Hoa Ban Không TànCh.36 / 38
Chapter 36

Tấm vé xuống núi

Lương nói học thêm một năm không đổi được số ngô đang cần thu, còn tôi nhìn cuốn lịch thi đã khoanh đỏ mà hiểu rằng nếu lùi lần này, tôi có thể không còn lần nào khác.

Mùa gặt ngô trên triền đồi Pha Luông năm ấy đến sớm hơn lệ thường chừng nửa tháng. Những cơn gió nóng rát từ phía thung lũng sâu thốc ngược lên vách núi cao, cuốn theo lớp bụi đất đỏ khô khốc và hơi ẩm nồng nặc, ngột ngạt của một đợt áp thấp nhiệt đới đang từ Biển Đông lừng lững ép sâu vào đất liền. Ngay từ giữa tháng Năm, nền trời phía tây đã không còn giữ được sắc xanh trong trẻo thường nhật; từng tảng mây xám chì nặng trịch cứ sà thấp dần, đặc quánh lại như một tấm chăn ẩm mốc chực trùm sụp xuống những sống đồi cằn cỗi trơ trọi đá tai mèo. Mùi rơm rạ mục rữa ở bờ mương lẫn vào mùi lá ngô khô héo tạo nên một thứ không khí oi nồng, bức bối đến nghẹt thở. Cả bản Nà Ban như nín thở chờ đợi một trận bão muộn, và người lớn trong bản chỉ nhìn sắc trời là đã cuống cuồng giục giã nhau vác gùi lên nương.

Tôi phải ở lại nhà bác suốt mười hai ngày ròng rã vào đợt thu hoạch cao điểm ấy. Bốn giờ rưỡi sáng, khi màn sương muối lạnh buốt vẫn còn giăng dày đặc khắp thung lũng, phủ một màu trắng nhờ nhờ lên những mái ngói xi măng xám xịt và làm tê buốt từng đốt ngón tay, tiếng then cửa gian buồng chính lách cách mở đã rền rĩ dội vào vách nứa. Âm thanh khô khốc ấy như một chiếc đồng hồ báo thức tàn nhẫn giật phắt tôi ra khỏi chiếc chõng tre ọp ẹp. Toàn thân tôi ê ẩm, từng khớp xương lưng như rạn nứt sau những chuyến gùi nặng của ngày hôm trước. Tôi lồm cồm bò dậy, vội vã quờ chân tìm đôi dép nhựa Tiền Phong đã mòn vẹt đế, bước nhanh ra vại nước mưa đặt dưới gốc cây mận sau hè. Vục chiếc gáo dừa múc ngụm nước lạnh buốt tạt thẳng vào mặt, cái lạnh thấu xương lập tức dập tắt cơn ngái ngủ đang cắn rứt nơi mi mắt cay xè. Tôi chỉ kịp lấy vạt áo lau vội mặt mũi rồi với lấy chiếc gùi nứa đã sờn quai móc sẵn trên cột hiên, khoác vội lên vai.

Nương ngô nhà bác Lương nằm cheo leo trên sườn đá dốc đứng của dãy Pha Luông, nơi chỉ có những lối mòn ngoằn ngoèo rộng chừng nửa thân người men theo triền vực. Đất đỏ ngấm sương sớm trở nên trơn như bôi mỡ, trơn trượt đến mức chỉ cần một thoáng sẩy chân là cả người lẫn gùi có thể lăn lông lốc xuống hẻm đá lởm chởm phía dưới. Hai bên bờ bụi, những rặng cỏ gianh mọc lút đầu người, sắc lẻm như những lưỡi cưa nhỏ, quăng quật theo từng bước chân và cứa ngang bắp chân trần những vệt dài rát buốt, rỉ máu hòa lẫn vào bụi đất.

Bác Lương đi phăng phăng phía trước, vai vác chiếc rựa vạc bờ sáng loáng, từng bước chân nặng nề, dứt khoát nện xuống nền đất chắc nịch như muốn nghiền nát mọi thứ cản đường. Suốt cả ngày hôm đó, dưới cái nắng hầm hập như thiêu như đốt hắt ra từ vách đá vôi, lưng tôi không một giây phút nào được duỗi thẳng. Tôi phải cúi rạp người, luồn lách giữa những hàng thân ngô khô khốc cao quá đầu, bắp nào bắp nấy to bằng bắp tay, râu ngô đã cháy đen quăn queo. Đôi bàn tay tôi thoăn thoắt tước từng lớp bẹ ráp ráp, bẻ gập cuống ngô nghe răng rắc rồi quẳng ngược ra sau lưng vào miệng gùi. Bụi phấn ngô khô rát rượi bay mù mịt, bám chặt vào cổ, vào ngực áo đẫm mồ hôi nhớp nháp, cào cấu da thịt thành từng mảng ngứa ngáy dữ dội.

Mỗi chuyến gùi, ngô cộm chặt lên tận gáy, nặng chừng ba bốn chục cân, đè trĩu đôi vai gầy guộc. Tôi phải bấm chặt từng ngón chân trần xuống nền đất dốc, vừa giữ thăng bằng vừa dò từng mỏm đá để bước, gùi từng chuyến vượt qua quãng đường dốc đứng dài gần hai cây số xuống tận chân đồi để trút vào kho thóc dựng tạm bên mép suối. Cứ thế, vòng quay nghiệt ngã lặp đi lặp lại từ sáng sớm tinh mơ cho đến khi ráng chiều đỏ quạch như máu tắt lịm sau đỉnh núi mờ sương.

Đến chập tối, khi đôi chân tôi đã run rẩy như sắp khuỵu xuống và hai bờ vai rát bỏng, da thịt hằn sâu hai vệt tím bầm của sợi quai nứa đan vội, tôi mới lết được về đến khoảng sân đất trước cửa nhà. Thế nhưng, việc làm trong ngày vẫn chưa dừng lại ở đó. Bác Lương ngồi bệt ở bậc thềm hiên, chiếc điếu bát bằng đồng cất lên tiếng rít giòn tan phả ra luồng khói thuốc lào ngột ngạt. Bác không thèm ngẩng đầu nhìn bộ dạng xơ xác của tôi, chỉ khẽ hất hàm về phía góc sân tối om:

— Còn hai chum nước đấy, Nam. Xách cho đầy ắp trước khi trời sập tối hẳn. Trâu ngoài bãi cọc cũng chưa dọn phân đâu, làm cho sạch rồi hẵng vào mà bưng bát cơm.

— Vâng, cháu làm ngay đây bác.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt chát đắng nghẹn lại nơi cổ họng khô khốc. Không dám thở dài lấy một tiếng, tôi buông chiếc gùi nứa xuống góc thềm rồi lẳng lặng xách đôi thùng tôn đã gỉ sét rảo bước về phía bờ giếng khơi nằm tít đầu bản. Từng gàu nước sâu hoắm kéo lên làm hai cánh tay tôi mỏi nhừ, gân guốc giật liên hồi, nhưng tôi vẫn cắn răng xách từng đôi thùng đổ đầy hai chiếc chum sành da lươn to tướng, rồi lại ra bãi cọc gom từng xẻng phân trâu đem ủ vào góc vườn.

Mãi đến khi bữa cơm tối đạm bạc trôi qua, mâm bát đã được rửa sạch úp ráo trên chạn tre và tiếng ngáy của bác Lương bắt đầu đều đặn, nặng nhọc vọng ra từ gian buồng trong, tôi mới có thể lách mình chui vào gian chái phụ xiêu vẹo. Tôi quẹt diêm thắp ngọn đèn dầu hạt đỗ leo lét, cẩn thận lấy một miếng bìa các-tông rách che chắn xung quanh để ánh sáng vàng vọt không hắt qua những kẽ hở của vách nứa ra ngoài sân.

Cơ thể tôi rã rời như thể từng khớp xương đã bị tháo rời sau một ngày vắt kiệt sức lực trên nương đá. Mười đầu ngón tay tẽ ngô suốt buổi chiều tưa máu, da nứt toác thành từng kẽ nhỏ, rát buốt buốt lạnh mỗi khi lật qua từng trang giấy nháp ố vàng. Tôi ngồi xuống chiếc ghế con, gục đầu xuống mặt bàn gỗ ghép thô nhám. Cơn buồn ngủ ập đến đen đặc, nặng trịch tựa như một tảng đá vô hình đè nghiến lên hai mi mắt đang sưng húp.

Trong khoảnh khắc mệt mỏi cùng cực ấy, cái ý nghĩ thiển cận từng bám riết lấy tôi suốt những năm tháng ở trường huyện lại trỗi dậy trong tâm trí: hay là sáng mai nhịn bớt một bữa ăn để dành thêm ba mươi phút đọc lại lý thuyết hóa vô cơ, hay là cứ thức trắng đêm nay, nhấp vài ngụm nước lã cầm hơi để giải cho bằng xong tập đề Toán chuyên đề tích phân và hình học giải tích không gian. Tôi tự nhủ rằng mình chỉ cần chịu đựng thêm một chút, ép thân xác này thêm một chút nữa thì sẽ gom góp được thêm chút kiến thức trước ngày vượt núi.

Nhưng ngay khi ngòi bút bi vừa chạm xuống mép giấy nháp, cánh tay tôi bỗng run bắn lên từng chập, không sao ghìm lại được. Ký ức về buổi chiều định mệnh trên đất thị xã Sơn La trong kỳ thi học sinh giỏi năm lớp mười đột ngột dội về, buốt lạnh và sắc nhọn như một nhát dao cứa thẳng vào ký ức. Hôm ấy, giữa không gian im phăng phắc của phòng thi, khi đang cắm cúi viết dở câu hỏi số ba về thuật toán tối ưu hóa đường đi trên đồ thị, đầu óc tôi bỗng dưng quay cuồng dữ dội, trước mắt tôi tối sầm lại vì cơn hạ đường huyết đột ngột do nhịn đói từ chiều hôm trước, và bàn tay tôi hoàn toàn mất kiểm soát, buông rơi viên phấn gãy vụn trên bục giảng. Tôi đã ngã gục xuống sàn gạch lạnh ngắt, đánh mất cơ hội quyết định của cả một năm trời phấn đấu chỉ vì sự suy kiệt ngu xuẩn mà bản thân từng lầm tưởng là lòng kiên trì sắt đá.

Tôi nhớ như in ánh mắt nghiêm khắc, đau đáu lo âu của cô Hạnh khi cô đặt hai củ khoai nướng nóng hổi trước mặt tôi trong phòng y tế của trường thi, và giọng nói trầm đục, gay gắt của thầy Dũng bên chiếc máy tính lắp ghép chắp vá ở kho thiết bị trường huyện sau ngày tôi trở về: *“Mày không thể đem một cỗ máy đã cháy rụi cuộn dây đồng ra mà bắt nó chạy hết công suất được, Nam ạ. Đói lả trên bàn thi không phải là anh hùng, mà là sự cẩu thả, vô trách nhiệm tột cùng với chính tương lai của mày.”*

Tôi hít một hơi thật sâu, nén lại cơn đau nhức đang lan khắp lồng ngực. Run rẩy mở ngăn kéo bàn gỗ, tôi rút cuốn sổ tay kỹ thuật bìa da bò cũ kỹ — cuốn sổ nhỏ tôi luôn trân trọng mang theo bên mình để ghi lại từng lỗi hỏng hóc khi sửa máy thu thanh, từng dòng mã nguồn Pascal viết tay và những nguyên tắc làm việc mà thầy Dũng đã truyền dạy. Lật giở đến góc trang cuối cùng còn bỏ trống, tôi lấy thước kẻ cẩn thận vạch ra hai cột ngay ngắn bằng mực xanh: *Giờ ăn* và *Giờ ngủ*. Tôi nắn nót ghi từng chữ rõ ràng, dứt khoát:

*“Ngủ trước 12 giờ đêm. Thức dậy lúc 4 giờ 30 sáng. Sáng mai nhất định phải ăn một củ sắn lùi hoặc một nắm xôi dằn bụng trước khi vác gùi lên nương.”*

Dù biết rất rõ rằng không phải ngày nào mình cũng có thể giữ trọn vẹn được cái thời gian biểu ngặt nghèo ấy giữa những mệnh lệnh bất ngờ, những cơn lôi đình thất thường của bác Lương, nhưng việc viết rành rọt nó ra trên trang giấy buộc tôi phải tự thiết lập kỷ luật thép, kiểm soát giới hạn chịu đựng của thân xác mình. Tôi không cho phép bản thân rơi vào trạng thái tự sát mòn mỏi thêm một lần nào nữa, bởi tôi hiểu rõ cái giá phải trả sẽ là sự sụp đổ của toàn bộ con đường phía trước.

***

Chủ nhật của tuần kế tiếp, tranh thủ buổi sáng nương ngô tạm dừng thu hoạch để chờ trời hửng nắng ráo đem phơi đợt hạt đầu tiên, tôi chạy vội sang mượn chiếc xe đạp Phượng Hoàng cà tàng của chú Cường ở văn phòng ủy ban xã rồi đạp thốc mười cây số đường đèo ra trường phổ thông huyện.

Trời đã chuyển hẳn sang những ngày đầu tháng Sáu năm 2013. Mùa thi đại học chỉ còn tính từng tuần, từng ngày trên những tờ lịch bóc dở. Dưới tán phượng già xù xì ở góc sân trường huyện, từng chùm hoa đỏ rực như máu bắt đầu rụng tơi bời sau những trận gió lốc đầu mùa, phủ kín lối đi lát gạch nghiêng ngả. Căn phòng tin học cũ kỹ nằm nép mình khuất sau dãy nhà hiệu bộ hai tầng vẫn sực nức cái mùi ẩm mốc quen thuộc của tường vôi lâu năm bong tróc, quyện chặt với mùi khen khét đặc trưng của nhựa thông hàn và những bo mạch điện tử bị nung nóng suốt bao mùa hè oi ả.

Cô Hạnh và thầy Dũng đã ngồi đợi tôi từ sớm ở chiếc bàn gỗ dài đặt giữa phòng. Trên mặt bàn trải rộng một tập hồ sơ đăng ký dự thi đại học được bọc cẩn thận trong túi nilon trong suốt, cạnh đó là chiếc máy tính Casio fx-500MS cũ mòn hết các phím bấm số, một xấp giấy báo thi có đóng dấu đỏ chót của hội đồng tuyển sinh cụm thi Hà Nội và cuốn sổ tay ghi chép chi phí sinh hoạt của nhà trường.

— Ngồi xuống đi Nam, uống ngụm nước chè cho ráo mồ hôi đã con, — thầy Dũng vừa nói vừa kéo mạnh chiếc ghế đẩu gỗ mun về phía tôi, tay kia đưa cho tôi chiếc cốc nhựa màu xanh đã sứt một bên quai đựng đầy nước chè xanh sóng sánh, thơm ngát mùi lá tươi. Thầy đưa mắt nhìn bộ quần áo lao động bạc phếch, còn dính đầy phấn ngô khô và những vệt bùn đất đỏ quạch nơi gấu quần của tôi, khẽ lắc đầu thở dài nhưng tuyệt nhiên không buông một lời quở trách.

Cô Hạnh kéo xấp giấy tờ phẳng phiu về phía tôi, ngón tay trỏ thon gầy gõ nhẹ từng nhịp dứt khoát lên từng mép giấy:

— Giấy báo dự thi, thẻ dự thi tốt nghiệp tạm thời, chứng minh nhân dân, bản sao học bạ công chứng. Cô đã rà soát lại từng chữ đệm, từng ngày tháng năm sinh và kiểm tra kỹ dấu giáp lai đóng trên ảnh thẻ của mày rồi. Bây giờ, mày ngồi kiểm tra lại một lần nữa trước mặt cô. Từng chữ một. Tuyệt đối không được làm gập nếp, không được để dính một giọt nước mưa hay mồ hôi nào vào xấp giấy tờ này. Mất một tờ là coi như công cốc cả ba năm đấy!

Tôi run rẩy đón lấy tập tài liệu, cẩn thận nâng niu từng mép giấy trắng tinh. Tên tôi — *Nguyễn Văn Nam* — được in hoa ngay ngắn, đậm nét trên tờ phiếu đăng ký số 2, ghi rõ nguyện vọng xét tuyển vào ngành Khoa học máy tính của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Giữa những dòng chữ in hành chính có phần khô khốc, cứng nhắc ấy lại chính là chiếc phao cứu sinh duy nhất, là lối thoát sinh tử mà tôi đã bám víu lấy suốt ba năm ròng rã giữa nương ngô Pha Luông khắc nghiệt và gian chái nuôi tằm ẩm thấp của trạm giống. Nhìn dòng chữ in tên mình, lồng ngực tôi thắt lại, một cảm giác bồn chồn khó tả dâng lên nghẹn ứ nơi cuống họng.

— Về việc đi lại, nghe thầy dặn cho kỹ đây, — thầy Dũng cầm chiếc bút bi cạn mực vạch ra một sơ đồ chi tiết, ngoằn ngoèo lên tờ giấy nháp đặt trên mặt bàn, — đúng mười một giờ đêm ngày mùng một tháng Bảy, xe khách giường nằm chạy tuyến Sơn La – Mỹ Đình sẽ đi qua ngã ba thị trấn Mộc Châu. Thầy đã gọi điện gửi gắm cho một người quen chạy xe ôm đón mày ngay tại cổng bến xe Mỹ Đình lúc năm giờ sáng hôm sau. Từ Mỹ Đình, mày tuyệt đối không được bắt xe ôm dọc đường, cứ đi thẳng vào làn xe buýt, bắt xe buýt tuyến ba mươi hai hoặc tuyến mười sáu chạy thẳng về đường Giải Phóng, rồi xuống điểm dừng đối diện cổng parabol mà đi bộ vào cổng trường Bách khoa. Giá vé xe buýt chỉ có năm nghìn đồng một lượt thôi, nhớ chuẩn bị sẵn tiền lẻ nhét ở túi áo ngoài, cấm tiệt cái thói móc cả bọc tiền to ra giữa bến xe đông đúc lộn xộn, người ta giật mất là trắng tay đấy con ạ!

Cô Hạnh mở ngăn kéo chiếc bàn gỗ, lấy ra một chiếc phong bì xi măng mỏng đã được dán kín miệng bằng hồ dán, khẽ đẩy sang trước mặt tôi:

— Trong này có cả thảy bốn trăm nghìn đồng. Một nửa là số tiền hỗ trợ lộ phí thi cử của hội đồng giáo viên và công đoàn nhà trường trích quỹ khuyến học cho mày, còn một nửa là tiền thầy Dũng ứng trước cho mày từ việc mày phụ trách bảo trì, cài đặt lại hệ thống phòng máy vi tính của trường trong đợt đầu hè vừa rồi. Tiền vé xe khứ hồi đi về hết tròn hai trăm hai mươi nghìn. Tiền ăn trong ba ngày thi cô tính tằn tiện mỗi bữa mười lăm nghìn, ăn đàng hoàng cơm suất có thịt có rau, tuyệt đối không được nhịn bữa nào. Còn chỗ ở trọ thì thầy Dũng đã liên hệ chặt chẽ với đội sinh viên tình nguyện đồng hương Tây Bắc đón sẵn ở cổng ký túc xá Đại học Bách khoa rồi, họ sẽ bố trí cho mày một chỗ giường tầng giá rẻ trong ký túc, mười nghìn một đêm, an toàn tuyệt đối, không sợ kẻ gian quấy nhiễu.

Tôi nhìn chằm chằm vào chiếc phong bì xi măng xám nhạt đặt trên mặt bàn, hai bàn tay thô ráp, chai sạn co rúm lại, đặt cứng đờ trên hai đầu gối quần rách mà không dám đưa tay ra chạm vào. Cái mặc cảm ăn nhờ ở đậu, nỗi khiếp sợ truyền kiếp về những món nợ ân nghĩa lại đột ngột dâng lên, đắng ngắt và bỏng rát nơi cuống họng:

— Thưa cô... tiền phụ cấp của cô với thầy còn phải lo toan bao nhiêu thứ cho gia đình ngoài thị trấn. Cháu... cháu có thể tự nhịn bớt một hai bữa ăn dọc đường cũng không sao, với lại tiền công sửa mấy cái máy cassette cho bà con trong bản hôm nọ cháu vẫn còn giữ lại được một ít...

— Mày lại bắt đầu cái thói bướng bỉnh, gàn dở ấy rồi đấy Nam! — Giọng cô Hạnh bỗng đanh lại, ánh mắt cô nhìn thẳng xoáy vào mặt tôi, sắc sảo, nghiêm khắc nhưng ẩn chứa một sự xót xa không cùng. — Tao nhắc lại cho mày nghe lần cuối cùng: đi thi đại học không phải là một canh bạc liều mạng của những kẻ cùng đường! Mày nghĩ nhịn đói hai ngày ròng rã, để đầu óc mày mê muội, hạ đường huyết mà giải nổi cái đề thi Toán khối A dài dằng dặc ấy à? Trường Bách khoa Hà Nội người ta tuyển những bộ óc có tư duy khoa học, chứ không tuyển những kẻ liều mạng thiếu tính toán! Sự cẩn thận, kỷ luật và biết trân trọng sức lực của chính bản thân mình, đó chính là một phần của năng lực. Mày coi việc vắt kiệt thân xác, liều mạng chịu đói là một chiến lược thì mày đã tự gạch tên mình, tự thua ngay từ khi chưa kịp bước chân qua cánh cổng trường thi rồi!

Thầy Dũng khẽ thở dài một tiếng nặng nề. Bàn tay to bè, thô ráp đầy những vết sẹo do bỏng thiếc hàn của thầy vỗ mạnh lên bả vai gầy gò của tôi, bóp chặt:

— Nghe lời cô Hạnh đi con. Tiền này là mồ hôi nước mắt của mày làm ra một phần xứng đáng, phần còn lại là trách nhiệm, là niềm hy vọng của nhà trường đối với một đứa học trò có triển vọng như mày. Đừng bao giờ coi sự giúp đỡ của thầy cô là món nợ nhục nhã để rồi rụt rè, trốn tránh. Mày chỉ có quyền duy nhất trả món nợ này bằng những con số điểm rực rỡ ghi trên tờ giấy báo trúng tuyển gửi về trường thôi, mày đã hiểu rõ chưa?

Tôi cúi gục đầu xuống, hai hốc mắt cay xè buốt rát. Tôi cố chớp mắt thật nhanh, cắn chặt môi dưới để những giọt nước mắt không kịp lăn xuống làm ố vàng mặt bàn gỗ:

— Vâng... Cháu... cháu nhớ kỹ rồi ạ. Cháu xin nghe lời thầy cô.

Thầy Dũng lúc này mới buông vai tôi ra, đứng dậy bước về phía chiếc tủ sắt đựng tài liệu nằm ở góc phòng. Thầy tra chìa khóa, cẩn thận kéo ra một bọc vải dù màu chàm đã bạc màu sờn rách, bước lại gần rồi đặt gọn ghẽ vào lòng tôi:

— Hai phong lương khô quân đội loại năm trăm gam đặc ruột, với một túi nilon đựng ruốc thịt lợn rim mặn này là cô Hạnh tự tay đi chợ đong thịt nạc giã nhuyễn, sao khô cho mày mang theo đấy. Bỏ gọn gàng xuống tận đáy ba lô. Đi đường đèo dốc xe đò lắc lư dữ lắm, rất dễ say xe nôn thốc nôn tháo, tuyệt đối cấm không được ăn uống linh tinh dọc đường người ta bán rong ở mấy quán cơm bụi ven đèo dốc, chỉ cần đau bụng một cái giữa buổi thi là hỏng hết toàn bộ việc lớn. Toàn bộ hồ sơ giấy tờ bọc kín trong ba lớp túi nilon, nhét sát vào phần lưng ba lô cho khỏi quăn mép. Tiền xe đi đường để riêng năm mươi nghìn ở túi quần trước để tiện rút ra trả, còn toàn bộ số tiền bốn trăm nghìn này thì dùng kim băng găm chặt vào mép cạp quần trong. Những điều này đã nhớ kỹ vào trong đầu chưa?

Tôi gật đầu lia lịa theo từng lời căn dặn của thầy, đón lấy bọc vải dù nặng trịch nghĩa tình của hai người thầy đã kiên trì kéo tôi ra khỏi vũng lầy tăm tối của những trận đòn roi vô cớ và gánh nặng nợ nần ở chốn bản làng heo hút. Họ không bao giờ dạy tôi những điều sáo rỗng, hoa mỹ; họ dạy tôi từng bước đi, từng cách sinh tồn thực tế và cẩn trọng nhất để một đứa trẻ mồ côi nơi xó núi nghèo đói có thể tự tin đặt chân xuống vùng đồng bằng rộng lớn mà không bị guồng quay khắc nghiệt của cuộc đời nghiền nát.

***

Khi tôi còng lưng đạp chiếc xe Phượng Hoàng kẽo kẹt về lại bản Nà Ban thì bóng tối của núi rừng đã nhuộm một màu tím thẫm đặc quánh lên khắp các triền đồi. Những đụn mây đen kịt từ phía rặng Pha Luông bắt đầu kéo sà xuống thấp tịt, gió lạnh từ khe suối sâu luồn qua rặng tre đầu bản rít lên từng hồi buốt giá báo hiệu một cơn giông lớn sắp sửa đổ ập xuống thung lũng.

Vừa đẩy chiếc cổng tre ọp ẹp bước vào sân đất, tôi đã thấy bóng dáng nhỏ bé của Lan đang cặm cụi quét gom đống rác lá ngô khô giữa sân. Nhác thấy bóng tôi dắt xe qua rặng dâm bụt, con bé vội vàng buông chiếc chổi chít xuống đất, chạy thoăn thoắt ra đầu ngõ đón tôi, đôi mắt tròn xoe ánh lên vẻ bồn chồn, lo lắng:

— Anh Nam! Sao hôm nay anh đi ra huyện lâu thế? Bố vừa đi uống rượu về lúc chập tối, thấy anh chưa về là đã đập bàn gắt nhặng xị cả lên đấy. Bố bảo nương ngô bên nhà chú Thào người ta gặt xong xuôi từ trưa rồi, mà bên nhà mình vẫn còn vướng cả nửa triền dốc đá chưa bẻ xong, mai trời mà đổ mưa to gió lớn là thối ủng hết cả hạt ngô thì toi công cả vụ.

— Anh phải ở lại trường huyện gặp cô Hạnh với thầy Dũng để rà soát lại giấy tờ dự thi, — tôi nói khẽ, cố hạ thấp giọng hết mức có thể rồi cẩn thận dựng chiếc xe đạp sát vào hàng rào dâm bụt. — Giờ bác Lương có còn ở nhà không em?

— Bố đang ngồi uống rượu tiếp với mấy ông trên xóm mỏ bên gian nhà chính ấy, — Lan thì thầm vào tai tôi, bàn tay nhỏ thó nắm lấy tay áo tôi kéo nhanh về phía góc chái phụ khuất sau đống củi. — Việc dọn phân trâu ngoài bãi cọc với băm chuối nấu cám cho lợn em làm xong xuôi hết cả rồi, anh không phải lo đâu. Chỗ sắn luộc dưới bếp em cũng bớt lại ba củ to lắm, em giấu kỹ trong cái ninh đồng đặt sau bồ thóc góc bếp ấy, tí nữa bố say rượu đi ngủ thì anh vào đấy mà lấy ăn dằn bụng. Mâm cơm tối mẹ có phần anh một bát cơm với ít măng xào để trên bàn, nhưng mà nguội ngắt nguội ngơ rồi, giờ anh mà vào đấy bưng bát ăn trước mặt bố thì lại bị bố mắng mỏ, chì chiết mệt người lắm.

Tôi nhìn xuống bàn tay nhỏ nhắn, gầy guộc của Lan, những ngón tay đen nhẻm vì lấm lem bùn đất và những vệt bồ hóng bám chặt vào kẽ móng, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi xót xa, thương cảm khôn nguôi:

— Cảm ơn Lan. Nhưng mày làm hết mọi việc thế này, tí nữa bác Lương mà biết chuyện thì lại chửi bới, trút giận lên đầu mày vì cái tội bao che cho anh.

— Ôi dào, chửi thì chửi, em bị bố chửi suốt ngày nên nghe quen cả tai rồi, có sứt mẻ tí thịt nào đâu mà sợ! — Lan khẽ cười, nụ cười hồn nhiên làm lộ ra chiếc răng khểnh trắng muốt giữa khuôn mặt lem luốc trong bóng tối lờ nhờ. — Anh lo mà giữ gìn sức khỏe đặng tuần sau còn đi thi. Gian chái phụ em đã quét tước sạch sẽ tinh tươm rồi đấy, em vừa lấy trộm thêm cho anh mấy thanh củi ngo khô ráo nhiều dầu nhét dưới gầm phản gỗ, tí nữa anh nhóm lửa thắp đèn mà ngồi học, củi ngo cháy đượm mà không sợ khói cay xè mắt đâu.

Nói rồi con bé lại thoăn thoắt nhặt chiếc chổi chít quay trở lại giữa sân quét nốt đống rác ngô khô cho kịp trước khi trời đổ mưa. Tôi lẳng lặng xốc lại quai ba lô trên vai, bước từng bước thật khẽ khàng đi vào gian chái phụ.

Góc học tập đơn sơ của tôi nằm sát vách nứa, chiếc bàn gỗ ghép mộc mạc được kê thăng bằng trên hai tảng đá hộc to tướng đã được Lan lau chùi sạch bóng, không còn một hạt bụi ngô bám lại. Chiếc đèn dầu hỏa đã được con bé cẩn thận châm sẵn bấc mới, đổ đầy dầu hỏa, nằm ngay ngắn cạnh xấp vở giấy Bãi Bằng in dòng kẻ mực tím đã quăn góc.

Tôi vừa ngồi xuống mép chõng, thở phào một hơi nhẹ nhõm và định tháo chiếc ba lô xuống để cất bọc tài liệu quý giá thì đột nhiên có tiếng bước chân nặng nề, lẹp xẹp quen thuộc từ phía chái bếp tối om đi tới. Bóng bác dâu Sương in dài ngoằng, lay lắt trên tấm vách liếp nứa xiêu vẹo theo ánh lửa le lói hắt ra từ bếp củi gian ngoài.

Bác dừng lại ở ngay ngưỡng cửa chái phụ. Tay bác cắp chiếc rá tre đã sứt cạp, khuôn mặt gầy gò đăm đăm, khắc khổ lộ rõ những nếp nhăn xô lại chằng chịt nơi khóe mắt và vầng trán hằn sâu nỗi nhọc nhằn của một đời làm dâu vùng cao. Bác đưa mắt nhìn xoáy vào tôi, giọng nói cất lên vẫn mang nguyên vẹn cái vẻ the the, gắt gỏng cay độc quen thuộc như muốn xua đuổi:

— Mày đi đâu mà giờ này mới vác cái mặt về nhà hả? Định để cả cái nhà này phải hầu hạ, phục dịch mày cơm nước chắc? Tao bảo cho mày biết, ngày mai nương ngô trên đỉnh đồi đá dốc đứng kia là phải bẻ cho bằng xong trước buổi trưa đấy! Cơn mưa bão này mà ập xuống bất ngờ làm thối hỏng mất một bắp ngô của ông Lương thì mày đừng có trách cái ngữ tao độc ác, tống cổ mày ra khỏi cái nhà này!

— Vâng, bác dâu cứ yên tâm, sớm mai bốn giờ con dậy sớm con lên nương bẻ ngô ngay ạ, — tôi cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay siết chặt lấy quai ba lô trước ngực, cố gắng giữ giọng thật lễ phép.

Bác Sương hừ mạnh một tiếng qua kẽ mũi, vẻ mặt không chút xao động, dường như chẳng buồn nghe lời tôi nói. Nhưng ngay trước khi quay gót bước ra ngoài, cánh tay gầy guộc đầy những vết chai sần của bác đột ngột vung mạnh, đặt một bọc lá chuối khô còn nóng hôi hổi xuống góc phản gỗ sát ngay mép cửa nứa. Chiếc bọc lá chuối va vào mặt gỗ, phát ra một tiếng sột soạt khô khốc giữa không gian tĩnh mịch.

— Cầm lấy mà tọng vào họng! Xôi nếp nương mới giã hồi chiều còn thừa với ít muối vừng tóp mỡ tao vét dưới đáy chảo đấy. Ăn nhanh đi rồi mà chui vào góc mà ngủ sớm, mai mà không có sức cuốc đất, vác gùi thì liệu hồn mày với đòn roi của ông Lương! Suốt ngày thi với chả thố, vẽ chuyện viển vông tốn cơm tốn gạo của người khác!

Dứt lời cay nghiệt, bác dâu quay phắt lưng bước đi thẳng ra gian nhà ngoài, tiếng dép tổ ong lẹp xẹp nặng trịch nện xuống nền đất ẩm cứ xa dần, xa dần rồi chìm hẳn vào tiếng gió rít bên ngoài hàng rào nứa.

Tôi ngồi chết lặng bên mép chiếc phản gỗ cũ, toàn thân như đông cứng lại. Run rẩy đưa những ngón tay nứt nẻ chạm vào bọc lá chuối khô, hơi ấm ngùn ngụt từ bên trong lập tức truyền qua lớp lá giòn, sưởi ấm đôi bàn tay đang cóng buốt vì sương đêm của tôi. Mùi thơm dẻo quánh, ngọt ngào của những hạt gạo nếp nương mới gặt hòa lẫn với mùi béo ngậy nức mũi của những miếng tóp mỡ lợn phi hành giòn rụm và mùi muối vừng rang đậm đà xộc thẳng vào cánh mũi, làm dâng lên một cơn cồn cào thắt nghẹn nơi lồng ngực.

Bác dâu tôi là thế — cả đời lam lũ chốn núi rừng chưa từng biết thốt ra lấy một lời dịu dàng, lúc nào

cũng đay nghiến chuyện cơm áo nợ nần, nhưng mười năm trước chính người phụ nữ ấy đã bẻ nửa chiếc khuyên tai bạc hồi môn cứu tôi qua trận sốt rét rừng, và đêm nay lại âm thầm nhét vào tay tôi nắm xôi lót dạ cho những ngày vượt núi. Món nợ ân tình ấy, tôi hiểu, cả đời này mình sẽ không bao giờ có thể trả hết bằng những phép tính sòng phẳng.

Gói xôi bọc trong tàu lá chuối khô hãy còn nóng giãy trên mặt gỗ. Hơi ấm của những hạt nếp nương đồ kỹ len qua từng kẽ ngón tay nứt nẻ, thơm một mùi thơm mộc mạc của đất dốc, quyện chặt lấy vị ngầy ngậy của mấy miếng tóp mỡ lợn bản rán kỹ và hạt muối vừng giã dập. Tôi ngồi xếp bằng trên chiếc phản nứa cập kê, bẻ từng miếng xôi nhỏ cho vào miệng, nhai thật chậm. Hạt gạo dẻo quánh bám vào chân răng, ngọt đậm đà, làm dịu đi cơn đói cồn cào đã quặn thắt suốt từ lúc chập tối sau buổi dỡ ngô trĩu vai. Bên ngoài chái phụ, sương đêm bắt đầu buông dày, nhỏ từng giọt lộp độp từ mép mái gianh xuống máng nứa hứng nước mưa. Giữa bốn bề vắng lặng của núi rừng, hương xôi ấm nồng như một chiếc phao cứu sinh níu giữ lấy tâm can đứa trẻ côi cút, nhắc tôi nhớ rằng dẫu gia đình này có cay nghiệt và cùng quẫn đến đâu, dòng máu chảy trong huyết quản và bát cơm nuôi tôi lớn vẫn chưa từng đứt đoạn.

***

Khoảng mười một giờ đêm, tiếng ngáy sấm sét của bác Lương bắt đầu rền rĩ khắp căn nhà sàn, thi thoảng lại ngắt quãng bởi tiếng trở mình cọt kẹt của dát tre buồng trong. Cả bản Nà Ban chìm vào giấc ngủ sâu sau một ngày oằn lưng trên các sườn dốc. Chỉ còn tiếng côn trùng rả rích dưới các bụi cây sau vườn, tiếng róc rách của con suối cạn đáy mùa này chảy luồn qua gầm đá, và tiếng gió rít từng chập qua những khe nứa hở toang hoác nơi vách chái phụ.

Tôi khêu lại tim ngọn đèn dầu hỏa cho lửa chụm lại bằng hạt đỗ, rồi cặm cụi đặt thước kẻ, giải nốt bài toán hình giải tích không gian trong tập đề thi thử đại học năm trước mà cô Hạnh gửi cho. Mặt bàn gỗ tạp mấp mô khiến nét bút bi run rẩy, mực xanh hằn sâu qua lớp giấy bãi bằng xơ xác. Không gian tĩnh mịch đến mức nghe rõ cả tiếng muỗi vo ve quanh vành tai và tiếng ngòi bút miết rin rít trên mặt giấy.

Bỗng nhiên, có tiếng khẹt tàn thuốc lá vang lên đanh gọn ngoài hiên chái phụ, ngay sát bên bờ vách.

Cánh cửa liếp đan bằng nứa tép khẽ lay động, phát ra tiếng cọ xát sột soạt, rồi bóng Tùng lù lù xuất hiện ở ngưỡng cửa. Anh họ tôi đứng tựa lưng vào khung nứa xiêu vẹo, hai tay đút sâu vào túi chiếc quần bò sờn gối mốc thếch, mái tóc bù xù vì bụi ngô rũ rượi xuống trán. Mùi khói thuốc lào khét lẹt nồng nặc phả ra từ khóe môi thâm sì của anh, lấn át cả mùi dầu hỏa tù mù trong gian buồng hẹp.

Tùng nhìn tôi, ánh mắt chập chờn dưới bóng tối nhờ nhờ, nửa như giễu cợt cay độc, nửa lại chất chứa sự hậm hực không thể gọi tên.

— Vẫn chưa ngủ à? — Tùng cất giọng lạt lẽo, âm sắc khàn đặc sau những cữ đói thuốc. Mắt anh liếc xéo qua xấp đề thi dày cộp quăn mép và chiếc máy tính bỏ túi Casio cũ kỹ đã mờ hết phím số nằm chỏng chơ trên bàn. — Mùa màng ngập đầu ra đấy, ngô chất đầy sân ngoài kia còn chưa tẽ xong nửa bồ, mà đêm nào cũng chong đèn như ông trạng. Vác chữ trên đầu có no được cái bụng không mày?

Tôi dừng bút, ngón trỏ và ngón cái vẫn còn tê dại vì tì mạnh vào thân nhựa cứng. Ngước mắt nhìn Tùng, tôi bắt gặp đôi vai gầy guộc hơi so lại vì gió lùa của anh. Suốt những năm tháng lớn lên dưới mái nhà sàn này, Tùng luôn là cái bóng chắn ngang trước mặt tôi. Anh ganh ghét từng lời khen cô giáo trường huyện dành cho tôi, cay cú mỗi lần bác Lương đem sức làm của hai đứa ra chửi rủa trong những cơn say rượu, và luôn tìm cách hất đổ những xô nước tôi gánh hay giấu biến sách vở của tôi vào đống rơm khô. Nhưng đêm nay, trong giọng điệu mỉa mai chì chiết ấy, tôi không còn nghe thấy sự hung hãn, thù địch đến phát cuồng như những năm trước nữa. Ẩn sâu sau vẻ cộc cằn ấy chỉ còn trơ lại sự mệt mỏi rã rời, buông xuôi của một kẻ cùng đường đang giãy giụa vô vọng giữa cái nghèo truyền kiếp của bản làng.

— Em làm xong hết phần việc nương rẫy bác Lương giao từ chiều rồi, — tôi đáp bình tĩnh, mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt hốc hác của người anh họ. — Em tranh thủ giải nốt bài toán này rồi đi ngủ ngay.

Tùng nhếch mép cười nhạt, khóe miệng giật giật. Anh giơ mũi dép lê gạt văng một hòn sỏi vụn nằm trơ trên thềm đất nện:

— Mày tưởng xuống Hà Nội là đổi đời được chắc? Đất dưới đấy người ta khôn như rận, đi một bước là mất tiền, mày mồ côi mồ cút, không một đồng giắt cạp quần, xuống đấy có mà cạp đất ra mà ăn. Ông già tao bảo rồi, học cho lắm vào rồi lại về bản cuốc đất thôi con ạ. Đất này đẻ ra giống người nào thì giữ chân giống người ấy, trốn đi đâu cho thoát.

Nói đoạn, Tùng đột ngột im bặt. Đôi mắt trũng sâu của anh hướng ra khoảng sân tối đen như mực phía trước. Nơi ấy, rặng ngô Pha Luông mùa này trổ cờ rậm rịt chỉ còn là một khối đen thẫm khổng lồ, sừng sững chắn ngang toàn bộ tầm mắt, như một bức tường thành nghẹt thở giam cầm bao kiếp người lam lũ. Tôi nhìn thấy hai bàn tay của Tùng trong túi quần đang vô thức siết chặt lại đến mức các đốt ngón tay hằn lên sau lớp vải mỏng. Tùng ghét cái nghèo này đến tận xương tủy. Anh ghét cay ghét đắng những buổi trưa dầm mưa dãi nắng trên nương sỏi, ghét những vụ ngô mất giá và tiếng chửi rủa tàn nhẫn, đay nghiến triền miên của bố mình mỗi khi chủ nợ ngoài ngã ba vào thúc bách tiền phân lót. Tùng khao khát được thoát khỏi cái thung lũng đá xám tù túng này hơn bất kỳ ai, nhưng anh không có con chữ, không có lấy một điểm tựa nào khác ngoài việc cắm mặt vào chuôi cán cuốc trơ mòn và những đêm say túy lúy bên bát rượu ngô suông với đám thanh niên hư hỏng ngoài bản.

Tùng đứng lặng như một pho tượng sậy gãy giữa ngưỡng cửa chừng vài phút. Đột nhiên, anh cúi khom người xuống, nhấc chiếc thùng tôn sứt quai đựng cám lợn mà lúc chập tối cái Lan vội lên giường chưa kịp rửa, rồi quay sang càu nhàu cộc lốc trong cổ họng:

— Học thì vặn nhỏ cái tim đèn xuống. Gió nó tạt qua khe nứa cháy cụ nó nhà bây giờ, lại làm khổ người khác.

Dứt lời, Tùng quay lưng, xách chiếc thùng tôn đi thẳng về phía chuồng lợn sau chái. Tiếng bước chân nặng nề, lê lết nện trên nền đất ẩm ướt xa dần, rồi chìm hẳn sau tiếng lợn éc lên vì đói ăn. Đêm nay, anh không giật xé trang đề cương của tôi, không đá đổ bình mực, cũng không chạy sang gian buồng chính gõ cửa mách bác Lương việc tôi thắp đèn tốn dầu hỏa như những bận trước.

Tôi ngồi lại một mình giữa gian chái phụ hiu hắt, lắng nghe tiếng gió rít qua những thanh tre già. Thế đối đầu âm ỉ, gay gắt giữa hai đứa con trai cùng thế hệ dưới một mái nhà nghèo túng vẫn chưa bao giờ thực sự biến mất; nó chỉ tạm lắng xuống dưới cái bóng trĩu nặng của sự bất lực. Giữa những vết nứt vô hình của số phận, tôi thấu hiểu sâu sắc rằng cả tôi và Tùng đều đang quằn quại tìm cách phá tung cái lồng giam của đói nghèo — chỉ có điều, con đường tôi lựa chọn là tấm vé xuống núi bằng giấy trắng mực đen, một con đường độc đạo, nhọc nhằn và tuyệt đối không bao giờ có lối quay đầu.

Kỳ thi tuyển sinh đại học năm 2013 diễn ra giữa những ngày đầu tháng Bảy ngột ngạt đến bức bối dưới vùng đồng bằng châu thổ. Điểm thi của tôi đặt tại một giảng đường cũ kỹ, tróc lở từng mảng vôi gà trong khuôn viên Đại học Bách khoa Hà Nội. Cái nắng oi nồng đặc quánh của thủ đô nung chín từng mảng bê tông nứt nẻ, hơi nóng từ mặt đường nhựa phả lên hầm hập như lò than. Trên những rặng xà cừ cổ thụ bao quanh sân trường, tiếng ve sầu rền rĩ liên miên không dứt như một hồi còi báo động thúc bách, còn không khí bên trong phòng thi thì ngột ngạt, tanh nồng mùi mồ hôi ướt sũng lưng áo và nỗi âu lo hiển hiện trên từng khuôn mặt của hàng trăm thí sinh từ khắp các tỉnh thành đổ về.

Ngồi trước mặt bàn gỗ thô ráp, nhìn tờ giấy thi trắng tinh in hình quốc huy trang nghiêm vừa được phát xuống, lồng ngực tôi thắt lại trong một cơn căng thẳng tột cùng. Đó không đơn thuần là sự run rẩy tự nhiên của một đứa học trò miền núi đứng trước kỳ sát hạch lớn nhất đời mình, mà là sức nặng nghìn cân đè trĩu lên vai của một kẻ hiểu rõ từng giây, từng phút mình được ngồi yên lành dưới cánh quạt trần quay lờ đờ này đều phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả những lời nguyền rủa bỏ lại nơi sườn dốc quê nhà. Lúc này đây, ở bản Nà Ban, nương ngô đang vào đợt bẻ rộ cuối mùa, cái Lan và anh Tùng đang phải oằn lưng gánh thêm phần việc cày cuốc, phạt cỏ của tôi dưới cái nắng chang chang cháy da cháy thịt, còn bác Lương chắc chắn vẫn đang trừng trừng nhìn vào cái khoang chái phụ trống trải bằng ánh mắt hậm hực không nguôi.

Khi cán bộ coi thi xé niêm phong túi đề thi môn Toán rồi tiếp sau đó là môn Vật lý, những dòng công thức ma trận, hình học không gian tọa độ và phương trình dao động điều hòa đập thẳng vào mắt tôi. Tim tôi đập thình thịch, có một thoáng xây xẩm mặt mày; ký ức kinh hoàng về lần gục ngã vì kiệt sức và tụt đường huyết ở kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh năm lớp mười đột ngột ùa về, suýt chút nữa kéo tuột tôi vào cơn hoảng loạn quen thuộc. Đôi bàn tay tôi bắt đầu run bắn, mắt hoa lên nhìn những con số nhòe đi trên trang giấy.

Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, bàn tay tôi kịp ghì chặt lấy cạnh bàn gỗ. Lời dặn đanh thép, ấm áp của cô Hạnh và thầy Dũng trong căn phòng thí nghiệm trường huyện bất giác dội về vang vọng trong tâm trí: *Sự cẩn trọng và kỷ luật với sức lực của chính mình cũng là một phần cốt lõi của năng lực.*

Tôi buông bút, với tay lấy chiếc bi-đông sắt mang theo từ bản, mở nắp nhấp một ngụm nước nhỏ làm mát cuống họng đang khô khốc. Tôi nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu lấp đầy lồng ngực, rồi luồn tay vào túi quần lấy miếng lương khô quân đội được bọc kỹ trong túi nilon, cắn một miếng nhỏ, nhai kỹ để nuốt xuống dằn cơn cồn cào đúng như kế hoạch đã tập dượt từ trước. Khi dòng năng lượng ngọt sắc bắt đầu thấm vào huyết quản, đầu óc tôi tìm lại được sự sáng suốt và điểm tựa vững chãi.

Tôi cầm bút lên, bắt đầu làm bài. Với môn Toán, môn Lý và cấu trúc tư duy thuật toán vốn đã ăn sâu vào từng nếp nghĩ qua hàng trăm đêm cặm cụi gõ từng dòng lệnh Pascal bên ngọn đèn dầu hạt đỗ, tôi bóc tách từng câu hỏi, từng điều kiện của bài toán hệt như thói quen cô lập từng linh kiện chập cháy trên một bo mạch nguồn. Không vội vã, không làm tắt bước để thỏa mãn tính hiếu thắng, tôi kiểm tra chặt chẽ từng tập xác định, từng điều kiện biên, rà soát từng dấu cộng trừ ở mỗi bước biến đổi. Sự điềm tĩnh, chỉn chu mà tôi từng thiếu thốn trong quá khứ nay đã đứng vững vàng nâng đỡ từng nét mực đều đặn. Khi tiếng trống kết thúc buổi thi vang lên rền vang khắp các dãy hành lang, tôi thở phào, đặt bút xuống với một niềm tin thầm lặng nhưng tuyệt đối vào kết quả của chính mình.

***

Đầu tháng Tám, kết quả thi tuyển sinh chính thức được gửi chuyển phát nhanh về trường cấp ba huyện.

Buổi trưa hôm ấy, thầy Dũng không quản đường xa, đích thân đèo chiếc xe máy Honda cánh én cũ mèm vượt mười mấy cây số đường đá dăm vào tận đầu bản Nà Ban. Tiếng còi xe máy bấm inh ỏi từng hồi trước hàng rào dâm bụt làm lũ gà trong sân nhà bác Lương tán loạn nhảy lên bờ rào. Tôi đạt điểm số rất cao, nằm trong nhóm thí sinh có điểm thi dẫn đầu toàn tỉnh miền núi và chính thức trúng tuyển vào ngành Khoa học máy tính của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Khi run rẩy đón lấy tờ giấy báo nhập học có dấu mộc tròn đỏ chót từ tay thầy Dũng, toàn thân tôi sởn gai ốc, lồng ngực như muốn vỡ tung bởi một luồng nhiệt nóng rực chưa từng có trong đời. Mười tám năm tủi cực, những đêm đông rét mướt ngồi co quắp bên ngọn đèn dầu, những vết chai sần vì vác củi và những lời lăng mạ cay độc dường như tan biến sạch trơn trong khoảnh khắc ấy. Tôi đã chạm được một tay vào cánh cửa mở toang lối thoát ra khỏi thung lũng nghèo khó tăm tối này.

Thế nhưng, cơn say mê choáng ngợp của chiến thắng chỉ tồn tại vỏn vẹn trong vài giờ ngắn ngủi, trước khi bị hiện thực tàn khốc giáng một đòn chí mạng kéo giật ngược tôi về lại mặt đất nứt nẻ.

Ngay phía dưới dòng chữ chúc mừng trúng tuyển in hoa trang trọng là một bản kê chi tiết các khoản kinh phí bắt buộc phải hoàn tất trong ngày tựu trường: tiền học phí học kỳ một, tiền bảo hiểm y tế toàn diện, lệ phí hồ sơ nhập học, tiền thế chân và lệ phí tạm trú ký túc xá sinh viên. Con số tổng cộng hàng triệu đồng vượt xa tất cả những món tiền lẻ vụn vặt tôi từng gom góp, chắt chiu được từ việc đạp xe đi sửa máy tính dạo cho người ta ngoài phố huyện suốt ba năm học. Đó là còn chưa tính đến tiền vé xe khách xuôi ngược hai chiều đèo dốc, tiền cơm nước sinh hoạt đắt đỏ cho những tháng ngày đầu tiên bơ vơ ở một thành phố lạ nước lạ cái, nơi tôi không có lấy một người thân thích để nương nhờ. Giấy báo trúng tuyển dẫu có đỏ chót dấu mộc cũng không thể đem ra chợ bản đổi lấy một bát ngô xay, và ánh hào quang của điểm số thủ khoa không tài nào xoa dịu được cái dạ dày đang thắt lại từng cơn vì đói.

Tối hôm đó, mâm cơm nhà bác Lương lặng ngắt như tờ, không khí nặng nề như thể sắp có một cơn giông ập xuống mái gianh. Tờ giấy báo trúng tuyển đặt trơ trọi trên mép phản gỗ bị tàn thuốc lào rơi trúng làm cháy xém một vệt tròn ố vàng.

Bác Lương ngồi bệt ở bậu cửa gian chính, lưng tựa vào cột nhà lim, bàn tay thô kệch cầm con rựa sáng loáng lia từng nhát cạo cạo sắc lạnh lên khúc gỗ gụ kê chân phản. Bác không nhìn tôi, giọng nói cất lên lạnh tanh, cộc cằn và dứt khoát như một nhát búa nện xuống đá:

— Không đi đâu hết. Nương sắn trên dốc Pha Luông đang vào đợt cỏ mọc lút đầu người, sang tháng lại phải đào hố ủ phân chuồng cho vụ sau. Mày dứt áo đi rồi thì ai làm? Một lá giấy khen rách với cái tờ báo trúng tuyển này có mài ra mà bỏ vào mồm nhai cho no bụng được không? Nhà này hết tiền rồi, không có của cải ném qua cửa sổ cho mày xuống dưới đồng bằng học đòi làm ông nghè ông cống. Mai vác cuốc lên nương với anh mày!

Bác dâu Sương cúi gằm mặt xuống mâm cơm độn ngô, hai tay nắm chặt đôi đũa cả, không dám thốt lên nửa lời phản đối chồng. Ở góc cột đối diện, Tùng ngồi thu lu như một cái bóng, lẳng lặng dùng ngón tay bóc từng mảng vỏ củ sắn luộc sượng ngắt nhai trệu trạo.

Nhìn khuôn mặt khắc khổ hằn sâu những nếp nhăn cay nghiệt và đôi mắt đùng đục sự thực dụng tàn nhẫn của người bác ruột, lần đầu tiên trong suốt mười tám năm sống nhờ dưới mái nhà này, tôi không cúi đầu cam chịu, cũng không nuốt nước mắt mặn chát vào trong họng như mọi lần. Tôi đứng thẳng người dậy, hai chân bám chặt xuống mặt sàn nứa, ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào đôi mắt vằn tia máu của bác Lương. Tôi cất giọng, từng lời từng chữ rành rọt, đanh thép và dứt khoát:

— Cháu sẽ đi học, thưa bác. Cháu đi và không xin gia đình lấy một đồng nào cho tiền học phí hay tiền ăn ở dưới ấy cả. Xuống Hà Nội cháu sẽ tự đi làm thêm, nhận sửa máy tính dạo, xin bưng bê rửa bát ở quán cơm ngoài cổng trường để tự nuôi thân. Nếu dành dụm được tiền công làm thêm, cháu sẽ gửi ngược về bản phụ bác trang trải tiền mua phân bón vụ ngô tới. Nhưng cháu phải đi. Đời cháu dứt khoát không thể chôn vùi mãi ở cái dốc Pha Luông này được.

Nhát rựa trên tay bác Lương đột ngột khựng lại giữa không trung. Lưỡi thép cắm phập vào thớ gỗ gụ kêu đánh *cốc* một tiếng khô khốc. Ánh mắt bác trừng trừng dán chặt vào mặt tôi. Trong đôi mắt đùng đục ấy, có ngọn lửa giận dữ ngút ngàn của một kẻ gia trưởng bị đứa cháu côi cút công khai cãi lời, nhưng ẩn sâu dưới đáy mắt lại le lói một thoáng bàng hoàng, sững sờ trước một ý chí đã thực sự cứng cáp như lõi cây nghiến trên đỉnh núi, vượt hoàn toàn ra ngoài tầm roi vọt hay sự áp đặt của bác.

Bác không đập bàn chửi bới ầm ĩ như thói quen thường nhật, chỉ gằn từng tiếng qua kẽ răng nghiến chặt:

— Mày tự nói mồm đấy nhé. Bước chân ra khỏi cái ngõ này, đói rách chết đường chết chợ thì đừng có vác mặt về bản mà kêu ai! Nhà này coi như không có ngữ cháu như mày!

***

Sáng hôm sau, tôi cuốc bộ ra trường cấp ba huyện để gặp cô Hạnh và thầy Dũng trong căn phòng máy tính cũ nằm ở góc sân trường.

Biết rõ tính tôi vốn hay tự ái, mặc cảm và sợ cảm giác mang nợ người khác, cô Hạnh không hề dùng những lời lẽ thương hại hay hứa hẹn sẽ đứng ra bao bọc, trả hết gánh nặng tài chính cho tôi. Ngược lại, cô lôi cuốn sổ tay công tác bọc bìa xanh sờn mép ra bàn, mở cây bút bi, cùng tôi ngồi vạch ra từng con số, bóc tách cặn kẽ từng khoản chi tối thiểu cho chặng đường sắp tới:

— Tiền học phí kỳ một bắt buộc phải nộp đủ trong ngày nhập học để nhà trường vào sổ bộ giữ chỗ, khoản này cô và thầy Dũng đã sang làm việc trực tiếp với Hội khuyến học huyện, xin trích quỹ hỗ trợ học sinh nghèo vượt khó tạm ứng trước cho mày một khoản. Còn tiền ăn, tiền thuê trọ ngoài phố, mày phải thắt lưng buộc bụng ở mức tối đa: mỗi ngày chỉ được phép tiêu không quá ba mươi nghìn đồng cho cả ba bữa. Tuyệt đối không được nhịn ăn bữa sáng để dành tiền mua đồ linh tinh. Mày phải giữ lấy cái mạng lành lặn thì mới cầm cự học hết năm năm đại học được, nghe chưa?

Ở góc phòng kỹ thuật bên cạnh, thầy Dũng đang ngồi lom khom bên chiếc bàn gỗ dài đầy những mỏ hàn, kìm bấm và mạt kim loại. Thầy tỉ mẩn dùng chiếc tuốc-nơ-vít hai cạnh siết chặt lại từng con ốc vít rỉ sét của cỗ máy tính cũ kỹ — chiếc máy chạy vi xử lý Pentium III với vỏ case sắt nặng trịch mà hai thầy trò đã nhặt nhạnh, chắp vá từ đống linh kiện thanh lý tồn kho của trường cách đây mấy năm.

Thầy Dũng cẩn thận lót những miếng xốp vụn và bìa các-tông dày quanh bốn góc sắc nhọn của thùng máy, rồi trùm ra bên ngoài bằng một lớp bao tải dứa màu xanh rêu. Bàn tay thô ráp của thầy thoăn thoắt quấn chặt từng vòng dây chuối khô đã tước sợi, chằng buộc cẩn thận như người ta đóng gói một kiện hàng quý gửi xe tải đường dài.

Làm xong, thầy đưa mu bàn tay quệt mồ hôi trên trán, vỗ mạnh vào cạnh thùng máy phát ra tiếng kêu *bồm bộp*, rồi quay sang nhìn thẳng vào mắt tôi, dặn dò từng câu chắc nịch:

— Cầm nó theo xuống Hà Nội. Dẫu cho cỗ máy này có cũ kỹ, chip xử lý có chậm chạp lạc hậu, nhưng nó là cần câu cơm, là vũ khí duy nhất để mày thực hành viết mã và kiếm tiền sống sót giữa đất thủ đô. Nhớ cho kỹ lời thầy: nguồn gốc cái máy này là đồ gom nhặt thanh lý chưa qua thủ tục sổ sách hành chính đầy đủ của trường, xuống dưới ấy dùng thì phải kín kẽ, đừng có bạ đâu cũng khoe khoang kẻo rước rắc rối vào thân. Phải tiếp tục giữ chặt thói quen cẩn trọng của một người làm kỹ thuật: mọi dữ liệu quan trọng đều phải sao lưu làm hai bản trên đĩa mềm hoặc ổ cứng phụ, đi sửa máy dạo cho người ta phải nói năng rõ ràng, kiểm tra tình trạng trước sau sòng phẳng. Chiếc máy này đã cùng mày vượt qua những đêm đông trên nương ngô Pha Luông, thì nó phải cùng mày đứng vững ở đất Bách khoa!

Tôi run rẩy ôm lấy thùng máy tính nặng trịch vào lòng, lớp bao tải ráp cọ vào da thịt, nghẹn ngào gật đầu thật mạnh để khắc sâu từng lời dạy bảo của người thầy đã cứu vớt đời mình.

Đêm cuối cùng trước ngày rời bản, tôi ngồi một mình giữa gian chái phụ vắng ngắt để thu dọn hành lý. Đồ đạc của một kẻ chuẩn bị rời núi xuống phố ít ỏi và đơn sơ đến thảm hại: hai bộ quần áo vải thô đã sờn rách cộc cạch vá víu mấy chỗ ở khuỷu tay, một đôi dép tổ ong ngả màu cháo lòng mòn vẹt gót, chiếc màn tuyn thủng mấy lỗ đỗ và vài tập vở học sinh ghi chép dang dở.

Tôi cẩn thận mở ngăn sâu nhất của chiếc ba lô bộ đội sờn chỉ, đặt vào đó cuốn sổ tay ghi chép kỹ thuật của riêng mình. Trong cuốn sổ bìa da bò cũ kỹ đã ố màu thời gian ấy, tôi đã dùng mực xanh nắn nót ghi lại toàn bộ quy trình kiểm tra bo mạch chủ, từng bước sao lưu phục hồi hệ điều hành qua đĩa mềm, bài học xương máu về lỗi bad sector ổ đĩa cứng tại cửa hàng sửa chữa của ông Tính ở huyện, và cả những nguyên tắc thỏa thuận công việc sòng phẳng mà thầy Dũng từng dạy. Đó là toàn bộ vốn liếng, là gia tài duy nhất mà một đứa trẻ mồ côi tự tay chắt chiu, tích lũy được suốt những năm tháng khốn khó để mang theo làm hành trang bước vào đời.

Tôi hoàn toàn không hề hay biết rằng, cũng vào chính khoảnh khắc chong đèn thu dọn ấy, ở khu tập thể giáo viên trường huyện cách đó mười mấy cây số, cô Hạnh đang ngồi lặng lẽ bên bàn làm việc dưới ánh đèn nê-ông mờ đục. Bàn tay gầy guộc của cô khẽ run rẩy mở ngăn kéo khóa kín, rút ra một cuốn sổ tay khác — cuốn sổ học trò ố vàng năm xưa còn vương vết tích của thời gian, lưu giữ lời gửi gắm nghẹn ngào trong bức thư cuối cùng của mẹ Mai trước lúc bà trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh. Bí mật ấy cô vẫn cắn răng chôn chặt nơi đáy lòng, bởi cô hiểu hơn ai hết rằng ở thời điểm này, tôi cần phải bước đi bằng đôi chân trần trụi và sức lực tự thân của chính bản thân mình, không được phép dựa dẫm vào bất kỳ niềm an ủi mong manh nào từ quá khứ.

***

Đúng năm giờ sáng hôm sau, màn sương mù Nà Ban còn giăng đặc như khói tỏa, lạnh buốt và ẩm ướt trùm lên khắp các mái nhà sàn. Tôi khoác chiếc ba lô bộ đội nặng trĩu lên hai vai, hai cánh tay ôm chặt lấy thùng máy tính bọc bao tải dứa trước ngực, hít một hơi thật sâu rồi bước từng bước dứt khoát rời khỏi con ngõ đất, hướng thẳng ra bến xe khách trung tâm tỉnh Sơn La.

Trong túi quần bên phải của tôi chỉ có vỏn vẹn vài tờ tiền lẻ xếp ngay ngắn — số tiền công ít ỏi chắt chiu từ những lần đạp xe đi sửa máy dạo cho các cơ quan ngoài huyện, vừa vặn đủ cho một chiếc vé xe đò xuôi Hà Nội và cầm cự tiền cơm rau dưa trong ít tuần đầu tiên.

Khi tôi vừa đi tới khúc quanh gần bến xe ở thị trấn, từ phía sau bỗng vang lên tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch trên đá dăm. Cái Lan lén trốn nhà chạy thốc theo tôi suốt cả chặng đường dài. Con bé thở không ra hơi, hai lồng ngực phập phồng sau lớp áo cộc, đôi mắt đỏ hoe ầng ậng nước mắt. Không nói không rằng, nó vội vã giúi tọt vào túi áo khoác của tôi một gói xôi nếp nương bọc lá dong hãy còn âm ấm:

— Anh Nam... Xuống dưới ấy nhớ phải ăn uống đầy đủ, đừng có nhịn đói để tiết kiệm tiền nữa. Anh nhất định phải thành tài đấy nhé!

Tôi sững người nhìn đứa em họ nhỏ bé, khóe mắt cay xè. Khẽ mỉm cười, tôi gật đầu thật mạnh với con bé, trong lòng dâng trào một niềm cảm kích nghẹn ngào không thốt nên lời.

Cách đó chừng mươi mét, bên hiên một quán nước chè chén cạnh cổng bến xe, bóng dáng bác Lương sừng sững đứng lặng lẽ giữa làn sương sớm mờ ảo. Bác mặc chiếc áo chàm đã bạc màu vai áo, hai bàn tay thô ráp chai sần buông thõng bên hông, ánh mắt đăm đăm nhìn về phía tôi. Bác không bước tới gần, không mở lời chúc mừng, cũng không nói lấy một câu dặn dò xuôi ngược của người làm cha làm bác. Nhưng đôi chân thô kệch ấy cũng không hề bước tới để giằng lấy chiếc ba lô hay quát tháo bắt tôi quay trở lại nương sắn như những lần trước. Sự im lặng sừng sững, nhẫn nại của người đàn ông cả đời gắn chặt số phận với đất dốc nương ngô ấy giống như một sự thừa nhận cay đắng nhưng bất lực rằng: tôi đã thực sự vươn mình, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của bản làng và bóng tối Pha Luông.

Bác tài xế xe khách bắt đầu gắt gỏng giục giã, tiếng còi xe hơi rền rĩ bấm từng hồi dài xé toang không gian tĩnh mịch của buổi sớm phố núi.

Tôi ôm chặt kiện hàng bọc bao tải dứa thô ráp trước ngực, bước từng bước nặng nề nhưng vững chãi lên bậc cửa xe đò. Chiếc xe khách liên tỉnh rùng mình chuyển bánh, khói dầu diesel xả ra đen ngòm, mù mịt rồi gầm rú lao vút vào màn sương mù dày đặc đang cuộn trào trên con đèo dốc quanh co.

Qua ô cửa kính xe đêm lấm lem bụi đường và vệt nước mưa đọng lại, tôi ngoái đầu nhìn lại lần cuối. Những nếp nhà sàn nhỏ nhoi của bản Nà Ban và triền núi cao ngút ngàn sừng sững của dãy Pha Luông cứ thế lùi dần, nhạt nhòa dần rồi chìm hẳn vào bóng tối thăm thẳm phía sau lưng. Và ngay lúc chiếc xe lao dốc về phía vùng đồng bằng xa lạ, giữa tiếng động cơ gầm gừ inh tai, trong tâm trí tôi trỗi dậy một nỗi hoang mang tột cùng khi nhận ra mình hoàn toàn không biết sẽ ngủ ở đâu khi bánh xe dừng lại ở đất Hà Nội.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories