Đường đến trường huyện
Tờ giấy cô Hạnh đưa không mở cho tôi một cánh cổng trường mới; tôi đã học ở trường huyện từ trước. Nó chỉ ghi những khoản hỗ trợ phải duy trì, địa chỉ chỗ ở nhờ ổn định hơn và những chuyến đi về mà tôi chưa biết lấy gì để trả.
Sáng hôm ấy, sương mù ở thị trấn Mộc Châu chưa tan hẳn, bám dầy đặc vào mấy tán thông già xù xì dọc theo hàng rào sắt đã rỉ sét của trường phổ thông huyện. Hơi lạnh từ các hốc núi đá vôi phía sau thị trấn cuồn cuộn tràn xuống, mang theo cái ẩm ướt buốt giá đặc trưng của vùng cao vào những ngày cuối đông. Cô Hạnh kéo tôi vào một góc hành lang vắng trước văn phòng Đoàn trường, nơi gió bấc lùa hun hút buốt rát hai bên vành tai nhưng lại đủ kín đáo, đủ khuất khỏi tầm mắt tò mò của những nhóm học sinh đang túm tụm dưới sân, để không ai nghe thấy những con số nhỏ mọn, trần trụi mà một đứa học trò diện chính sách như tôi phải còng lưng gánh vác.
Trên tay cô là một tập hồ sơ kẹp trong bìa giấy cứng màu xanh nhạt đã sờn mép, góc trên bên trái có đóng dấu giáp lai đỏ au, sắc nét của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện. Cô mở tập hồ sơ ra, cẩn thận lật từng trang giấy pơ-luya mỏng tang, tiếng giấy sột soạt lẫn trong tiếng gió bấc thổi qua khe cửa kính vỡ.
— Giấy xác nhận duy trì chế độ miễn học phí và tiền hỗ trợ mua sách vở cho học kỳ hai của em đã xong, — cô Hạnh nói, ngón tay trỏ có vết chai mỏng vì cầm phấn lâu năm miết phẳng nếp gấp của tờ quyết định có chữ ký phê duyệt mực xanh đen. — Nhà trường cũng đã làm việc với bên hội khuyến học xã Bản Nà Ban để họ giữ nguyên chỉ tiêu gạo hằng tháng chuyển ra kho lương thực thị trấn cho em. Nhưng Nam phải nhớ cho kỹ điều này, đây chỉ là mẩu giấy tờ thủ tục giữ cho em không bị gạch tên khỏi sổ bộ học sinh, giữ cho em có cái quyền danh chính ngôn thuận bước chân qua cổng trường mỗi sáng mà không bị bác bảo vệ chặn lại hỏi giấy tờ. Nó không thay thế được cơm ăn ba bữa, càng không trả thay em tiền xe đò hay tiền mua xà phòng, mỡ đèn dầu thắp mỗi đêm.
Tôi nhìn vệt mực đỏ dấu mộc còn vương chút mùi hăng hăng của phẩm dấu tươi, ngực thắt lại, khẽ cúi đầu:
— Em hiểu rồi ạ. Có được tờ giấy này là em yên tâm tiếp tục học rồi cô.
— Chưa yên tâm được đâu, — giọng cô chùng hẳn xuống, nghiêm nghị nhưng rành rọt từng chữ, từng thanh âm găm vào không gian buốt giá. — Chỗ ở cũ của em tại gian kho để đồ sau nhà bà giáo Ngô người ta sắp lấy lại rồi. Con trai bà vừa đánh điện báo cuối tuần này đưa đứa cháu từ nông trường chè về ở nhờ để tiện đi làm công nhân bên xưởng đóng gói. Cô đã phải nhờ người quen bên xóm Ba Xã, hỏi han mãi mới xin được cho em một chỗ ở nhờ khác ổn định hơn, ngay sát bờ rào sau trường. Nhà bác Trực làm bên trạm khuyến nông huyện. Nhà họ có một gian chái nhỏ trước kia dùng làm nơi nuôi tằm giống, nay bỏ không để chứa nông cụ hỏng. Bác ấy đồng ý cho em ở nhờ dài hạn đến hết năm lớp mười hai, tuyệt đối không lấy một đồng tiền phòng. Đổi lại, mỗi sáng sớm em phải dậy trước giờ người ta đi làm, quét dọn toàn bộ mảnh vườn ươm giống, gánh nước từ giếng khơi tưới đẫm các luống cây giống con và phụ khiêng vác những đợt phân bón hóa học mỗi khi xe tải chuyển hàng về trạm.
Cô Hạnh ngừng lời, đưa mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt tôi, ánh mắt nghiêm khắc nhưng chất chứa nỗi xót xa kín đáo, như muốn đo lường xem đôi vai gầy guộc nhô cao dưới lớp áo vải mỏng của tôi còn chịu đựng thêm được bao nhiêu tầng tầng lớp lớp gánh nặng nữa:
— Đây là con đường duy nhất để giữ em theo được chặng đường dài mà không bị đứt gánh giữa chừng. Ký túc xá của trường thì em biết rồi đấy, ngân sách huyện rót xuống chậm, còn lâu mới sửa chữa xong mái dột, mà dù có sửa xong đi chăng nữa thì em cũng chẳng đào đâu ra tiền nộp phí vệ sinh với tiền điện nước nội trú hằng tháng. Ở chỗ bác Trực, người ta không đòi hỏi đồng tiền cắc bạc nào của em, nhưng người ta đòi hỏi sức lao động đều đặn và sự tận tụy. Em phải tự biết cách cân đối sức lực và thời gian của mình. Đừng bao giờ để người ta phải phàn nàn nửa câu nào đến tai các thầy cô trong trường, và tuyệt đối không được vì mải làm việc phụ bên trạm mà trễ nải giờ lên lớp chính khóa. Những khoản thiếu hụt khác của đời sống thường nhật, từ manh áo ấm mặc chống rét đến đồng tiền đi lại giữa bản và huyện, tờ giấy quyết định này hoàn toàn vô nghĩa, không thể xóa đi được. Em vẫn phải tự mình lấy thân xác và thời gian ra mà lấp vào những chỗ rỗng toang hoác đó.
— Dạ, em làm được. Cứ có chỗ che mưa che nắng đàng hoàng, gần trường để đi bộ là em làm được hết, cô đừng lo, — tôi đáp, hai bàn tay vô thức siết chặt mép quai chiếc túi vải thô đeo chéo ngang ngực.
Tôi biết rất rõ cái giá vô hình nhưng nặng trịch của hai chữ “ở nhờ”. Từ ngày mẹ Mai trút hơi thở cuối cùng vì bệnh phổi rồi cha Hòa cũng kiệt sức thổ huyết nằm xuống chưa đầy hai tháng sau đó, cái giá ấy đã được khắc sâu vào từng thớ thịt, từng khớp xương ngón tay, ngón chân tôi qua bao nhiêu mùa sương giá. Ở nhờ nơi góc chái nhà sàn của gia đình bác Lương trong bản Nà Ban hay ở nhờ gian chái nuôi tằm của bác Trực ngoài thị trấn huyện lỵ này, bản chất đều giống nhau đến cay đắng. Nó đòi hỏi một sự nhẫn nhịn tuyệt đối, một phản xạ tự thu mình lại cho thật nhỏ, thật mỏng để không làm vướng mắt người khác, và sẵn sàng đánh đổi sức lực của mình để trừ nợ cho từng tấc đất dung thân.
Buổi trưa hôm ấy, ngay sau khi tan buổi học sáng, tôi gom góp toàn bộ đồ dùng tối thiểu của mình từ gian kho ẩm thấp của bà giáo Ngô để chuyển dời sang chỗ mới. Tài sản của tôi chẳng có gì nhiều nhặn, tất cả đều đã cũ kỹ và mòn vẹt theo năm tháng: hai bộ quần áo vải chàm tự dệt đã vá chằng chịt bằng những miếng vải vụn khác màu ở hai đầu gối, một đôi dép nhựa Tiền Phong màu trắng đục đã mòn vẹt cả đế gót đến mức trơn tuột mỗi khi dẫm phải bùn non, chiếc màn tuyn rách lỗ chỗ đã được con bé Lan khéo léo dùng chỉ dù màu xám vá lại hình mạng nhện, và quý giá nhất, thiêng liêng nhất trần đời là chiếc bọc ni-lông buộc ba lớp kín mít, bên trong đựng cuốn vở bài tập toán viết tay bằng mực tím của mẹ Mai để lại cùng xấp tài liệu thuật toán Pascal do thầy Dũng chép tay đưa cho. Toàn bộ gia tài của một đứa học sinh lớp chọn Toán trường huyện nghèo kiết xác chỉ gọn lỏn trong một chiếc bao tải dứa màu xanh rêu, miệng bao buộc túm bằng một đoạn dây gai rừng săn chắc.
Gian chái nhà bác Trực thấp tè tè, nép sát vào một góc vườn cây ăn quả còi cọc. Mái nhà lợp bằng những tấm fibro xi măng đã ngả màu rêu đen kịt, nhiều chỗ sứt mẻ góc để lộ ra những đường viền xơ xác. Tường gạch không trát vữa xi măng mà chỉ quét tạm một lớp vôi trắng pha cát mỏng lét, nay đã toang toác những vệt nứt hình chân chim, để lộ cả lõi gạch vỡ màu đỏ quạch.
Vừa bước qua khung cửa gỗ ọp ẹp không có then cài, một luồng không khí nồng nặc mùi lá dâu tằm khô mục lâu ngày quyện với mùi ẩm mốc của nền đất nện đã xộc thẳng vào cánh mũi tôi. Nền đất lạnh ngắt, nham nhở những vết đào xới cũ kỹ của chuột bọ, góc tường còn sót lại những chiếc nong tằm đan bằng tre đã gãy nan, bám đầy màng nhện xám xịt.
Bác Trực dẫn tôi vào, tay cầm chiếc đóm thuốc lào dở, chỉ một ngón tay thô ráp đầy vết nhựa cây vào chiếc phản gỗ tạp ba tấm kê sát góc tường đất:
— Mày cứ nằm tạm ở góc này. Đồ đạc gom cho gọn vào một xó, không được bừa bãi vung vãi ra lối đi chung của trạm. Nước sinh hoạt hằng ngày thì tự vác xô ra cái giếng khơi ở góc vườn sau bếp trạm, múc gầu nào dùng cho hết gầu ấy, cấm tuyệt đối không được để nước tràn lênh láng ra sân gạch làm trơn trượt chân người lớn. Đèn dầu thì tự đi mua dầu hỏa mà thắp ban đêm, trạm khuyến nông này không cấp đường dây điện ra chái này đâu, cháy nổ một cái là rũ tù cả lũ. Cứ sáng sớm đúng năm rưỡi thức dậy, lấy chổi tre quét sạch bong lớp lá dâu rụng dọc con dốc đất đi vào vườn ươm giống, gánh nước tưới xong xuôi hai mươi luống cây con rồi hãy cắp sách đi học.
— Vâng, cháu nhớ kỹ rồi ạ. Cháu đội ơn bác đã thương tình cưu mang.
Tôi cúi gập người xuống, hai tay chắp chặt trước bụng, chiếc lưng hơi cong lại theo thói quen, miệng thốt ra câu cảm ơn trơn tru, chuẩn xác như một phản xạ tự nhiên đã được rèn giũa suốt bao năm tháng ăn cơm nhờ đất người. Tôi hiểu rất rõ thân phận của mình, không bao giờ dám ảo tưởng một mảy may.
Ở chái phụ bản Nà Ban, tôi phải cúi đầu vì món nợ ma chay năm xưa của cha mẹ tôi chưa trả hết cho gia đình bác Lương, vì từng bát mèn mén độn sắn cắn dở mà người ta ban phát cho tôi trong những tiếng thở dài bực dọc và những cái lườm nguýt của người lớn. Còn ở thị trấn này, tôi phải cúi đầu để đổi lấy vài mét vuông đất nện kê tấm phản gỗ ọp ẹp, để có được một cái địa chỉ cư trú hợp pháp mà bám trụ lại trường huyện.
Chỉ khác nhau ở cái cớ và cái lý do buộc phải cúi đầu, nhưng cái lưng một khi đã còng xuống thì bao giờ cũng trĩu nặng một vị mặn chát của tủi hờn như nhau cả.
Đêm đầu tiên ở chỗ trọ mới, tôi nằm trơ trọi trên tấm phản gỗ lạnh ngắt, không có đệm rơm, chỉ lót tạm chiếc chiếu cói rách đôi đầu. Bên ngoài, tiếng gió mùa đông bắc rít liên hồi qua những khe hở toang hoác của bờ tường fibro xi măng, tiếng lá dâu khô va vào nhau sàn sạt trên mái hiên như tiếng móng tay cào vào vách nứa. Cái rét buốt từ mặt đất nện bốc lên xuyên qua lớp chiếu cói mỏng, ngấm dần vào da thịt khiến sống lưng tôi run lên từng cơn bần bật. Tôi co ro hai chân, cuộn tròn người lại như một con tằm nằm trong kén, hai tay ôm chặt lấy lồng ngực.
Chạm tay qua lớp vải áo thô, tôi sờ thấy cuốn sổ tay nhỏ ghi chép các thuật toán Pascal được bọc cẩn thận trong túi nilon. Dù chỗ ở ngoài huyện đã tạm gọi là ổn định để tôi có thể theo học dài hạn, nhưng sợi dây vô hình trói buộc tôi với mảnh đất bản làng và những món nợ cũ chưa bao giờ nới lỏng dù chỉ là một mắt xích nhỏ.
Bác Lương đã ra điều kiện sắt đá ngay từ cái ngày bấm ngón tay điểm chỉ vào tờ đơn xác nhận cho tôi ra ngoài trường huyện học tập: tôi chỉ được phép đi học với điều kiện tiên quyết là không được bỏ bê bất kỳ công việc nương rẫy nào của gia đình. Vì thế, cứ đến chiều thứ Sáu hằng tuần, hoặc những đợt nhà bác bước vào vụ tra hạt ngô, làm cỏ nương trên các triền dốc dựng đứng của dãy Pha Luông, tôi lại phải tất tả thu dọn sách vở, cuộn tròn manh áo để đi bộ trở về bản.
Quãng đường mười cây số từ thị trấn Mộc Châu ngược vào Bản Nà Ban là một phép tính toán chi li, nghiệt ngã đến từng xu lẻ và từng khắc thời gian của một ngày. Xe đò chạy tuyến đường rừng mỗi chiều lấy ba nghìn đồng một lượt. Ba nghìn đồng—đó là một con số khổng lồ đối với tôi, bằng đúng số tiền mua ba cuốn vở Bãi Bằng loại mỏng bốn mươi tám trang, hoặc đủ để tôi mua một chai dầu hỏa nhỏ thắp sáng tằn tiện suốt hai tuần lễ cặm cụi giải toán đêm. Một đứa học trò ăn nhờ ở đậu như tôi thì làm sao dám mơ đến chuyện trèo lên cái băng ghế gỗ đệm rách của chiếc xe ca ọp ẹp nhả khói đen mù mịt ấy.
Tôi chỉ có một con đường duy nhất: đi bộ.
Đôi chân trần bấm chặt xuống mặt đường đất đỏ gồ ghề lởm chởm những đá dăm, đá cuội nhọn hoắt. Mùa mưa thì đất đỏ nhão nhoét dính chặt lấy bàn chân, ngập sâu đến tận mắt cá chân, kéo từng bước đi nặng trĩu như đeo chì; còn mùa đông hanh khô thì đất nứt nẻ thành những rãnh sâu hoắm, sắc lẹm như những mảnh sành cứa vào gót chân nứt nẻ rỉ máu. Cứ mỗi chiều thứ Sáu, vừa dứt hồi trống tan trường dồn dập lúc bốn giờ chiều, trong khi bạn bè cùng lớp thong dong rủ nhau ra quán nước chè chén đầu cổng trường ăn kẹo lạc, hay thảnh thơi đạp xe về khu gia binh nông trường, tôi đã phải cắm đầu chạy thục mạng ra khỏi cổng sắt thị trấn.
Tôi luôn phải vừa đi vừa nhẩm tính thời gian trong đầu một cách căng thẳng. Nếu rời khỏi cổng trường lúc bốn giờ mười lăm phút chiều, sải chân thật dài, duy trì tốc độ đi bộ nhanh gần như chạy bước ngắn ở những đoạn dốc thoai thoải, tôi sẽ kịp vượt qua được con dốc Ban Nà hiểm trở trước khi mặt trời lặn hẳn sau rặng núi đá vôi. Nếu chỉ cần đi chậm mười lăm phút thôi, bóng đêm dày đặc của đại ngàn sẽ đổ sụp xuống lưng đèo nhanh như một tấm màn đen khổng lồ, sương muối buốt giá sẽ phủ kín lối đi mòn mịt mù, và đàn chó săn hung dữ của các lán nương ven rừng sẽ chồm ra sủa dữ dội, sẵn sàng lao vào cắn xé kẻ lạ mặt đi đêm.
Và một điều quan trọng hơn cả, việc về muộn mười lăm phút đồng nghĩa với việc bữa cơm tối của gia đình bác Lương đã dọn xong xuôi từ lâu. Bác Lương sẽ không bao giờ chừa phần cơm cho một đứa đi học về muộn, còn bác dâu Sương sẽ có ngay một cái cớ hoàn hảo để cằn nhằn suốt cả đêm về “cái giống học đòi thị trấn, mới đi được mấy bữa đã làm bộ làm tịch, ra vẻ chữ nghĩa để người già ở nhà cày mặt ra đồng áng rồi phải đợi cơm”.
Chính vì cái nhịp điệu sinh tồn nghiệt ngã và tàn nhẫn ấy, tôi hiếm khi có được một ngày cuối tuần thảnh thơi trọn vẹn, càng không bao giờ dám bén mảng hay tơ tưởng đến những buổi học thêm phụ đạo do các thầy cô tâm huyết mở vào chiều thứ Bảy hay sáng Chủ nhật ở trường huyện.
Chiều thứ Sáu vừa cuốc bộ về đến bản, mồ hôi vã ra như tắm dù trời rét căm căm, vừa quẳng vội chiếc túi vải thô vào góc chái nhà là tôi đã phải với ngay lấy đôi quang gánh tre kĩu kịt chạy thốc ra mó nước đầu bản để gánh cho đầy ắp hai chiếc chum sành lớn đặt dưới gầm sàn. Cả ngày thứ Bảy và nửa ngày Chủ nhật hôm sau, tôi vùi mình từ sáng sớm tinh mơ đến tối mịt trên nương ngô Pha Luông, cuốc từng nhát đất cằn cỗi, dọn sạch từng bụi cỏ dại sắc như dao cạo, làm việc miệt mài đến mức hai bàn tay phồng rộp lên những bọng nước trong suốt, vỡ ra rỉ máu rồi đóng thành những mảng vảy chai sần thô ráp.
Đến trưa Chủ nhật, sau khi nuốt vội bát cơm ngô nguội ngắt trộn mèn mén với mấy cọng rau cải mèo đắng nghét luộc chấm muối ớt, tôi lại phải tất tả thu dọn quần áo để chuẩn bị cho chuyến cuốc bộ mười cây số ngược ra huyện, nhằm kịp có mặt ở gian chái nuôi tằm trước khi đêm muộn buông xuống, chuẩn bị cho buổi học sáng sớm ngày thứ Hai.
Trưa hôm ấy, bầu trời Nà Ban chuyển mưa phùn lất phất, bầu không khí xám xịt ảm đạm bao trùm khắp các thung lũng ngô. Những cơn gió buốt lạnh từ đỉnh Pha Luông thổi tràn xuống thung sâu, mang theo cái rét ngọt thấu tận tâm can. Bác Lương và anh Tùng đã dắt trâu đi sang bản bên mượn bò kéo gỗ từ sớm tinh mơ để sửa lại chuồng lợn, trong căn nhà sàn rộng thênh thang chỉ còn lại bác dâu Sương đang lúi húi nấu cám dưới bếp củi và con bé Lan đang quét dọn lá khô ngoài khoảng sân đất.
Tôi thắt chặt hai đầu dây buộc của chiếc bao tải dứa, khoác chéo qua ngực áo, bước chậm rãi ra bậc cửa liếp bằng tre nứa. Bác dâu Sương từ trong gian bếp đầy khói mù mịt bước ra ngoài, tay vẫn cầm chiếc chổi đót quét dở, đôi mắt sắc lẹm liếc xéo qua chiếc túi lép kẹp của tôi một cái rồi ngoảnh mặt nhìn ra hàng rào, cất giọng khô khốc, gắt gỏng:
— Đi thì bước chân cho sớm sủa, đừng có la cà tụ tập quán xá dọc đường rồi tối mịt tối mò mới mò đến nơi. Ngoài thị trấn huyện lỵ người ta xét nét giờ giấc nề nếp lắm, liệu mà giữ thân, đừng để người ta đuổi cổ về bản thì làm xấu hổ cái mặt cái nhà này ra.
— Vâng, cháu đi ngay đây ạ, — tôi khẽ khàng đáp, cúi mặt bước thật nhanh xuống những bậc thang gỗ trơn tuột vì dính nước mưa.
Tôi vừa đi ra đến rặng dâm bụt đỏ quạch ở đầu con ngõ dẫn ra suối thì nghe tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch, vội vã đuổi theo sát sau lưng. Lan thở hổn hển, chiếc khăn len cũ màu chàm quấn vội trên cổ còn vương vài cọng rơm khô của đống tro bếp. Con bé đưa bàn tay nhỏ thó níu chặt lấy tay áo tôi, dùng hết sức giật mạnh tôi nép vào bóng râm của một gốc cây ban cổ thụ rêu phong mọc bên bờ suối cạn.
— Anh Nam! Cầm lấy cái này mau lên, — Lan nói dồn dập, hơi thở phả ra làn khói trắng mỏng trong không khí buốt giá. Bàn tay con bé thoăn thoắt chìa ra một gói lá chuối hơ lửa cẩn thận, được buộc chặt bằng một sợi lạt nứa mềm.
Con bé chẳng đợi tôi kịp lên tiếng hỏi han, nhanh như cắt nhét tọt gói lá chuối vào tận đáy chiếc túi vải thô của tôi, rồi kéo chiếc áo chàm rách phủ chèn lên trên để che khuất tầm mắt của bất cứ ai đi ngang qua.
— Cái gì thế này hở Lan? — Tôi giật mình, vội vàng giữ chặt lấy cổ tay gầy guộc của em lại.
— Cơm nắm với khúc cá mắm nướng đấy, — Lan thì thầm thật nhỏ, đôi mắt đen láy dáo dác nhìn ngược về phía ngôi nhà sàn thấp thoáng sau rặng cây dâm bụt. — Sáng nay mẹ rán mỡ lợn làm cá mắm cho bố với anh Tùng ăn đi rừng, em lén bớt lại được một khúc nạc với nắm thêm nửa bát cơm dẻo ở tận đáy nồi gang. Anh cầm lấy mà ăn dọc đường đi bộ ra huyện, hoặc để dành tối nay ra ngoài gian chái trọ mà ăn lót dạ.
Tôi sững người ra như phỗng đá. Mùi thơm ngai ngái, ấm áp của lá chuối vừa được hơ qua than củi quyện với mùi cá mắm mằn mặn đặc trưng xộc thẳng vào khứu giác tôi, lập tức đánh thức cơn cồn cào cắn xé trong khoang bụng—nơi vốn chỉ mới được lót dạ tạm bợ bằng một bát mèn mén lưng lửng, khô khốc lúc giữa trưa.
Nhưng tôi biết rất rõ quy củ nghiệt ngã trong ngôi nhà sàn ấy: từng hạt gạo nếp, từng mẩu cá khô, từng thìa mỡ lợn đều được bác dâu Sương đong đếm, tính toán cẩn thận từng bữa ăn một. Nếu phát hiện ra thiếu hụt một mẩu cá hay vơi đi một nắm cơm, người phải hứng chịu những trận lôi đình, những cái tát trời giáng hay những lời chửi rủa cay độc đầu tiên sẽ chính là con bé Lan.
— Thôi, anh không lấy đâu, — tôi toan thò tay sâu vào đáy túi vải để rút bọc lá chuối ra trả lại cho em. — Em mang về giấu mà ăn đi, hoặc để dành đến tối mà ăn. Ngoài trọ huyện anh có tiêu chuẩn gạo hàng tháng của nhà nước cấp rồi, đói làm sao được mà lo. Mẹ mày mà phát hiện ra mày bớt cơm bớt cá mang cho anh thì mẹ lại vác que đánh nát mông đấy, không đùa được đâu.
Lan dùng cả hai bàn tay giữ chặt lấy mép túi vải của tôi, không cho tôi rút ra. Gương mặt sạm nắng, gầy guộc của cô bé mười ba tuổi lộ rõ vẻ bướng bỉnh và một nỗi âu lo già dặn trước tuổi đến đau lòng. Đôi mắt con bé trong veo nhưng khóe mi giật giật liên hồi vì quá đỗi căng thẳng:
— Mẹ không biết được đâu! Mà có biết thì... cùng lắm là mắng chửi em vài câu rát tai chứ làm gì đến nỗi nào. Anh đừng có gạt em nữa! Cái tiêu chuẩn gạo trường phát mỗi tháng được có mấy cân bạc bẽo? Anh tưởng em không biết anh toàn nhịn bữa trưa để dành tiền mua dầu hỏa thắp đèn học với mua giấy viết bài chắc? Đợt trước anh ngất lịm đi ở chân cầu thang trường huyện, cô Hạnh phải gửi lời nhắn theo xe chở phân bón về bản, em đã biết tỏng hết cả rồi!
Lan ngước nhìn thẳng vào mặt tôi, giọng con bé bỗng chùng hẳn xuống, run run, chực òa khóc:
— Anh đừng có dùng việc về nhà làm nương làm rẫy làm cái cớ để nhịn đói bỏ bữa nữa. Người ta đi ra huyện ăn học thì béo tốt, trắng trẻo ra, còn anh cứ mỗi lần từ huyện lội bộ về bản lại gầy rộc đi một tí, hai con mắt sâu hoắm như người ốm dở sắp chết. Anh mà ngã bệnh ra đấy thì ai nuôi anh? Bố em chắc chắn sẽ bắt anh nghỉ học luôn tức khắc để ở nhà chăn trâu kéo cày chứ đời nào cho anh đi học chữ nữa đâu!
Từng lời nói mộc mạc, run rẩy của đứa em họ như những mũi kim châm thẳng vào chỗ đau đớn, nhức nhối nhất mà bấy lâu nay tôi luôn cố tình che giấu trong đáy lòng. Tôi đứng chôn chân bên gốc cây ban sần sùi bám đầy rêu mốc. Những chiếc lá ban cuối đông đã rụng gần hết, trơ trọi lại những cành cây khẳng khiu, xám ngắt vươn lên nền trời mù sương của vùng cao. Tôi muốn cất lời hứa với con bé, muốn vỗ ngực dõng dạc bảo rằng từ nay anh sẽ ăn uống thật đầy đủ, sẽ không bao giờ nhịn bữa trưa nữa, sẽ không để cái thân xác này kiệt quệ thêm một lần nào.
Nhưng cổ họng tôi nghẹn ứ lại, đắng ngắt như vừa ngậm phải một búp ổi non. Làm sao tôi có thể mở miệng hứa hẹn một điều mà chính bản thân tôi hoàn toàn bất lực, không có cách nào kiểm soát nổi?
Làm sao tôi dám hứa khi mà sâu trong túi chiếc quần vải chàm rách lúc này chỉ có vỏn vẹn một tờ giấy bạc hai nghìn đồng đã sờn rách bốn góc—số tiền công ít ỏi tôi kiếm được nhờ thức trắng hai đêm chép thuê các bài khóa luận cho một thầy giáo dạy Sử ở trường bổ túc huyện từ tuần trước? Tờ hai nghìn đồng mỏng manh ấy phải để dành như một sinh mạng dự phòng: phòng khi cây bút bi Kim Thành duy nhất bị tắc mực hỏng ngòi, hoặc lúc chiếc xích xe đạp cà tàng tôi mượn đi chở phân bên trạm khuyến nông bị đứt chốt nối.
Bữa ăn đối với tôi từ lâu đã không còn là một nhu cầu sinh hoạt bình thường nữa; nó là thứ duy nhất tôi có thể tự tiện cắt xén, có thể tước đoạt một cách nhẫn tâm từ chính thân xác mình mà không phải chịu sự trừng phạt tức thì của xã hội hay những ánh mắt dò xét ở trường lớp.
Thấy tôi đứng lặng thinh như pho tượng gỗ, đôi bờ vai gầy khẽ run rẩy dưới làn mưa bụi buốt giá, ánh mắt dữ dội của Lan bỗng mềm lại. Con bé đưa bàn tay nhỏ bé vỗ nhẹ vào chiếc bao tải dứa bên sườn tôi:
— Thôi, anh đi nhanh chân lên kẻo trời sập tối. Nhớ kỹ lời em dặn đấy, tối nay ra đến nơi trọ là phải mở gói lá ra ăn hết ngay lập tức, đừng có ki bo để dành cho mốc meo lên. Ra đến ngoài huyện rồi thì cố mà học cho thật giỏi, sau này làm thầy làm cán bộ, đừng để người ta coi khinh cái giống nghèo hèn của mình.
Tôi nhìn Lan, nhìn đôi bàn tay nhỏ thó lem nhem những vết tro bếp đen sì và những đường nứt nẻ rỉ máu vì giá rét của em, trong lồng ngực dâng lên một nỗi xót xa vô hạn. Tôi không nói thêm lời hứa hẹn sáo rỗng nào nữa. Tôi chỉ khẽ gật đầu, đưa bàn tay run rẩy kéo lại góc khăn len màu chàm trùm kín hai bên tai cho em, rồi đón lấy bọc lá chuối, cất thật sâu vào trong lớp áo ngực:
— Ừ. Anh nhớ rồi. Em quay nhanh vào nhà đi, trời bắt đầu mưa nặng hạt rồi đấy, kẻo mẹ lại tìm.
Lan đứng nép bên gốc ban già trơ trụi vẫy vẫy bàn tay nhỏ nhắn nhìn theo. Tôi quay lưng, rảo những bước chân thật dài trên con dốc đất đỏ nhão nhoét, trơn trượt, dứt khoát không dám ngoái đầu nhìn lại dù chỉ một lần. Hơi ấm nồng nàn từ nắm cơm độn và mẩu cá mắm nướng ép sát vào da thịt lồng ngực tôi qua làn vải áo mỏng manh, tỏa ra một cảm giác vừa an ủi xoa dịu, vừa nhức nhối khôn nguôi. Tôi cắn chặt bờ môi khô nẻ đến bật máu, bước thoăn thoắt để vượt qua khúc suối Nà Ban trước khi dòng nước đục ngầu từ đỉnh núi dồn về chia cắt lối đi.
Con đường dẫn ra trường huyện vẫn còn dài dằng dặc mười cây số phía trước mặt, chìm nghỉm trong làn sương mù trắng xóa của miền biên viễn.
Trở lại trường phổ thông huyện vào sáng sớm ngày thứ Hai, nhịp sống học đường mở ra như một thế giới hoàn toàn xa lạ và cách biệt với những triền dốc đất đỏ lầy lội mà tôi vừa bỏ lại sau lưng. Dưới mái ngói đỏ tươi và những dãy phòng học hai tầng quét vôi vàng đã ngả màu rêu phong của trường huyện, cái nghèo không hiện hữu bằng những vết cào rách da rách thịt của gai rừng hay sự lấm lem của bùn đất như trên nương Pha Luông, mà nó lẩn khuất, chìm sâu dưới những điều tưởng chừng rất nhỏ nhặt, bình thường của đời sống thường nhật.
Bước chân vào lớp chọn Toán, tôi cúi gắm mặt, cố thu mình lại nhỏ nhất có thể, lặng lẽ tìm về chiếc bàn gỗ dài ở góc trong cùng sát mép tường ẩm mốc. Chung quanh tôi, bạn bè đồng trang lứa phần lớn là con em của các cán bộ trạm nông trường, công chức huyện đội, hay con cái những gia đình buôn bán lớn có cửa hiệu ngoài ngã ba thị trấn sầm uất.
Họ mặc những chiếc áo khoác đồng phục mùa đông mới tinh tươm, chất vải gió màu xanh tím than dày dặn còn thơm phức mùi hồ vải mới, bên trong có lót một lớp nỉ ấm sực. Trên mặt bàn gỗ nhẵn bóng của họ, những cuốn sách tham khảo dày cộp in bìa bóng loáng—như cuốn *Những chuyên đề số học chọn lọc*, hay *Tuyển tập đề thi vào các trường chuyên toàn quốc* của Nhà xuất bản Giáo dục—được đặt ngay ngắn, phẳng phiu bên cạnh những chiếc hộp bút bằng nhựa cứng nhiều tầng bấm nút bật nắp tanh tách rất hiện đại.
Những cuốn sách tham khảo dày dặn ấy có giá bìa mười lăm, hai mươi nghìn đồng một cuốn—một con số khổng lồ đủ để mua đứt cả một thùng dầu hỏa loại tốt hoặc mua gạo ăn dè sẻn cả tuần lễ của tôi. Gia tài học tập của tôi trên chiếc bàn ấy chỉ vỏn vẹn có một tập vở Bãi Bằng bìa xanh được tôi cẩn thận bọc lại bằng giấy báo cũ để chống bẩn, một ngòi bút bi Kim Thành mực đã cạn gần đến tận cổ ống nhựa, và một cuốn sổ tay đóng bằng giấy xi măng thô ráp do chính tay tôi chép lại từng dòng công thức toán học từ những cuốn sách cũ mượn được ở thư viện trường.
Mỗi giờ ra chơi giữa buổi hay sau tiếng trống tan trường buổi sáng, lớp học lại rộn ràng bừng lên những âm thanh bàn tán náo nhiệt. Đám bạn học thường tụ tập quanh mấy chiếc bàn đầu, rôm rả bàn về việc rủ nhau ra quán nước chè đầu cổng trường ăn bánh mì kẹp chả nóng hổi, chia tiền nhau mua chung một tập tài liệu photo đề thi chọn học sinh giỏi vừa được gửi từ tỉnh bạn về, hay đóng quỹ năm nghìn đồng một người để tổ chức một bữa tiệc sinh nhật ngọt cho bạn cán sự lớp vào dịp cuối tuần.
Mỗi lần một cậu bạn cùng bàn quay người xuống, vui vẻ vỗ nhẹ vào vai tôi rủ rê: “Nam ơi, chiều nay bọn tao đang gom tiền đi photo chung tập đề hình học không gian của thầy ngoài thị xã gửi về, chia đều ra mỗi đứa chỉ mất ba nghìn đồng thôi, mày có chung tiền không?”, tôi lại cảm thấy lồng ngực mình thắt nghẽn lại, nghẹn đắng. Tôi khẽ mỉm cười gượng gạo—một nụ cười đã trở thành tấm lá chắn thói quen từ bao năm nay—rồi lắc đầu rất khẽ:
— Chiều nay tao bận phụ việc vác đồ bên trạm khuyến nông rồi, mấy bài hình học ấy tao chép lại phần lý thuyết và bài tập mẫu trong sách giáo khoa cơ bản cũng làm được. Bọn mày cứ mua chung đi nhé.
Tôi chưa bao giờ dám và cũng không bao giờ có can đảm mở lời giải thích tường tận lý do vì sao tôi luôn từ chối những lời rủ rê ấy. Tôi không muốn—và vĩnh viễn không thể—hé miệng kể với những người bạn có cuộc sống đủ đầy, êm ấm ấy rằng ba nghìn đồng đối với tôi là tiền mua thức ăn đạm bạc cho cả hai ngày trời, là một phần của số tiền vé xe đò mà tôi đã phải chắt bóp, nhịn đói đến cồn cào ruột gan mới dám nghĩ đến, hay việc tôi đang phải è cổ trả nợ từng mét vuông chỗ ngủ bằng những gàu nước giếng khơi buốt lạnh và những nhát chổi quét sạch con dốc ươm cây nhà bác Trực.
Người ta có thể dễ dàng khởi lòng trắc ẩn, rủ lòng thương cảm cho một hoàn cảnh khó khăn được viết nắn nót trên một tờ đơn xin miễn giảm học phí, nhưng cái sự thật trần trụi, nhếch nhác về một đứa học sinh sống dựa hoàn toàn vào sự cưu mang của từng người dưng, phải chắt chiu từng cọng rau muống già, từng mẩu cá khô cháy khét, sẽ chỉ biến tôi thành một đối tượng tội nghiệp bị người ta thương hại hoặc vô tình xa lánh. Lòng tự trọng non nớt, mong manh nhưng cay đắng của một đứa trẻ mồ côi buộc tôi phải lùi sâu hơn nữa vào cái bóng tối của chính mình, tự tay dựng lên một bức tường vô hình ngăn cách tôi với mọi cuộc vui chơi, mọi hoạt động tập thể sau giờ tan học.
Vào giờ sinh hoạt lớp buổi chiều hôm ấy, cô Hạnh gọi tôi lên văn phòng tổ Toán ở tầng một. Căn phòng nhỏ thơm nồng mùi bột phấn bảng quyện với mùi giấy in roneo cũ kỹ đã ngả màu. Cô ngồi bên chiếc bàn làm việc bằng gỗ mộc kê sát ô cửa sổ nhìn thẳng ra rặng phi lao đang xào xạc nghiêng ngả trong từng cơn gió bấc. Trước mặt cô là hai chồng tài liệu chuyên đề dày cộp, mép giấy đã ố vàng và quăn queo vì bụi thời gian.
— Ngồi xuống đây đi Nam, — cô Hạnh kéo chiếc ghế gỗ mộc đối diện ra, đôi mắt sắc sảo nhìn lướt qua đôi gò má hóp sâu và chiếc áo len sợi đã sờn rách toang ở hai bên khuỷu tay của tôi.
Cô lật từng tập tài liệu cẩn thận, ngón tay thoăn thoắt gập lại những góc trang giấy quan trọng:
— Sức lực và thời gian của em không thể dàn trải mông lung để đọc hết tất cả các loại sách bồi dưỡng nâng cao như các bạn có điều kiện mua tài liệu phong phú ngoài hiệu sách được đâu. Tiền bạc em không có, thời gian tự học lại bị xé vụn ra từng mảnh bởi việc nương rẫy ở bản Nà Ban và công việc phụ việc ở trạm khuyến nông, vì thế em bắt buộc phải học có trọng tâm, trọng điểm thật rõ ràng. Đây là hai tập tài liệu cô đã chắt lọc rất kỹ từ các đợt tập huấn bồi dưỡng đội tuyển những năm trước: một tập chuyên sâu về hệ thức lượng và các phương pháp giải phương trình vô tỷ phức tạp, một tập về các dạng bài toán tổ hợp suy luận rời rạc. Em chỉ được phép mượn tập tài liệu này trong vòng đúng một tuần lễ để chép lại những phần lý thuyết cốt lõi và các bài toán ví dụ mẫu mang tính kinh điển. Còn những bài tập ứng dụng tự luyện phía sau, tuyệt đối không được chép nguyên văn lời giải, mà chỉ được ghi lại đề bài rồi tự mình đào sâu suy nghĩ, giải trực tiếp vào cuốn sổ tay của em.
Tôi run run đón lấy tập giấy in kim mỏng manh, cẩn thận đặt ngay ngắn lên hai đầu gối như sợ làm rách mép giấy ố vàng:
— Vâng, em sẽ thức đêm chép cẩn thận từng trang rồi mang trả lại cô đúng hẹn ạ.
Cô Hạnh nhìn xoáy thẳng vào mắt tôi, giọng cô bỗng chùng xuống rất thấp nhưng từng lời từng chữ lại rành rọt, đanh thép như một mệnh lệnh không thể chối từ:
— Cô nói cho em nghe điều này, Nam. Tờ giấy xác nhận hỗ trợ của Phòng Giáo dục hay cái chỗ ở nhờ bên gian chái nuôi tằm nhà bác Trực chỉ là cái khung đỡ tạm bợ giữ cho con đường đi học của em không bị gãy đổ giữa chừng thôi. Nó tuyệt đối không phải là một chiếc đệm êm ấm để em vin vào đó mà an tâm nghĩ rằng mọi chuyện đã ổn thỏa. Nếu cái việc cuốc bộ mười cây số mỗi tuần, việc lao động nặng nhọc trên nương ngô ở bản Nà Ban hay những bữa cơm đói làm cho thể lực của em suy kiệt, khiến em không thể theo kịp tốc độ truyền thụ kiến thức trên lớp chọn này, thì chính em phải là người đầu tiên tự mở miệng lên tiếng báo cho cô biết.
Cô gõ nhẹ đầu ngón tay trỏ xuống mặt bàn gỗ vang lên những tiếng *cộc cộc* dứt khoát:
— Em đã từng ngất lịm đi một lần dưới chân cầu thang của cái trường này rồi, cô không muốn thấy em lặp lại sự dại dột và liều lĩnh đó thêm một lần nào nữa đâu. Lòng kiên trì, nghị lực không đồng nghĩa với việc cắn răng chịu đựng tất cả trong sự câm lặng đến mức tự hủy hoại bản thân mình. Nếu cảm thấy đôi chân không thể bước nổi mười cây số đường rừng nữa, nếu bữa cơm trưa không có nổi một hạt cơm dằn bụng, em phải mở miệng nói ra với thầy cô. Con đường học hành này còn dài dằng dặc phía trước, em phải giữ được cái mạng sống và một cái đầu thật tỉnh táo thì mới đi hết được chặng đường đến kỳ thi đại học năm 2013, em đã hiểu rõ chưa?
— Em hiểu rồi ạ, — tôi đáp lí nhí trong miệng, sống mũi cay xè, cổ họng nghẹn ứ lại không thốt nên lời.
Tôi biết rất rõ cô Hạnh không hề mắng mỏ hay quở trách tôi. Cô chỉ đang vạch trần cái ranh giới mong manh, nguy hiểm giữa lòng nghị lực thực sự và sự liều lĩnh mù quáng mà bấy lâu nay tôi vẫn luôn cố tình giấu kín sau vẻ ngoài lì lợm, nhẫn nhục. Cầm lấy tập tài liệu quý giá bọc kỹ trong chiếc túi vải, tôi cúi đầu chào cô thật sâu rồi bước nhanh ra ngoài hành lang lộng gió.
Vừa bước chân xuống sân trường rải sỏi, tôi đã nhìn thấy bóng dáng cao lớn của thầy Dũng đứng đợi tự bao giờ bên cạnh chiếc xe máy Minsk quen thuộc dựng dưới gốc cây bàng rụng lá đỏ. Thầy vẫy vẫy cánh tay gọi lớn:
— Nam! Xong việc trao đổi với cô Hạnh rồi đấy à? Đi mau theo thầy.
Thầy không giải thích dông dài, sải những bước chân dài dứt khoát dẫn tôi vòng qua dãy nhà học hai tầng quét vôi vàng, đi thẳng về phía gian nhà cấp bốn lợp mái ngói fibro xi măng cũ nằm khuất nẻo sau khu nhà kho chứa bàn ghế hỏng của trường. Đó chính là phòng thực hành tin học cũ của trường phổ thông huyện—nơi mà trước đây, trong những ngày đầu bỡ ngỡ ra thị trấn, tôi từng được thầy Dũng dẫn vào làm chân phụ việc vặt, lau chùi vỏ máy bám bụi, cuộn lại dây cáp và lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy những dòng lệnh Pascal hiển thị trên màn hình xanh lét.
Thầy Dũng rút chùm chìa khóa sắt tra vào ổ khóa gỉ sét, vặn mạnh một tiếng *cạch* khô khốc rồi đẩy cánh cửa gỗ nặng nề kêu kẽo kẹt sang hai bên. Một luồng không khí ấm nồng, đặc quánh mùi nhựa thông hàn mạch, mùi thiết bị điện tử cũ vận hành liên tục nhiều giờ và mùi bụi giấy in xộc thẳng vào các giác quan của tôi.
Căn phòng mở ra trước mắt tôi rộng rãi, khang trang và quy củ hơn rất nhiều so với cái góc học tạm bợ chắp vá ở gian kho chứa đồ sau trường bản Nà Ban năm nào. Nơi này được bố trí hai dãy bàn gỗ dài xếp song song thẳng tắp, trên đó đặt gần hai chục cỗ máy tính để bàn đồng bộ với những chiếc màn hình CRT 15 inch to bè, lồi ra phía sau như những chiếc mai rùa khổng lồ.
Tiếng quạt tản nhiệt của các thùng máy đang hoạt động đồng loạt phát ra những âm thanh rù rù trầm đục, hòa lẫn với những tiếng bíp ngắt quãng quen thuộc phát ra từ loa bo mạch chủ khi đang thực hiện quy trình kiểm tra bộ nhớ lúc khởi động. Trên chiếc bàn giáo viên kê ở đầu phòng, một chiếc máy in kim Epson đời cũ đặt cạnh những chồng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật dày cộp bìa xám xịt, tiếng đầu kim gõ trên giấy đục lỗ kêu *xoẹt xoẹt* rộn rã.
Ở dãy bàn giữa phòng, ba bốn học sinh lớp mười một và mười hai thuộc đội tuyển tin học đang chăm chú ngồi làm việc trước màn hình sáng quầng. Họ đều mặc những chiếc áo khoác gió ấm áp, cổ quàng khăn len đắt tiền, những ngón tay thuôn dài, trắng trẻo gõ thoăn thoắt trên bàn phím kêu lách cách liên hồi như một trận mưa rào rớt trên mái tôn mùa hạ.
Họ thành thạo mở cùng lúc nhiều cửa sổ dòng lệnh màu xanh đen, ngón tay sử dụng các tổ hợp phím tắt một cách điêu luyện để chuyển đổi qua lại giữa trình soạn thảo Free Pascal và các tệp văn bản hướng dẫn thuật toán viết bằng tiếng Anh. Một bạn học vừa rê nhanh con chuột quang phát ra ánh sáng đỏ rực rỡ bên dưới đáy, vừa quay sang hào hứng trao đổi với người ngồi cạnh về cấu trúc của thuật toán tìm kiếm nhị phân và cách tối ưu hóa bộ nhớ đệm, giọng điệu tự tin, lưu loát và rành rẽ như thể những khái niệm trừu tượng ấy đã là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ từ thuở lọt lòng.
Tôi đứng sững lại ngay ở ngưỡng cửa gỗ, hai bàn tay vô thức nắm chặt lấy quai chiếc túi vải bạt thô kệch đang đeo chéo trên vai.
Trước mắt tôi, một thế giới tri thức và công nghệ rộng lớn hơn gấp vạn lần cái xó chái phụ dột nát, ẩm thấp ở bản làng heo hút đang vận hành một cách đầy sống động và rực rỡ. Thầy Dũng vỗ mạnh vào bờ vai gầy của tôi, kéo tôi bước hẳn vào giữa lối đi hẹp ngăn cách hai dãy bàn máy tính:
— Nhìn cho thật kỹ đi, Nam. Ở tận bản Nà Ban xa xôi, thầy trò mình đã phải nhặt nhạnh, chắp vá từng con ốc vít rỉ sét, từng sợi cáp IDE sứt ngàm từ đống phế liệu thải loại để dựng lên một cỗ máy ọp ẹp cho em tập gõ từng dòng lệnh vỡ lòng. Nhưng ra đến ngoài này, tài nguyên học tập phong phú hơn rất nhiều, máy móc chạy đồng bộ, ổn định hơn, và điều quan trọng nhất là có những người bạn cùng trang lứa đang chạy đua từng giây từng phút với em. Đây là cái môi trường thực sự để em có cơ hội vươn mình ra khỏi cái xó núi chật hẹp của mình. Nhưng em cũng phải nhớ, nó chính là cái tấm gương soi rõ nhất xem bản thân em thực sự đang đứng ở đâu trên con đường này.
Tôi nhìn những dãy máy tính đồng bộ đang chạy mượt mà trên nền vi xử lý Pentium II và Pentium III, nhìn những thùng máy màu trắng sữa sạch sẽ không vương lấy một hạt bụi cám ngô hay mùi ẩm mốc, rồi bất giác cúi xuống nhìn lại đôi bàn tay chai sần, thô ráp của chính mình—đôi bàn tay mà mới sáng sớm nay thôi còn đang bốc từng xẻng phân bón hóa học và kéo những gàu nước giếng khơi lạnh buốt ở trạm giống. Một cảm giác choáng ngợp, ngỡ ngàng xen lẫn một nỗi tủi hổ bẽ bàng bỗng dưng dâng lên nghẹn đắng nơi đáy mắt tôi.
Hóa ra, cái khoảng cách vời vợi giữa tôi và các bạn cùng trang lứa ngoài thị trấn không chỉ đơn thuần nằm ở số lượng những cuốn sách tham khảo đắt tiền hay chiếc áo khoác gió ấm áp mặc trên người.
Khoảng cách nghiệt ngã ấy nằm sâu xa ở chính cái xuất phát điểm của tư duy và điều kiện tiếp cận tri thức. Những người bạn học ở đây được tiếp xúc với công nghệ từ rất sớm, có gia đình định hướng và hỗ trợ toàn diện, có thừa thãi thời gian để ngồi hàng giờ liền trước màn hình máy tính ấm áp mà không phải nơm nớp lo sợ tiếng bước chân giận dữ của ai đó xông vào đòi đập nát cỗ máy, không phải vừa viết code vừa căng thẳng tính toán xem tối nay có đủ dầu hỏa thắp sáng hay sáng mai có bị người ta đuổi về bản cuốc đất làm nương hay không.
Mọi thao tác gõ phím của họ đều nhanh nhẹn, dứt khoát và chuẩn xác đến kinh ngạc bởi vì họ được rèn luyện trong một tâm thế hoàn toàn thư thái của một đời sống đủ đầy, không gợn bóng âu lo sinh tồn.
Còn đối với tôi, mỗi một dòng lệnh tôi viết ra, mỗi một thuật toán tôi nghiền ngẫm đều phải đánh đổi bằng những sự vụng trộm, giấu giếm, bằng những giọt mồ hôi mặn chát trên nương ngô và những đêm thức trắng chống chọi với cái lạnh cắt da cắt thịt lùa qua khe nứt của mái nhà fibro xi măng.
Thầy Dũng dẫn tôi đi thẳng xuống một cỗ máy tính đặt ở góc cuối cùng của căn phòng, ngay cạnh ô cửa sổ nhìn ra bãi cỏ hoang đầy lau lách:
— Cỗ máy số 16 này thầy đã kiểm tra kỹ lưỡng, cài sẵn cả Turbo Pascal 7.0 lẫn Free Pascal bản mới. Trong ổ D đã có sẵn một thư mục chứa toàn bộ bài tập bồi dưỡng thuật toán nâng cao của tỉnh. Cứ hết giờ học chính khóa buổi chiều, nếu không vướng bận việc lao động phụ giúp bên trạm khuyến nông, em được phép vào đây ngồi tự học tối đa hai tiếng đồng hồ. Thầy đã làm việc, xin phép ban giám hiệu cho em được nằm trong diện danh sách bồi dưỡng đặc cách của trường rồi.
Tôi kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc ra, ngồi xuống thật khẽ khàng, đưa những ngón tay gầy guộc đặt lên bàn phím Mitsumi đã ngả sang màu vàng ố vì thời gian. Các phím bấm nảy tanh tách dưới đầu ngón tay ráp nối đầy những vết chai sần của tôi. Tôi với tay bấm công tắc màn hình, quầng sáng xanh xám dịu mắt của giao diện DOS quen thuộc lập tức bừng sáng lên trước mắt.
Ngồi trước cỗ máy tính của trường huyện, lắng nghe tiếng quạt gió quay đều đều bên tai, tôi chợt thấm thía một nhận thức vô cùng sâu sắc và trầm lắng.
Cỗ máy tính cũ kỹ chắp vá từ đống linh kiện phế liệu mà thầy Dũng mang cho tôi ở gian chái phụ bản Nà Ban đã cho tôi những giờ tự học quý báu đầu đời, dạy cho tôi biết trân trọng, nâng niu từng con ốc vít, từng vệt thiếc hàn và từng dòng lệnh tự viết để nhóm lên ngọn lửa ước mơ. Còn căn phòng máy đầy đủ này của trường huyện, với những đầu sách tham khảo cũ kỹ và những bạn học thao tác nhanh như chớp, lại cho tôi một môi trường học thuật thực sự để đào sâu, để nhìn thấy được độ sâu rộng và vô tận của tri thức lập trình.
Thế nhưng, cả hai cỗ máy tính ấy đều không có phép màu nào để có thể ngay lập tức kéo phẳng cái hố sâu ngăn cách vời vợi giữa tôi và những con người có điều kiện sống đủ đầy. Tôi có thể kiên nhẫn giải đúng một bài toán quy hoạch động phức tạp, có thể phát hiện và sửa chữa một lỗi tràn chỉ số mảng nhanh hơn người khác nhờ vào sự cẩn trọng, tỉ mỉ cay đắng sau bao lần vấp ngã; nhưng chỉ cần nhấc chân bước ra khỏi cánh cửa gỗ của phòng máy tính này, tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, vẫn phải đối mặt trần trụi với nỗi lo bữa trưa ăn gì, bữa tối ra sao và cái giá sinh tồn nghiệt ngã vẫn đè nặng lên từng bước chân cuốc bộ.
Tôi mở một tệp bài toán về mảng một chiều và thuật toán sắp xếp, hít một hơi thật sâu làn không khí nồng mùi nhựa mạch rồi bắt đầu gõ những dòng lệnh đầu tiên. Tôi không thể gõ nhanh thoăn thoắt như bạn học ở bàn trên, nhưng từng nhát gõ của tôi găm xuống mặt phím vô cùng dứt khoát, chắc nịch và cẩn trọng. Tôi không có quyền năng để thay đổi xuất thân nghèo khó, hèn mọn của mình, nhưng tôi có toàn quyền kiểm soát sự tập trung cao độ và ý chí của chính mình trên từng dòng mã nguồn đang hiện ra.
Thời gian trôi đi thật nhanh giữa những âm thanh lách cách đều đặn của bàn phím và mùi linh kiện điện tử ấm nồng trong gian phòng kín. Ngoài khung cửa sổ bằng kính mờ, bóng chiều mùa đông vùng cao buông xuống nhanh một cách tàn nhẫn, hệt như một cái chớp mắt của bầu trời. Những vệt nắng vàng vọt, yếu ớt cuối cùng lịm dần sau những đỉnh núi đá vôi nhọn hoắt, nhường chỗ cho màn sương mù lam lũ bắt đầu cuồn cuộn tràn xuống các thung lũng, trườn qua những ngọn phi lao già đang run rẩy trước gió.
Chiếc đồng hồ điện tử hiển thị trên góc phải bên dưới của màn hình điểm đúng năm giờ mười lăm phút chiều.
Tôi dừng ngón tay lại, nhấn tổ hợp phím để lưu toàn bộ mã nguồn bài tập vừa hoàn thành vào thư mục cá nhân mang tên mình, rồi cẩn thận thực hiện đúng quy trình chuẩn năm bước mà thầy Dũng đã căn dặn kỹ lưỡng: thoát khỏi chương trình soạn thảo, tắt máy theo đúng trình tự hệ thống, cúi xuống rút phích cắm nguồn ra khỏi ổ cắm tường, và nhẹ nhàng kéo tấm bạt nilon mỏng phủ trùm lên toàn bộ thân máy cùng chiếc màn hình CRT để che chắn bụi bặm.
Tôi đứng dậy, chỉnh lại quai chiếc túi vải thô khoác chéo lên vai. Trong phòng máy lúc này, tiếng cười nói bắt đầu rộn ràng, náo nhiệt trở lại khi buổi tự học kết thúc. Một nhóm ba bạn học sinh lớp mười hai đang túm tụm quanh chiếc máy in kim, vừa thu dọn sách vở vào những chiếc cặp da bóng lộn vừa hào hứng rủ nhau lát nữa sẽ đạp xe sang khu gia binh ăn ốc luộc nóng hổi, rồi tối nay sẽ cùng nhau đến nhà một thầy giáo dạy Lý nổi tiếng ở phố huyện để học thêm ca hai từ bảy giờ đến chín giờ tối. Họ sôi nổi bàn luận về những cuốn sách tham khảo mới nhập về hiệu sách nhân dân của huyện, về những chiếc đĩa mềm mới toanh vừa mua được ở bưu điện trung tâm, giọng điệu của họ thanh thản, tự tin và rạng rỡ như chính tuổi thanh xuân vô tư lự mà họ đang may mắn có được.
Tôi lặng lẽ luồn lách qua khoảng khe hẹp giữa hai dãy bàn gỗ, khẽ nghiêng đầu cúi chào thầy Dũng đang lúi húi kiểm tra lại cầu dao tủ điện ở góc phòng, rồi bước thật nhanh ra khỏi cánh cửa gỗ.
Một luồng gió lạnh buốt từ ngoài sân trường thốc thẳng vào mặt khiến tôi khẽ rùng mình ớn lạnh, vội vàng đưa tay kéo cao cổ chiếc áo len rách lên để che chắn cho vòm họng. Tôi buộc phải rời trường ngay lúc này, trước khi bóng tối đen đặc nuốt trọn những con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo của thị trấn huyện lỵ.
Tôi phải chạy đua với thời gian, với cái giá lạnh đang kéo đến: tôi phải về kịp gian chái nuôi tằm nhà bác Trực để gánh cho đầy ắp hai vại nước lớn từ giếng khơi trước khi đôi bàn tay bị rét cóng đến mức tê dại không cầm nổi gàu múc, phải quét sạch bong lớp lá dâu khô rụng dọc lối vào vườn ươm giống, và châm ngọn đèn dầu hạt đỗ leo lét để kịp mở tập tài liệu quý giá của cô Hạnh ra chép nốt phần lý thuyết cốt lõi trước khi cơn buồn ngủ và sự kiệt sức kéo ập đến vùi dập tôi.
Tôi rảo những bước chân thật dài, thật vội vã qua cánh cổng trường bằng sắt rỉ sét, bỏ lại sau lưng luồng ánh sáng điện ấm áp hắt ra từ những ô cửa kính phòng học và tiếng bạn bè cùng trang lứa vẫn đang ríu rít, rộn rã bàn chuyện học thêm, chuyện họp nhóm vui vẻ của ngày cuối đông.
Đúng lúc tôi vừa bước chân xuống con dốc đất đỏ dẫn ngoằn ngoèo ra phía ngõ sau của thị trấn, một giọng nói quen thuộc bỗng vang lên giật giọng từ phía sau lưng:
— Nam! Sao tan học là mày chạy biến đi ngay thế? Chiều nào tao cũng thấy mày vội vã rời trường trước khi trời tối là sao?