhớ rằng đệ có một đứa con phải nuôi, thế là đủ rồi. Mất đi ký ức thì đau đớn thật... nhưng đói rét thì chết người thật, huynh ạ.”
Nói dứt lời, không đợi Lục An phải lên tiếng nhắc nhở, Trần Thăng ấn mạnh ngón tay cái bên phải vào đĩa mực son chu sa đỏ rực. Gã dằn mạnh dấu vân tay của mình xuống góc dưới của tờ khế ước lưu ký, đặt ngay bên cạnh dòng điều khoản bảo lưu quyền từ chối chuyển nhượng dư vang thức hải. Màu đỏ của son chu sa hòa với mồ hôi và bụi bẩn trên ngón tay gã, tạo thành một dấu ấn huyết tươi rói, nổi bật trên nền giấy đay xơ xác.
Lục An chăm chú nhìn dấu vân tay ấy. Lồng ngực cậu khẽ thắt lại trong một cảm giác nặng trĩu vô hình. Cậu không nói thêm một lời nào nữa. Cậu cúi xuống, bốc một nhúm cát khô rải đều lên vệt son để thấm sạch mực thừa, sau đó cầm lấy con dấu triện bằng gỗ thị của xưởng Phùng Ký, ấn dứt khoát lên đường giáp lai giữa hai bản lưu. Cậu cẩn thận xé đôi bản lưu, trao một nửa cho Trần Thăng.
“Cất giữ cẩn thận trong áo lót. Bản còn lại sẽ được chuyển giao an toàn ngay trong đêm nay,” Lục An nói khẽ.
Người đệ tử trẻ tuổi đứng dậy, hai tay đón lấy tờ giấy mỏng manh như đón lấy chính sinh mạng của con mình. Gã cúi đầu thật sâu vái tạ Lục An và lão Phùng, rồi xoay người, dứt khoát bước ra khỏi gian chái, hòa mình vào màn mưa đêm mịt mùng buốt giá.
Lục An ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ. Ngọn bút lông thỏ vẫn nằm lơ lửng trên ngón tay cậu, giọt mực lưu ngân nơi đầu lông nặng trĩu, khẽ rơi xuống mặt đá nghiên xám phát ra một tiếng tách nhỏ nhoi.
Một bài học sâu sắc, lạnh lùng và tàn nhẫn thấm thía vào sâu thẳm tâm can cậu.
Nghề lưu ký chưa bao giờ là nghề đứng trên đài cao để phán xét đạo đức hay ban phát lòng thương hại. Kẻ cầm bút chỉ là một tấm gương soi phẳng lặng, là người cố gắng giữ lại những mảnh vỡ của một sự tồn tại trước khi cơn bão của thiên luật và quy tắc tông môn quét sạch tất cả. Một người thợ lưu ký không có tư cách, và càng không có quyền hạn để áp đặt thước đo thanh cao hay sự lãng mạn tinh thần của mình lên số phận của kẻ khác. Trần Thăng đã chọn vứt bỏ tình cảm thiêng liêng nhất của một người cha để đổi lấy linh thạch, đổi lấy sự sống bằng xương bằng thịt cho đứa con thơ dưới chân núi. Lựa chọn ấy cay đắng, xót xa đến rớm máu, nhưng đó là quyền tự quyết tối hậu của một con người đang vật lộn trong bùn lầy của thực tại.
Bổn phận duy nhất của Lục An, chiếc khiên chắn duy nhất mà ngòi bút của cậu có thể tạo ra, chính là bảo đảm rằng cái giá cắt da xẻ thịt mà Trần Thăng chấp nhận trả sẽ không bị những kẻ quyền thế biến thành một món nợ nô dịch đời đời kiếp kiếp.
Lão Phùng bên cạnh thở dài một tiếng nặng nề, bàn tay run rẩy cầm que đóm khều nhẹ bấc của ngọn đèn dầu hỏa. Ánh lửa bùng lên một tia sáng vàng vọt, xua bớt đi phần nào cái lạnh ẩm mốc đang len lỏi qua từng thớ ván nứt.
“Mày đã hiểu ra rồi chứ?” Lão Phùng cất giọng trầm đục, đôi mắt mờ đục vì khói bụi không nhìn Lục An mà nhìn đăm đắm ra khoảng sân đen đặc nước mưa. “Mỗi một đứa bước chân qua cái cổng tháp Tĩnh Chuông kia, trong lòng chúng nó đều mang theo một cái cớ sống chết để tự xẻo đi một miếng thịt trên linh hồn mình. Mày không phải thần phật, mày không cứu được tâm thức của chúng nó khỏi bàn tay của thiên luật. Việc duy nhất cái xưởng rách này có thể làm, là giữ cho cái phần máu thịt chúng nó bỏ lại không bị loài lang sói nhai nuốt sạch mà thôi.”
“Con hiểu rồi, thưa thầy,” Lục An khẽ đáp, ngón tay cậu siết nhẹ thân bút trúc.
Đêm càng về khuya, không khí càng thêm đặc quánh và giá buốt. Lục An tiếp tục đón nhận thêm bốn đệ tử ngoại môn nữa bước vào gian chái. Có kẻ đến để gửi lại mảnh đất hương hỏa ở quê nhà, có kẻ đến để ghi nhận một món nợ linh thạch đã trả xong từ ba năm trước để tránh bị tính lãi khống sau khi mất trí nhớ, và có kẻ chỉ đơn giản muốn ghi lại tên của một người đồng môn từng cùng mình chia nhau nửa củ khoai nướng trong những ngày đầu nhập môn. Mỗi một số phận, mỗi một dấu vân tay son chu sa in xuống mặt giấy đay đều mang theo sức nặng ngàn cân của những kiếp người nhỏ bé.
Khi người đệ tử cuối cùng bước ra khỏi cửa liếp, tiếng chuông đồng từ đỉnh núi cao xa xăm bỗng vang lên, trầm uất và nặng nề gióng đứt từng hồi. Đó là tiếng chuông điểm canh ba. Thời khắc đen tối nhất của đêm trường đã tới, và khoảng thời gian còn lại trước khi cánh cửa tháp Tĩnh Chuông mở ra vào giờ Thìn chỉ còn tính bằng từng khắc ngắn ngủi.
Đợi bóng dáng người khách cuối cùng hoàn toàn tan biến vào màn mưa, Lục An đứng dậy, cài then cánh cửa liếp ọp ẹp để ngăn những luồng gió bấc rít gào lùa vào gian phòng. Cậu quay trở lại chiếc bàn gỗ, ngồi một mình bên ngọn đèn dầu lay lắt. Gió lạnh luồn qua những khe hở của bức vách nứa cháy dở khiến ngọn lửa chao đảo ngả nghiêng, hắt cái bóng của Lục An lên mảng tường loang lổ muội than thành một vệt đen dài ngoẵng, đơn độc và tĩnh lặng.
Lục An hít một hơi thật sâu, cảm nhận vị lạnh buốt của không khí ngấm vào lồng ngực. Cậu cúi người, kéo ngăn kéo bằng gỗ khô ráo duy nhất nằm sâu dưới đáy bàn, lấy ra một tập giấy đay hoàn toàn mới tinh, sợi giấy dày dặn và mịn màng hơn hẳn loại phôi lưu ký thông thường. Cậu lấy thỏi mực lưu ngân, nhỏ vài giọt nước mưa tinh khiết vào lòng nghiên đá xám, rồi bắt đầu mài mực. Những hạt khoáng thạch màu bạc lấp lánh ánh kim li ti hòa tan vào sắc đen tuyền của muội thông, tạo nên một thứ mực sánh mịn, phản chiếu ánh lửa đèn dầu lay lắt, soi rõ đôi đồng tử sâu thẳm và kiên định của chính cậu.
Đã đến lúc cậu phải lập bản hồ sơ lưu ký cho chính bản thân mình.
Lục An hạ ngọn bút lông thỏ xuống mặt giấy. Từng nét chữ chân phương, rắn rỏi hiện lên trên nền giấy đay thô ráp:
*«Đương sự: Lục An. Căn cốt: Tạp mạch tổn thương. Tu vi hiện thời: Dẫn Khí sơ kỳ. Chức nghiệp: Thợ lưu ký xưởng Phùng Ký, đệ tử ngoại môn Thanh Khê Tông.»*
Ngòi bút của cậu không hề run rẩy, cũng không hề do dự. Cậu không viết xuống dù chỉ nửa chữ về cảnh giới Trúc Đài viên mãn mà cuốn sổ tay bọc da hoẵng từng nhắc tới. Cậu hoàn toàn không nhắc đến những ảo ảnh quyền năng, những trận đồ phức tạp hay thân phận lẫy lừng của kẻ từng mang danh "Người đối chiếu số 3" trong chu kỳ biến loạn bốn năm về trước. Đối với Lục An của đêm nay, kẻ mang danh hiệu ấy đã chết từ lâu, đã vùi thây cùng đống gạch đá đổ nát trong vụ nổ kinh thiên động địa dưới chân tháp Tĩnh Chuông năm nào.
Thay vào đó, Lục An tỉ mỉ, nắn nót ghi lại từng mối liên hệ có thật, từng ràng buộc máu thịt đang trực tiếp định hình nên bản ngã và sự tồn tại của cậu ở hiện tại:
*«Ân nghĩa: Sư phụ Phùng Nghiêu. Bốn năm trước cưu mang một kẻ mất sạch ký ức bên vệ đường đầy tuyết lạnh, truyền thụ toàn bộ bí thuật nghề đóng sách, phép phân loại văn thư và đạo lý giữ gìn ngòi bút ngay thẳng trước cường quyền. Thương tật gãy nát xương chân trái vĩnh viễn trong trận hỏa hoạn đêm qua là món nợ sinh mạng mà Lục An này chưa từng đền đáp.»*
*«Liên minh pháp lý: Tạ Thanh Nghi, kiểm chứng sư Giám Ký Viện. Đồng hành trên nguyên tắc tuyệt đối tôn trọng chứng cứ khách quan, không dùng suy đoán chủ quan để thay thế sự thật, chia sẻ chìa khóa tráp niêm phong kép nhằm vạch trần mạng lưới thao túng chu kỳ tài chính của Tàng Ký Các.»*
*«Đồng minh thực địa: Mạnh Du, đệ tử ngoại môn. Đã giải trừ khế ước nợ khống Canh-Chín; tự nguyện ở lại trinh sát tuyến vận chuyển linh thạch và bảo vệ các lối thoát hiểm.»*
Và ở phần cuối cùng của bản lưu ký, nơi dành riêng cho việc xác lập ý chí tự do tối cao của đương sự, Lục An đè mạnh ngọn bút, khắc sâu từng con chữ vào sâu tận thớ giấy đay:
*«Nguyên tắc bản ngã: Ta là thợ lưu ký của xưởng sách Phùng Nghiêu, sống bằng sự thật của ngày hôm nay, chịu trách nhiệm trọn vẹn trước những con người đang sống và thở bên cạnh ta. Ta dứt khoát từ chối phục tùng, tái lập hay biến mình thành cái bóng phụ thuộc của bất kỳ tiền kiếp xa lạ nào ghi trong cuốn sổ cũ. Mọi phán đoán và hành động trong đại lễ sắp tới hoàn toàn do ý chí độc lập của Lục An hiện tại quyết định.»*
Viết xong nét chữ cuối cùng, Lục An đặt ngọn bút sang một bên. Cậu đưa ngón tay cái bên phải—ngón tay có một vết sẹo mờ cắt chéo nghiêng đúng ba mươi độ từ một lần gọt gáy sách năm xưa—nhấn mạnh vào đĩa son chu sa. Cậu dằn mạnh đầu ngón tay xuống góc dưới bản văn tự. Dấu vân tay đỏ thắm hiện lên, từng đường vân xoáy tròn rõ ràng, vững chãi như một lời tuyên thệ sắt đá.
Cậu cẩn thận rải một lớp bột thạch cao mịn lên bề mặt để chống ẩm mốc, khẽ thổi bay lớp bột thừa, rồi gập đôi tờ giấy lại, lồng vào bên trong một chiếc bao bằng lụa đen chống thấm, giấu kỹ vào lớp áo lót sát lồng ngực, nơi từng nhịp tim đập đều đặn, ấm nóng.
Một tiếng cọt kẹt khô khốc, nặng nề bỗng vang lên từ góc tối của gian chái.
Lục An giật mình quay đầu lại. Lão Phùng đang chống một chiếc gậy gỗ nghiến, một tay bám chặt vào mép chiếc phản cũ, khập khiễng lê từng bước chân khó nhọc. Chiếc cẳng chân trái bị bó nẹp thẳng đơ quét qua nền đất vương đầy tro trấu, mỗi bước di chuyển đều khiến cơ mặt của người thợ già giật thắt lại vì những cơn đau nhức thấu xương tủy. Lão tiến lại gần gầm phản, cắn răng cúi người xuống, kéo ra một chiếc rương gỗ lim đã phủ một lớp bụi tro dày cộp. Chiếc rương không hề khóa, nhưng bốn góc đều được bọc những miếng đồng dày đã lên nước gỉ xanh xám.
“Lại đây giúp tao một tay,” lão Phùng cộc cằn lên tiếng, rồi ngồi phịch xuống mép phản, lồng ngực gầy guộc phập phồng, hơi thở đứt quãng vì kiệt sức.
Lục An vội vã bước tới, toan đưa tay đỡ lấy cánh tay run rẩy của ông lão, nhưng lão Phùng đã gạt phắt đi. Đôi bàn tay gầy gò đầy những vết sẹo cứa của người thợ già run rẩy mở nắp rương, cẩn thận nhấc ra một vật thể được bọc kỹ trong nhiều lớp vải dầu màu nâu sẫm sực mùi dầu trẩu. Lão lần giở từng lớp vải, để lộ ra một bộ khung đóng sách bằng gỗ lim đen nhánh, bóng loáng như sừng. Từng khớp nối mộng mẹo được gia công tinh xảo, khít khao đến mức dường như không thể lọt nổi một sợi tóc; các thanh ép và trục xoay bằng thép tôi đen nhánh ánh lên những vệt dầu máy bảo dưỡng mịn màng.
“Đây là bộ khuôn đóng sách bằng gỗ lim gia truyền của dòng họ Phùng tao,” lão Phùng đưa những ngón tay thô ráp vuốt ve mép gỗ đã nhẵn thín sau hàng vạn lần siết ốc ép giấy. “Từ thời ông nội tao truyền lại cho cha tao, rồi truyền đến tay tao. Trải qua ba lần dời đổi phường xưởng, hai lần chạy loạn đao binh, tao mất hết nhà cửa ruộng vườn nhưng chưa bao giờ để mất cái khung này. Khung gỗ này có thể ép phẳng từ loại giấy đay thô ráp nhất cho đến thứ lụa tơ tằm thượng phẩm của hoàng gia, chưa từng làm xô lệch một đường kim mũi chỉ nào.”
Lão Phùng hai tay nâng bộ khuôn nặng trịch, dằn mạnh vào lòng bàn tay của Lục An. Khi lớp gỗ lim mát lạnh chạm vào da thịt cậu, bàn tay khẳng khiu của lão Phùng bỗng siết chặt lấy cổ tay người học trò. Lực bóp mạnh đến mức khiến các khớp xương của Lục An phát ra tiếng kêu khẽ, và trong đôi mắt đục ngầu vì khói lửa của ông lão, một ngọn lửa u uất, nghẹn ngào bùng lên dữ dội.
“Cái chân này của tao... xem như vứt đi rồi,” giọng lão Phùng nghẹn lại nơi cuống họng, trầm đục và đầy vẻ bất lực cay đắng. “Thằng Diệp Trầm bên y đường đã bí mật sang xem mạch cho tao lúc chập tối. Xương ống chân dập nát thành ba đoạn, toàn bộ đường kinh lạc dưới đầu gối đã bị thanh xà nhà gỗ sến cháy đè chết ngấu, các mối nối thần kinh đã hoại tử, đan dược loại ba của ngoại môn hoàn toàn vô phương cứu chữa. Tao phế rồi. Cửa tháp Tĩnh Chuông, hệ thống hầm ngầm, đường xả áp trận pháp... tao không thể theo mày bước vào đó được nữa.”
Lục An nhìn thẳng vào đôi mắt già nua của người thầy. Lần đầu tiên sau bốn năm gắn bó, cậu nhìn thấy sự yếu đuối trần trụi, sự cay đắng tột cùng của một phàm nhân bị tước đoạt phương tiện mưu sinh duy nhất trước sức tàn phá nghiệt ngã của số phận. Trận hỏa hoạn đêm qua không chỉ thiêu rụi xưởng sách tích cóp nửa đời người của lão Phùng, mà nó còn bẻ gãy chút sức lực tàn tạ cuối cùng của người đã chìa tay cưu mang cậu trong những ngày đen tối nhất.
“Thầy cứ yên tâm ở lại xưởng,” Lục An trầm giọng, ánh mắt kiên định. “Mọi việc còn lại dưới chân tháp, con sẽ tự mình giải quyết trọn vẹn.”
“Mày cầm lấy bộ khuôn này,” lão Phùng hạ giọng xuống thật thấp, ngón tay cái của lão bất ngờ ấn mạnh vào một điểm gờ nằm ở cạnh dưới của thanh ép đáy. Lục An lập tức cảm nhận được một chuyển động cơ học cực kỳ êm ái: một khe hẹp bí mật được giấu kín bằng mộng trượt kép khẽ hé mở trong thớ gỗ lim dày. “Bên trong cái khe trượt này... có một tấm thẻ lưu ngân gây nhiễu trận pháp cực mạnh mà bốn năm trước tao đã lén nhặt được khi cõng mày ngất xỉu bên bờ mương cửa hầm. Nó chứa đầy xung lực lưu ngân thô chưa qua phân rã. Nhưng mày phải nhớ cho thật kỹ: chất liệu kim loại của thẻ đã bị thoái hóa theo năm tháng, nó chỉ chịu được đúng một lần kích hoạt quá tải duy nhất! Nếu cắm sai vị trí, hoặc kích hoạt sai thời điểm dù chỉ nửa khắc, toàn bộ thẻ sẽ nổ tung thành một nắm tro tàn, và mày sẽ vĩnh viễn không còn cơ hội thứ hai để đảo ngược thế trận đâu.”
Lục An siết chặt ngón tay, cảm nhận sức nặng và góc cạnh sắc lẹm của bộ khung gỗ lim trong tay. Cậu gật đầu thật chậm rãi: “Con đã ghi nhớ từng lời của thầy.”
Đúng lúc ấy, những tiếng bước chân nhẹ nhàng nhưng dứt khoát vang lên từ phía thềm đá ngập nước mưa bên ngoài. Cánh cửa liếp khẽ lay động, rồi được đẩy sang một bên. Một bóng người thon thả trùm kín trong chiếc áo choàng cách linh màu xám tro bước nhanh vào bên trong gian chái.
Đó là Tạ Thanh Nghi.
Nàng cởi chiếc mũ trùm đầu phủ đầy những giọt nước mưa đọng thành hạt tròn. Gương mặt thanh tú của nàng tái nhợt vì nhiều đêm liền không chợp mắt, vạt áo bào kiểm chứng sư màu lam nhạt lấm lem những vệt bùn đất đỏ quạch của vùng rừng đệm, nhưng đôi mắt phượng của nàng vẫn sắc bén, lạnh lùng và tỉnh táo đến kinh ngạc. Nàng mang theo một chiếc túi da chống thấm cỡ lớn, bên trong chứa hàng chục ống đồng tròn đã được niêm phong kín miệng bằng sáp đỏ.
“Bên Giám Ký Viện đã hoàn tất toàn bộ thủ tục phân loại sơ bộ,” Tạ Thanh Nghi cất giọng lành lạnh, ánh mắt quét nhanh qua xấp hồ sơ lưu ký độc lập vừa được Lục An đóng dấu, xếp thành từng chồng ngay ngắn trên mặt bàn dẻ gai. “Đúng ba mươi mốt bản sao lưu ký của các đệ tử ngoại môn đăng ký chiều và đêm nay. Tôi đã đích thân ký tên và đóng dấu kiểm định giáp lai của Giám Ký Viện lên từng bản một.”
Nàng bước nhanh tới mép bàn, trải ra một tấm bản đồ trắc địa vẽ tay chi tiết về các tuyến đường mòn và mạng lưới sông ngòi nối liền khu vực ngoại môn với các xóm thợ nghèo thuộc hạ lưu sông Ngọa Hổ: “Đào Khuê đã sắp xếp xong sáu tay chèo thuyền nan đáng tin cậy nhất của hội thợ mộc, hiện đang neo thuyền bí mật tại bến cạn lau sậy ven sông. Chúng ta tuyệt đối không thể giữ toàn bộ số hồ sơ gốc này tại gian xưởng tạm. Chu Kính có thể xua đội chấp sự thu hồi ập tới san phẳng nơi này bất cứ lúc nào trước giờ Thìn. Trong vòng một canh giờ tới, toàn bộ số ống đồng này phải được vận chuyển bí mật bằng đường thủy xuống tận tay thân nhân của họ ở các xóm thợ Hạ Khê.”
“Ninh Thục đã bố trí người tiếp nhận an toàn ở đầu cầu chưa?” Lục An hỏi, đôi tay thoăn thoắt xếp các tập giấy đã khô mực vào từng ống đồng nhỏ chống ẩm.
“Bà ấy đang đích thân túc trực tại điếm canh đầu cầu dây văng cùng mười mấy tay thợ già,” Tạ Thanh Nghi đáp, đầu ngón tay thon thả chỉ vào một nút giao hiểm trở trên bản đồ. “Mỗi một thân nhân khi nhận ống đồng lưu ký sẽ phải điểm chỉ vào một cuốn sổ giao nhận độc lập có ba bên làm chứng. Bằng cách phân tán này, cho dù Chu Kính có cho phóng hỏa thiêu rụi toàn bộ Tàng Ký Các hay đập nát xưởng Phùng Ký đêm nay, thì ba mươi mốt gia đình dưới chân núi vẫn nắm giữ văn bản pháp lý gốc trong tay. Khi Hội đồng ba ghế nhóm họp vào giờ Thìn sáng mai, đó sẽ là ba mươi mốt nhân chứng sống và bằng chứng vật chất không một ai có thể chối cãi hay tiêu hủy được.”
Lục An và Tạ Thanh Nghi phối hợp với nhau một cách thuần thục và nhịp nhàng đến kỳ lạ. Cậu tra từng cuộn giấy đay vào ống đồng, nghiêng ngọn nến rót một lớp sáp nóng bịt kín khe hở nắp đậy, rồi Tạ Thanh Nghi dùng ngọc ấn kiểm chứng khắc chìm chữ triện ấn mạnh lên lớp sáp đỏ còn mềm dẻo. Toàn bộ quá trình diễn ra trong sự im lặng tuyệt đối, không có một động tác thừa thãi, không có một lời an ủi đãi bôi hay than vãn sáo rỗng. Đó là sự thấu hiểu và tin cậy lẫn nhau được trui rèn qua những thời khắc cận kề cái chết, một liên minh pháp lý và hành động được xây dựng vững chắc dựa trên sự tôn trọng tuyệt đối đối với sự thật và các chứng cứ khách quan.
Vừa lúc chiếc ống đồng cuối cùng được đóng dấu niêm phong và cẩn thận xếp vào chiếc túi da của Tạ Thanh Nghi, thì từ phía vách nứa cháy dở ngoài hiên bỗng vang lên ba tiếng gõ rụt rè, ngắt quãng.
Cộc. Cộc. Cộc.
Âm thanh nhỏ nhoi vang lên giữa tiếng mưa đêm khiến không khí trong phòng lập tức căng như dây đàn. Lục An theo phản xạ tự nhiên đặt ngay bàn tay phải lên chuôi dao trổ giấu dưới mép gờ bàn, mắt nhìn đăm đăm ra phía cửa. Tạ Thanh Nghi lùi nhẹ nửa bước về phía bóng tối góc phản, tà áo hơi lay động, linh lực trong kinh mạch khẽ vận chuyển, sẵn sàng phát động pháp thuật phòng ngự.
Cánh cửa liếp khẽ dịch chuyển, hé mở một khe hở vừa đủ cho một bóng người nhỏ thó luồn vào. Đó là một tiểu đồng trừng mười ba, mười bốn tuổi, mặc bộ đạo phục màu xám tro của Tàng Ký Các, trên ngực áo thêu một hình quả chuông nhỏ viền chỉ bạc. Thân hình đứa trẻ ướt sũng nước mưa, run rẩy bần bật vì giá rét và sợ hãi. Đôi mắt tròn xoe đảo quanh gian xưởng đổ nát đầy vẻ lấm lét, như thể lo sợ có những bóng đen của đội chấp sự đang rình rập bám đuôi ngay sau lưng mình.
“Lục... Lục sư huynh có ở đây không?” Đứa trẻ thì thào qua kẽ răng lập cập, giọng nói run rẩy như sắp khóc.
“Ta là Lục An. Có việc gì?” Lục An bước lên nửa bước, thân hình cao gầy của cậu chắn ngang tầm nhìn vào đống ống đồng trên mặt bàn.
Tiểu đồng thở phào một cái như trút được gánh nặng. Nó vội vã thọc bàn tay lạnh ngắt vào sâu trong vạt áo ngực, lôi ra một phong thư dày dặn bằng chất liệu giấy hoa tiên cao cấp màu trắng ngà. Miệng phong thư được dán kín bằng một dải sáp niêm phong màu đỏ thắm in nổi con dấu cá nhân của Quản sự Tàng Ký Các—hình một con hạc trắng ngậm thẻ ngọc lướt trên sóng mây.
“Chu quản sự... người sai đệ lén mang bức thư này đến trao tận tay cho huynh,” đứa trẻ nuốt nước bọt, hai tay dâng cao phong thư về phía Lục An. “Người dặn riêng... dặn riêng đúng một câu: 'Hãy biết tự nghĩ cho tương lai và tiền đồ của chính mình trước khi trời sáng'.”
Nói dứt câu, tựa hồ như sợ hãi gian xưởng tàn này có thể sụp đổ đè bẹp lấy mình, hoặc sợ bị người của Chấp Sự Đường tóm cổ, đứa trẻ quay ngoắt người, co cẳng chạy thục mạng ra ngoài màn mưa đêm. Tiếng bước chân bẹp bẹp trên bùn lầy xa dần rồi biến mất hoàn toàn sau những rặng tre xơ xác ven sườn đồi.
Lục An cầm phong thư trên tay. Giấy hoa tiên trơn mịn, mát lạnh, tỏa ra một mùi hương trầm thanh nhã, quý phái của loại hương liệu hoàng gia thượng phẩm. Thứ mùi hương vương giả ấy hoàn toàn đối lập và lạc lõng giữa không gian ẩm mốc, khét lẹt mùi tro tàn và lưu huỳnh của gian chái nát. Vệt sáp đỏ tươi trên phong bì tựa như một giọt máu còn chưa kịp đông đặc.
Tạ Thanh Nghi bước lại gần, mày liễu khẽ nhíu lại, ánh mắt tràn đầy sự cảnh giác: “Chu Kính lại muốn giở trò mua chuộc vào chính thời điểm này sao?”
Lục An không đáp. Cậu dùng đầu mũi dao trổ bằng thép khéo léo lách qua lớp sáp đỏ, nhẹ nhàng nạy tung niêm phong mà không làm rách một thớ giấy nào. Cậu rút tờ giấy hoa tiên gấp ba bên trong ra, mở phẳng trên mặt bàn dẻ gai.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, những hàng chữ viết bằng mực ngự dụng của Ty Văn Thư hiện lên rõ ràng từng nét. Nét chữ mềm mại, khoan thai, tròn trịa nhưng ẩn giấu sự sắc sảo, tự tin của một kẻ đang đứng ở vị thế tối cao, nắm trọn quyền sinh sát trong tay:
*«Lục An hiền đệ.*
*Nghe tin đệ vẫn miệt mài ngồi bên chiếc bàn gỗ giữa đống tro tàn của xưởng Phùng Ký, lòng ta không khỏi dâng lên niềm bùi ngùi, xót xa. Món nợ bốn vạn linh thạch tích lũy qua các chu kỳ là tảng đá ngàn cân đè nặng lên vận mệnh tồn vong của Thanh Khê Tông, tuyệt đối không phải là thứ mà vài ba tờ giấy lưu ký vụn vặt của đám phàm phu tục tử có thể lay chuyển được. Nhưng tài năng kiệt xuất và ngòi bút của đệ, tông môn tuyệt đối không nỡ bỏ phí.*
*Trước giờ Mão đêm nay, hãy một mình bước lên gác Vọng Phong trên đỉnh tháp Tĩnh Chuông gặp ta. Ta đã chuẩn bị sẵn một viên Bồi Nguyên Quy Khiếu Đan thượng phẩm, cùng một biểu mẫu tiến cảnh đặc cách được chính Chưởng môn ký phê duyệt bằng chu sa. Ta cam đoan sẽ mở riêng cho đệ một lộ trình tiến cảnh lên Tụ Mạch cảnh an toàn tuyệt đối, thức hải được bảo hộ chu toàn bằng bí trận cổ truyền của tông môn, đồng thời trao trả toàn bộ các văn bản ghi chép về thân phận thực sự cùng mọi công trạng hiển hách của đệ trong chu kỳ cũ, xem như bù đắp trọn vẹn cho bốn năm chịu nhiều oan ức, thiệt thòi.*
*Con đường tu đạo vốn dĩ cô độc, lạnh lùng và tàn nhẫn vô cùng. Đừng vì những kẻ phàm phu sắp sửa quên sạch sự đời mà tự tay chôn vùi tiền đồ xán lạn của chính bản thân mình.»*
Bức thư kết thúc bằng nét ký chân phương nhưng đầy uy lực của Chu Kính.
Lão Phùng từ trên mép phản ngước nhìn lên. Đôi mắt già nua, kèm nhèm của ông lão nhìn chằm chằm vào tờ giấy hoa tiên lộng lẫy, rồi chuyển sang nhìn gương mặt không chút gợn sóng của Lục An. Một tia nhìn lo âu, thắt nghẹn hiện rõ trong đáy mắt lão thợ già: “Nó... nó lại muốn mua chuộc mày... thêm một lần nữa.”
Lục An đứng im lìm như hóa đá. Bàn tay cậu cầm tờ giấy hoa tiên, cảm nhận rất rõ sức nặng ngàn cân vô hình toát ra từ từng câu từng chữ.
Đó không phải là một lời hù dọa sáo rỗng. Chu Kính là một kẻ vô cùng lão luyện trong việc nắm bắt tâm lý con người. Hắn biết rõ điểm yếu chí mạng của bất kỳ kẻ tu sĩ nào đang ngụp lặn ở tầng đáy: khát vọng vượt qua ranh giới phàm trần để bước vào hàng ngũ thượng thừa, nỗi kinh hoàng tột độ khi bị kẹt lại vĩnh viễn ở cảnh giới Dẫn Khí cặn bã, và trên hết, là sự cám dỗ không thể chối từ của việc tìm lại ký ức, tìm lại vinh quang và vị thế tối cao đã bị tước đoạt trong quá khứ. Một viên đan dược thượng phẩm giúp phá khiếu không chút rủi ro, một lộ trình bảo toàn thức hải vẹn nguyên, và toàn bộ sự thật về tám năm thanh xuân bị đánh cắp—tất cả những thứ đó là giấc mộng cả đời của hàng vạn đệ tử ngoại môn, là thứ mà bất kỳ ai cũng sẵn sàng quỳ gối, dập đầu đánh đổi cả linh hồn để có được.
Một cơn gió bấc thổi giật qua mái hiên vỡ, mang theo những giọt nước mưa lạnh buốt hắt vào ngọn đèn dầu. Ngọn lửa bùng lên một tia sáng chói lòa, in hằn gương mặt bình thản đến mức lạnh lùng của Lục An lên nền vách nứa cháy đen.
Không một giây do dự, không một lời trần tình, Lục An đưa mép dưới của tờ giấy hoa tiên thơm ngát mùi trầm hương áp sát vào ngọn lửa đèn dầu.
Xoẹt.
Tia lửa vàng lập tức bén vào góc giấy mỏng. Một đốm sáng đỏ rực bùng lên, nhanh chóng liếm trọn lấy những hàng chữ viết hoa mỹ, sang trọng của Quản sự Tàng Ký Các. Mùi trầm hương thượng phẩm khi gặp lửa bốc lên một mùi khét lẹt, ngột ngạt. Lục An bình thản giữ mép giấy cháy cho đến khi ngọn lửa liếm gần sát vào đầu ngón tay mình mới buông tay ra.
Tàn tro đen nhánh, xơ xác từ từ rơi lả tả xuống mặt chiếc bàn gỗ dẻ gai sứt sẹo, vỡ vụn ra và hòa lẫn vào lớp muội than đen xỉn của đám cháy đêm qua, không còn để lại một dấu vết nào của sự cám dỗ.
Lục An phủi nhẹ lớp tro tàn trên đầu ngón tay. Cậu quay sang nhìn Tạ Thanh Nghi, ánh mắt sắc lạnh như lưỡi dao trổ vừa mài: “Nói với Mạnh Du,” giọng cậu hạ thấp xuống, nhưng từng âm tiết thốt ra lại đanh thép, chắc nịch như đinh đóng vào cột lim, “giờ Dần bắt đầu theo dõi sát sao khoang cấp năng lượng của tháp. Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa.”