Hoa Ban Không TànCh.26 / 38
Chapter 26

Bài toán của một suất thi

Tờ thông báo về kỳ thi nằm trong tay tôi nhẹ đến mức chỉ một ngọn gió lạc từ phía thung lũng thốc qua hành lang trường huyện cũng đủ làm mép giấy mỏng manh run lên bần bật. Nhưng bốn góc con số in ở mặt sau – những khoản lệ phí thi, tiền xe đò, tiền ăn ở nơi đất khách – lại trĩu nặng hơn mọi gùi củi dẻ gai tôi từng cắn răng cõng qua dốc đá Nà Ban trong những chiều đông xám xịt.

Gió từ phía cánh đồng trũng dưới chân đồi cuộn theo hơi nước buốt giá, lùa dọc theo dãy hành lang quét vôi vàng đã ngả sang màu rêu mốc của khu nhà hai tầng. Từng đợt gió rít qua những chấn song sắt gỉ sét của khung cửa sổ, mang theo thứ mùi ẩm ngai ngái của cỏ dại ngâm nước ruộng và mùi vôi vữa lâu năm đang từng mảng bong tróc, rơi lạo xạo xuống chân tường. Tôi đứng nép sát vào góc tường hoa nham nhở xi măng xám xịt bên ngoài phòng họp tổ Tự nhiên, hai ngón tay cái miết chặt lấy mép tờ giấy A4 thô ráp đến mức đầu ngón tay trắng bệch, tê dại.

Đó là một tờ công văn được in bằng máy in kim đời cũ của văn phòng trường, thứ máy móc già nua phát ra tiếng kêu rẹt rẹt nhức óc mỗi khi vận hành. Những dòng chữ màu mực xanh lờ nhờ hiện lên trên nền giấy xơ xỉn, chỗ đậm chỗ nhạt, vài con chữ bị đứt nét vì băng mực đã cạn kiệt từ lâu. Nhưng dòng tiêu đề in hoa đậm nét ở chính giữa thì vẫn đập thẳng vào mắt tôi, rành rọt và sắc lạnh: *KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI MÔN TIN HỌC CẤP TỈNH NĂM HỌC 2008–2009*.

Phía dưới cùng của trang giấy, con dấu tròn đỏ chót của Sở Giáo dục và Đào tạo cùng chữ ký tươi bằng mực xanh thẫm của vị phó giám đốc như một cánh cửa lớn vừa he hé mở ra trước mắt một đứa học trò nghèo như tôi. Thế nhưng, song hành với cánh cửa hé mở ấy là một bức vách đá dựng đứng, trơn nhẫy và lạnh ngắt, chặn đứng mọi lối thoát hiểm của lòng tự trọng.

“Vào đây đi Nam, đứng ngoài gió làm gì cho tái ngắt người ra thế kia.”

Tiếng cô Hạnh cất lên từ phía bàn làm việc sát cửa sổ, kéo tôi ra khỏi những vòng xoáy suy nghĩ hỗn độn.

Căn phòng họp chung của tổ Tự nhiên nồng nặc thứ mùi đặc trưng quen thuộc của trường huyện miền núi: mùi bột phấn bảng bay lơ lửng bám vào từng thớ gỗ, mùi giấy kiểm tra học sinh lưu kho qua nhiều mùa mưa ẩm mốc, và làn khói thuốc lào mỏng lãng đãng sót lại từ chiếc điếu bát của một thầy giáo dạy Địa lý vừa rời đi cách đó ít phút.

Cô Hạnh ngồi bên chiếc bàn gỗ tạp phủ lớp sơn ta đã nứt nẻ, chiếc áo len đan tay màu hạt dẻ đã sờn rách ở hai bên cổ tay để lộ lớp chỉ lót màu trắng bên trong. Bên cạnh khuỷu tay cô là một chồng giáo án dầy cộp đóng bằng ghim thép gỉ sét và chiếc cặp da sờn mép. Ngồi đối diện cô, hơi ngả lưng vào cạnh chiếc bàn gỗ lim cũ kỹ kê sát góc tường, là thầy Dũng. Thầy vẫn mặc chiếc áo khoác gió hai lớp màu cỏ úa đã ngả sang màu cháo lòng, kéo khóa lửng lơ để lộ chiếc áo sơ mi bạc phếch bên trong. Trên kẽ ngón tay trỏ và lòng bàn tay thầy vẫn còn vệt mỡ máy đen sẫm cáu bẩn chưa kịp rửa sạch – dấu tích của cả buổi sáng thầy cặm cụi dỡ tung bộ nguồn của một cỗ máy tính cổ lỗ sĩ dưới phòng thực hành để tìm cách hàn lại chiếc tụ điện bị nổ.

Tôi bước khẽ khàng qua bậu cửa gỗ đã mòn vẹt. Đôi dép nhựa Tiền Phong tôi nhặt được từ đống đồ cũ ở bản, đế đã mòn trơ nhẵn thín không còn một đường rãnh ma sát, phát ra tiếng lẹp xẹp rụt rè, run rẩy trên nền gạch hoa mắt tôm cáu bẩn. Tôi đứng lại cách mép bàn chừng hai bước chân, hai tay cẩn thận đặt tờ thông báo lên góc bàn gỗ trước mặt hai thầy cô, ngón tay khẽ miết phẳng lại nếp gấp mà ngọn gió ngoài hành lang vừa làm quăn mép.

“Cô vừa làm việc lại với tổ bộ môn và bên ban giám hiệu chiều nay,” cô Hạnh cất giọng điềm tĩnh, đôi mắt nghiêm nghị sau cặp kính cận viền đồi mồi nhìn thẳng vào khuôn mặt hốc hác của tôi. “Điểm số các bài kiểm tra khảo sát tháng vừa rồi của em đứng đầu khối. Cả những bài tập thuật toán đệ quy phức tạp và cấu trúc mảng hai chiều mà thầy Dũng giao thêm cho đội tuyển làm thử nghiệm, em đều xử lý rất gọn gàng, tư duy logic mạch lạc và sáng nước. Kết quả thực tế ấy, cộng với những buổi em kiên trì tự học ở phòng máy ngoài giờ suốt từ đầu năm học đến nay, đã hoàn toàn thuyết phục được hội đồng nhà trường. Tên của em đã chính thức có trong danh sách ba học sinh đại diện cho toàn huyện đi dự thi đợt này.”

Cổ họng tôi khô khốc như có một nắm cát vừa chẹn ngang. Tôi muốn thưa một tiếng “vâng”, muốn cúi đầu thật thấp để giấu đi một tia hy vọng bừng sáng le lói trong đáy mắt – thứ niềm vui thuần khiết của một đứa trẻ mười ba tuổi khi thấy mồ hôi và nước mắt của mình được thừa nhận. Nhưng hai bàn tay tôi lại vô thức luồn sâu vào túi chiếc áo khoác gió mỏng manh rách toạc đường chỉ lót, nơi bên trong lồng ngực gầy guộc, từng nhịp tim đang nện xuống nặng nề và đau buốt.

Tôi không thể quên được cảm giác đất trời quay cuồng rồi đổ ụp xuống khi tôi ngã quỵ dưới chân cầu thang hai ngày trước, không quên được vị cháo trắng loãng nhạt thếch mà cô Hạnh đã tự tay bón cho tôi từng thìa trong phòng y tế lạnh lẽo của trường. Lời nhắc nhở nghiêm khắc của cô hôm ấy – rằng con chữ không bao giờ được đánh đổi bằng sự hủy hoại thể xác một cách mù quáng – vẫn như đang văng vẳng bên tai, nhắc nhở tôi về cái giới hạn mong manh của thân xác mình.

Cô Hạnh ngừng lại một nhịp, đôi mắt sâu thẳm như mặt hồ mùa đông khẽ lay động khi nhận ra sự im lặng bất thường sau đôi mắt trũng sâu vì mất ngủ của tôi. Ánh mắt cô dịu đi một chút, nhưng giọng nói khi cất lên lại đanh chắc, nghiêm cẩn và dứt khoát hơn:

“Nhưng Nam này, cô muốn em phải nhìn thẳng vào sự thật và hiểu thật rõ ràng điều này trước khi thầy trò mình tính tiếp những bước sau. Đây là kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, không còn là những bài kiểm tra lấy điểm mười ở lớp chọn của trường huyện, càng không phải là những bài toán đố mẹo vui vẻ ở điểm trường Nà Ban năm xưa nữa. Đối thủ của em nơi thị xã sẽ là học sinh của trường chuyên tỉnh, là con em các huyện đồng bằng trù phú có điều kiện máy móc tối tân hơn chúng ta gấp mười, gấp trăm lần. Họ được học với những dàn máy tính đời mới, có mạng Internet tốc độ cao, có thầy giỏi luyện thi bài bản từ nhiều năm trước.”

Cô dừng lại, nhìn thẳng vào mắt tôi, từng lời nói như nện thẳng vào thực tế:

“Được chọn vào đội tuyển là sự ghi nhận xứng đáng cho năng lực và sự kiên trì vượt bậc của em, nhưng nó hoàn toàn không phải một phần thưởng miễn phí từ trên trời rơi xuống. Nó lại càng không phải một tấm vé bảo đảm chắc chắn rằng ngày mai đời em sẽ đổi khác ngay lập tức, rằng gánh nặng cơm áo sẽ lập tức biến mất sau một kỳ thi. Em bước chân vào đây là bước vào một cuộc cọ xát sòng phẳng, khốc liệt và sòng phẳng đến tàn nhẫn. Và cái giá đầu tiên mà em phải trả, tiếc thay, lại không chỉ dừng lại ở mồ hôi rơi trên mặt giấy nháp.”

“Em hiểu ạ,” tôi lí nhí đáp, tầm mắt hạ xuống mũi dép lấm lem những vệt bùn đất đỏ quạch chưa kịp khô sau quãng đường lội bộ từ gian kho trường sang.

Thầy Dũng khẽ gõ ngón tay dính vệt dầu máy đen sẫm xuống mặt bàn gỗ lim, phát ra những tiếng cộc cộc khô khốc, kéo sự chú ý của tôi về phía chiếc bút bi Thiên Long vỏ nhựa màu xanh thầy vừa rút ra khỏi túi ngực áo khoác. Thầy lật ngược mặt sau của tờ công văn, nơi còn chừa lại một khoảng giấy trắng tinh chưa in chữ, vuốt phẳng phiu mép giấy rồi đặt ngòi bút xuống.

“Thôi, chuyện năng lực và chuyện được chọn thì coi như xong xuôi rồi, không phải bàn cãi thêm nữa. Cái đầu của thằng Nam thì thầy chẳng bao giờ phải lo, nó nhét chữ, nhét thuật toán vào đầu còn nhanh hơn cái ổ đĩa mềm cổ lỗ của trường đọc dữ liệu,” thầy Dũng nở một nụ cười gượng gạo, cố làm tan đi bầu không khí đặc quánh đang bao trùm lấy căn phòng. Nhưng rồi nụ cười ấy nhanh chóng chùng xuống, khóe môi thầy giật nhẹ khi đầu ngòi bút bi chạm mạnh vào mặt giấy thô ráp. “Bây giờ thầy trò mình phải ngồi xuống mà giải bài toán thực tế này đã. Bài toán này nghiệt ngã lắm Nam ạ, nó không có biến số X, Y nào để em dùng thuật toán mà triệt tiêu đâu. Toàn bộ nó đều phải giải bằng tiền mặt.”

Ngòi bút của thầy vạch một đường thẳng tắp từ trên xuống dưới, chia trang giấy trắng làm hai cột rành rọt.

“Khoản thứ nhất: Lệ phí thi của Sở. Nhà trường đã họp và chỉ có thể trích quỹ hỗ trợ được một phần thủ tục hồ sơ ban đầu theo diện học sinh vùng cao khó khăn. Còn cái phần nộp trực tiếp về hội đồng coi thi tập trung của tỉnh, bên Sở họ thu cố định theo đầu người, trường không thể can thiệp được. Khoản này là bốn mươi lăm nghìn đồng.”

Đầu bút bi gai góc miết mạnh lên mặt giấy, để lại dòng chữ số sắc nhọn và lạnh lùng: *45.000đ*.

“Khoản thứ hai: Chuyến xe đi lại. Từ trường huyện mình ra đến thị xã tỉnh lỵ là hơn một trăm cây số đường đèo quanh co, đá sạt liên miên. Đi xe khách tuyến cố định từ bến xe huyện ra ngoài đó, giá vé khứ hồi cả đi lẫn về rẻ nhất của cánh tài xế quen cũng mất sáu mươi nghìn đồng. Đó là thầy đã tính nước em phải chịu khó đi bộ từ điểm dừng xe khách vào cụm trường thi nội trú, chứ nếu bấm bụng thuê xe ôm chở đồ đạc thì còn tốn thêm một hai chục nghìn nữa.”

Thầy viết tiếp xuống dòng dưới, nét mực đậm hơn: *60.000đ*.

“Khoản thứ ba: Chi phí ăn ở tối thiểu trong bốn ngày ba đêm tập trung thi cử. Dù phía trường thi có tạo điều kiện bố trí cho học sinh các huyện vùng cao một góc ký túc xá tập trung để ngả lưng, nhưng tiền ăn thì nhà bếp của họ thu theo quy định thống nhất, mỗi ngày mười lăm nghìn đồng cho ba bữa sáng, trưa, tối. Bốn ngày là sáu mươi nghìn đồng chẵn. Em tuyệt đối không thể vác một bao tải mười bắp ngô luộc hay nhịn đói uống nước lã suốt bốn ngày ròng rã ấy để bước vào phòng thi lập trình được. Lập trình đòi hỏi não bộ phải hoạt động hết công suất, bụng mà đói meo, đường huyết tụt xuống thì đầu óc sẽ đơ ra như cỗ máy tính bị cháy thanh RAM, chẳng thể nghĩ ra nổi một dòng lệnh nào đâu.”

Bút bi lại vạch xuống: *60.000đ*.

“Và khoản cuối cùng,” thầy Dũng ngập ngừng một thoáng. Thầy ngước mắt lên, liếc nhìn cô Hạnh như để tìm kiếm một sự đồng thuận ngầm, rồi ánh mắt trĩu nặng của thầy lại rơi xuống khuôn mặt tái nhợt của tôi. “Tài liệu ôn tập chuyên sâu. Kỳ thi học sinh giỏi tỉnh năm nay thi hoàn toàn trên nền tảng Free Pascal với cấu trúc thuật toán nâng cao, phần lớn điểm số rơi vào các bài toán xử lý xâu ký tự phức tạp và phương pháp quy hoạch động. Bộ tài liệu tham khảo có tuyển tập các đề thi mẫu và lời giải chi tiết do các giáo viên trường chuyên tỉnh biên soạn vừa mới được gửi về thư viện huyện đầu tuần này. Giá bìa của cuốn sách là ba mươi lăm nghìn đồng. Nếu không có cuốn sách đó trong tay để cày nát các dạng đề đặc thù trong mười ngày tới, em bước chân vào phòng thi sẽ chẳng khác nào một người mù đi đêm giữa rừng sâu mà không có lấy một que diêm hay chiếc đèn pin dẫn lối.”

Ngòi bút viết thêm dòng số thứ tư: *35.000đ*.

Đầu ngón tay dính dầu máy của thầy Dũng đè mạnh chiếc bút bi xuống, gạch một đường ngang đôi đậm nét bên dưới bốn hàng số. Không cần phải nhẩm tính quá lâu, ngòi bút của thầy lia một vòng dứt khoát, để lại một con số tổng kết nằm trơ trọi giữa trang giấy trắng:

*Tổng cộng: 200.000 đồng.*

Con số hai trăm nghìn đồng được viết to hơn hẳn, mực xanh thẫm hằn sâu qua lớp giấy mỏng, như một bản án kinh tế được tuyên công khai giữa căn phòng yên ắng.

Tôi nghe thấy tiếng tim mình đập từng hồi thình thịch, dồn dập và nghẹn ứ vào mạn sườn gầy guộc. Hai trăm nghìn đồng.

Đối với một gia đình cán bộ thị trấn ăn lương nhà nước, hay đối với những thương lái buôn ngô dưới phố huyện, hai trăm nghìn đồng có thể chỉ là giá trị của vài chuyến đi chợ phiên, là một bữa cơm tươi có thịt có cá để thết đãi khách khứa, hay một chiếc áo ấm loại khá treo trong cửa hàng bách hóa. Nhưng đối với tôi, một đứa trẻ mồ côi đang ăn nhờ ở đậu, con số ấy là một gia tài không tưởng, một ngọn núi đá vôi sừng sững, nhọn hoắt chắn ngang tầm mắt mà dẫu tôi có vắt kiệt từng giọt mồ hôi và tủy xương cũng không cách nào trèo qua nổi.

Để có được từng tập vở Bãi Bằng bảy mươi hai trang giấy xốp ố vàng và vài chiếc ngòi bút bi Thiên Long thay ruột trong suốt những tháng ngày theo học ở trường huyện, tôi đã phải chắt bóp, tằn tiện từng đồng hào rách mép.

Cứ mỗi một trang giáo án viết tay nguệch ngoạc của các thầy cô bộ môn đưa cho, tôi phải ngồi còng lưng hàng giờ liền trong góc kho lạnh ngắt của nhà bà giáo Ngô, mười đầu ngón tay buốt cóng đến mức mất hết cảm giác, kiên nhẫn gõ lọc cọc trên chiếc bàn phím máy tính cũ kỹ kẹt cứng từng phím bấm. Tôi gõ ròng rã suốt một buổi tối, mắt kèm nhèm vì ánh sáng chớp nháy của màn hình CRT lồi lóa mắt, đổi lại chỉ được đúng một nghìn đồng tiền công.

Những buổi trưa không về bản, tôi ở lại trường, cầm chiếc tuốc-nơ-vít hai đầu cùn mòn mượn của thầy Dũng đi lau chùi bụi bặm cho từng chiếc quạt thông gió, lấy bóng cao su bóp tay thổi từng hạt bụi bám trên các khe cắm RAM, dùng cục tẩy chì cẩn thận cạo sạch lớp rỉ sét bám ở các chân cắm card màn hình cho máy tính ở các phòng ban hiệu bộ. Thầy cô nào quý mến, thương tình đứa học trò chăm chỉ, thỉnh thoảng mới dúi vào túi áo tôi tờ tiền năm nghìn, mười nghìn đồng gấp tư nhàu nát để gọi là bồi dưỡng thêm.

Tất cả những đồng tiền nhuốm mùi dầu máy, mùi mồ hôi và sự nhẫn nhục ấy, cộng với những bữa trưa chỉ dám nuốt vội nửa củ khoai luộc nhạt thẽo hay nhai nắm cơm nguội độn sắn khô cứng như sỏi, tôi đều gom góp lại từng tờ một. Tôi cất chúng trong một chiếc hộp sắt tây đựng bánh quy rỉ sét của Liên Xô cũ, cẩn thận bọc qua hai lớp túi bóng ni-lông rồi giấu kỹ dưới góc chõng tre ọp ẹp nơi gian kho ẩm thấp.

Tổng số tiền tôi tích cóp được suốt từ đầu năm học đến nay, gom đủ từ những tờ năm trăm đồng, một nghìn đồng rách mép dán băng dính trắng, vỏn vẹn chưa đầy bốn mươi nghìn đồng.

Bốn mươi nghìn đồng. Nó chưa bằng nổi một phần năm của con số hai trăm nghìn đang nằm chình ình trên mặt bàn gỗ.

Khoảng trống một trăm sáu mươi nghìn đồng còn lại như một cái miệng vực sâu thẳm, tối đen và lạnh lẽo, sẵn sàng há to ra để nuốt chửng mọi ước mơ non nớt, mọi khát khao được bước ra thế giới rộng lớn bên ngoài thung lũng vừa chớm nở trong lồng ngực tôi.

Thầy Dũng đặt chiếc bút bi xuống mặt bàn gỗ lim. Thầy ngả người ra phía sau lưng ghế, đưa hai bàn tay thô ráp lên xoa mạnh vào nhau để tìm kiếm chút hơi ấm giữa cái rét cắt da cắt thịt của buổi chiều vùng cao. Thầy nhìn tôi, ánh mắt chùng xuống, giọng nói trầm đục mang theo vẻ từng trải và thấu hiểu sâu sắc của một người thợ già vốn đã quen với những giới hạn khắc nghiệt của cơ khí và cuộc đời:

“Thầy tính thế này, Nam. Hiện tại ở bên trung tâm giáo dục thường xuyên huyện và một vài phòng ban bên ủy ban thị trấn có khoảng bốn hay năm cỗ máy tính văn phòng đang bị nhiễm virus lạ. Mấy con virus đó làm ẩn hết các tệp dữ liệu quan trọng, gây lỗi hệ điều hành Windows 98 và làm treo máy liên tục. Cán bộ bên đó không biết xử lý, họ đang cần người đến cài đặt lại toàn bộ hệ điều hành, quét sạch ổ cứng, dọn rác và bấm lại các đầu cáp mạng nội bộ bị chuột cắn đứt. Nếu em đồng ý nhận làm thêm việc này ngoài giờ, tranh thủ tất cả các buổi tối từ nay cho đến cuối tuần sau, thầy sẽ đứng ra nói chuyện với họ, đem uy tín của thầy ra để bảo lãnh cho em vào làm. Mỗi một cỗ máy xử lý dứt điểm, cài đặt hoàn chỉnh và chạy trơn tru, người ta có thể thanh toán cho em từ mười lăm đến hai mươi nghìn đồng tiền công. Nếu em chịu khó cày cuốc, làm thật khéo và không để xảy ra sai sót gì, em hoàn toàn có thể kiếm thêm được chừng bảy, tám mươi nghìn nữa để đắp vào chi phí cho chuyến đi thi này.”

Nghe thầy nói, lồng ngực tôi thắt lại rồi bất chợt bừng lên một tia hy vọng mong manh. Bảy mươi nghìn, hay tám mươi nghìn... cộng với số tiền bốn mươi nghìn tôi đang có, khoảng cách đến con số hai trăm nghìn sẽ được thu hẹp lại một nửa. Tôi có thể làm được. Tôi không sợ mệt, không sợ mỏi mắt, tôi có thể ngồi bên bàn phím thâu đêm suốt sáng.

Thế nhưng, tia hy vọng non nớt ấy vừa kịp nhen nhóm trong đáy mắt tôi thì thầy Dũng đã dứt khoát giơ một ngón tay trỏ dính dầu máy lên, nghiêm giọng chặn ngang dòng suy nghĩ của tôi:

“Nhưng thầy phải cảnh báo trước cho em hiểu, Nam ạ. Miếng cơm ấy không dễ nuốt một chút nào đâu. Hiện tại em đang là học sinh lớp chọn Toán, lịch học chính khóa và học bồi dưỡng trên lớp của cô Hạnh đã kín đặc cả tuần. Cứ chiều thứ Bảy là em lại phải lội bộ mười cây số đường rừng về bản Nà Ban để làm nương, cắt cỏ cho trâu theo lệnh của bác Lương em, sáng sớm thứ Hai lại phải cuốc bộ ngược ra huyện từ lúc trời chưa rạng mặt người. Nếu bây giờ em lại ôm đồm thêm ngần ấy cỗ máy hỏng hóc, em sẽ buộc phải thức trắng đêm. Mà thức trắng đêm liên tục như thế thì em lấy đâu ra thời gian mà ngồi nghiền ngẫm các dạng bài thuật toán khó? Lấy đâu ra sự minh mẫn để não bộ dung nạp và xử lý các cấu trúc dữ liệu mới?”

Thầy Dũng nghiêng người về phía trước, ánh mắt thầy xoáy sâu vào tôi như muốn nhìn thấu tâm can:

“Đừng bao giờ ngây thơ nghĩ rằng mình có thể mang giấc ngủ và sức lực của tuổi mười ba ra đổi lấy tiền một cách vô tội vạ. Cái hôm em ngất lịm đi dưới chân cầu thang, hai mắt trợn ngược, mặt mày trắng bệch không còn một giọt máu như một tàu lá chuối héo, em có biết cô Hạnh và thầy đã hoảng hốt đến mức nào không? Thầy cô tưởng em không gượng dậy nổi nữa đấy! Bước vào một phòng thi cấp tỉnh với một cơ thể rỗng tuếch vì kiệt sức, một cái dạ dày quặn thắt lại vì đói khát và một cái đầu mụ mẫm, đờ đẫn vì thiếu ngủ triền miên thì em cầm chắc thất bại từ trước cả khi ngón tay em kịp chạm vào nút khởi động thùng máy. Thầy và cô muốn nhìn thấy em bước vào phòng thi của tỉnh với tư thế của một học trò giỏi giang, đàng hoàng, chứ không phải đi thi theo cái kiểu tự sát để mua lấy một danh phận hão huyền như thế.”

Từng lời cảnh báo rành rọt, đanh thép của thầy Dũng như những nhát búa nện thẳng vào thực tế trần trụi và cay đắng mà tôi đang vùng vẫy muốn trốn chạy.

Thầy nói không sai một chữ nào. Thân thể tôi quả thực đã chạm đến giới hạn chịu đựng cuối cùng của một đứa trẻ đang tuổi lớn nhưng luôn trong tình trạng thiếu ăn. Những cơn hoa mắt chóng mặt ập đến bất thình lình mỗi khi tôi đứng bật dậy sau nhiều giờ ngồi học, những cơn đau nhức buốt tận tủy sống ở hai khớp đầu gối sau mỗi cuốc lội bộ mười cây số vượt đèo dốc trong màn sương muối mùa đông... tất cả những dấu hiệu suy kiệt ấy, tôi đều biết rõ. Tôi đã cố tình lờ chúng đi, cố tình cắn chặt môi chịu đựng vì nghĩ rằng chỉ cần mình có đủ ý chí thì thân xác này sẽ phải nghe theo. Nhưng sự thật là tôi không thể lừa dối cơ thể mình mãi được.

Tôi ngồi chết lặng trên chiếc ghế gỗ tạp, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên đầu gối, mười đầu ngón tay bấu sâu vào lớp vải quần thô ráp đến mức thịt da đau nhói. Trong tâm trí tôi lúc này, những phép tính sinh tồn cay nghiệt bắt đầu xoay vần một cách hỗn loạn, tạo thành một cơn lốc đen đặc bóp nghẹt lồng ngực.

Tôi lục lọi trong ký ức, rà soát lại từng đồng hào, từng góc nhỏ của cuộc sống khốn cùng xem mình còn có thể bấu víu vào đâu.

Bốn mươi nghìn đồng cất dưới chõng tre là số tiền tự tay tôi làm ra. Nhưng sâu thẳm trong một ngăn kéo ký ức đầy ám ảnh, một hình ảnh nhói buốt chợt hiện về rõ mồn một: tờ tiền giấy cotton mệnh giá năm nghìn đồng cũ kỹ, mép giấy đã sờn rách và bám đầy bụi tro bếp, cái ngày mà bác dâu Sương giật phắt lấy mười nghìn tiền công cày nương mà thầy Khang gửi cho tôi từ tay bác Lương, rồi ném trả lại một tờ năm nghìn xuống nền đất nhà sàn trước mặt tôi.

*“Cầm lấy mà mua vở viết! Cầm lấy ngay, đừng có để thiên hạ ngoài bản người ta độc mồm bảo cái ngữ nhà này bạc ác, không cho nổi mày một cuốn giấy trắng để học làm người!”*

Tiếng mắng the thé, the thé mà buốt nhức của bác dâu hôm ấy cùng ánh mắt giằng xé dữ dội giữa sự cay nghiệt của thói ích kỷ và một thoáng thương hại tội lỗi vẫn như một vết dao cứa sâu vào tâm can tôi.

Tờ năm nghìn đồng đầy tủi nhục ấy, cùng với vài đồng tiền lẻ năm trăm, một nghìn mà Lan lén lút dúi vào tay tôi qua gói xôi nếp nương bọc lá chuối ở mỗi phiên chợ huyện, tôi chưa bao giờ dám tiêu xài một cách dễ dãi. Tôi đã dùng hai nghìn đồng để mua hai cuốn vở Bãi Bằng loại giấy xấu nhất, nắn nót viết từng dòng chữ li ti sít sao từ dòng kẻ đầu tiên đến dòng kẻ cuối cùng, không dám chừa lại một centimet lề giấy nào.

Số tiền còn lại chừng ba nghìn đồng, tôi vuốt cho thật phẳng phiu, kẹp chặt vào giữa những trang vở chép thơ học trò đã ố vàng của mẹ Mai – cuốn sổ kỷ vật duy nhất còn sót lại, nằm im lìm dưới lớp hoa ban rừng khô xác mà tôi nhặt được bên mộ mẹ từ mùa xuân năm ngoái.

Số tiền ba nghìn lẻ ấy là giới hạn an toàn cuối cùng của tôi. Nó là chỗ dựa cho những ngày giáp hạt đói kém nhất, phòng khi bút viết hết mực giữa kỳ thi học kỳ, hay lỡ một ngày nào đó tôi đổ bệnh liệt giường giữa mùa đông giá rét, không thể nào lết nổi đôi chân vượt mười cây số về bản Nà Ban để xin một bữa cơm.

Nhưng tôi không thể, và tuyệt đối không bao giờ cho phép mình đụng đến số tiền ấy để trang trải cho một chuyến đi thi xa xôi như thế này.

Bởi vì tôi hiểu quá rõ cái quy luật nghiệt ngã đang ngự trị dưới mái nhà sàn của bác Lương. Việc tôi được phép rời bản Nà Ban để ra trường huyện trọ học vốn dĩ không phải là một sự ủng hộ danh chính ngôn thuận, mà chỉ là một sự tha bổng có điều kiện, một ân huệ mong manh được neo giữ bằng những buổi lao động cật lực trên nương ngô vào mỗi dịp cuối tuần để bù đắp vào phần công nợ ma chay của bố mẹ tôi ngày trước.

Nếu hôm nay tôi dại dột vét sạch những đồng tiền phòng thân cuối cùng ấy mang đi ném vào một kỳ thi đầy may rủi nơi thị xã, thì tuần sau, tháng sau, khi cây bút bi cạn mực hay cuốn vở viết hết trang, tôi sẽ lấy gì để tiếp tục việc học? Chẳng lẽ lúc ấy tôi lại phải trơ tráo ngửa tay ra trước hiên nhà sàn, đứng nép dưới chân cầu thang để đón nhận cái nhìn lạnh tanh như đá tảng của bác Lương và những lời đay nghiến, xỉa xói đến thấu xương tủy của bác dâu?

Tôi không thể tự biến mình thành kẻ yếu thế hơn nữa. Tôi không thể để bản thân rơi vào cái bẫy của sự phụ thuộc, không thể một lần nữa biến mình thành một kẻ ăn xin lòng thương hại ngay trong chính ngôi nhà mà cha mẹ tôi đã từng đổ mồ hôi và máu để dựng nên.

Sự im lặng chết chóc của tôi kéo dài quá lâu khiến cho không khí bên trong gian phòng họp tổ Tự nhiên càng lúc càng trở nên ngột ngạt, nặng trĩu. Tiếng gió mùa đông rít liên hồi qua khe hở của tấm kính vỡ ở góc cửa sổ nghe thê lương và buốt nhức như một tiếng thở dài thườn thượt của số phận.

Cô Hạnh nhìn tôi rất lâu. Ánh mắt của người cô giáo đã từng băng qua những con dốc trơn trượt để vào tận bản Nà Ban dạy từng nét chữ xóa mù năm xưa bỗng chốc trở nên nghiêm khắc lạ thường. Cô khoanh hai tay lại trước ngực, giọng cô cất lên, thẳng thắn và không hề né tránh:

“Tại sao em không chủ động báo rõ hoàn cảnh thực tế này sớm hơn với cô và thầy Dũng hả Nam? Danh sách dự kiến của đội tuyển nhà trường đã lập xong từ hai tuần trước và cô đã thông báo riêng cho em biết. Nếu ngay từ đầu em nói thật rằng em hoàn toàn không có khả năng tự lo liệu những khoản kinh phí này, cô và thầy Dũng đã có thể chủ động làm việc với ban giám hiệu, đề xuất lên công đoàn nhà trường tìm nguồn tương trợ, hoặc bàn bạc tìm một phương án khác khả dĩ hơn, chứ không phải để dồn ứ mọi chuyện đến tận ngày cuối cùng chốt danh sách thế này!”

Tôi giật nảy mình, ngước mắt lên nhìn cô Hạnh rồi lại vội vã cụp mắt xuống mặt bàn.

Câu hỏi thẳng thừng và dứt khoát của cô như một mũi kim sắc nhọn đâm trúng vào khối u nhức nhối nhất của lòng tự trọng đang âm ỉ cào xé trong lồng ngực tôi. Hai bên má tôi nóng bừng lên như bị lửa đốt, một cảm giác tủi nhục xen lẫn uất nghẹn dâng ứ lên tận cuống họng, đắng ngắt.

Làm sao tôi có thể mở miệng nói ra những điều đó được?

Làm sao một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, ngày ngày phải sống dựa vào sự cưu mang đầy hằn học và dè bỉu của những người thân ruột thịt, phải vét từng muỗng cơm cháy dính dưới đáy nồi gang và nhặt nhạnh từng mẩu sắn khô mốc meo để qua bữa, lại có thể dễ dàng mở miệng than nghèo kể khổ trước mặt những người thầy, người cô mà mình tôn kính nhất trên đời?

Suốt bao nhiêu năm tháng côi cút vừa qua, kể từ cái buổi chiều định mệnh khi mẹ Mai kiệt sức rồi nằm xuống mãi mãi dưới gốc cây ban già nơi triền dốc đá, cho đến cái ngày cha Hòa ho ra những bọc máu đen thẫm rồi gục chết trên mảnh nương ngô ngập trong nợ nần, tôi đã phải tự tôi luyện cho mình một lớp vỏ bọc gai góc của sự lì lợm và câm lặng.

Tôi thà để người đời chỉ trỏ, mắng mỏ mình là một đứa trẻ cứng đầu cứng cổ, thà để cái đói cào xé ruột gan đến mức lả đi rồi ngã quỵ, chứ tuyệt đối không bao giờ muốn nhìn thấy ánh mắt xót xa, thương hại của bất kỳ ai chiếu rọi vào sự nghèo hèn của mình.

Tôi sợ sự thương hại ấy hơn bất cứ thứ gì trên cõi đời này. Tôi sợ nó hơn cả những lằn roi quất bằng cành dẻ gai sắc nhọn mà bác Lương từng giáng xuống lưng tôi mỗi khi tôi làm trâu lạc vào ruộng ngô. Đòn roi của bác Lương dù có ác độc đến đâu thì cũng chỉ làm rách da rách thịt, chảy vài giọt máu rồi đóng vảy thành sẹo. Nhưng ánh mắt thương hại của người đời thì khác. Nó như một thứ axit vô hình, âm thầm gặm nhấm và hủy hoại chút thể diện cuối cùng của tôi, nó luôn miệng nhắc nhở tôi rằng tôi chỉ là một đứa trẻ bất lực, một kẻ tật nguyền về số phận, một gánh nặng thừa thãi và phiền toái mà người khác đang phải miễn cưỡng cưu mang.

“Em...” Cổ họng tôi nghẹn đắng, từng thanh âm thốt ra khó nhọc và run rẩy như phải gồng mình đẩy qua một tảng đá tảng chắn ngang lồng ngực. “Em thưa cô... thưa thầy... nếu khó khăn và tốn kém quá... em xin phép thầy cô cho em được rút tên, không đi thi đợt này nữa ạ.”

Thầy Dũng sững sờ. Bàn tay thô ráp của thầy đang cầm chiếc bút bi bỗng buông lỏng ra, khiến chiếc bút rơi tọt xuống mặt bàn gỗ lim, phát ra một tiếng “cạch” khô khốc, trơ trọi giữa không gian im ắng.

“Em nói cái gì thế hả Nam?” Thầy Dũng trừng mắt nhìn tôi, giọng thầy gắt lên, chất chứa một nỗi thất vọng sâu sắc không thể kìm nén. “Bao nhiêu công sức em cày ngày cày đêm bên phòng máy, bao nhiêu bài toán thuật toán hóc búa em thức trắng bao nhiêu đêm trong gian kho để tự tìm tòi lời giải, bao nhiêu mồ hôi nước mắt đổ ra suốt từ đầu năm đến giờ... chẳng lẽ chỉ vừa mới nhìn thấy con số hai trăm nghìn đồng này là em đã vội vã giơ tay đầu hàng, đòi lùi bước hèn nhát thế à?”

Uất ức bấy lâu bị dồn nén như một con đập vỡ tung. Tôi ngẩng phắt đầu lên, hai bàn tay gầy guộc khẳng khiu bấu chặt lấy gờ gỗ của mép bàn lim, móng tay cắm sâu vào thớ gỗ nứt nẻ. Tôi không còn cụp mắt trốn tránh nữa, tôi nhìn thẳng vào mắt cô Hạnh, rồi quay sang nhìn thẳng vào khuôn mặt đang cau lại vì giận dữ của thầy Dũng.

Trong ánh mắt tôi lúc ấy, không có lấy một mảy may của sự hèn nhát hay sợ hãi trước những bài toán khó. Đó là một nỗi đau đớn đến cùng cực của lòng tự trọng bị dồn ép đến chân tường, một tiếng thét nghẹn ngào của một đứa trẻ không muốn tiếp tục đánh mất đi chút phẩm giá cuối cùng:

“Em không sợ bài thi khó, thưa thầy! Em cũng không sợ phải làm thêm ban đêm, dẫu có phải thức trắng cả tuần em cũng không sợ! Nhưng em không muốn... em không muốn các thầy cô phải vì em mà đi xin xỏ khắp nơi, không muốn mọi người phải nhìn em như một bài toán thiếu tiền cần giải hộ!”

Em đi học được ở trường huyện này, được ở nhờ gian kho của bà giáo Ngô, được thầy cho dùng máy tính ngoài giờ... bấy nhiêu đó đối với em đã là quá nhiều ơn nghĩa rồi. Em nợ thầy cô, nợ bà giáo, về nhà lại nợ tiền ma chay của bố mẹ chưa trả hết cho bác Lương. Em không thể tiếp tục gánh thêm những món nợ mà em biết chắc mình không có cách nào trả nổi!”

Tiếng tôi run lên bần bật, hơi thở dồn dập, đứt quãng trong lồng ngực gầy guộc. Từng lời thốt ra như một nhát chém tự rạch vào da thịt mình, rút cạn chút sinh lực còm cõi còn sót lại sau cơn ngất xỉu vì kiệt sức hôm trước. Tôi đứng chôn chân giữa căn phòng giáo viên thênh thang, nơi những cơn gió bấc cuối chiều luồn qua khe cửa kính vỡ, thổi phần phật mép khăn trải bàn nilon đã ố vàng. Tôi thấy mình trơ trọi, tơi tả và hèn mọn đến thảm hại, chẳng khác nào một kẻ vừa tự tay lột trần mọi vết thương lở loét, những vết bầm tím lem luốc trên thân thể lẫn nỗi mặc cảm bần hàn mà bấy lâu nay tôi đã cố công bọc kín dưới lớp áo sờn vai.

Căn phòng lặng phắt đi sau tiếng thét tuyệt vọng của tôi. Thầy Dũng vẫn ngồi chết lặng bên chiếc bàn gỗ lim, đôi bàn tay gân guốc siết chặt lấy nhau, ánh mắt nặng trĩu nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt, nơi những hạt bụi li ti đang quay cuồng trong vệt sáng mờ nhạt rọi qua khung cửa. Thầy không quát mắng thêm một câu nào nữa. Cơn giận dữ bốc đồng ban nãy dường như đã bị sự cay đắng trần trụi trong lời thú nhận của tôi dập tắt ngấm, chỉ còn lại nỗi xót xa tê tái đọng lại nơi khóe mắt hằn sâu nếp nhăn.

Cô Hạnh không hề nổi giận. Cô ngồi im lìm, hai bờ vai mảnh khảnh hơi so lại dưới lớp áo len mỏng đã sờn mép. Cô nhìn tôi rất lâu, ánh mắt đăm đắm, tĩnh lặng và sâu thẳm như mặt nước hồ trên đỉnh núi đá giữa mùa đông buốt giá. Ánh nhìn ấy không hề có sự thương hại bề trên, cũng chẳng có chút trách cứ nào, nó chỉ bao bọc lấy tôi bằng một sự thấu hiểu xót xa đến nghẹn lòng.

Rồi cô khẽ thở dài một tiếng thật khẽ, nhẹ như hơi gió thoảng qua chấn song sắt. Bàn tay gầy guộc với những ngón dài xương xẩu của cô chầm chậm vươn ra trên mặt bàn lim, đặt nhẹ lên mu bàn tay đang co quắp, run rẩy của tôi. Làn da cô ráp nhẹ, nhưng hơi ấm từ lòng bàn tay ấy truyền qua lớp da lạnh ngắt của tôi, dịu dàng, vững chãi và nhẫn nại lạ kỳ.

“Nam này,” cô cất tiếng, giọng nói trầm tĩnh, êm ái đến mức làm tan đi toàn bộ sự ngột ngạt, gay gắt vừa bao trùm căn phòng. “Em nghĩ nhận sự giúp đỡ là biến mình thành một món nợ sao? Em nghĩ việc thầy cô tìm cách cho em đi thi là vì muốn ban ơn cho một đứa trẻ nghèo để đổi lấy sự hàm ơn à?”

Tôi mím chặt môi lại, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau đến mức quai hàm mỏi nhừ, nghe rõ vị mằn mặn của máu rỉ ra từ vết nứt nẻ nơi khóe môi. Tôi không thể thốt ra được một lời nào. Những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu rốt cuộc cũng vỡ òa, nóng hổi và bỏng rát, thi nhau lăn dài trên gò má xám ngoét vì sương gió, rơi lã chã xuống mặt bàn gỗ lim loang lổ vết mực tím, làm nhòe đi hình bóng dịu hiền của cô giáo và những dòng dự toán kinh phí nghiệt ngã trên tờ giấy trắng tinh trơ trọi.

Tôi không thể đối diện với câu hỏi của cô Hạnh thêm một giây phút nào nữa. Sự dịu dàng của cô lúc ấy như một mũi kim châm thẳng vào vết thương đang mưng mủ trong tim tôi. Tôi vội vã cúi đầu thật thấp, lí nhí một tiếng xin phép hai thầy cô ra về rồi quay ngoắt người, bước chân xiêu vẹo lao ra khỏi căn phòng giáo viên lộng gió.

Chiều thứ Sáu buông xuống thị trấn huyện tựa một tấm màn chì xám xịt và ảm đạm. Gió mùa đông bắc rít từng cơn dài qua những rặng bạch đàn khẳng khiu trơ trụi lá dọc hai bên con đường đất đỏ. Trước mắt tôi lúc này không còn là những dòng mã lệnh Pascal sáng rực trên màn hình máy tính xanh lét, cũng chẳng còn chỗ cho những thuật toán đệ quy hay quy hoạch động hóc búa mà tôi từng mê mải kiếm tìm lời giải thâu đêm suốt sáng. Trước mắt tôi là chặng đường dài mười cây số lầy lội, gập ghềnh ngược dốc trở về bản Nà Ban đang chờ đợi. Bác Lương đã ra tối hậu thư từ đầu tuần: chiều thứ Sáu không thấy mặt mũi tôi trên vạt nương đá, thì sáng thứ Hai tuần tới đừng bao giờ mong vác xác trở lại trường huyện này nữa.

Tôi kéo sụp vành chiếc mũ len cũ kỹ xuống sát chân mày, co ro trong chiếc áo gió mỏng tang đã rách toạc một mảng dưới nách, lầm lũi cất bước. Sương mù từ các thung lũng sâu bắt đầu đùn lên, đặc quánh như cháo loãng, nuốt chửng những triền đồi cằn cỗi và những mái nhà lợp ngói âm dương xám xịt ven đường. Đôi dép nhựa Tiền Phong đã mòn vẹt đế trượt liên tục trên những đoạn dốc đất đỏ nhão nhoét vì mưa dầm. Đất sét bết chặt vào quai dép, nặng trịch như đeo chì, kéo ghì từng bước chân mệt mỏi. Bắp chân tôi căng cứng, các thớ cơ giật lên từng hồi đau điếng, nhưng tôi không dám dừng lại nghỉ lấy một nhịp. Tôi cắm đầu bước đi như một cái bóng vô hồn, tai lùng bùng tiếng gió rít và tiếng suối cạn gầm gừ dưới vực sâu.

Khi tôi về đến chân đồi Pha Luông thì trời đã sập tối hẳn. Cả bản Nà Ban chìm ngập trong bóng tối mịt mùng, chỉ lác đác vài đốm lửa bập bùng hắt ra từ những khe liếp của những nếp nhà sàn xiêu vẹo nép mình bên vách đá. Căn nhà của bác Lương nằm trơ trọi trên mỏm đất cao, bốn bề gió thốc hun hút. Gian nhà chính tối om, chỉ có vệt sáng leo lét của bếp lửa hắt qua khe cửa khép hờ.

Tôi không dám bước chân vào nhà ngay. Tôi sợ phải đối mặt với ánh nhìn lạnh lẽo của bác Lương, sợ phải ngửi thấy mùi cơm gạo mới thơm nồng mà mình chưa làm ra nổi một hạt, và càng sợ hơn việc phải tìm một mẩu sắn luộc nguội ngắt để lót cái dạ dày đang cồn cào gào thét. Tôi lẳng lặng đi vòng ra sau chái bếp, với lấy chiếc cuốc tra ngô cán gỗ nghiến đã lên nước bóng loáng dựng ở góc chuồng trâu, rồi lầm lũi đi thẳng ngược lên vạt nương đá phía sau nhà.

Gió rét từ đỉnh núi đá vôi thốc xuống từng luồng buốt nhói, quất thẳng vào mặt như những nhát roi da. Dưới ánh trăng suông mờ đục len lỏi qua những tầng mây xám xịt, vạt nương đá hiện ra trơ khấc, lởm chởm những tảng đá hộc xám ngắt cắm sâu vào lòng đất cằn. Tôi hít một hơi dài luồng không khí buốt giá vào buồng phổi, còng lưng, vung chiếc cuốc nặng trịch lên cao rồi giáng mạnh xuống nền đất sỏi rắn như bê tông.

“Choang!”

Lưỡi cuốc va phải đá hộc, tóe ra một chùm tia lửa sáng lòa trong đêm đen. Cú va đập dội ngược một lực rung dữ dội lên hai cánh tay gầy khẳng khiu, làm các khớp xương cổ tay tôi tê dại, rát buốt như bị kim chích. Tôi cắn chặt răng, nuốt tiếng rên vào trong, giật mạnh lưỡi cuốc ra khỏi kẽ đá rồi lại tiếp tục vung lên. Từng nhát, từng nhát một, nhịp nhàng và tuyệt vọng. Tôi nhận lấy phần cuốc rãnh xới đất tra hạt giống vụ đông mà ban chiều anh Tùng bỏ dở vì đất quá cằn. Tôi còng lưng, hai bàn tay trần bấu chặt vào những tảng đá hộc to bằng cái nồi gang, dùng hết sức bình sinh bẩy chúng lên khỏi mặt đất rồi ì ạch vác từng khối đá nặng trịch xếp lại thành bờ ta luy chắn đất xói mòn dọc theo mép vực.

Càng mệt, tôi càng cuốc điên cuồng hơn. Mồ hôi vã ra ướt đẫm lưng áo, bết dính vào da thịt lạnh ngắt, rồi lại bị ngọn gió núi thổi khô cong, để lại cảm giác nhớp nháp và buốt nhói. Trong cơn mê muội của thể xác, tôi tự lừa dối chính mình bằng một logic ngây thơ và tuyệt vọng: nếu tôi dốc hết chút tàn lực này để làm việc, nếu tôi cuốc thêm được vài luống đất, bẩy thêm được vài tảng đá lớn, chứng minh cho người lớn thấy rằng sức lao động của tôi có thể bù đắp được nhiều hơn phần cơm độn sắn mốc tôi ăn mỗi bữa... thì cái quyền được bước chân vào kỳ thi học sinh giỏi kia sẽ bớt đi phần nào sự trơ trẽn, kệch cỡm. Tôi nuôi một tia hy vọng mong manh rằng sự tận tụy câm lặng, sự cam chịu khổ sai này có thể làm mềm lòng bác Lương, hoặc chí ít, cũng cho tôi một điểm tựa dù nhỏ nhoi để mở lời xin bác hai mươi nghìn đồng, ba mươi nghìn đồng cho chuyến xe khách xuôi về thị xã vào tuần sau.

Đêm càng về khuya, sương muối buông xuống càng dày đặc, đọng thành những hạt nước li ti bám trắng xóa trên bờ cỏ gianh và mái tóc bù xù của tôi. Đôi bàn tay tôi tê cóng, mất dần cảm giác, những vết chai cũ nứt toác ra rướm máu bám vào cán gỗ trơn tuột.

Bỗng nhiên, tiếng bước chân nặng nề giẫm lên cành củi khô gãy giòn kéo tôi giật mình choàng tỉnh khỏi cơn say việc. Tôi dừng tay cuốc, chống cán gỗ xuống đất, khó nhọc ngẩng đầu lên.

Bác Lương đang đứng ở mép nương tự bao giờ. Dáng người bác cao gầy, lòng khòng in đậm trên nền trời đêm bàng bạc. Bác quấn chặt chiếc áo chàm bạc phếch quanh đôi vai nhô xương, trên tay cầm chiếc điếu cày bằng nứa hun khói đen bóng. Bác không nhìn vào những luống đất sâu hoắm mà tôi vừa vắt kiệt sức lực để cuốc xong, cũng không ngó ngàng gì đến bờ ta luy đá thẳng tắp tôi vừa còng lưng vác xếp. Bác đưa đóm thuốc lào vào miệng điếu, bật chiếc bật lửa ga tàu búng ra một đốm lửa đỏ quạch. Bác rít một hơi thuốc thật dài, tiếng nước trong thân điếu réo lên sòng sọc, rền rĩ và khô khốc giữa không gian tĩnh mịch của màn đêm.

Khói thuốc lào cay nồng, khen khét phả ra mù mịt giữa làn sương lạnh. Bác Lương từ từ hạ chiếc điếu cày xuống, giọng nói khản đặc, trầm đục và lạnh tanh cất lên như hắt ra từ kẽ đá:

“Cuốc sâu thế làm gì cho tốn sức. Dưới bếp, cái chum gạo chỉ còn non nửa đáy. Vụ này sương muối sớm, ngô giống lại đắt gấp rưỡi năm ngoái, tiền phân bón mua chịu của nhà lão Thào hạn trả trước rằm tháng sau vẫn chưa có đồng nào đắp vào. Mày làm muộn thế này cũng chẳng mọc thêm ra được hạt thóc nào đâu.”

Bác Lương nói xong, không buồn đợi tôi đáp lại, quay lưng lầm lũi đi thẳng xuống dốc. Tiếng đế giày vải nện lộp cộp trên đá sỏi nhỏ dần rồi dứt hẳn. Ngay sau đó, tiếng then cài cửa gỗ của gian nhà chính vang lên một tiếng “cạch” khô khốc, dứt khoát và dửng dưng như một sự chối từ tàn nhẫn.

Tôi đứng chôn chân giữa luống đất ẩm ướt, gió núi táp thẳng vào mặt làm sống mũi tôi cay xè. Hai bàn tay buốt cóng đang siết chặt cán cuốc bỗng chốc run lên bần bật rồi buông lỏng ra. Chiếc cuốc rơi sầm xuống nền đất mềm. Lời nói của bác Lương như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào lồng ngực đang phập phồng của tôi, dập tắt ngấm chút ảo tưởng cuối cùng vừa nhen nhóm. Khoản nợ phân bón của lão Thào, đáy chum gạo cạn trơ, giá ngô giống đắt đỏ, và gánh nặng mưu sinh của cả một gia đình đang quằn quại trong cảnh bần hàn nghẹt thở bỗng chốc đè nghiến lên cổ họng tôi, nặng ngàn cân.

Ý định mở lời xin hai mươi nghìn, ba mươi nghìn đồng cho chuyến xe ra thị xã tan biến hoàn toàn, không để lại lấy một dấu vết. Nó biến thành một thứ mong muốn xa xỉ, lố bịch và ích kỷ đến tột cùng. Tôi là ai mà dám đòi hỏi một chuyến đi thi phù phiếm giữa lúc cả cái nhà này đang chạy ăn từng bữa? Tôi nuốt ngược sự tủi nhục và nghẹn ngào vào sâu trong lồng ngực, lặng lẽ cúi xuống nhặt chiếc cuốc lên, lầm lũi bước về gian chái phụ ẩm thấp tựa lưng vào vách đá phía sau nhà.

Đêm đó, tôi nằm thao thức trên chiếc chõng tre ọp ẹp, không tài nào chợp mắt nổi. Cái lạnh từ vách đá ẩm ướt phả thẳng vào gáy, buốt tận óc. Chiếc chiếu rách chẳng đủ che kín thân thể co quắp, tôi phải kéo chiếc bao tải dứa đắp tạm lên đôi chân trần cáu bẩn bùn đất. Xung quanh tôi, tiếng chuột chạy rúc rích trên trần nứa, tiếng mọt nghiến gỗ ken két và tiếng thở dài nặng nhọc, đứt quãng của bác Lương bên gian nhà chính cứ văng vẳng dội về.

Qua khe liếp nứa nứt nẻ ngăn cách giữa chái phụ và gian buồng trong của bác Lương, tôi thấy một vệt sáng vàng vọt leo lét hắt ra. Ngọn đèn dầu hạt đỗ bên ấy vẫn chưa tắt.

Con Lan chắc hẳn đã nghe phong phanh chuyện tôi được chọn vào đội tuyển thi tỉnh từ mấy đứa bạn cùng trường ngoài xã, rồi trong lúc phụ mẹ nấu nồi cám lợn ban chiều, nó đã đem chuyện ấy thì thầm kể lại. Bác dâu Sương từ lúc tôi về đến giờ không hề bước sang chái phụ hỏi tôi lấy nửa lời, cũng chẳng mở miệng đay nghiến, bóng gió chuyện học hành tốn kém như mọi bận. Nhưng qua khe hở của vách nứa, tôi nhìn thấy rất rõ bóng lưng còng gầy guộc của bác dâu đang in hằn lên vách tường đất ám khói.

Bác Sương ngồi bệt dưới sàn gỗ, hai chân co lại. Bác khom lưng, khó nhọc kéo từ dưới gầm giường ra một chiếc hòm gỗ nhỏ sứt sẹo, tróc sơn nham nhở — đó là kỷ vật duy nhất còn sót lại từ ngày bác đi lấy chồng, chiếc hòm đựng của hồi môn thuở cơ hàn. Bác cẩn thận mở nắp hòm, đôi bàn tay đen đúa, gân guốc và nứt nẻ chằng chịt vì quanh năm ngâm nước suối lạnh run run lục lọi dưới đáy. Bác lôi ra một chiếc hộp sắt tây đựng bánh quy đã gỉ sét loang lổ, vốn dùng để đựng kim chỉ, cúc áo và những thứ linh tinh quý giá nhất của đời người đàn bà vùng cao.

Trong chiếc hộp sắt ấy trơ trọi chỉ có vài con chỉ màu đã bạc, một mảnh gương vỡ bằng bàn tay, và một mẩu kim loại nhỏ bọc trong mảnh vải điều ố vàng. Bác dâu khẽ mở lớp vải ra. Đó là nửa chiếc khuyên tai bằng bạc cũ kỹ, mép bẻ gãy vẫn còn nham nhở. Nửa chiếc khuyên tai ấy chính là phần còn lại sau cái lần bác cắn răng bẻ đôi vật gia bảo mang ra tiệm vàng ngoài chợ huyện bán lấy tiền mua thuốc hạ sốt và kháng sinh tiêm, cứu sống tôi qua cơn co giật thập tử nhất sinh vì sốt rét ác tính nhiều năm về trước, cái ngày mà bố mẹ tôi vừa mới qua đời chưa xanh cỏ.

Bác dâu cầm nửa mảnh bạc nhỏ xíu ấy lên lòng bàn tay chai sần. Dưới ánh đèn dầu tù mù bốc mùi dầu hỏa hăng hắc, bác giơ mảnh bạc ra trước mắt, ngắm nghía nó rất lâu, rất kỹ. Khuôn mặt bác hằn sâu những nếp nhăn khắc khổ, đôi mắt đùng đục nhìn trân trân vào mẩu bạc lấp lánh mờ nhạt, bờ môi mỏng mím chặt lại không hề cử động. Cứ thế, một khoảng lặng dài dằng dặc trôi qua giữa đêm khuya thanh vắng. Rồi bác khẽ thở hắt ra một tiếng khô khốc, cẩn thận gói nửa chiếc khuyên tai bạc vào lại mảnh vải điều, đặt vào hộp sắt tây, đậy nắp hòm gỗ lại, rồi dùng hết sức đẩy chiếc hòm sâu vào góc tối gầm giường.

Nhìn qua khe vách nứa, tim tôi thắt lại trong một nỗi ngộ nhận cay đắng và đau đớn đến cùng cực. Tôi đinh ninh rằng sự lặng lẽ, lạnh lùng ấy của bác dâu chính là câu trả lời nghiệt ngã và dứt khoát nhất dành cho tôi. Bác dâu đã kiểm tra lại những gì ít ỏi, tàn tạ cuối cùng còn sót lại của cái nhà này, và việc bà cất nó trở lại bóng tối sâu thẳm chính là một ranh giới vô hình nhưng kiên cố mà bà vạch ra để tôi tự biết thân biết phận mà lùi bước. Ngôi nhà này đã thực sự kiệt quệ, khánh kiệt đến tận đáy. Một nửa mảnh khuyên tai bạc tàn tạ không thể nào gánh nổi một giấc mơ viển vông, hão huyền của một đứa cháu mồ côi ăn nhờ ở đậu.

Tôi cắn chặt môi đến mức bật máu, hai mắt cay xè nhìn lên trần nứa tối om. Tôi tự thề với lòng mình trong bóng đêm lạnh lẽo rằng tôi sẽ không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ được phép mở miệng làm phiền đến sự khốn cùng, túng quẫn của những con người đang phải còng lưng cưu mang mình thêm một lần nào nữa.

Chiều Chủ nhật, sương mù lại giăng kín lối đi. Tôi gói ghém một nắm cơm độn ngô nguội ngắt, khô khốc vào chiếc túi nilon cũ, lặng lẽ buộc lại quai dép nhựa rồi cuốc bộ mười cây số quay trở lại trường huyện. Màn đêm buốt giá và hoang lạnh nuốt chửng bóng tôi trên những con đường đèo trơn trượt, mang theo một quyết định dứt khoát, dửng dưng đã kết tinh thành đá tảng trong tâm trí.

Sáng thứ Hai, tiết trời u ám như muốn đổ mưa. Sau tiết học Toán chuyên đề kết thúc lúc mười giờ, khi tiếng trống trường vừa điểm, học sinh các lớp ùa ra khỏi hành lang rộn rã tiếng cười đùa để xuống sân tập thể dục giữa giờ. Tôi không đi xuống sân. Tôi đứng nép mình ở góc hành lang lộng gió bên cạnh thân cây bàng già trơ trụi cành khẳng khiu, kiên nhẫn đợi cho dòng người thưa dần.

Khi hành lang chỉ còn lại tiếng gió rít qua những chấn song sắt gỉ sét, tôi hít một hơi sâu, tiến lại gần chiếc bàn giáo viên nơi cô Hạnh đang cặm cụi ngồi chấm tập bài kiểm tra hình học không gian.

“Thưa cô,” tôi cất tiếng, cố dồn hết sức lực để giữ cho giọng mình thật bình thản, không để lộ ra sự run rẩy hèn yếu. “Về chuyện kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh đợt này... em xin phép cô cho em được rút tên khỏi danh sách đội tuyển ạ. Em thấy sức học của em còn non nớt, chưa vững vàng... với lại, việc nhà em dạo này nhiều quá, em không thể thu xếp để đi xa được.”

Ngòi bút đỏ trên tay cô Hạnh bỗng khựng lại giữa chừng. Giọt mực đỏ thắm đọng lại trên trang giấy trắng tinh, loang ra thành một chấm tròn nhỏ như giọt máu tươi vừa rỏ xuống. Cô không vội lên tiếng, từ từ ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô sắc sảo, nghiêm nghị và thấu suốt lạ thường, nhìn xoáy thẳng vào gương mặt hốc hác, nhợt nhạt và đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ của tôi. Trong ánh mắt ấy không hề có sự ngạc nhiên hay bàng hoàng; dường như người phụ nữ từng trải ấy đã nhìn thấu toàn bộ cuộc giằng xé âm thầm, đau đớn diễn ra trong tôi suốt hai ngày cuối tuần vừa qua.

Cô Hạnh khép cuốn sổ điểm lại, đặt chiếc bút bi đỏ ngay ngắn lên mặt bàn. Cô đứng dậy, không nói một lời, chầm chậm bước ra phía lan can hành lang. Tôi lầm lũi bước theo sau, đứng cách cô một bước chân.

Gió đông bắc lùa qua khe núi thổi thốc vào hành lang tầng hai, làm tà áo len mỏng sờn mép của cô bay phần phật. Cô Hạnh đưa tay chỉ về phía xa xăm, nơi dãy núi đá vôi xám xịt của rặng Pha Luông đang chìm ngập trong biển sương mù dày đặc. Ở nơi đó, con đường đèo quanh co hiểm trở chỉ hiện lên như một sợi chỉ mỏng manh, bạc phếch vắt ngang qua sườn núi dựng đứng.

“Em nghĩ cô không biết em vừa trải qua những gì ở bản Nà Ban sao, Nam?” Cô Hạnh cất tiếng, giọng cô phẳng lặng nhưng chất chứa một sức nặng ngàn cân. “Bàn tay em trầy da tróc vảy, mu bàn tay đầy những vết xước rướm máu vì vần đá nương, mắt em trũng sâu và thâm quầng vì thiếu ngủ, cô nhìn qua là biết hết. Em bảo em xin rút vì sức học chưa vững, đó là lời nói dối vụng về và ấu trĩ nhất mà một đứa học trò giỏi tư duy logic như em có thể thốt ra.”

Tôi cúi gầm mặt xuống sàn gạch hoa cũ kỹ sứt mẻ, hai ngón chân cái bấm chặt lấy đế dép nhựa mòn vẹt. Sự xấu hổ làm mặt tôi nóng bừng bừng giữa làn gió buốt.

Cô Hạnh quay người lại, tựa lưng vào lan can, giọng cô hạ thấp xuống, trầm ấm nhưng đanh thép như từng nhát búa gõ thẳng vào tâm can tôi:

“Nghe cô nói đây, Nam. Kỳ thi này hoàn toàn không bảo đảm rằng ngày mai đời em sẽ đổi khác. Một tấm giải học sinh giỏi cấp tỉnh không làm biến mất món nợ của cha em, không làm đầy chum gạo của nhà bác Lương, cũng không thể ngay lập tức kéo em ra khỏi cảnh nghèo đói này được. Nhưng nó có thể mở thêm một cánh cửa. Chỉ cần một cánh cửa hé mở thôi, em sẽ thấy thế giới ngoài kia rộng lớn hơn cái thung lũng đá này rất nhiều, em sẽ biết năng lực của mình thực sự nằm ở đâu. Nếu em đi thi và thất bại, em vẫn là một cậu học trò nghèo có ý chí. Nhưng nếu em buông tay từ bỏ chỉ vì xấu hổ, chỉ vì nỗi mặc cảm nghèo hèn trước khi dám thử sức mình... thì Nam này, chính em đang tự tay để cho cái nghèo quyết định thay toàn bộ tương lai của mình đấy.”

Từng lời, từng chữ của cô Hạnh như lưỡi dao sắc lẹm xé toang bức màn tự ái và nỗi sợ hãi mà tôi đã cố công bọc quanh mình. Tôi đứng chết lặng giữa hành lang lộng gió, hai tai lùng bùng, lồng ngực thắt nghẹn lại. Tôi hiểu hết những điều cô nói. Tôi khao khát cánh cửa ấy đến cháy bỏng tâm can, khao khát được một lần bước ra ngoài cái thung lũng đá mù mịt này để chứng minh sự tồn tại của mình. Nhưng than ôi, sự thật tàn nhẫn của những con số vẫn sừng sững đứng đó như một bức tường thành kiên cố. Hai trăm nghìn đồng tiền ăn ở, đi lại không thể tự nhiên sinh ra từ lòng tự trọng hay những lời răn dạy cao đẹp.

Buổi tối hôm ấy, tôi ngồi co ro trong góc kho lạnh buốt của nhà bà giáo Ngô. Căn phòng kho ẩm thấp, sực nức mùi ngô khô mốc và mùi gián đoạn. Dưới ngọn đèn dầu hạt đỗ tù mù bốc lên làn khói đen hăng hắc làm cay xè mắt, tôi trải một tờ giấy xé từ cuốn vở bài tập cũ nát ra mặt chiếc hòm gỗ đựng sách. Bàn tay cầm mẩu bút chì cụt ngủn của tôi run rẩy dữ dội.

Sau tất cả những lời giáo huấn của cô Hạnh, tôi vẫn quyết định soạn một bức thư ngắn chính thức xin rút khỏi đội tuyển để gửi cho cô và thầy Dũng.

*“Kính gửi cô Hạnh và thầy Dũng... Em xin lỗi vì đã làm thầy cô thất vọng...”*

Từng nét chữ run rẩy, xộc xệch hiện dần lên mặt giấy bổi thô ráp. Tôi ngồi đó, tự dùng lý trí lạnh lùng của mình để thuyết phục bản thân rằng từ bỏ là cách duy nhất đúng đắn và ít làm phiền đến người khác nhất. Tôi rút lui thì thầy Dũng không phải thức trắng đêm nhận thêm việc sửa chữa những bộ nguồn máy tính rò điện nguy hiểm ở ủy ban xã để kiếm từng đồng phụ cấp ít ỏi cho tôi; cô Hạnh không phải trích khoản tiền lương giáo viên hợp đồng còm cõi của mình để bù vào tiền ăn cho tôi; và gia đình bác Lương cũng không bị xáo trộn bởi một đứa cháu côi cút đòi hỏi quá nhiều so với số phận bần hàn của nó.

Đó là một bài toán tối ưu hóa hoàn hảo nhất, một sự đánh đổi công bằng cho tất cả mọi người xung quanh, ngoại trừ chính tôi. Nhưng khi đặt dấu chấm hết cho dòng chữ cuối cùng, lồng ngực tôi bỗng nhiên nhói buốt dữ dội. Một khoảng trống hoác vô hình mở ra trong tâm can, lạnh ngắt, cay đắng và tàn nhẫn đến mức tôi nghẹt thở. Tôi gấp mảnh giấy làm tư, nhét sâu vào đáy túi áo ngực, tự dặn lòng sáng mai lên lớp sẽ lẳng lặng đặt nó lên bàn giáo viên của cô Hạnh rồi vĩnh viễn khép lại giấc mơ phù phiếm này.

Thế nhưng, suốt cả tuần lễ sau đó, lá đơn ấy vẫn nằm nguyên trong túi áo ngực tôi. Cứ mỗi lần nhìn thấy ánh mắt kỳ vọng của thầy Dũng bên phòng máy, mỗi lần nghe tiếng cô Hạnh ân cần chỉ bảo từng bài toán khó, đôi tay tôi lại tê liệt, không thể nào rút mảnh giấy ấy ra được. Sự giằng xé giữa lòng tự trọng và khát khao con chữ cứ thế gặm nhấm tâm can tôi từng ngày.

Rồi chiều thứ Sáu lại đến. Lịch làm nương ngô vụ đông lại giục giã bước chân tôi. Tôi mang theo lá đơn xin rút vẫn còn nguyên vẹn nơi ngực áo, lòng trĩu nặng âu lo, lầm lũi đi bộ mười cây số ngược về bản Nà Ban giữa một cơn mưa phùn mùa đông dầm dề buốt giá. Mưa bụi giăng mù mịt khắp nẻo đường đèo, ngấm qua lớp áo mỏng làm da thịt tôi tím tái, run lên từng chặp.

Về đến nhà bác Lương, trời đã tối mịt tối mù. Gian bếp nghi ngút khói ẩm từ những thanh củi dẻ ướt sũng mà bác dâu vừa nhóm lên. Bác Lương và anh Tùng đã ăn xong bữa tối từ sớm, đang ngồi uống bát nước vối đặc ngoài hiên nhà, rì rầm bàn tính chuyện sang bản bên mượn trâu cày cho kịp vụ mới. Tôi lẳng lặng đi vòng ra sau chuồng lợn, múc từng gàu nước giếng lạnh buốt dội sạch lớp bùn đỏ bám chặt lấy bắp chân và đôi bàn chân trần nứt nẻ, định bụng sẽ lẻn thật nhanh về gian chái phụ để gặm củ sắn luộc cất dở từ sáng hôm qua.

“Nam! Vào đây!”

Tiếng gọi the thé, chói gắt của bác dâu Sương bất ngờ cất lên từ phía bếp lửa, sắc nhọn như một mảnh nứa cứa ngang không gian yên ắng của buổi tối vùng cao.

Tôi giật bắn mình, khựng lại giữa sân đất trơn trượt, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Tôi rụt rè bước qua bậc cửa liếp, đứng nép sát vào mép chiếc cột gỗ tròn ám đầy bồ hóng đen kịt. Bác dâu Sương đang ngồi xổm bên đống tro tàn, chiếc bóng gầy guộc, còng queo của bà đổ dài trên bức vách nứa trơ trụi. Nồi cám lợn to đùng bên cạnh sủi bọt ùng ục, phả ra mùi chua nồng, ngai ngái của thân chuối rừng băm nhỏ ủ men.

Bà không hề ngẩng đầu lên nhìn tôi. Đôi bàn tay đen đúa, gân guốc thọc sâu vào cạp chiếc váy chàm dày cộm quấn quanh bụng. Phải mất một lúc lâu, bà mới rút tay ra. Trong lòng bàn tay chai sần, thô ráp như vỏ cây rừng của bà là một mớ tiền lẻ nhàu nát, được cuộn chặt và buộc bằng một sợi dây chuối khô tước nhỏ.

Bác dâu đứng phắt dậy. Bà bước sầm sập tới chỗ tôi đang đứng, thô bạo túm lấy cổ tay khẳng khiu của tôi rồi dằn mạnh xấp tiền ấy vào lòng bàn tay đang buốt cóng. Lực dúi mạnh và dứt khoát đến mức làm các khớp ngón tay tôi đau điếng, trật cả khấc.

Tôi bàng hoàng mở bàn tay ra. Đó là một mớ tiền với những mệnh giá nhỏ xíu: tờ năm trăm đồng màu đỏ gạch mép rách tả tơi đã dán lại bằng băng dính cháo, vài tờ một nghìn, hai nghìn đồng cũ kỹ, mềm nhũn, bốc lên mùi mồ hôi chua nồng và mùi bùn đất ngai ngái, xen lẫn vào đó là một tờ mười nghìn đồng màu đỏ sẫm bằng giấy cotton cũ kỹ đã ngả sang màu sáp. Tất cả gom lại chắc chắn chưa đầy một trăm nghìn đồng, nhưng những nếp gấp nhăn nhúm trên từng mép giấy cho thấy chúng đã được vuốt phẳng tỉ mỉ biết bao nhiêu lần, được giấu kín và chắt chiu qua bao nhiêu phiên chợ huyện rét mướt từ việc bán từng bó rau dớn, từng mớ rau cải mèo, từng gùi măng đắng hái trộm trên rừng sâu.

Tôi đứng chết lặng tại chỗ, trân trân nhìn mớ tiền lẻ trong lòng bàn tay mình, rồi từ từ ngước mắt lên nhìn gương mặt hằn sâu những nếp nhăn cay nghiệt và đôi mắt đỏ hoe vì khói bếp của bác dâu. Họng tôi nghẹn ứ, một cảm giác bàng hoàng xen lẫn xót xa dâng trào làm lồng ngực tôi nghẽn lại.

Chưa kịp để tôi lắp bắp thốt ra một lời nào, bác dâu Sương đã trừng mắt lên nhìn tôi. Giọng bà rít qua kẽ răng, the thé, sắc lẹm và cay độc như thể bà chỉ đang bực bội tột cùng vì tôi đã làm rối tung toàn bộ cái trật tự nghèo khó trong căn nhà này:

“Cầm lấy! Mày tưởng tao không biết mày định giở cái thói hèn nhát, định vứt bỏ cái kỳ thi ấy để về đây cắm mặt vào cán cuốc hả? Đã được nhà trường chọn mặt gửi vàng, đã bò được ra tận trường huyện mà còn định vứt đi, để cả cái họ Nguyễn này mang tiếng là ngữ bần tiện làm thui chột con chữ của bố mày chắc? Cầm lấy tiền xe tiền ăn mà cút đi thi cho khuất mắt tao, đừng có ở nhà lảng vảng làm vướng chân vướng tay, làm tao ngứa mắt thêm!”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories