Hoa Ban Không TànCh.35 / 38
Chapter 35

Bài toán không có trong sách

Tôi đáp bạn học rằng nhà xa, rồi xách cặp đi ngay trước khi nó kịp hỏi xa đến mức nào và vì sao đôi giày của tôi vẫn dính bùn nương.

Đó là thằng Thành, đứa ngồi bàn thứ hai trong lớp chuyên Toán. Chiếc áo phao màu mận chín của nó phồng căng ấm áp, thoang thoảng mùi xà phòng thơm mới tinh, quai ba lô còn nguyên những đường chỉ màu thêu hình cánh buồm căng gió vươn ra biển. Nó vừa gấp cuốn vở ô ly vừa định gọi giật tôi lại, rủ sang quán chè nóng đầu phố huyện nơi ngã ba bốc khói nghi ngút, hoặc ghé hiệu sách nhân dân mua chung tập tài liệu hình học không gian vừa chuyển theo xe đò từ thị xã về. Tôi vờ như không nghe thấy, dứt khoát không quay đầu lại. Tiếng đế giày vải rách mép của tôi miết trên sàn gạch hoa xám xịt một nhịp vội vã, nặng trịch và dấp dính, khác hẳn những bước chân nhẹ tênh, dứt khoát của những đứa trẻ mà mối bận tâm duy nhất trong ngày chỉ là tối nay ăn cơm xong thì mang bài tập môn nào ra làm trước.

Ở cái trường huyện vùng cao này, người ta nhận ra gốc gác và gia cảnh của một đứa học trò nhanh hơn tôi tưởng rất nhiều. Chẳng cần ai phải dán nhãn hay buông lời xì xào sau lưng, chỉ cần nhìn vào viền cổ chiếc áo sơ mi màu cháo lòng đã sờn rách hết mép vải, nhìn vào gấu quần vải thô cộc cỡn để lộ đôi mắt cá chân thâm tím nứt nẻ vì sương muối dốc đèo, người ta đã biết mười mươi tôi từ xó xỉnh nào lần mò tới đây. Tôi ngồi chung một phòng học với những học sinh ưu tú nhất của cả huyện lỵ, con em cán bộ trạm vật tư lương thực, con thầy cô giáo dạy cấp ba, hay con chủ những hiệu buôn bán tạp hóa lớn ngoài ngã ba đường cái. Họ nói về những kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh với vẻ tự nhiên, thản nhiên như bàn về một chuyến du lịch xa nhà vào dịp cuối tuần; họ chuyền tay nhau những cuốn sổ bìa cứng dán đề can bóng loáng, mân mê những chiếc máy tính bỏ túi đời mới với nắp trượt màu ghi xám bấm lách cách tanh tách vui tai.

Còn tôi, tôi bước vào lớp học ấy với một chiếc cặp vải màu chàm sẫm do Lan tự tay chắp vá từ tấm bao tải dệt bằng sợi bông cũ của mẹ Mai để lại, một chiếc thước kẻ bằng gỗ bạch đàn gãy đôi được buộc nối lại bằng sợi dây thép nhỏ xoắn gập hai đầu, và hai bàn tay lúc nào cũng chằng chịt những vết xước rớm máu do gai dẻ, gai mây cào rách mỗi lần tôi lên nương cuốc đất giúp gia đình vào hai ngày cuối tuần.

Mỗi lần có ai đó trong lớp tò mò gặng hỏi vì sao tôi không bao giờ nán lại sau năm giờ chiều để đá cầu dưới sân trường rợp bóng xà cừ, hay vì sao tôi lại dọn về ở góc chái nuôi tằm của trạm khuyến nông thay vì đăng ký một suất trong ký túc xá học sinh nội trú, tôi chỉ cụt ngủn buông một câu đáp gọn lỏn:

— Tôi bận việc nhà.

— Việc gì mà ngày nào tan học mày cũng vội cuống lên thế? Chiều nay không định ở lại học nhóm giải mấy bài chuyên đề phương trình à?

— Việc lặt vặt trong xóm thôi.

Tôi luôn cắt đứt câu chuyện bằng một cái nhìn lảng tránh xuống mũi giày, cắm cúi gom mấy mẩu bút chì cùn gọt nham nhở nhét vội vào túi vải rồi bước thật nhanh ra phía cửa lớp. Tôi sợ những ánh nhìn dừng lại quá lâu trên chiếc áo bông chắp vá từng miếng vải vụn mà bác dâu Sương từng cặm cụi chong đèn dầu khâu thâu đêm cho tôi trước ngày nhập học. Tôi sợ hơn cả là cái tặc lưỡi ái ngại, tiếng chép miệng thở dài của những đứa bạn vô tư khi vô tình thấy tôi ngồi lủi thủi một mình ở góc hành lang cuối dãy nhà, lén lút bẻ đôi mẩu củ từ luộc đã nguội ngắt mang theo từ bản Nà Ban. Sự thương hại là một thứ cảm xúc êm ái nhưng lại vô cùng tàn nhẫn; nó phủ lên người nhận một lớp phấn mỏng làm cho sự thiếu thốn có vẻ bớt nhức nhối đi đôi phần, nhưng đồng thời cũng tước đoạt đi cái tư thế đứng thẳng đàng hoàng của một con người. Mà ở giữa chốn thị tứ xa lạ này, ngoài lòng tự trọng được mài sắc đến mức cố chấp và bướng bỉnh, tôi chẳng còn bất cứ tấm khiên nào khác để tự che chắn cho chính mình.

***

Bước chân vừa ra khỏi cổng trường, cơn gió bấc chiều đông thổi thốc từ thung lũng dốc Ban Nà quất thẳng vào mặt buốt rát như xát muối. Cái lạnh ở rẻo cao Mộc Châu này không chỉ đơn thuần cắn ran trên da thịt; nó ngấm qua từng lớp vải bông mỏng tang xơ xác, len lỏi qua các kẽ xương sườn, đọng lại thành một cảm giác tê cóng, trống rỗng và buốt nhức đến tận cùng nơi lồng ngực. Nhưng cái lạnh thấu xương ấy rốt cuộc vẫn chưa thấm tháp gì nếu đem so với cái đói.

Kể từ ngày chuyển sang ở nhờ góc chái nuôi tằm bên vườn ươm trạm giống của bác Trực để phụ việc gánh nước tưới cây giống, quét dọn lá khô trừ vào tiền trọ mỗi tháng, khẩu phần ăn mỗi ngày của tôi bị xé nhỏ ra thành những bài toán số học nghiệt ngã đến thắt lòng. Tiêu chuẩn gạo trợ cấp ít ỏi từ xã Bản Nà Ban gửi ra thị trấn chỉ vừa đủ để tôi nhóm bếp nấu một nồi cơm độn sắn mỏng dính vào lúc tờ mờ sáng, và chừa lại một bát cơm nguội khô khốc ăn vội vào lúc sẩm tối trước khi chong đèn dầu ngồi vào bàn học. Bữa trưa hoàn toàn bị gạch tên, biến mất không một dấu vết khỏi thời gian biểu mỗi ngày của tôi.

Lúc tan tiết thứ tư, khi tiếng kẻng đồng của bác bảo vệ gióng lên từng hồi đanh gọn xé toang không gian tĩnh mịch của buổi trưa mùa đông, cả dãy phòng học túa ra rầm rập như ong vỡ tổ. Mùi xôi nếp nương đồ đỗ xanh thơm ngậy của gánh hàng rong trước cổng trường, mùi bánh mì kẹp chả nóng hổi từ chiếc xe đẩy bằng tôn bốc khói nghi ngút bên vỉa hè lập tức xộc thẳng vào khứu giác, ngọt lịm và cay nồng mùi tiêu giã dập. Lũ bạn cùng khối với tôi ùa ra cổng, tay cầm những tờ tiền giấy phẳng phiu hai nghìn, năm nghìn đồng ríu rít gọi nhau í ới tụ tập thành từng nhóm trước các quầy quà vặt.

Những lúc ấy, tôi thường cố tình nán lại trong lớp muộn nhất, vờ như đang loay hoay chép nốt một công thức biến đổi lượng giác phức tạp còn sót lại trên bảng đen, hoặc cúi gập đầu rà soát lại từng dòng mã nguồn Pascal viết tay trong cuốn sổ vở học sinh đã ố vàng mép giấy. Đợi cho đến khi ngoài hành lang hoàn toàn vắng ngắt tiếng bước chân, tôi mới lầm lũi xách cặp đi vòng ra khoảng đất trống phía sau khu nhà vệ sinh giáo viên, nơi có một chiếc bể xi măng rêu phong chứa nước mưa dẫn từ máng xối tôn trên mái ngói chảy xuống.

Tôi vặn chiếc vòi nước bằng đồng lạnh ngắt, ghé sát miệng vào dòng nước buốt nhói như kim châm, uống từng ngụm lớn ừng ực cho đến khi bụng dưới căng tức lên, phát ra những tiếng óc ách nặng nề sau từng nhịp thở. Uống đẫm nước lã để đánh lừa dạ dày là cái mẹo sinh tồn tôi học được từ những ngày còn bé tí, khi phải dầm mưa dãi nắng chăn con trâu mộng bên bờ suối Nà Ban giữa những trưa hè nương ngô cháy rụi không một bóng cây râm. Chỉ cần uống no nước, rồi nằm ép bụng xuống mặt bàn gỗ phẳng lì hoặc tựa chặt lưng vào vách tường đá lạnh ngắt của lớp học, cơn cồn cào quặn thắt ruột gan sẽ tạm lắng xuống sau chừng hai mươi phút chịu đựng, nhường chỗ cho một cơn váng vất mờ mịt ở thái dương.

Tôi tự nhủ với chính mình: nhịn một bữa trưa thì chẳng thể nào chết ngay được, chỉ cần cắn răng đợi đến bảy giờ tối, khi gánh xong hai mươi luống cây giống cho bác Trực ở vườn ươm lâm nghiệp, tôi sẽ được nhóm bếp nấu bát cơm nóng.

Mỗi một bữa trưa nhịn ăn là tôi giữ lại được tròn trĩnh một nghìn đồng tiền mua nửa chiếc bánh mì kẹp chả, hoặc năm trăm đồng tiền một củ khoai nướng vùi tro thơm lựng ở cổng chợ huyện. Một nghìn đồng đối với lũ bạn học cùng lớp có lẽ chẳng bõ dính răng, chỉ vừa đủ cho một que kem mút phẩm màu ngòn ngọt nơi đầu lưỡi hay một gói kẹo vừng be bé gói trong giấy bóng kính mỏng dính. Nhưng nằm gọn lỏn trong chiếc túi vải nhỏ tự khâu kín giấu kỹ nơi cạp quần đẫm mồ hôi của tôi, con số ấy mang một sức nặng sinh tử, một sự tích lũy nhẫn nại đến nghẹt thở.

Ba nghìn đồng là đủ cho một tấm vé xe đò ọp ẹp chạy từ ngã ba huyện về đến tận chân dốc Nà Ban vào mỗi chiều thứ Sáu, cứu rỗi cho đôi bàn chân chai sạn của tôi không phải rã rời kéo lê trên mười cây số đường đèo ngập ngụa bùn đất đỏ quánh đặc quện dưới những cơn mưa phùn mùa đông buốt giá. Nhưng nếu tuần nào tôi bặm môi cắn răng đi bộ trọn vẹn cả mười cây số đường rừng gập ghềnh ấy, số tiền lẻ gom góp từ những bữa trưa nhịn đói sẽ vừa vặn đủ để tôi rụt rè bước vào tiệm photocopy nhỏ hẹp của chú Tuấn bên cạnh bưu điện thị trấn. Tôi sẽ đứng nép bên cánh cửa kính dán đầy quảng cáo, chờ chú Tuấn rỗi việc để xin in nhờ một tập chuyên đề phương trình nghiệm nguyên được photo mờ căm, hay vài trang tài liệu thuật toán cấu trúc dữ liệu nâng cao do thầy Dũng cặm cụi chép tay từ những cuốn sách giáo trình đại học mượn dưới Hà Nội.

Cầm trên tay những trang giấy photo khổ A4 còn khét lẹt mùi mực in mới, mép giấy còn ấm sực nhiệt lượng tỏa ra từ lồng máy sấy và ram ráp dưới đầu ngón tay gầy guộc, tôi bỗng thấy cái dạ dày lép kẹp đang sôi lên ùng ục của mình dường như không còn chút trọng lượng nào nữa. Cơn đói cồn cào có thể làm hai hốc mắt tôi hoa đi trong chốc lát, kéo theo một màn đom đóm chập chờn mỗi khi đứng lên ngồi xuống đột ngột, nhưng những dòng chữ in nghiêng chi chít ký hiệu toán học và các cấu trúc giải thuật trừu tượng kia lại là thứ ánh sáng le lói duy nhất thắp lên trong tâm trí tôi. Chúng nhắc nhở tôi từng giây từng phút rằng tôi không sinh ra trên cõi đời này chỉ để cả một kiếp người chôn chân nơi hốc đá taluy sạt lở, hay lầm lũi cắm mặt bước theo vết chân sau của con trâu mộng nhà bác Lương trên những triền nương ngô cằn cỗi bạt ngàn đá tai mèo.

Thế nhưng cơ thể con người rốt cuộc không phải là một cỗ máy đúc bằng gang thép, càng không phải là những dòng mã nguồn Turbo Pascal vô cảm nằm gọn ghẽ trên trang màn hình xanh biếc, nơi người lập trình chỉ việc khai báo một biến số nguyên rồi để mặc cho vòng lặp chạy vô tận đến ngày tận thế mà không cần nạp thêm năng lượng. Sự bào mòn của cái đói và cái rét diễn ra âm thầm, dai dẳng và lạnh lùng tàn nhẫn, hệt như những giọt nước ngầm nhỏ giọt từng ngày, từng giờ xuống phiến đá vôi ngập rêu trong lòng hang tối.

***

Buổi chiều hôm ấy, tiết trời Mộc Châu đột ngột chuyển rét đậm. Một đợt gió mùa đông bắc tràn về mang theo những đợt sương mù quánh đặc như sữa bò trườn qua các triền núi đá vôi sừng sững, nuốt trọn toàn bộ khoảng sân trường cấp ba huyện trong một màn mây xám đục ảm đạm và buốt giá. Trong phòng học số bốn nằm ở góc khuất của dãy nhà cấp bốn lợp ngói fiprô-xi-măng, lớp bồi dưỡng Toán chuyên đề chuẩn bị cho kỳ thi chọn học sinh giỏi vòng tỉnh của cô Hạnh chỉ có vỏn vẹn sáu đứa học sinh ngồi co cụm rải rác dưới luồng sáng vàng vọt, tù mù tỏa ra từ hai bóng đèn sợi đốt treo lơ lửng bằng sợi dây điện bọc vải đã sờn rách giữa trần nhà ẩm mốc.

Cô Hạnh đứng thẳng người trên bục giảng lát xi măng xám xịt. Cô khoác chiếc áo dạ cũ màu tro cài kín cúc lên tận cổ, mái tóc điểm vài sợi bạc được kẹp gọn gàng, dứt khoát phía sau gáy bằng một chiếc kẹp ba lá bằng nhựa đồi mồi. Tiếng phấn của cô gõ lên mặt bảng gỗ đen giòn giã, dứt khoát và đanh gọn, xé tan bầu không khí ngột ngạt và cái lạnh thấu xương đang luồn qua các khe nứt của cánh cửa liếp:

— Chúng ta xét bất đẳng thức Cauchy-Schwarz dạng phân thức cho ba biến dương x, y, z... Bài toán này thoạt nhìn có vẻ cồng kềnh vì các mẫu số đều chứa căn bậc hai đan xen, nhưng mấu chốt nằm ở việc các em phải tách được phần dư đối xứng để tạo ra vế phụ triệt tiêu... Nam, em lên bảng trình bày tiếp vế biến đổi phụ cho bài toán cực trị này.

Tiếng gọi bất ngờ như một tiếng sét nổ ngang tai làm tôi giật thót mình. Chiếc bút bi Kim Thành vỏ nhựa màu xanh đã mòn vẹt đầu bi tuột khỏi những ngón tay gầy guộc, khẳng khiu của tôi, rớt xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng “cạch” khô khốc, trơ trọi. Tôi vội vã chống hai tay xuống mép bàn định đứng dậy, nhưng hai đầu gối bỗng nhiên mềm oặt ra và run lên bần bật như người trúng gió độc. Một làn sương mờ mờ màu xám tro lập tức phủ kín trước mắt tôi, khiến những công thức đại số chằng chịt, những dấu tích phân và căn thức trên bảng đen bỗng nhiên nhòe nhoẹt đi, bắt đầu xoay tròn thành một cái phễu đen ngòm sâu hoắm.

Tôi phải bám chặt lấy cạnh bàn gập ghềnh một lúc lâu mới có thể gượng đứng thẳng người, lảo đảo bước từng bước nặng trĩu lên bục giảng. Tôi với tay lấy một mẩu phấn trắng nằm chỏng chơ trong chiếc khay gỗ đã đóng một lớp bụi dày. Bàn tay phải của tôi lúc này cứng đờ, lạnh ngắt và tê dại đến mức các đầu ngón tay dường như mất hết tri giác, không còn cảm nhận được độ nham nháp quen thuộc của bột thạch cao.

— Nam? Em có nghe cô hỏi không?

Giọng cô Hạnh vang lên sát bên tai, trầm và ấm áp, nhưng đối với tôi lúc ấy, âm thanh dường như đang vọng lại từ một hẻm núi xa xôi nào đó, mờ mịt như tiếng tù và xé rách màn sương mù dày đặc trên đỉnh Pha Luông. Tôi cắn chặt răng, cố gắng dồn hết chút sức tàn còn lại để nhấc cánh tay phải lên, tì đầu viên phấn vào bề mặt bảng gỗ đen tróc sơn. Nhưng thay vì những phép biến đổi tương đương mạch lạc hay một hệ thức đối xứng khúc chiết thường ngày, trong khoảng không rỗng tuếch của đại não tôi lúc này chỉ toàn là những mảng màu trắng xóa chao đảo và tiếng nước mưa chảy róc rách trong chiếc bể xi măng rêu phong sau trường.

Lồng ngực tôi thắt nghẹn lại, một cơn quặn thắt dữ dội từ đáy dạ dày trống rỗng bốc ngược lên, kéo theo một ngụm dịch vị chua loét, chát ngắt trào dâng lên tận cuống họng. Cả người tôi chao đảo một nhịp. Viên phấn mỏng manh trong tay tôi lập tức gãy đôi dưới một lực ấn vụng về và vô thức, vỡ vụn thành những hạt bụi trắng rơi lả tả xuống nền gạch tàu lạnh buốt.

Tôi đứng chết trân tại chỗ, một chân hơi khuỵu xuống tì vào góc bục giảng. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đầm đìa hai bên thái dương và chảy ròng ròng xuống sống lưng, dính bết lớp áo sơ mi mỏng tanh vào da thịt, dù ngoài trời lúc này nhiệt độ đang hạ xuống dưới mười độ C. Toàn bộ căn phòng học rơi vào một sự im lặng phăng phắc, nặng nề đến nghẹt thở. Thằng Thành ngồi ở bàn đầu ngẩng phắt mặt lên nhìn tôi, đôi mắt nó mở to đầy vẻ kinh ngạc xen lẫn ái ngại và khó hiểu. Mấy đứa bạn khác cũng dừng hẳn tiếng ngòi bút sột soạt trên mặt giấy pơ-luya, ngước nhìn lên bục gỗ.

Cô Hạnh không hề giục giã một lời, cũng không hề to tiếng quở trách hay bộc lộ chút bực bội nào. Cô bước chậm rãi lại gần mép bục giảng, đôi mắt sắc sảo, nghiêm cẩn sau cặp kính lão gọng kim loại dừng lại rất lâu trên khuôn mặt hốc hác, tái nhợt như tàu lá chuối héo của tôi, rồi lướt qua đôi môi khô nứt nẻ đến rớm máu và hai bờ vai gầy guộc đang run bần bật sau lớp áo vá vai. Cô vươn tay ra, những ngón tay ấm áp khẽ chạm vào mu bàn tay đang co quắp của tôi. Cái hơi ấm bất ngờ ấy truyền qua làn da lạnh ngắt khiến tôi giật bắn mình, vội vã rụt tay lại như vừa vô tình chạm phải một tàn than đỏ rực.

— Em về chỗ ngồi đi, — cô nói nhẹ bẫng, thanh âm phẳng lặng không gợn một chút trách cứ. — Thành, em lên bảng làm tiếp phần biến đổi vế trái cho cô.

Tôi cúi gằm mặt xuống, lầm lũi quay trở về góc bàn tít phía cuối lớp học sát cạnh bức tường ẩm mốc. Tôi ngồi phịch xuống ghế gỗ, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt ép chặt dưới gầm bàn nhằm kìm nén lại những cơn co giật run rẩy không sao kiểm soát nổi của các thớ cơ bắp. Cảm giác xấu hổ và nhục nhã ê chề tràn ngập khắp tâm trí tôi, đè nặng lên từng nhịp thở ngắn ngủi.

Tôi chưa bao giờ sợ hãi những bài toán hình học không gian phức tạp hay những phương trình hàm hóc búa nhất; tôi chỉ khiếp sợ ánh mắt thấu suốt đến tận chân tơ kẽ tóc kia của cô Hạnh. Ánh nhìn ấy sắc lẹm hệt như một mũi dao mổ của bác sĩ ngoại khoa, bóc trần toàn bộ sự kiệt cùng, túng quẫn và khốn khó mà tôi đã dốc hết lòng tự trọng non nớt để che đậy dưới những câu trả lời nhát gừng cộc lốc và vẻ ngoài lầm lì, gai góc suốt từ đầu năm học đến giờ.

Khi tiếng kẻng tan buổi học chiều gióng lên ba hồi dài vang vọng khắp sân trường, những học sinh khác nhanh chóng thu dọn tập vở, vội vã đút bút vào cặp để kịp đạp xe về nhà trước khi bóng tối của núi rừng đổ ụp xuống. Cô Hạnh gõ nhẹ chiếc thước gỗ phẳng phiu lên mặt bàn giáo viên, giọng cô vang lên giữa căn phòng đang vơi dần hơi người:

— Nam ở lại lớp. Cô có việc cần nói về tập hồ sơ học bổng của trường.

Lũ bạn liếc nhìn tôi với ánh mắt tò mò rồi lục tục kéo nhau bước qua bậc cửa, tiếng đế guốc và tiếng dép nhựa khua lẹp xẹp xa dần ngoài hành lang lộng gió. Căn phòng học rộng thênh thang phút chốc chỉ còn lại hai cái bóng in dài dưới ánh đèn vàng tù mù. Tiếng gió mùa rít từng hồi u u qua những khe hở của cánh cửa sổ gỗ ọp ẹp nghe rờn rợn như tiếng thở dài ảo não của một người đang kiệt sức.

Cô Hạnh không ngồi lại trên chiếc ghế giáo viên bọc nỉ đỏ ở bục cao. Cô chủ động kéo một chiếc ghế học sinh chân sắt đã tróc sơn, đặt đối diện ngay trước bàn tôi rồi ngồi xuống. Cô đặt lên mặt bàn gỗ một chiếc cặp da đen sờn rách ở bốn góc quai, bên cạnh là một gói giấy nhật trình được bọc cẩn thận qua ba bốn lớp báo cũ buộc bằng một sợi dây chuối khô. Mùi mực in của báo Tiền Phong hòa lẫn với mùi khoai lang nướng than củi ngọt lịm, ấm nồng phảng phất bay ra từ chiếc bọc ấy, ngay lập tức đánh thức toàn bộ những tế bào khứu giác và cái dạ dày đang quặn thắt vì đói lả của tôi.

— Trưa nay em ăn cái gì vào bụng rồi? — Cô Hạnh hỏi, thanh âm của cô trầm đều, bằng phẳng nhưng lại mang một sức nặng ghê gớm, dồn tôi vào chân tường.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cuống họng, hai mắt dán chặt vào một vết nứt sâu hoắm bị mọt đục khoét nơi góc bàn:

— Dạ... trưa nay em ăn cơm dưới trạm khuyến nông rồi ạ. Bác Trực nấu nhiều cơm... bác ấy chia cho em một cặp lồng đầy...

— Nam! — Cô Hạnh đột ngột ngắt lời tôi. Giọng cô hạ thấp xuống nhưng đanh lại, cứng cỏi và dứt khoát như một nhát búa sắt gõ thẳng vào mặt đe gang. — Cô ngồi ở đây không phải để nghe em tập tành nói dối! Cô hỏi là để biết cái thân xác gầy trơ xương này của em còn trụ được thêm bao nhiêu ngày nữa trên cái đất huyện này, trước khi em lại lăn đùng ra ngất lịm một lần nữa dưới chân cầu thang nhà hiệu bộ như đợt thi chọn đội tuyển tỉnh hồi năm ngoái!

Tôi nín bặt, bờ môi run rẩy mím chặt lại. Hai vành tai tôi nóng bừng lên như bị lửa đốt vì tủi cực và xấu hổ.

— Đừng tưởng em giấu được ai, — cô Hạnh thở dài một hơi rất khẽ, làn sương mỏng từ hơi thở cô bay ra tan biến vào không khí lạnh. Bàn tay gầy guộc của cô đặt lên mép bàn, những ngón tay xương xẩu khẽ gõ nhịp nhịp. — Chiều thứ Ba vừa rồi bác Trực đã lặn lội sang tận trường tìm gặp cô. Bác ấy bảo ngày nào em cũng chỉ dậy từ năm giờ sáng, nấu đúng một ca nhôm cơm nhỏ xíu độn sắn mốc ăn lót dạ, rồi cắm mặt nhịn đói suốt cả ngày cho đến tận tám giờ tối mịt mới trở về trạm úp một bát sắn khô luộc ăn với muối trắng giã ớt. Bác ấy còn bảo chiều nào tan học em cũng lén lút lủi ra sau bể nước mưa khu vệ sinh uống nước trừ bữa cho căng bụng. Em tưởng nhịn đói như thế là hay ho lắm à? Em tưởng tự đày đọa thân xác mình cho đến lúc không cầm nổi một mẩu phấn trắng trên bảng là có thể chứng minh cho người khác thấy mình có ý chí, có nghị lực sao?

— Em... em vẫn theo kịp bài giảng... em vẫn giải được toán mà cô, — tôi lí nhí trong cổ họng, hai mắt cay xè. — Em không sao cả... Chỉ là trưa nay trời rét quá, gió thổi buốt đầu nên em hơi váng vất thôi...

— Em không hề ổn! — Cô Hạnh gằn từng tiếng một, ánh mắt sắc sảo của cô nhìn thẳng, xoáy sâu vào tận đáy mắt tôi, một cái nhìn chứa đựng cả sự giận dữ lẫn nỗi xót xa không sao che giấu nổi. — Một cái đầu rỗng không, kiệt quệ vì hạ đường huyết thì không thể nào có đủ năng lượng để duy trì tư duy đại số trừu tượng! Một cơ thể tàn tạ, đói khát đến mức run rẩy từng đầu ngón tay thì chỉ cần một cơn cảm lạnh hay một trận gió độc nơi cửa rừng cũng đủ quật ngã em nằm bẹp dí một xó trước khi em kịp nhìn thấy cánh cổng trường đại học ngoài Hà Nội! Em định dùng cái cách tự sát dần mòn này để thi đỗ vào Đại học Bách khoa à? Em định mang cái thân hình ma đói này xuống thủ đô để tranh đua sòng phẳng với hàng vạn thí sinh no đủ dưới đồng bằng sao?

Tôi cắn chặt môi dưới, cắn mạnh đến mức nếm được cả vị mằn mặn, tanh tanh của vệt máu rỉ ra nơi khóe miệng. Hai mắt tôi nhức buốt nhưng tôi cố mở trừng trừng, chớp mắt liên tục để không một giọt nước mắt nào kịp ứa ra trước mặt cô. Những lời trách mắng của cô Hạnh không mang theo bất kỳ sự khinh miệt hay thương hại trịch thượng nào; chúng trần trụi, lạnh lùng và gai góc hệt như sự thật nghiệt ngã mà tôi luôn tìm cách lẩn tránh bấy lâu nay.

Tôi lại nhớ đến câu hình học không gian và bài toán quy hoạch động trong kỳ thi học sinh giỏi tỉnh năm ngoái. Nhớ cái cảm giác đầu óc bỗng nhiên mụ mẫm, hai mắt tối sầm lại vì đói lả, bàn tay co quắp gõ sai lệch toàn bộ mảng chỉ số mảng hai chiều trên bàn phím, để rồi đánh mất giải thưởng trong gang tấc chỉ vì một cơn quặn thắt ruột gan lúc gần hết giờ. Nỗi uất nghẹn và cay đắng của sự thất bại tủi nhục ấy một lần nữa ùa về, bóp nghẹt lấy trái tim non nớt của tôi, buốt nhói hệt như một vết thương hở miệng gặp phải nước đá mùa đông.

Cô Hạnh lặng lẽ mở chiếc cặp da đen, rút ra một phong bì giấy xi măng màu nâu nhạt cùng một tờ phiếu thu có đóng dấu mộc đỏ chót của Trường Cấp ba Huyện, cẩn thận đẩy chúng về phía trước mặt tôi:

— Đây là suất hỗ trợ học tập bán trú đặc cách từ quỹ khuyến học của Hội đồng hương giáo viên miền xuôi công tác vùng cao kết hợp với ngân sách của nhà trường. Mỗi tháng ba mươi nghìn đồng, được tính toán đủ để em ăn một bữa trưa đàng hoàng, có cơm nóng và thức ăn đầy đủ tại bếp ăn tập thể cùng với các thầy cô giáo và học sinh nội trú người Mông, người Dao ở xa.

Nhìn thấy chiếc phong bì nằm sờ sờ trên bàn, cả người tôi run bắn lên. Tôi vội vã rụt hai tay lại, giấu biến xuống dưới đùi, đầu lắc lia lịa như người mắc lỗi:

— Không... cô ơi, em không dám nhận đâu ạ! Tiêu chuẩn xã xét cho em diện mồ côi được miễn học phí với hỗ trợ mấy cân gạo cứu đói mỗi quý là trường đã ưu ái cho em quá nhiều rồi. Em... em còn sức khỏe, em tự đi làm thuê kiếm tiền ăn được mà. Thầy Dũng bảo sang tuần bên văn phòng ủy ban xã có mấy cái máy tính cũ bị sét đánh hỏng nguồn, thầy cho em đi theo phụ sửa máy rồi chia tiền công... Em không thể lấy tiền này của trường được đâu cô!

— Em ngồi im đấy và nghe cô nói cho hết câu đã! — Cô Hạnh vỗ mạnh lòng bàn tay xuống mặt bàn gỗ, một tiếng đập dứt khoát làm cắt phụt những lời từ chối luống cuống của tôi. — Suất hỗ trợ này không phải là một món tiền từ thiện bố thí, và bản thân cô càng không rảnh rỗi mang đến đây để cho không em! Đây là một khoản học bổng có điều kiện đi kèm.

Tôi ngơ ngác ngước lên nhìn cô, lồng ngực đập dồn dập những nhịp hoang mang, lo sợ.

— Điều kiện thứ nhất: — Cô Hạnh giơ một ngón tay gầy guộc lên, giọng cô rành rọt, đanh thép như đọc một bản nội quy quân sự. — Bắt đầu từ trưa mai, đúng mười một giờ ba mươi phút sau khi tan tiết bốn, em phải có mặt ở nhà ăn tập thể của trường để ngồi vào bàn ăn trọn vẹn một suất cơm nóng có canh, có thịt hoặc trứng. Tuyệt đối không được bỏ bữa, không được lấy bất kỳ lý do gì như bận gõ máy tính, bận trực nhật hay bận làm bài tập để trốn tránh. Cô đã gửi hẳn một cuốn sổ theo dõi riêng cho cô cấp dưỡng ở bếp ăn, ngày nào em xuống ăn phải ký tên điểm danh vào đấy.

— Điều kiện thứ hai: em phải báo cáo thành thật với cô mỗi khi em thiếu tiền sinh hoạt hoặc hết gạo ở trạm giống. Cấm tuyệt đối không được giấu giếm, không được tự ý nói dối quanh co là đã ăn no rồi để tiếp tục nhịn đói uống nước lã trừ bữa sau lưng cô.

— Và điều kiện cuối cùng: — Ánh mắt cô Hạnh chùng xuống một nhịp, trở nên nghiêm khắc vô cùng. — Ba mươi nghìn đồng này là tiền dùng để duy trì sự sống của cơ thể em, để phục vụ cho mục đích học tập cơ bản nhất của một con người. Em không được phép bòn mót từng đồng từng hào để ky cóp mang về xuôi gửi cho nhà bác Lương, cũng không được nhịn ăn nhịn uống để lấy tiền đó mua đĩa mềm hay photo sách nâng cao. Nếu cô phát hiện em vi phạm bất kỳ một điều nào trong ba điều kiện cô vừa nêu, cô sẽ lập tức ký giấy thu hồi toàn bộ khoản hỗ trợ, đồng thời gạch tên em ra khỏi đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi Toán và Tin học của trường ngay trong ngày. Em đã nghe rõ từng lời cô nói chưa?

***

Tôi nhìn trân trân vào chiếc phong bì màu nâu nằm bất động trên những đường vân gỗ xước xát của mặt bàn học. Ba mươi nghìn đồng mỗi tháng. Vào những năm tháng ấy ở cái huyện miền núi heo hút này, ba mươi nghìn đồng là một số tiền không hề nhỏ đối với một đứa học trò ăn nhờ ở đậu, sống lay lắt bằng sự cưu mang của họ hàng. Đó là một chiếc phao cứu sinh bằng gỗ tốt, đủ sức nhấc bổng tôi ra khỏi những trưa mùa đông co quắp vì đói lả, kéo tôi thoát khỏi những cơn hoa mắt chóng mặt triền miên bên những trang sách ố vàng.

Nhưng trong khoảnh khắc ấy, thứ tràn ngập trong lồng ngực tôi không phải là niềm vui sướng hay cảm giác nhẹ nhõm, mà là một nỗi giằng xé dữ dội, đau đớn đến nghẹt thở.

Ký ức về một buổi chiều cuối đông năm ngoái lại đột ngột dội về trong tâm trí tôi, rát bỏng như một vết chàm cọ xát vào da thịt. Tôi nhớ như in bóng dáng còng rạp của bác dâu Sương ngồi thu lu bên cạnh bồ thóc lép trong gian bếp tranh ẩm mốc, tối tăm ở bản Nà Ban. Bàn tay thô ráp nứt nẻ vì ngâm nước lạnh của bác run rẩy lần mở chiếc hộp sắt tây hoen gỉ đựng chỉ may vá, lén lút lấy ra nửa chiếc khuyên tai bằng bạc đã xỉn màu—món của hồi môn duy nhất còn sót lại từ ngày bác đi lấy chồng—rồi nhét vội vào túi áo tôi, giục tôi mang ra chợ huyện bán lấy tiền đi thi tỉnh.

Tôi nhớ tiếng bác dâu gắt gỏng, chửi mắng đổng đảnh để che giấu đi sự nghẹn ngào trong cổ họng, nhớ lời dặn dò vừa tha thiết vừa cay đắng của bác rằng sống chết cũng không được để cho bác Lương biết chuyện. Nửa chiếc khuyên tai bạc bị bẻ gãy ấy là một món nợ máu thịt, một vết sẹo vô hình nhưng nhức nhối hằn sâu vào tâm can tôi suốt bao năm qua. Nó nhắc nhở tôi một cách nghiệt ngã rằng mỗi một hạt cơm, mỗi một đồng tiền mà người khác chìa ra cho mình trong cảnh bần hàn này đều phải trả bằng một cái giá đắt đến xé lòng của một ai đó.

Tôi khiếp sợ cảm giác phải nhận sự giúp đỡ. Kể từ ngày cha mẹ tôi lần lượt qua đời sau những trận ốm dai dẳng, trong đầu óc non nớt nhưng sớm hằn lên những nếp nhăn già dặn của tôi đã tự hình thành một định kiến cay đắng: trên cõi đời này, chẳng có sự giúp đỡ nào thực sự vô tư và miễn phí. Bác Lương cưu mang tôi vì danh dự của dòng họ Nguyễn ở bản và để đổi lấy một đứa trẻ làm nương không công, cày cuốc ngày đêm để trả dần món nợ phân bón của cha tôi; những đồng tiền công còm cõi của ông Tính bán vật liệu xây dựng ngoài ngã ba huyện luôn bị bớt xén từng hào sau những buổi bốc vác xi măng hộc máu mồm; và sự hy sinh thầm lặng của bác dâu Sương thì biến thành một khối đá vô hình đè nặng lên từng nhịp thở của tôi mỗi khi nhìn vào ánh mắt khắc khổ của bác.

Mỗi một lần đón nhận một ân huệ từ bàn tay người khác, tôi lại có cảm giác như chính mình đang tự tròng thêm một sợi dây thừng vào cổ, tự biến mình thành một kẻ mắc nợ truyền kiếp, một kẻ thấp kém luôn phải cúi đầu khúm núm trước cái nhìn xoi mói của nhân gian.

Nếu chiều nay tôi cầm lấy ba mươi nghìn đồng này của cô Hạnh, tôi sẽ trở thành ai? Tôi sẽ biến thành một đứa học trò hèn mạt sống bám vào lòng trắc ẩn thương hại của cô giáo, một trường hợp cứu trợ đáng thương được nhà trường rủ lòng bố thí? Rồi mai này, nếu tôi lại làm sai một bài toán, nếu tôi lại run rẩy gõ nhầm một dòng lệnh khiến đội tuyển vuột mất giải thưởng, tôi sẽ lấy gì để bồi hoàn lại cho cô, ngoài sự nhục nhã của một kẻ bất tài vô dụng chỉ biết ngửa tay xin ăn?

— Em... em thật sự không dám nhận đâu cô ơi, — tôi nghẹn ngào bật thốt lên, hai hốc mắt nóng ran đỏ hoe, những ngón tay bấu chặt vào mép vải quần chàm thô ráp đến mức trắng bệch các khớp xương. — Em sợ lắm... Em sợ mình lại mang thêm một món nợ không bao giờ trả nổi. Món nợ nuôi nấng của nhà bác Lương em còn chưa trả xong, món nợ nửa chiếc khuyên tai bạc của bác dâu em vẫn còn mang trên lưng... Giờ lại nhận tiền của cô, nhận tiền trợ cấp của trường, em thấy bản thân mình hèn hạ và nhục nhã lắm. Em muốn tự dùng sức mình để kiếm hạt cơm mà đi học... Em không muốn phải cúi đầu trước bất kỳ một ai hết cô ơi!

Một giọt nước mắt nóng hổi rốt cuộc cũng không kìm nén được nữa, lăn dài qua gò má hốc hác, đen nhẻm vì nắng gió vùng cao của tôi, rơi bộp xuống mặt bàn gỗ tạo thành một vệt sẫm màu.

Cô Hạnh lặng im nhìn tôi. Ánh mắt cô chùng xuống trong một thoáng ngậm ngùi chua xót, những nếp nhăn nơi khóe mắt khẽ giật giật, nhưng rồi sự nghiêm nghị, rắn rỏi của một nhà giáo đã cắm bản suốt hai mươi năm ròng nơi rẻo cao này nhanh chóng trở lại trên gương mặt cương nghị của cô. Cô chồm người qua mặt bàn, hai bàn tay ấm áp và rắn chắc vươn ra, giữ chặt lấy hai bờ vai đang co rúm lại vì nức nở của tôi. Cô siết chặt lấy tôi, buộc tôi phải ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt lên để đối diện trực tiếp với ánh nhìn của cô.

— Nam, mở to mắt ra mà nhìn cô, nghe cô nói đây này! — Giọng cô Hạnh vang lên rành rọt, từng lời từng chữ như được khắc thẳng vào sâu trong tâm khảm tôi. — Đón nhận sự giúp đỡ chính đáng để giữ lấy cơ hội học tập cho bản thân mình không bao giờ là hèn hạ! Hèn hạ là khi em có cơ hội mở ra trước mắt mà lại tự tay hất đổ nó đi chỉ vì một chút tự ái nghèo nàn và mù quáng!

Cô siết mạnh hai ngón tay lên vai tôi, thanh âm của cô tuy hạ thấp nhưng lại vang dội một uy lực không gì lay chuyển nổi:

— Khoản tiền hỗ trợ này không phải là một cái xiềng xích mang ra để bắt em phải cúi đầu khúm núm trước bất kỳ ai, kể cả trước mặt cô hay trước mặt thầy hiệu trưởng! Em không nợ cô một lời cảm ơn tâng bốc, càng không nợ nhà trường bất cứ một sự hàm ơn mang tính cá nhân nào cả. Thứ mà em đang gánh trên vai lúc này không phải là một món nợ tủi nhục để em phải xấu hổ cúi mặt, mà là một trách nhiệm! Trách nhiệm với chính cái cơ hội học tập mà em đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu cay đắng và cả những trận đòn roi hằn ngang lưng ở bản Nà Ban mới giành giật lại được!

Cô Hạnh buông vai tôi ra, ngón tay trỏ của cô gõ mạnh lên dòng chữ in trên tờ phiếu thu:

— Em chỉ thật sự trở thành một kẻ mắc nợ hèn hạ khi em cầm lấy số tiền này rồi sinh ra lười biếng, yếu đuối, để cho cái nghèo và sự tự ti đè bẹp ý chí, kéo tuột em lại phía sau lưng bè bạn! Còn nếu như em biết dùng từng hạt cơm nóng từ suất hỗ trợ này để nuôi sống cơ thể, để giữ cho đôi mắt em sáng rõ trước từng dòng lệnh, để đôi bàn tay em không còn run rẩy khi cầm bút giải toán, và để bước chân em bước đi thật vững chãi qua kỳ thi đại học phía trước, thì đó chính là cách em đang trả nợ một cách sòng phẳng, kiêu hãnh và đàng hoàng nhất cho tất cả những người đã nâng đỡ em!

Nói đoạn, cô Hạnh với tay kéo bọc giấy báo cũ lại gần phía tôi. Đôi bàn tay thoăn thoắt của cô cẩn thận gỡ từng vòng dây chuối, bóc tách từng lớp giấy nhật trình đã ngả màu ố vàng. Bên trong là hai củ khoai lang mật nướng to bản, lớp vỏ ngoài cháy sém màu than củi đã tươm ra một lớp mật vàng óng ánh, dẻo quánh. Một làn khói nóng hổi, ngào ngạt mùi tinh bột nướng bốc lên nghi ngút, ngay lập tức xua tan đi cái cảm giác lạnh lẽo, ẩm mốc đang bủa vây khắp bốn góc phòng học.

— Cầm lấy mà ăn cho hết đi, — cô Hạnh đẩy hai củ khoai nóng hổi vào sát mép bàn của tôi, ánh mắt cô dịu lại đầy bao dung nhưng giọng điệu vẫn đanh thép, không cho phép có sự chối từ. — Ăn cho ấm bụng rồi cầm bút ký tên vào tờ danh sách nhận hỗ trợ tháng này cho cô. Chiều nay em còn hai tiếng luyện thuật toán nâng cao với thầy Dũng ở phòng máy số mười sáu nữa đấy. Đừng để thầy em phải lắc đầu nhìn một đứa học trò đói lả gõ sai từng dấu chấm phẩy trên màn hình máy tính nữa.

Tôi nhìn hai củ khoai bốc khói nghi ngút, rồi lại nhìn xuống tờ phiếu thu màu trắng tinh có in dòng chữ “Nguyễn Văn Nam - Lớp 10 Chuyên Toán” ngay ngắn dưới con dấu đỏ tươi của trường. Lồng ngực tôi phập phồng dữ dội, một luồng sinh khí ấm áp lạ kỳ từ từ len lỏi khắp các mạch máu, lan tỏa ra khắp tứ chi, đẩy lùi dần cái buốt giá căm căm của buổi chiều đông nơi phố huyện vùng cao.

Tôi run rẩy đưa hai bàn tay đen đúa, cáu bẩn vì đất nương đón lấy củ khoai nóng rẫy từ tay cô Hạnh. Cắn một miếng khoai mềm mịn ngọt lịm vào miệng, vị ngọt bùi béo ngậy của mật khoai hòa lẫn với vị mằn mặn, chát ngắt của những giọt nước mắt muộn màng đang lăn dài xuống khóe môi nứt nẻ. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấu hiểu sâu sắc rằng bài toán sinh tồn của đời mình vừa tìm ra được một lời giải hoàn toàn mới—một lời giải không hề có trong bất kỳ một trang sách giáo khoa nào, nhưng nó dạy cho một đứa trẻ nghèo hèn như tôi biết cách ngẩng cao đầu mà đón nhận sự tử tế, để có thể bước tiếp những bước chân kiêu hãnh trên con đường chông gai phía trước.

***

Bước sang những tuần sau đó, trong các giờ thực hành môn Tin học, những bài kiểm tra lập trình đầu tiên đã mang lại cho tôi kết quả rất tốt. Những đêm dài ngồi thu mình bên chiếc máy tính chắp vá từ các linh kiện thanh lý han gỉ ở chái phụ bản Nà Ban, kết hợp với thói quen rà soát cẩn thận từng dòng lệnh và kiểm tra kỹ lưỡng các điều kiện biên sau bài học xương máu ở kỳ thi học sinh giỏi tỉnh, đã rèn giũa cho tôi một phản xạ cẩn trọng hiếm thấy ở những đứa học trò cùng trang lứa.

Thầy Dũng mỗi lần chấm bài của tôi trên chiếc máy chủ duy nhất của phòng thực hành đều đứng nhìn màn hình gật gù hài lòng, và vài giáo viên bộ môn tự nhiên trong trường bắt đầu chú ý, nhìn thấy năng lực thật sự ẩn giấu bên trong tôi. Họ dần nhận ra đằng sau vẻ ngoài lầm lì, ít nói cùng bộ quần áo sờn rách, cũ kỹ của một đứa trẻ mồ côi nghèo khó là một tư duy thuật toán rành mạch, sắc bén và vô cùng chính xác.

Thế nhưng, một kỳ thi lớn mang tính bước ngoặt của đời người lại không bao giờ vận hành bằng một môn học duy nhất. Ở các môn đòi hỏi thời gian ôn tập đều đặn, cần sự tĩnh tâm để tích lũy và ghi nhớ khối lượng kiến thức nền tảng khổng lồ như Hóa học, Lịch sử hay Địa lý, tôi bắt đầu bộc lộ sự hụt hơi rõ rệt. Những buổi sáng sớm tinh mơ phải thức dậy từ bốn giờ để gánh nước tưới đẫm hai mươi luống cây con ở vườn ươm trạm khuyến nông, những chuyến cuốc bộ mười cây số đi về giữa trường huyện và bản Nà Ban, cùng hàng núi công việc nương rẫy nặng nhọc dồn dập vào mỗi dịp cuối tuần đã xé lẻ quỹ thời gian học tập vốn dĩ đã ít ỏi của tôi thành từng mẩu vụn vặt vãnh.

Tấm bảng thông báo kết quả kiểm tra định kỳ dán trên bức tường vôi lở lói ngoài cửa lớp học phơi bày một thực tế nghiệt ngã và tàn nhẫn: tôi không phải là một kẻ yếu kém toàn diện, nhưng tôi cũng không thể nào mơ tưởng giành chiến thắng trong mọi kỳ thi cam go chỉ bằng một sở trường tin học đơn độc.

Thầy Dũng gặp tôi ngoài cửa phòng máy vi tính vào một buổi chiều muộn, khi tôi đang lúi húi quét dọn sàn nhà đầy bụi bặm. Thầy vỗ nhẹ bàn tay rắn rỏi lên vai tôi, ánh mắt nghiêm khắc nhưng chất chứa đầy nỗi âu lo:

— Điểm Tin học của mày tốt thật đấy Nam ạ, nhưng nó không phải là cái chứng chỉ vạn năng để mày tự huyễn hoặc rằng mình có thể gánh vác nổi mọi thứ trên đời đâu. Đừng có dại dột lấy cái sở trường ấy ra làm cái cớ để buông lỏng, lơ là các môn học cơ bản khác. Thi đại học là một cuộc chạy đua đường dài toàn diện, chỉ cần mày ngã ở một môn phụ là coi như công sức bao năm qua đổ hết xuống sông xuống suối.

Tôi chỉ biết cúi đầu vâng dạ lí nhí để thầy yên lòng, nhưng trong đầu óc non nớt lúc ấy vẫn đang âm thầm toan tính một kế hoạch liều lĩnh: tôi sẽ nhồi nhét thêm giờ học vào những đêm mùa đông lạnh giá, cố gắng thức khuya hơn nữa bên ngọn đèn dầu hạt đỗ leo lét đặt ở chái nhà nuôi tằm, nơi gió lùa qua từng kẽ vách nứa.

Thế nhưng, cái toan tính nghèo nàn và ngây thơ ấy của tôi nhanh chóng sụp đổ tan tành trước thực tế phũ phàng của cuộc sống sinh nhai.

Trưa ngày thứ Sáu, một mẩu tin nhắn ngắn ngủi viết vội trên mảnh giấy xé từ bao thuốc lá do con Lan gửi theo một chuyến xe thồ chở củi ngoài chợ huyện đã được chuyển đến tận tay tôi: nương ngô trên sườn Pha Luông đã bước vào chính vụ thu hoạch, trời sắp sửa trở một đợt áp thấp mưa to kéo dài, nhà bác Lương đang thiếu người bẻ bắp trầm trọng.

Cầm mẩu giấy nhăn nhúm trên tay, ruột gan tôi như có lửa đốt. Tôi vội vã thu dọn mấy cuốn vở ghi chép vào chiếc cặp rách, cắn răng bước thật nhanh trên con đường đèo mười cây số lầy lội ngập bùn đất đỏ quánh. Lòng tôi trĩu nặng như đeo đá tảng khi cay đắng nhận ra rằng toàn bộ thời gian biểu ôn tập mà tôi đã cặm cụi vạch sẵn cho hai ngày nghỉ cuối tuần này lại sắp sửa vỡ vụn thêm một lần nữa.

Khi đôi bàn chân rã rời, bê bết bùn đất của tôi lê bước về tới khoảng sân đất nện trước nhà, đập vào mắt tôi là hình ảnh bác Lương đang ngồi xổm bên tảng đá hộc cạnh bể nước mưa. Bác đang cặm cụi mài sắc lại lưỡi rựa đi rừng, từng tiếng kim loại nghiến vào đá phát ra những âm thanh “xoèn xoẹt” sắc lạnh, khô khốc vang vọng khắp gian sân vắng. Bác không hề ngẩng đầu lên, cũng chẳng buồn cất tiếng hỏi han xem việc học hành thi cử của tôi ở trường huyện dạo này ra sao.

Ánh mắt đùng đục, lạnh tanh của bác chỉ hướng về phía triền nương ngô xa xăm, rồi ngước nhìn lên những đám mây xám xịt, nặng trĩu hơi nước đang ùn ùn kéo về từ phía đỉnh núi báo hiệu một đợt thời tiết xấu sắp ập tới. Bác cất giọng càu nhàu, bảo tôi rằng tuần này phải bỏ dở mọi việc ở trường để về sớm hơn dự định mà lên nương phụ giúp, giọng điệu thản nhiên và dứt khoát như thể mọi kỳ học, mọi bài thi trên đời này đều là thứ có thể thong thả chờ đợi, còn mùa bẻ ngô của đất trời thì tuyệt đối không thể nào chậm trễ dù chỉ một ngày.

Bác gõ mạnh sống rựa vào tảng đá hộc nghe chát chúa, buông một câu khô khốc làm tan biến mọi toan tính của tôi:

— Học thêm một năm cũng không đổi được số ngô đang cần thu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories