Giường tầng thứ sáu
Xe khách trờ vào bến Mỹ Đình khi bầu trời phía đông mới chỉ là một vệt xám đục nhợt nhạt, lẫn trong làn sương mù nhờ nhờ và thứ mùi nồng nặc không thể trộn lẫn của một bến xe miền xuôi: mùi khói dầu diesel cháy dở, mùi rác ẩm lâu ngày dưới gầm sàn xe, mùi hành lý ủ kín hơi người qua một đêm dài lắc lư từ mạn ngược đổ về.
Cánh cửa xe vừa mở toang, tiếng ồn ào lập tức ập tới như một luồng gió quẩn đặc quánh. Tiếng phụ xe đập uỳnh uỳnh vào thành tôn gào thét đón khách tuyến sau, tiếng bánh xe đẩy chở thùng xốp lạch cạch trên mặt đường lồi lõm nước đọng, tiếng cãi vã chỏng lỏn của mấy người lái xe ôm chen lấn ngay bậc lên xuống. Tôi lùi lại một nhịp, hai tay ghì chặt bọc hàng quấn bao tải dứa trước ngực, chờ cho dòng người vội vã túa xuống gần hết mới dám bước ra.
Chiếc quạt tản nhiệt bằng sắt bên trong thùng máy Pentium III cấn từng góc nhọn qua lớp bao gai thô ráp, nện thẳng vào xương sườn tôi đau nhói theo mỗi cú xóc khi nhảy từ bậc xe xuống nền bê tông ẩm ướt. Sau lưng tôi, chiếc ba lô bộ đội sờn rách ở hai góc đáy căng phồng lên bởi ba bộ quần áo vải thô, hai đôi tất đã thủng gót và mấy cuốn sổ tay kỹ thuật chép kín chữ mực tím. Người ta va quệt vào tôi không một lời xin lỗi; quai túi xách của một người đàn bà buôn chuyến móc vào vai áo tôi làm bật một đường chỉ, rồi bà ta lướt qua, để lại một câu chửi thề lẩm bẩm về những kẻ nhà quê đứng chắn đường.
Tôi đứng chôn chân bên rìa mép bến, cổ họng khô rát như có nắm cát nhét vào. Trong túi quần bên phải, bàn tay tôi bất giác thọc sâu xuống, lần tìm bọc tiền lẻ được buộc bằng cọng chun nịt đã giãn. Số tiền lộ phí mà cô Hạnh và thầy Dũng gom góp cho tôi ở trường huyện, cộng với chút tiền công ít ỏi từ những lần tôi gò lưng hàn bo mạch, sửa nguồn dạo suốt ba tháng hè ở xã, sau một chặng xe đò và hai lần mua nước lọc dọc đường đã hao hụt mất một phần ba. Tờ giấy báo trúng tuyển gấp làm tư nằm ép chặt trong túi áo ngực, nơi mồ hôi chuyến đi ngấm qua vải làm mép giấy mềm nhũn, ẩm ướt và dính rịt vào da thịt.
Tôi móc từ đáy túi ra mảnh giấy nhỏ thầy Dũng vẽ vội tối hôm trước bằng bút bi xanh. Những nét mực nghèo nàn vạch ra lộ trình từ bến xe đón tuyến buýt số 16 hoặc 27, qua những nút giao lạ lẫm mà tôi đánh vần mãi mới tròn miệng, để rồi cập bến số 1 Đại Cồ Việt. Hai chặng xe buýt sáng hôm ấy là một thử thách nặng nề đối với đôi vai gầy và bọc máy tính nặng trịch. Mỗi lần phụ xe quát tháo bảo ép sát vào trong, tôi chỉ biết khom lưng, lấy thân mình che chắn cho khối kim loại bọc bao tải dứa, sợ ai đó vô tình đá gãy chiếc cổng COM hay bẹp mất thanh giằng nguồn bên trong.
Lúc bước xuống trạm dừng trước cổng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đầu gối tôi đã run lên vì mỏi nhừ. Đứng bên lề đường Đại Cồ Việt, trước mắt tôi là cánh cổng Parabol huyền thoại vươn cong vút lên nền trời sớm.
Cánh cổng bê tông sơn trắng sừng sững ấy không giống bất cứ thứ gì tôi từng thấy ở mạn Sơn La. Nó không có vẻ cheo leo hoang dại của vách đá Pha Luông, cũng không mang nét lúp xúp lam lũ của dãy nhà cấp bốn mái ngói fibro-xi măng trường huyện. Nó rộng lớn, đồ sộ và uy nghiêm đến nghẹt thở.
Phía dưới vòm cổng, một biển người cuồn cuộn đang đổ về các lối rẽ. Từng tốp tân sinh viên trạc tuổi tôi, áo sơ mi trắng tinh tươm hoặc áo phông hàng hiệu phẳng phiu, được bố mẹ tháp tùng cẩn thận. Những người cha thành thị tay cầm cặp da, người mẹ mặc áo hoa cầm ô che nắng, sốt sắng dặn dò con từng li từng tí, tay xách nách mang những chiếc vali kéo bằng nhựa bóng loáng chạy bon bon trên đường nhựa. Tiếng loa phóng thanh của trường rè rè vang lên, đọc dồn dập các thông báo nộp hồ sơ, địa điểm nhận phòng ký túc xá, lịch sinh hoạt chính trị đầu khóa. Tiếng máy móc công trình từ phía đường gom, tiếng còi xe máy gắt gỏng ngoài phố dội vào tạo thành một thứ âm thanh hỗn tạp, đặc quánh như muốn nuốt chửng lấy kẻ vừa chân ướt chân ráo bước xuống từ vùng cao.
Các dãy nhà cao tầng quét vôi vàng nhạt mang ký hiệu C1, C2, D3 nối tiếp nhau bởi những hành lang dài hun hút, rợp bóng những hàng xà cừ cổ thụ thân to hai người ôm không xuể. Rễ cây trồi lên mặt đường nhựa từng ụ lớn xù xì. Tôi ôm khư khư thùng máy, đứng nép vào một bồn cây bên ngã tư nội bộ, nhìn dòng người rẽ về mọi hướng mà không dám cất bước. Đôi dép tổ ong ngả màu cháo lòng của tôi lẹp xẹp dưới chân, dính đầy bụi đỏ của đất dốc Nà Ban, bỗng chốc trở nên trơ trẽn và dị hợm giữa những đôi giày thể thao trắng muốt, những đôi quai hậu da bóng lộn của người thành phố.
Tôi sợ. Một nỗi sợ vô hình nhưng sắc nhọn bóp nghẹt lồng ngực. Tôi sợ mình đi nhầm lối, sợ bước vào một khu nhà không dành cho kẻ nghèo túng như mình, và trên hết, tôi sợ rằng khi mở tờ giấy hẹn nộp hồ sơ ra, người ta sẽ phát hiện một sai sót nào đó trên dấu mộc đỏ, để rồi đuổi tôi về lại bên kia đèo dốc.
Mất gần nửa tiếng đồng hồ đứng quan sát luồng người ra vào sảnh C1, tôi mới hít một hơi sâu, chỉnh lại quai ba lô rồi lầm lũi bám theo một nhóm sinh viên tiến vào khu vực đón tiếp của Viện Công nghệ Thông tin và Truyền thông.
Bên trong hội trường nồng nặc mùi mồ hôi, mùi giấy mới và quạt trần quay hết công suất cũng không xua nổi cái nóng đầu thu. Tôi xếp hàng sau một cậu bạn da trắng trẻo, mặc áo thun in hình biểu tượng một ngôn ngữ lập trình tôi chưa từng thấy. Hai cánh tay tôi tê dại đi vì sức nặng của thùng máy, mồ hôi trên trán rịn ra chảy cay xè vào khóe mắt.
Khi đến lượt tôi, cô cán bộ tuyển sinh ngồi sau bàn kính ngước nhìn lên. Ánh mắt cô thoáng chững lại một nhịp trước bộ dạng lếch thếch của tôi: chiếc áo sơ mi bạc phếch vì nắng gió, gấu quần xắn một bên cao một bên thấp, hai bàn tay thâm sì vết dầu luyn cũ và bùn đất chưa cọ sạch, ôm khư khư bọc bao tải dứa cáu bẩn.
— Nguyễn Văn Nam? Khoa học máy tính? — Cô nheo mắt đọc tên trên hồ sơ.
— Dạ... vâng, thưa cô. — Cổ họng tôi khô khốc, âm thanh phát ra lí nhí như tiếng dế kêu trong kẽ đá.
Cô cán bộ lật giở xấp giấy tờ chứng nhận hộ nghèo, giấy xác nhận miễn giảm học phí có dấu đỏ của xã Chiềng Hắc mà thầy Dũng đã xin giúp tôi. Ngón tay cô thoăn thoắt đóng dấu cộp cộp lên tờ biên nhận, nét mặt nghiêm nghị dịu đi một chút nhưng giọng nói vẫn giữ vẻ máy móc của người làm việc theo dây chuyền:
— Đủ hồ sơ diện chính sách diện ưu tiên một. Em cầm giấy này sang phòng Tài vụ ở dãy đối diện nộp lệ phí ký túc xá, sau đó cầm biên lai về khu nhà B nhận phòng. Đi nhanh lên em, người phía sau còn đợi đông lắm.
Tôi run rẩy đón lấy tập giấy còn hăng hắc mùi mực tươi, cúi gập người lí nhí cảm ơn rồi lách vội ra khỏi sảnh. Bước chân tôi nhẹ bẫng đi một nửa khi nhìn thấy dòng chữ đỏ xác nhận tư cách tân sinh viên trên tay. Ít nhất thì thành phố này, ngôi trường này, chưa đóng sầm cánh cửa lại trước mũi tôi.
***
Khu ký túc xá Bách khoa nằm sâu phía góc đường Tạ Quang Bửu, tách biệt với những khối giảng đường uy nghi phía trước bởi một khoảng sân rộng rợp bóng mát nhưng ngổn ngang phế liệu và những rãnh thoát nước lộ thiên. Đó là một quần thể những dãy nhà bốn tầng xây bằng gạch chỉ từ những năm bảy mươi, tường ngoài loang lổ những mảng rêu đen kịt, vôi vữa tróc ra từng mảng lớn để lộ cốt gạch đỏ sẫm. Trên các ban công hẹp, quần áo của hàng trăm con người phơi chen chúc như những dải cờ rách, nước giặt nhỏ tong tòng xuống nền xi măng nứt nẻ phía dưới. Dây điện, dây cáp mạng giăng mắc chằng chịt từ cành cây vào cửa sổ như những mạng nhện khổng lồ.
Phòng của tôi nằm ở tầng ba dãy B7. Sau khi bước qua những bậc cầu thang sứt mẻ góc cạnh nồng nặc mùi nước tẩy và ẩm mốc, tôi dừng lại trước cánh cửa gỗ ép mục nát có gắn biển nhôm dập số 314.
Tôi khẽ đẩy cửa. Cánh bản lề rỉ sét rít lên một tiếng khô khốc chói tai.
Một luồng không khí hầm hập, ngột ngạt ùa ra tạt thẳng vào mặt tôi: mùi mồ hôi đàn ông tích tụ lâu ngày không thoát được gió, mùi ẩm mục của những tấm đệm mút rách lót giường, mùi mì tôm chua nồng xộc lên từ một chiếc bát nhựa cáu bẩn đặt góc bàn, quyện với hơi nóng hầm hập phả ra từ bức tường bê tông hướng tây vừa phơi mình suốt cả buổi trưa nắng gắt.
Căn phòng chật chội chưa đầy hai mươi lăm mét vuông nhưng phải gánh tới bốn chiếc giường tầng bằng sắt sơn xanh đã tróc vảy rỉ sét, chia chỗ cho tám người ở. Khoảng trống duy nhất giữa hai dãy giường chỉ vừa đủ cho một người đi nghiêng mình, ngổn ngang dưới đất là xô chậu nhựa xanh đỏ, dép tông mòn gót, những chiếc phích nước Rạng Đông sứt quai và dây điện nối dài lòng thòng. Chiếc quạt cóc con con đặt trên bàn học chung kêu sè sè yếu ớt, cánh quạt bám đầy bụi đen chẳng thổi bạt nổi cái ngột ngạt đang đè nặng lên từng tấc không khí.
Bác quản lý ký túc xá — một người đàn ông trung niên mặc áo cộc tay bạc màu, cánh tay đeo chiếc băng đỏ đã ố vàng — cầm chiếc que sắt gõ cộc cộc vào thang sắt của chiếc giường nằm sát góc tường cạnh cửa sổ:
— Giường số sáu, tầng hai phía trong. Chiếu tự mua ngoài chợ, chăn màn tự sắm. Tiền điện nước tính theo chỉ số công tơ cuối tháng chia đều cho các đầu người trong phòng. Nghiêm cấm dùng bếp điện, dây may-so đun nước, nấu nướng trong phòng. Đội tự quản đi kiểm tra mà tóm được là tịch thu, lập biên bản đuổi khỏi ký túc xá ngay lập tức. Nghe rõ chưa?
— Dạ, cháu rõ rồi ạ. — Tôi khẽ đáp.
Bác quản lý quay gót đi thẳng, dép lê loẹt xoẹt trên nền gạch hoa sứt sẹo ngoài hành lang. Cánh cửa khép lại một nửa, để mặc tôi đứng trơ trọi giữa mớ đồ đạc ngổn ngang.
Trong phòng lúc này có hai thanh niên đang nằm cởi trần trên giường tầng một. Họ chỉ liếc mắt nhìn tôi một cái — ánh nhìn lạnh nhạt, dửng dưng của những kẻ đã quá quen với cảnh người đến kẻ đi ở cái chốn xô bồ này — rồi lại cắm mặt vào trang sách hoặc hí hoáy bấm bàn phím chiếc điện thoại Nokia đen trắng. Không một ai cất tiếng chào, cũng không ai hỏi tôi từ đâu tới.
Tôi cắn răng, luồn chiếc bao tải dứa qua nách rồi trèo lên chiếc thang sắt mỏng manh. Mỗi bước chân tôi đặt lên thanh sắt tròn trơn nhẵn, chiếc thang lại rung lên bần bật, rỉ sắt bám vào lòng bàn chân ran ráp.
Chiếc giường số sáu của tôi thực chất là một cái hốc hẹp dài chừng hai mét, rộng chưa đầy chín mươi phân, kê sát vào góc tường ẩm mốc. Tấm dát giường ghép bằng những thanh gỗ ván ép mỏng dính, nhiều thanh đã oằn xuống, nứt toác ở giữa và được gia cố tạm bợ bằng những sợi dây kẽm gai xoắn chằng chịt. Khoảng cách từ mặt giường lên đến trần nhà bê tông loang lổ chỉ chừng một mét mốt. Tôi chỉ cần ngồi thẳng lưng một chút là đỉnh đầu sẽ chạm ngay vào lớp vôi quét trần đang rụng lả tả từng mảng bột trắng.
Tôi thận trọng đặt thùng máy Pentium III vào góc trong cùng, sát góc vuông của hai bức tường. Tiếng kim loại va chạm nhẹ vào thanh giằng sắt vang lên một tiếng *keng* khô khốc.
Ngồi thu lu trên mặt dát gỗ trần chưa có chiếu, lưng tựa vào mảng tường gạch còn hầm hập hơi nóng của nắng chiều, tôi ngơ ngác nhìn quanh cái thế giới mới của mình.
Vậy là từ giờ phút này, đây là nơi tôi thuộc về.
Không còn góc chái bếp ám khói ngoằn ngoèo nhìn ra nương ngô Nà Ban, không còn tiếng suối róc rách sau bờ rào đá hay tiếng con trâu mộng đập đuôi phì phò trong chuồng mỗi sớm mai mù sương. Khoảng không gian chật chội dài hai bước chân, rộng một sải tay này là tất cả những gì thuộc về quyền sở hữu của tôi giữa thủ đô mấy triệu con người. Nhưng khi nhìn bức tường gạch đặc kín những vết khắc tên của những khóa sinh viên đi trước, một cảm giác nhẹ nhõm kỳ lạ len lỏi trong lồng ngực tôi. Chí ít, ở trên chiếc giường sắt han rỉ này, sẽ không có ai bất thình lình xách rựa xông vào chửi rủa đòi đập nát cỗ máy, không có ai đe dọa chém đứt đường dây điện hay tống tôi ra nương cuốc đất thâu đêm suốt sáng.
Tôi cởi chiếc áo khoác thô bám đầy bụi đường, cuộn tròn lại đặt ở đầu giường làm gối tạm, rồi quỳ xuống gỡ lớp dây chuối khô buộc ngoài bao tải dứa để kiểm tra cỗ máy.
— Mày vác cái đống sắt vụn này từ dưới quê lên đấy à?
Một giọng nói trầm, gằn và dứt khoát vang lên từ phía dưới gầm giường khiến tôi giật bắn mình. Chiếc kìm bấm nhỏ tôi đang cầm trên tay tuột khỏi ngón trỏ, rơi đánh *keng* xuống sàn gạch bên dưới.
Tôi vội thò đầu qua thanh chắn giường sắt nhìn xuống.
Đứng dựa lưng vào khung giường tầng đối diện là một cậu thanh niên trạc tuổi tôi, vóc người đậm chắc, bờ vai nở nang và nước da ngăm đen rắn rỏi như dân miền biển. Cậu ta mặc chiếc áo may ô màu xám tro bạc màu, cổ đeo sợi dây dù gai xỏ một chiếc chìa khóa tủ bằng đồng, trên tay đang xách một chiếc thau nhựa màu đỏ đựng đầy quần áo ẩm. Đôi mắt cậu ta sắc sảo, hàng lông mày rậm hơi xếch lên, nhìn thẳng vào tôi không chút kiêng dè.
— Chào cậu... Tôi là Nam. Tôi mới nhập trường sáng nay. — Tôi gượng gạo lên tiếng, tay với xuống định nhặt chiếc kìm nhưng không tới.
Cậu ta cúi người nhặt chiếc kìm lên, ném trả lên đệm cho tôi một cách dứt khoát. Cậu ta không vội bắt tay, đặt thau đồ xuống gầm bàn rồi lấy chiếc khăn mặt vắt trên dây thép lau mồ hôi trên trán, giọng nói cộc lốc mang đậm âm sắc vùng đồng bằng duyên hải:
— Tao là Phong. Vũ Đức Phong, dân Giao Thủy, Nam Định. Cũng K58 ngành Công nghệ Thông tin như mày thôi. Mày nằm giường số sáu thì nghe tao dặn mấy việc, lơ ngơ ở cái phòng này là thiệt thân đấy con ạ.
Phong kéo lê chiếc ghế nhựa tróc góc ngồi phịch xuống, vắt một chân chữ ngũ lên đầu gối, ngón tay trỏ gõ cộc cộc lên mặt bàn gỗ ép bám bụi:
— Thứ nhất, ký túc xá mười một giờ đêm là bảo vệ khóa xích cổng chính. Đúng mười một giờ mười lăm phút, trạm điện hạ thế cắt toàn bộ điện sinh hoạt các phòng, chỉ để lại bóng đèn mờ ở hành lang với gầm cầu thang. Muốn thức học bài thì tự bỏ tiền túi ra mua đèn pin sạc của Tàu mà rọi, hoặc vác mông ra gầm cầu thang tầng một mà ngồi chung với muỗi, nhưng phải coi chừng bảo vệ đi tuần đuổi về phòng. Thứ hai, nước máy ở đây không có chuyện mở vòi là chảy phè phè đâu. Nước chỉ bơm hai cữ: đúng sáu giờ sáng và năm giờ chiều, mỗi cữ vỏn vẹn một tiếng đồng hồ. Mày mà lề mề không mang xô xuống xếp hàng ở bể ngầm tầng một thì xác định cả ngày nhịn tắm, khỏi rửa mặt đánh răng. Đồ giặt xong thì phơi ở ban công sau, nhưng nhớ là quần áo lành lặn thì phơi nép sâu vào góc trong, phơi sát mép rào sắt là sáng hôm sau không cánh mà bay, đừng có đứng khóc.
Tôi ngồi im phăng phắc trên dát giường, chăm chú nuốt từng lời của Phong như cách tôi từng ghi nhớ từng quy tắc an toàn điện của thầy Dũng ở phòng thực hành trường huyện. Cái giọng cộc cằn, sắc lạnh của cậu bạn cùng phòng không hề có vẻ khinh thị hay thương hại giả tạo; nó ráo hoanhtheo kiểu của những kẻ sinh ra trong nhọc nhằn, quen nhìn thẳng vào những góc cạnh gai góc nhất của đời sống để tồn tại.
— Còn cái thùng tôn kia... — Phong hất cằm về phía bao tải dứa tôi vừa mở dở. — Máy tính để bàn đúng không? Phòng này tám thằng ở, khóa ngoài thì ọp ẹp, ban ngày mở toang hoác. Hòm tôn để dưới gầm giường thì tự ra cổng phụ mà mua lấy cái khóa Việt Tiệp loại to mà bấm lại. Ví tiền, giấy tờ tùy thân, cái gì đáng giá vài chục nghìn thì lúc ngủ cũng phải nhét sâu xuống đáy ruột gối hoặc lót dưới chiếu mà nằm đè lên. Ở cái đất Bách khoa này, người ngay thì ít mà kẻ gian thì nhan nhản, cùng phòng cũng đừng có ruột để ngoài da. Mày ngơ ngác một giây là công sức bố mẹ mày dưới quê đổ xuống sông xuống biển hết.
— Cảm ơn... cảm ơn cậu. Tôi sẽ nhớ. — Tôi ngập ngừng đáp, khóe môi khẽ giật giật vì chưa quen với nhịp nói chuyện như tạt nước vào mặt của người đồng bằng.
Phong đưa mắt nhìn tôi thêm một thoáng. Cậu ta nhìn đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết sẹo do dao phạt bờ nương và đôi dép tổ ong mòn vẹt của tôi. Cậu ta không hỏi quê tôi ở đâu, không hỏi vì sao tôi lại vác một cái khối sắt to tướng nặng trịch kia đi hàng trăm cây số thay vì một chiếc cặp xách gọn nhẹ. Những người đã quen với sự cùng quẫn thường có một sự thấu hiểu ngầm không cần cất thành lời; họ nhận ra mùi vị của cái nghèo trên da thịt nhau rất nhanh.
— Đói bụng thì đi bộ ra ngõ Tạ Quang Bửu, tìm quán cơm bà béo góc rẽ. Mười lăm nghìn một suất, bảo là tân sinh viên người ta cho thêm muôi cơm với đĩa rau luộc. Đừng có ngu mà đâm đầu vào mấy quán phở đầu cổng Parabol, người ta chém cho đứt cổ không có tiền bắt xe về quê đâu.
Nói xong, Phong xách thau đồ đi thẳng ra phía bể nước chung ngoài hành lang, tiếng dép lê lẹp xẹp dứt khoát mất hút sau khúc quanh.
Tôi thở hắt ra một hơi dài, buồng phổi như vừa trút bớt được một tảng đá. Cẩn thận đặt thùng máy vào góc sâu nhất bên vách tường, tôi kéo tấm chăn chiên cũ của thầy Dũng phủ kín lên trên, che đi lớp vỏ tôn xám xịt đã trầy xước loang lổ.
***
Tối hôm đó, căn phòng 314 sáng choang dưới ánh đèn tuýp dài treo giữa trần. Sau khi cắn dở nửa nắm xôi nếp nương khô khốc mà bé Lan dúi vào túi áo từ sáng sớm và ngửa cổ tu ừng ực hai ngụm nước lã từ vòi nước công cộng, tôi bắt đầu công việc lắp ráp cỗ máy của mình.
Tôi lần tìm sợi dây nguồn màu đen đã nứt lớp nhựa bảo vệ ở đầu cắm, cắm nhờ vào chiếc ổ cắm ba chấu duy nhất còn nguyên vẹn nằm sát chân tường góc phòng. Chiếc màn hình CRT Samsung 15 inch lồi cong vút mà tôi phải bọc ba lớp giẻ rách rồi gửi xe tải chở nông sản xuống sau được đặt cẩn thận trên một chiếc hòm gỗ nhỏ. Tôi vặn chặt từng con ốc vít của cáp VGA, cắm bàn phím cổng PS/2 màu tím rồi khẽ run run bấm nút công tắc nguồn tròn xoe phía trước thùng máy Pentium III 600MHz.
Một tiếng rít chói tai của quạt tản nhiệt cũ kỹ vang lên, xé toạc không gian tĩnh lặng của góc phòng. Tiếng mô-tơ quay rè rè khô khốc như tiếng máy xát gạo mini ở bản. Sau vài giây rung bần bật, màn hìnhCRT phát ra tiếng *tạch* đanh gọn của cuộn dây khử từ, ánh sáng xanh lơ quen thuộc bừng lên quét qua gương mặt hốc hác của tôi. Ổ cứng Seagate dung lượng 20GB bắt đầu phát ra những chuỗi âm thanh lách cách đặc trưng khi các đầu đọc cơ học lướt trên mặt đĩa từ để nạp bảng phân vùng DOS.
Cùng lúc đó, ở chiếc bàn gỗ dài kê sát khung cửa sổ nhìn ra sân bóng, hai người bạn cùng phòng khác — những cậu sinh viên người Hà Nội trúng tuyển đợt một — cũng bắt đầu mở máy làm việc.
Họ đặt lên bàn hai chiếc máy tính xách tay mỏng dính. Một chiếc mang nhãn hiệu Asus màu đen bóng loáng, chiếc kia là Dell vỏ nhôm ánh bạc, bàn phím phát ra ánh sáng đèn LED màu xanh dịu nhẹ sang trọng. Họ chỉ cần dùng một ngón tay khẽ gẩy nhẹ nắp máy, hệ điều hành Windows 7 đời mới lập tức khởi động với một tiếng nhạc êm ru, gần như không phát ra bất kỳ một tiếng động cơ học nào. Màn hình của họ phẳng lì, rộng thênh thang, độ phân giải sắc nét đến từng chi tiết nhỏ, hiển thị rực rỡ những giao diện web hiện đại ngập tràn tài liệu PDF và các diễn đàn chuyên môn quốc tế.
— Cậu tạo tài khoản trên Codeforces chưa? — Cậu bạn mặc áo sơ mi kẻ ca-rô vừa gõ ngón tay tanh tách trên bàn phím mỏng vừa hỏi người bên cạnh. — Nghe bảo mấy thầy bên bộ môn Khoa học máy tính năm nay gắt lắm, bắt sinh viên luyện thuật toán trên đấy để sàng lọc đội tuyển Olympic Tin học ngay từ giữa kỳ một.
— Tạo từ hồi ôn thi đội tuyển lớp mười hai rồi. — Người kia đáp giọng thản nhiên, tay rê chuột cảm ứng mượt mà. — Đang cày lại mấy bài Quy hoạch động trạng thái với Cây phân đoạn để lấy lại phản xạ. À, mày tải bộ giáo trình *Introduction to Algorithms* của Cormen bản tiếng Anh tái bản lần thứ ba về chưa? Đừng đọc bản dịch tiếng Việt, mấy ông thầy dịch ngữ nghĩa tối om, đọc nguyên bản tiếng Anh chuyên ngành cho nó quen tai quen mắt, sau này ra trường viết CV làm cho mấy tập đoàn nước ngoài nó mới chuẩn.
— Tải rồi, bản PDF hơn một nghìn hai trăm trang, nét căng. Đang ném lên Git để đồng bộ về máy bàn ở nhà nữa...
Họ trò chuyện với nhau bằng một thứ ngôn ngữ trôi chảy, tự nhiên đến mức đáng sợ. Những thuật ngữ chuyên ngành lạ lẫm cứ tuôn ra đều đặn giữa những tiếng cười nhẹ nhõm: *code repository, framework, algorithmic complexity, competitive programming, object-oriented...* Phong thái của họ toát lên sự đĩnh đạc, tự tin của những con người đã được chuẩn bị một cách chu toàn, lớp lang từ nhiều năm trước cho một cuộc đua mà họ biết chắc mình sẽ chiếm ưu thế.
Tôi ngồi thu lu trên dát giường sắt han rỉ, lặng người nhìn cỗ máy Pentium III của mình đang ì ạch load môi trường Free Pascal với giao diện màu xanh nước biển cổ lỗ sĩ. Chiếc màn hình CRT nặng trịch thỉnh thoảng lại nháy giật một vệt sáng ngang thân vì bộ đèn hình đã quá già cỗi sau bao năm nằm ở xưởng phế liệu. Tiếng cọt kẹt của đầu đọc đĩa từ bên trong thùng máy bỗng nhiên vang lên chát chúa, trơ trẽn như một sự sỉ nhục giữa không gian thơm tho mùi nhựa mới của hai chiếc máy tính xách tay kia.
Tôi run rẩy lật giở cuốn sổ tay kỹ thuật của mình. Những trang giấy kẻ ngang bãi bằng ố vàng vì ẩm, mép giấy quăn queo ghi nắn nót từng cú pháp căn bản của Turbo Pascal bằng ngòi bút bi gai góc: những bài toán đếm số nguyên tố, những vòng lặp mảng một chiều thô sơ được tôi gán ghép với hình ảnh chiếc gùi ngô của thầy Dũng trên nương dốc Nà Ban... Tất cả những thứ mà tôi từng tự hào, từng coi là phép màu thay đổi số phận nơi góc rừng hẻo lánh, bỗng chốc co rúm lại, trở nên tội nghiệp và ấu trĩ đến cay đắng trước kho tàng tri thức nghìn trang đang rực sáng trên màn hình phẳng của họ.
Khoảng cách giữa tôi và họ đâu chỉ là một chiếc máy vi tính hay một bộ quần áo sạch sẽ. Đó là một vực thẳm mênh mông về xuất phát điểm xã hội. Trong khi tôi phải dùng rựa chặt củi, gánh từng thùng nước mó, trốn chui trốn lủi dưới gầm sàn và đánh đổi từng giọt mồ hôi trên nương ngô Pha Luông chỉ để bảo vệ quyền được gõ một dòng lệnh không bị người lớn đập vỡ nát, thì họ đã được gia đình vạch sẵn đường đi nước bước, được trang bị tiếng Anh bản ngữ, máy móc tối tân và những cuốn giáo trình chuẩn quốc tế. Họ bắt đầu cuộc đua từ vạch đích của một kẻ như tôi.
Bàn tay tôi cứng đờ đặt lên bàn phím cũ mòn vẹt hết chữ cái. Phím cách bị kẹt một bên, tôi phải dùng đầu móng tay nạy nhẹ lên nó mới chịu nảy lại vị trí cũ. Cỗ máy chắp vá từ linh kiện thải loại mà tôi từng nâng niu như tính mạng ở quê nhà, giờ đây trần trụi phơi mình ra dưới ánh sáng trắng lạnh lẽo của căn phòng ký túc xá như một chứng tích nghèo nàn, lạc hậu và chậm chạp.
Cổ họng tôi nghẹn ứ. Tôi cắn chặt môi dưới, cắn mạnh đến mức vị tanh nồng của máu rịn ra trên đầu lưỡi. Nỗi sợ hãi từng khiến tôi chết lặng dưới chân cổng Parabol ban sáng lại trào lên, cuộn thắt trong dạ dày. Nhưng khi nhìn con trỏ chuột màu trắng nhỏ xíu vẫn đang kiên nhẫn nhấp nháy trên nền xanh thẫm của tệp mã nguồn `BAI1.PAS`, tôi từ từ nhắm mắt lại, hít một hơi sâu luồng không khí hầm hập mùi ẩm mốc.
Tôi đưa tay ấn tổ hợp phím tắt, vặn núm xoay phía dưới màn hình CRT để hạ độ sáng xuống mức tối thiểu, cốt để không hắt ánh sáng lồi lõm sang phía bàn học của họ. Rồi bằng những ngón tay thô ráp đầy vết chai sần, tôi bắt đầu gõ từng dòng lệnh kiểm tra lại bảng cấp phát bộ nhớ.
***
Buổi học chuyên môn đầu tiên của học kỳ diễn ra tại giảng đường lớn tầng ba nhà D3. Đó là một căn phòng hình bậc thang rộng thênh thang, trần nhà cao vút treo lủng lẳng bốn chiếc quạt đảo trần cánh sắt quay vù vù nhưng bất lực trước sức nóng tỏa ra từ hơn một trăm năm mươi sinh viên ngồi chật kín các dãy bàn gỗ dài.
Thầy giáo bước lên bục giảng với một chiếc micro cài ve áo, dáng người gầy gò, đôi mắt sáng quắc sau cặp kính cận dày cộp. Thầy không dùng đến một viên phấn nào; chiếc máy chiếu gắn trên trần hắt lên màn vải trắng khổng lồ những slide bài giảng bằng tiếng Anh ken đặc chữ, chằng chịt các sơ đồ khối logic, đồ thị cây và những đoạn giả mã tinh gọn. Thầy giảng bài với một tốc độ chóng mặt, chất giọng Hà Nội chuẩn xác, trầm đều nhưng dứt khoát như một cỗ máy đã được lập trình sẵn.
Khi bài giảng đề cập đến nguyên lý biểu diễn nhị phân, các cổng logic cơ bản hay phép bù hai để xử lý số âm, đầu óc tôi lập tức bắt kịp nhịp độ. Những đêm chong đèn hạt đỗ trên nương dốc Nà Ban, ngồi cộng trừ từng lũy thừa của hai trên mảnh giấy bao xi măng rách nát đã rèn cho tôi một phản xạ nhạy bén kỳ lạ với các con số 0 và 1. Tôi nhìn thấy quy luật ẩn sau các phép toán dịch bít, hiểu được lý do tại sao bộ nhớ máy tính lại được phân chia thành từng khối ô tám bít một cách tự nhiên như hơi thở.
Nhưng khoảnh khắc tự tin hiếm hoi ấy tan biến sạch bách ngay khi thầy giáo lướt ngón tay bấm chuột chuyển sang phần nội dung thực hành và môi trường phát triển.
Thầy lướt qua các trang chiếu với tâm thế mặc định rằng tất cả những ai có mặt trong căn phòng này đều đã sử dụng máy tính thành thạo từ thời phổ thông. Thầy thao thao bất tuyệt về việc cấu hình môi trường dòng lệnh Linux, cách quản lý phiên bản mã nguồn bằng Git, cách kết nối máy trạm với máy chủ nội bộ của Viện thông qua giao thức SSH để nộp bài tập lớn. Một loạt các thuật ngữ tiếng Anh viết tắt dội liên tục vào màng nhĩ tôi như những tảng đá lở trên vách núi: *segmentation fault, pointer arithmetic, dynamic memory allocation, memory leak, standard template library...*
Xung quanh tôi, tiếng gõ phím rào rào vang lên như một trận mưa rào trút xuống mái tôn. Hầu như mọi sinh viên đều mở máy tính xách tay ngay trước mặt. Họ vừa nghe thầy giảng, vừa thoăn thoắt gõ lệnh trên màn hình đen sì của cửa sổ dòng lệnh để kiểm tra kết quả tức thì. Cậu bạn ngồi ngay bên tay phải tôi thậm chí còn chia màn hình máy tính làm ba phần: một bên hiển thị tài liệu tiếng Anh định dạng ePub, một bên là trình soạn thảo mã nguồn hiện đại với các dòng lệnh tự động đổi màu sắc sỡ, và một bên là khung chat trực tuyến thảo luận thuật toán với một nhóm học tập khác.
Tôi ngồi trơ trọi giữa họ với một cuốn vở Bãi Bằng kẻ ngang mua bằng tiền trợ cấp và cây bút bi Kim Thành ngòi đã mòn vẹt. Ngón tay trỏ của tôi tì mạnh lên thân bút nhựa đến mức trắng bệch, run rẩy.
Tôi muốn giơ tay lên. Lồng ngực tôi đập thình thịch, muốn bật ra một câu hỏi. Tôi muốn hỏi thầy làm thế nào để cài đặt cái trình biên dịch dòng lệnh ấy, muốn hỏi giao thức mạng kia là gì, và làm cách nào để một cỗ máy không có cổng cắm cáp mạng LAN, chỉ đọc được đĩa mềm 1.44MB như thùng sắt Pentium III của tôi có thể nộp được bài tập về nhà.
Nhưng cánh tay tôi như bị một khối chì vô hình ghì chặt xuống mặt bàn gỗ xước. Cổ họng tôi đắng nghét, khô khốc.
Nhìn quanh giảng đường mênh mông, tôi chỉ thấy những gương mặt sáng láng, những cái gật gù tự tin của những người tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên. Nếu tôi giơ tay lên, nếu tôi cất giọng lơ lớ pha lẫn ngữ điệu của người Thái vùng cao để hỏi những câu ngô nghê về những điều mà người ta coi là hiển nhiên, toàn bộ cái vỏ bọc tự trọng mà tôi cố công dựng lên từ lúc bước qua cổng trường sẽ sụp đổ tan tành. Người ta sẽ nhìn tôi như một sinh vật lạ lẫm vừa trườn ra khỏi hang đá, một kẻ lạc hậu mang tư duy đĩa mềm của thập kỷ trước bước vào một thế giới đã chạy bằng điện toán đám mây.
Nỗi sợ bị khinh khi, nỗi mặc cảm sâu kín của một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, đã khóa chặt miệng tôi lại.
Tôi cắm cúi viết. Tôi điên cuồng chép lại từng chữ cái tiếng Anh xuất hiện trên màn chiếu mà tôi chưa hiểu nghĩa, chép lại từng đường dẫn tệp tin, từng dòng mã giả bằng ngòi bút bi gai góc. Bàn tay tôi mỏi nhừ, mồ hôi từ lòng bàn tay túa ra làm nhòe nhoẹt những dòng mực tím trên trang giấy thô ráp. Tôi nơm nớp lo sợ thầy giáo sẽ bấm chuột chuyển slide tiếp theo trước khi ngòi bút của tôi kịp ghi lại dấu chấm phẩy cuối cùng trên bảng.
Tan giờ học, tiếng còi tan trường rền rĩ vang lên. Hơn một trăm năm mươi con người túa ra hành lang ồn ã như một đàn ong vỡ tổ.
Phong khoác chiếc cặp vải dù rách một bên quai, đứng tựa lưng vào lan can đá mài dưới chân cầu thang nhà D3 đợi tôi. Nhìn cuốn vở chép chi chít chữ mực méo mó của tôi kẹp chặt trong nách, rồi nhìn vầng trán ướt đẫm mồ hôi của tôi dù gió thu ngoài sân đang thổi lồng lộng, Phong khẽ nhếch mép, buông một tiếng hừ mũi khô khốc:
— Mày cắm đầu cắm cổ chép như con trâu kéo cày cả buổi sáng làm cái trò gì đấy? Mấy cái slide lý thuyết với code mẫu ấy, chiều nay lão trợ giảng quăng lên cổng thông tin của Viện hết, về phòng cắm mạng mà tải về đọc cho sướng mắt.
Tôi lúng túng ôm chặt cuốn vở vào ngực, lảng tránh ánh mắt sắc như dao cạo của cậu ta, giọng ngập ngừng:
— Tôi... tôi chưa biết cách tạo tài khoản mạng của trường. Với lại máy tính của tôi... không có card mạng, cũng chẳng có dây cắm.
Phong đứng sững lại bên bồn hoa xà cừ cổ thụ. Cậu ta quay ngoắt người lại, nhìn thẳng trừng trừng vào mặt tôi. Trong đôi mắt cậu ta không hề có vẻ châm chọc hay ngạc nhiên quá đà, ánh mắt ấy phẳng lặng nhưng sắc lẹm, soi thấu từng ngóc ngách của sự giấu giếm trong tôi:
— Lên đến đất này rồi thì vứt mẹ cái thói sợ quê đi, Nam ạ. — Phong hạ thấp giọng nhưng từng lời gằn xuống nặng trịch. — Tao ngồi phía sau, tao nhìn cái gáy mày căng cứng là tao biết mày hụt hơi từ lúc lão thầy bắt đầu nói về con trỏ với quản lý bộ nhớ rồi. Đã từ tỉnh lẻ bước chân vào cái trường này thì thằng nào chẳng có chỗ hổng, chỗ thiếu. Thằng Thành phòng bên nhà ở phố cổ, tiếng Anh bắn như gió nhưng bảo giải bài toán quy hoạch động tối ưu nhánh cận thì mặt đần thối ra như ngỗng ỉa. Mày có tư duy logic tốt, cái đấy tao nhìn bài tập tuần của mày tao biết. Nhưng cái kiểu giấu dốt, câm như hến vì sợ người ta biết mình nghèo, biết mình không có máy xịn như mày thì chỉ tổ tự sát. Hai tuần nữa bài tập lớn dồn về, máy chấm tự động nó trừ sạch điểm thì mày chết sặc gạch! Không biết thì há mồm ra mà hỏi. Không dám hỏi thầy thì về phòng hỏi tao, việc quái gì phải cắn răng giả vờ như mình hiểu hết thế hả?
Từng câu, từng chữ của Phong như chiếc que sắt nung đỏ chọc thẳng vào khối tự ái đang nhức nhối bên trong tôi. Cả người tôi run lên bần bật. Nhưng tôi không thể cãi lại, bởi vì cậu ta nói đúng đến tàn nhẫn. Tôi chỉ biết cúi gằm mặt xuống, mũi đôi dép tổ ong mòn vẹt di di trên lớp rêu xanh bám ở chân bồn hoa, giọng nói lí nhí nghẹn lại nơi cổ họng:
— Ừ... Tôi biết rồi. Cảm ơn ông...
Tôi gật đầu nhận lỗi cho xong chuyện, nhưng trong thâm tâm, bức tường phòng thủ dựng bằng mặc cảm của tôi không hề sứt mẻ một ly nào. Sự thừa nhận yếu kém đối với người khác có thể là một bước lùi chiến thuật, nhưng với tôi, nó đồng nghĩa với việc tự tay bóc trần sự rách rưới của đời mình.
Cả tuổi thơ của tôi ở bản Nà Ban đã được tôi luyện bằng sự câm lặng: bị bác Lương chửi rủa, bị xua đuổi khỏi mâm cơm, tôi chỉ biết cắn răng lùi vào góc tối chịu đựng rồi âm thầm làm việc gấp đôi để chứng minh mình không phải một thứ phế phẩm ăn bám. Hà Nội đối với tôi lúc này cũng tàn nhẫn và lạnh lùng như cái nương dốc Pha Luông năm nào, chỉ khác là nó không bắt tôi cuốc đất bửa đá, mà bắt trí não tôi phải tự vắt kiệt từng nơ-ron thần kinh để không bị đào thải ra lề đường.
Đêm hôm đó, sau mười một giờ mười lăm phút.
Khi công tơ điện tổng của ký túc xá ngắt đánh *cụp* một cái, căn phòng 314 chìm vào bóng tối mịt mùng và tiếng ngáy rền rĩ của sáu con người bắt đầu vang lên đều đặn, tôi lặng lẽ bò dậy khỏi chiếc dát giường tầng sáu. Tôi không dám bật chiếc máy tính Pentium III vì sợ tiếng rít cơ học của quạt tản nhiệt sẽ đánh thức những người đang ngủ.
Tôi vơ lấy chiếc đèn pin chạy pin con thỏ mượn tạm của Phong, kẹp cuốn vở Bãi Bằng cùng cuốn từ điển Anh - Việt rách bìa mà thầy Dũng nhét vào đáy ba lô hôm chia tay, rón rén bước từng bước êm như mèo ra phía cửa.
Tôi ngồi thu lu trên bậc cầu thang xi măng dẫn từ tầng hai xuống tầng một. Nơi này chỉ có một bóng đèn tròn hai mươi lăm oát của bác bảo vệ hắt lại một thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù, nồng nặc mùi nước cống rãnh và thuốc xịt muỗi hôi hắc. Từng đàn muỗi đêm vo ve lao vào hai ống chân trần gầy guộc của tôi.
Tôi vừa lấy mu bàn tay đập muỗi tanh tách, vừa soi đèn pin lần giở từng trang từ điển giấy đen xốp ráp. Tôi tra từng từ vựng: *pointer* là con trỏ, *allocation* là sự cấp phát, *leak* là rò rỉ... Tôi dùng ngòi bút bi cặm cụi tự vẽ lại sơ đồ các ô nhớ trên một tờ giấy nháp vụn, tự tay dịch từng dòng giả mã trong slide bài giảng sang cú pháp Free Pascal thô sơ mà tôi quen thuộc.
Đêm thành phố không có tiếng suối ngàn róc rách xoa dịu giấc ngủ, chỉ có tiếng còi xe tải chở cát gầm rú vọng lại từ trục đường Giải Phóng xa xa, nhắc nhở tôi rằng dưới lưng tôi không còn là tấm ván gỗ pơ-mu êm ái của núi rừng, mà là những bậc đá mài lạnh buốt của một cuộc vật lộn mưu sinh không khoan nhượng.
***
Đến chiều thứ Sáu, tuần học chính thức đầu tiên khép lại bằng một cơn mưa rào chuyển mùa dữ dội. Mưa xối xả đập vào những ô cửa kính vỡ của ký túc xá, làm ngập ngụa khoảng sân đất dẫn ra cổng phụ đường Tạ Quang Bửu bằng một thứ nước bùn đục ngầu rác rưởi.
Tôi ngồi trên mép dát gỗ ọp ẹp của giường tầng sáu, kéo tấm rèm bao tải gai tự chế lại để ngăn ánh nhìn của mọi người trong phòng. Căn phòng vắng hoe, mấy người bạn cùng phòng đã kéo nhau ra quán nét đánh đế chế hoặc tụ tập dưới chân cầu thang hút thuốc lào vặt.
Tôi run rẩy lôi toàn bộ số tiền còn lại trong túi quần ra, trải phẳng phiu từng tờ lên mặt gỗ ép.
Mấy tờ tiền cotton cũ kỹ, nhăn nhúm và ố vàng vì mồ hôi được tôi vuốt mép ngay ngắn. Khoản tiền bốn trăm nghìn đồng mà cô Hạnh và thầy Dũng chắt chiu gom góp đưa cho tôi hôm tiễn ở cổng trường huyện, cộng với hơn một trăm nghìn tiền công tôi dành dụm suốt ba tháng hè, sau một tuần lễ ở đất Hà Nội đã teo tóp lại thành một nắm tiền lẻ mỏng manh đến thảm hại.
Tôi lật trang cuối của cuốn sổ tay kỹ thuật, dùng mẩu bút chì cụt vạch ra từng con số lạnh lùng: - Tiền vé xe khách giường nằm từ bến Sơn La về Mỹ Đình: 120.000 đồng. - Tiền hai chặng xe buýt chở người và cỗ máy tính cồng kềnh: 20.000 đồng. - Lệ phí làm thẻ sinh viên, khám sức khỏe tổng quát và tài liệu học tập đầu khóa: 110.000 đồng. - Tiền tạm ứng tiền điện nước và quỹ phòng tháng đầu tiên: 80.000 đồng. - Tiền mua một chiếc chậu nhựa giặt đồ, ổ khóa Việt Tiệp bấm hòm tôn và một tuýp kem đánh răng: 35.000 đồng. - Tiền ăn cơm bình dân trong sáu ngày qua (mỗi ngày tôi chỉ dám ăn đúng một bữa cơm trưa mười nghìn đồng nhiều cơm ít thức ăn ở quán bà béo, bữa tối ăn nửa gói mì tôm sống bóp nát hoặc nhịn đói uống nước lã cầm hơi): 60.000 đồng.
Tổng số tiền còn lại nằm trơ trọi trước mắt tôi: đúng chín mươi lăm nghìn đồng. Vài tờ mười nghìn, hai tờ năm nghìn và những tờ tiền lẻ một nghìn, hai nghìn rách mép.
Tôi nhìn chằm chằm vào những tờ tiền ấy, lồng ngực bỗng thắt lại như bị một bàn tay sắt bóp nghẹt.
Chín mươi lăm nghìn đồng.
Tuần học thứ hai sắp bắt đầu vào sáng thứ Hai tới, và cả tháng Chín dài dằng dặc đang nằm ở phía trước. Nếu tôi tiếp tục duy trì chế độ ăn tối thiểu của một con người để không lăn đùng ra ngất xỉu giữa giảng đường — nghĩa là ăn hai bữa cơm bình dân mười lăm nghìn đồng một ngày như lời Phong dặn — thì số tiền này sẽ bốc hơi sạch bách chỉ trong vòng đúng ba ngày rưỡi.
Ba ngày rưỡi nữa, tôi sẽ hoàn toàn rỗng túi giữa thủ đô hoa lệ này.
Ở bản Nà Ban, dù có bị bỏ đói đến đâu, tôi vẫn có thể trèo lên vách đồi sau nhà vặt nắm lá chua, đào củ mài hoang hay đợi con bé Lan lén nhét cho củ khoai nướng vùi tro bếp. Ở trường huyện, bữa trưa bán trú ba mươi nghìn một tháng của tôi luôn có bàn tay cô Hạnh bảo bọc, có thầy Dũng thỉnh thoảng chia cho nửa cái bánh mì kẹp chả hay nắm xôi nếp nương.
Nhưng ở đây, giữa bốn bề bê tông cốt thép của Hà Nội, không có một tấc đất nào để tôi cắm ngón tay xuống đào bới tìm cái ăn. Không có cây rừng nào mọc quả cho tôi hái. Thành phố này vận hành bằng những phép tính sòng phẳng và tàn nhẫn của tiền bạc. Không ai nợ tôi một bữa cơm, và cũng chẳng có ai rảnh rỗi để rủ lòng thương xót một đứa trẻ mồ côi vừa trèo ra khỏi bìa rừng như tôi.
Ký ức về buổi sáng hôm tôi xách ba lô rời khỏi nhà bác Lương lại dội về, bỏng rát như một vết chém. Tôi nhớ như in gương mặt hằn học của bác bên bậc thềm nhà sàn, nhớ ánh mắt lạnh lùng trừng trừng nhìn tôi như muốn khắc sâu từng lời đe nẹt: *“Mày đã dứt áo bước chân đi thì tự bươn chải mà sống, có chết đói ngoài đường cũng đừng có vác xác về bản bôi tro trát trấu vào mặt tao!”* Tôi nhớ cả cái cách mình đã ưỡn ngực, đứng thẳng người tuyên bố dứt khoát rằng tôi sẽ tự đi làm thuê làm mướn, tự bưng bê sửa máy để nuôi thân, tuyệt đối không bao giờ ngửa tay xin gia đình bác một hạt gạo, một đồng xu.
Lời thề ngạo nghễ ấy từng giúp tôi giữ lại chút thể diện non nớt trước sự ruồng rẫy của dòng họ. Nhưng giờ đây, con số chín mươi lăm nghìn đồng đang trơ trẽn phơi bày sự bất lực của tôi. Nó nhắc nhở tôi rằng lòng tự trọng không thể nhai ra mà nuốt cho no bụng, và cái giá của tự do mà tôi khao khát giành lấy đang bắt đầu đòi nợ bằng từng cơn đau quặn thắt vì dịch vị cào xé trong dạ dày.
Tôi không thể gục ngã ở đây. Tôi không thể để giấc mơ đại học mà thầy Dũng và cô Hạnh đã đánh cược cả danh dự để vun đắp bị dập tắt chỉ vì một cơn đói rách tầm thường.
Tôi phải tìm ra tiền. Ngay chiều nay.
Tôi gấp những tờ tiền lẻ cẩn thận làm ba, nhét sâu vào đáy túi bí mật bên trong chiếc ba lô bộ đội rồi tụt xuống khỏi thang sắt. Xỏ đôi dép tổ ong ướt sũng vào chân, tôi lầm lũi bước ra khỏi phòng, men theo hành lang dài hun hút dẫn xuống tầng trệt.
Dưới sảnh tầng một của nhà B7, ngay sát phòng thường trực bảo vệ có một tấm bảng thông báo bằng gỗ ép bọc nỉ xanh đã cũ rích. Lớp nỉ rách tả tơi, lộ ra từng mảng gỗ dán ố mốc vì nước mưa tạt qua bao mùa giông bão. Đó là nơi tập trung mọi thông tin mưu sinh của đời sống sinh viên nghèo: những thông báo đóng học phí muộn, giấy tìm chìa khóa đánh rơi, mẩu giấy xé góc bán lại máy tính bỏ túi Casio cũ, và chi chít những tờ rơi tuyển dụng việc làm thêm dán chồng chéo lên nhau.
Tôi dừng lại trước bảng thông báo, bước chân ngập ngừng. Mùi giấy ẩm mốc quyện với mùi nước mưa từ sân bốc lên ngai ngái.
Ánh mắt tôi lướt qua những tờ rơi in vi tính trắng đen phẳng phiu: tuyển gia sư dạy Toán - Lý lớp 10 ở quận Cầu Giấy, yêu cầu có xe máy đi lại và cam kết điểm thi đại học từ 27 điểm trở lên; tuyển nhân viên trông quán nét ca đêm ở phố Lê Thanh Nghị, yêu cầu biết cài đặt game và có chứng minh nhân dân Hà Nội để thế chân... Tất cả những công việc ấy hoặc đòi hỏi một phương tiện đi lại mà tôi không bao giờ có, hoặc đòi hỏi những mối quan hệ và sự am hiểu phố xá mà một đứa trẻ miền núi như tôi hoàn toàn mù tịt.
Rồi ánh mắt tôi dừng lại ở một tờ giấy A4 màu trắng đã ngả vàng vì ngấm nước mưa hắt qua song sắt hành lang, được ghim xiêu vẹo bằng một chiếc đinh rỉ ở góc dưới cùng bên phải tấm bảng.
Đó là một mẩu tin viết tay bằng mực bút lông dầu màu xanh lam đã hơi nhòe mép, nét chữ to, tròn và dứt khoát:
> *“QUÁN CÀ PHÊ MÙA GIÓ* > *(Địa chỉ: Số 12 ngõ... đường Trần Đại Nghĩa, gần cổng phụ ký túc xá)* > > *CẦN TUYỂN GẤP:* > *- 01 Nam nhân viên phục vụ bán thời gian ca tối (từ 17h30 đến 23h00 hàng ngày).* > *- Công việc: Bưng bê đồ uống, rửa ly tách, dọn dẹp bàn ghế cuối ca, dắt xe cho khách.* > *- Yêu cầu: Nhanh nhẹn, thật thà, có sức khỏe, chịu khó, có thể bắt đầu đi làm ngay.* > *- Quyền lợi: Lương 12.000 đồng/giờ. HỖ TRỢ 01 BỮA CƠM TỐI TẠI QUÁN.* > > *Liên hệ trực tiếp tại quầy pha chế gặp anh Tuấn quản lý.”*
Dòng chữ *“HỖ TRỢ 01 BỮA CƠM TỐI TẠI QUÁN”* viết hoa đậm nét đập vào mắt tôi như một chiếc phao cứu sinh bất ngờ quăng ra giữa dòng nước xiết đang cuốn phăng tôi đi.
Mười hai nghìn đồng một giờ. Mỗi buổi tối làm năm tiếng rưỡi là tôi sẽ kiếm được sáu mươi sáu nghìn đồng. Sáu mươi sáu nghìn đồng, cộng thêm một bữa cơm tối no bụng không mất tiền mua!
Đối với một kẻ đang đếm từng tờ một nghìn lẻ như tôi lúc này, con số ấy là một gia tài thực sự. Nó đủ để tôi thanh toán tiền điện nước ký túc xá vào cuối tháng, đủ để tôi mua thêm vài tập vở viết Bãi Bằng, và quan trọng hơn cả, nó sẽ giữ cho cái dạ dày của tôi không cào thấu xương tủy trong những tiết học lý thuyết kéo dài suốt buổi sáng ở giảng đường D3.
Nhưng đổi lại, cái giá phải trả cũng hiện lên rõ mồn một trước mắt tôi.
Ca làm việc kéo dài từ năm rưỡi chiều đến tận mười một giờ đêm. Mười một giờ đêm quán mới đóng cửa dọn dẹp, nghĩa là tôi sẽ phải chạy thục mạng qua con ngõ tối để về cho kịp giờ bảo vệ khóa xích cổng sắt ký túc xá. Tôi sẽ không còn thời gian để đọc trước tài liệu ngày mai, không còn những buổi tối ngồi mò mẫm tự học từng dòng mã nguồn trên cỗ máy tính cũ, không còn những đêm chong đèn pin ngồi gầm cầu thang tra từ điển tiếng Anh như đêm qua. Khoảng cách về tri thức và xuất phát điểm giữa tôi và những người bạn cùng lớp vốn dĩ đã là một vực thẳm sâu hoắm, nay sẽ càng bị kéo giãn ra một cách vô phương cứu vãn bởi những giờ bưng bê khay nước, cọ rửa từng chiếc ly cáu bẩn và dắt xe dưới trời mưa phùn gió bấc.
Tôi đứng chôn chân trước tấm bảng nỉ xanh, hai bàn tay buông thõng bên hông siết chặt lại thành nắm đấm. Những vết chai sần dày cộp trong lòng bàn tay — dấu tích của những năm tháng cầm cuốc bửa đá trên nương dốc Pha Luông — cọ xát vào nhau ram ráp, khô khốc.
Thành phố này không cho tôi quyền được lựa chọn con đường bằng phẳng. Lời thề tự lập mà tôi đã ném vào mặt bác Lương trước lúc bước chân lên chiếc xe đò đêm đang bắt đầu đòi nợ một cách sòng phẳng và nghiệt ngã nhất. Nó tước đoạt cái quyền được làm một người sinh viên thuần túy chỉ biết vùi đầu vào sách vở như hai cậu bạn cùng phòng nằm dưới giường tôi.
Muốn tồn tại để học, trước hết tôi phải sống sót qua cơn đói cái đã. Một kẻ chết vì suy kiệt thì lấy đâu ra tư cách để nói về thuật toán hay tương lai?
Tôi hít một hơi sâu, vươn cánh tay gầy guộc ra. Móng tay tôi khẽ lách vào chân chiếc đinh rỉ, giật nhẹ mép dưới của tờ giấy A4 nơi ghi địa chỉ và số điện thoại của quán cà phê Mùa Gió. Tôi cẩn thận gấp mảnh giấy làm tư, nhét sâu vào túi áo ngực bên trái, đặt nó nằm đè lên tờ giấy báo trúng tuyển đã ẩm mềm vì mồ hôi. Hai mảnh giấy ép chặt vào nhau qua lớp vải thô, áp sát vào lồng ngực đang đập dồn dập.
Ngoài trời, cơn mưa rào cuối chiều bắt đầu ngớt hạt, nhường chỗ cho một làn gió lạnh ẩm ướt thổi thốc qua khoảng sân vắng. Những vũng nước đục ngầu trên nền xi măng phản chiếu ánh đèn đường cao áp vừa bật sáng mờ ảo phía xa.
Tôi kéo thẳng lại cổ áo phông bạc màu, bước qua bậc thềm ký túc xá loang lổ rêu phong, rồi cắm đầu rảo bước về phía con ngõ nhỏ dẫn ra đường Trần Đại Nghĩa.