Hoa Ban Không TànCh.27 / 38
Chapter 27

Đôi khuyên tai

Bác Sương không nhìn tôi khi nhét tiền vào lòng bàn tay tôi, chỉ bảo nếu thi mà làm xấu hổ nhà này thì đừng trách bà đã phí công lo hộ.

Cái bọc ấy nhỏ thó, nằm lọt thỏm trong lòng bàn tay khẳng khiu còn tím tái vì mưa rét của tôi. Nó được gói bên ngoài bằng một mảnh vải vụn cắt vội ra từ gấu quần chàm cũ đã bạc phếch màu thời gian, rồi quấn chặt quanh bụng bằng sợi dây chuối khô tước nhỏ, thắt nút ba vòng vụng về nhưng chắc nịch đến mức mép vải hằn sâu thành một ngấn lõm. Khi những ngón tay tôi run rẩy siết lấy, lớp vải gai thô nháp cọ vào da thịt nghe ram ráp, truyền sang một thứ hơi ấm ngai ngái, nửa như mùi mồ hôi chua nồng đọng lại dưới đáy cạp váy qua bao mùa phát nương, nửa như mùi bồ hóng và khói bếp củi dẻ đã ngấm sâu vào từng thớ sợi suốt hàng chục mùa đông dài dặc trên rẻo cao này.

Tôi đứng chôn chân bên cạnh chiếc cột gỗ tròn ám khói đen kịt của gian bếp nhà dưới. Dưới ánh lửa bập bùng, leo lét hắt ra từ cửa bếp lò khoét sâu vào lòng đất nện, nồi cám lợn to đùng bằng gang đúc vẫn sủi bọt ùng ục, phả ra luồng hơi nồng nặc mùi thân chuối rừng băm nhỏ ủ men chua loét quyện với mùi cám gạo hôi mốc. Bác dâu tôi đã quay lưng lại với tôi tự bao giờ. Bà ngồi thụp xuống trước đống tro tàn ngổn ngang, chiếc bóng gầy còng queo, gồ ghề in hằn lên bức vách nứa trơ trụi như một vệt chàm loang lổ bị hắt lên tường đá. Đôi bàn tay đen đúa, mu bàn tay nổi chằng chịt những đường gân xanh ngoằn ngoèo của bà cầm thanh củi dẻ ướt sũng chọc mạnh vào tâm hoa lửa, khiến những tàn than đỏ rực bay lên sàn sạt, rơi lả tả xuống nền đất nện ẩm ướt lầm lụi.

Tôi lần ngón tay, khó nhọc cởi từng nút thắt dây chuối khô. Sợi dây dai ngoằng cứa vào đầu ngón tay tê cóng. Lớp vải chàm dần tuột ra, để lộ mớ tiền giấy nhàu nhĩ nằm xếp lớp bên trong. Đó là những tờ bạc có mệnh giá nhỏ đến mức thảm thương: những tờ năm trăm đồng màu đỏ gạch cũ mèm, mép rách bươm xơ xác đã được ai đó tỉ mẩn dùng hồ gạo khô cứng dán đè lên từng vết rách; những tờ một nghìn, hai nghìn đồng nát tươm, sờn hết cả sợi bông, bốc lên mùi bùn đất ẩm mục và mùi tanh nồng của măng tre ngâm nước suối; xen lẫn vào mớ lộn xộn ấy là vài tờ mười nghìn đồng cotton cũ kỹ đã ngả sang màu vàng sáp như màu mỡ gà thiến.

Tôi run rẩy vuốt nhẹ từng nếp gấp đã được miết phẳng phiu đến mòn cả viền giấy. Người gập mớ tiền này hẳn đã phải dùng móng tay miết đi miết lại trên mặt phản gỗ hàng chục lần để chúng không còn quăn queo, để nhét vừa vào lòng mảnh vải vụn. Gom tất cả lại, cùng với số tiền gần bốn mươi nghìn đồng tôi chắt chiu từ những đêm thức trắng đánh máy thuê các bản báo cáo xã và lau chùi dàn máy vi tính đóng bụi dày cộm ở trường huyện, khoản này vừa vặn đủ bốn mươi lăm nghìn tiền nộp lệ phí thi học sinh giỏi cấp tỉnh, sáu mươi nghìn tiền vé xe đò khứ hồi ra thị xã Sơn La và phần chi phí ăn ở dè sẻn trong bốn ngày ba đêm trước mắt.

Một khoản tiền vừa khít đến mức tàn nhẫn. Nó trần trụi và chính xác như một nhát dao chém vào đá, không thừa ra dù chỉ một hào lẻ để mua một chiếc bánh mì không ruột lót dạ dọc đường thiên lý, hay tậu lấy cuốn sách bài tập nâng cao in lại trên giấy bãi bằng xơ xác mà tôi từng ngấp nghé nhìn qua khe cửa hiệu sách huyện.

Cổ họng tôi nghẹn đắng lại, từng thớ thịt nơi lồng ngực co thắt như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt lấy buồng phổi. Mắt tôi dán chặt vào mớ tiền lẻ, nhưng tâm trí lại dội về đáy chiếc chum sành góc nhà trong—chiếc chum gạo đã cạn trơ đáy từ đầu tháng, mỗi lần mẹ con thím Sương vét gạo lại nghe tiếng bát sành cạo sột soạt vào lớp men da lươn khô khốc. Tôi nhớ đến những bữa cơm chiều mờ mịt khói sương chỉ toàn củ sắn khô luộc quắt queo chấm với muối ớt giã sẻng của hai bác, và cả tiếng thở dài thườn thượt, nặng như đá tảng của bác Lương mỗi bận ngước nhìn sang đống bao phân bón hóa học mua chịu của lão Thào xóm Mo đang nằm chỏng chơ mục nát ngoài góc sân trời.

“Bác dâu...” Tiếng tôi bật ra nghe khô khốc, vỡ vụn giữa tiếng củi ướt nổ lép bép. “Tiền này... ở đâu ra mà nhiều thế này hở bác? Nhà mình còn nợ tiền lân đạm của lão Thào chưa trả, gạo ăn tuần tới của con Lan, anh Tùng còn chưa biết đong cấn vào đâu...”

Bác Sương không quay đầu lại. Nhưng bả vai gầy guộc nhô cao dưới lớp áo bông trần chỉ vá chần chéo bỗng khựng lại một nhịp rất ngắn, tựa như một sợi dây đàn vừa bị kéo căng hết mức. Thanh củi dẻ trên tay bà đập mạnh xuống kiềng sắt phát ra một tiếng “choang” chói gắt, hất tung một mảng tro xám tro bụi mù mịt vào không khí ẩm đặc.

“Mày im ngay cái mồm đi!” Bà gắt gỏng, thanh âm the thé chọc thẳng vào màng nhĩ tôi như một chiếc gai bồ kết già. “Tiền ở đâu ra là việc của tao! Tao có đi ăn cướp ăn trộm của lò mổ hay trèo tường nhà ai đâu mà mày phải lắm chuyện? Tiền tao tự liệu, tao dằn túi cho mày mang đi là để mày cuốn xéo bước chân ra khỏi cái ngõ này cho đỡ chướng mắt tao, chứ không phải để cho mày đứng trơ trơ ra đấy mà tra khảo, mà làm cái bộ dạng mang ơn mang huệ!”

Bà đứng phắt dậy. Dáng người thấp nhỏ, lòng khòng lao vụt tới trước mặt tôi, mang theo luồng phong thổ hăng nồng của khói bếp ủ và bồ hóng bám lâu năm. Đôi mắt bà đỏ hoe, quanh khóe mi chằng chịt những vết chân chim sâu hoắm hằn lên vì thiếu ngủ triền miên và những tháng năm oằn lưng gánh gồng mưu sinh trên từng triền đá dốc. Bà giơ một ngón tay trỏ đen đúa, móng tay cáu bẩn bùn đất cắm thẳng vào sát trán tôi, gằn từng tiếng qua kẽ răng vàng ố khói thuốc lào:

“Tao cấm mày, mày nghe cho thủng tai chưa? Cấm tiệt cái mồm không được hé răng nửa lời với bác Lương mày! Mày mà để ông ấy đánh hơi thấy tao dấm dúi cho mày một cắc lẻ, thì cái nhà này coi như tan nát rã rời! Bác mày mà biết tao vét sạch tiền cho mày đi thi thố cái thứ vô bổ ấy, trong khi mấy sào ruộng ngô ngoài bãi cằn trơ gốc rạ, trâu không có mà cày ải, nợ cũ nợ mới đè ngập đến tận cổ gà, thì ông ấy bẻ gãy đôi cẳng mày trước, rồi tống cổ cả tao lẫn cái giống mày ra ngoài bãi tha ma bờ suối mà nằm!”

Bà dừng lại thở dốc, lồng ngực lép kẹp phập phồng kịch liệt sau làn vải áo chàm sờn rách bung cả đường vắt sổ. Từng lời nói của bà buông ra sắc nhọn và lạnh buốt, không hề có lấy một chút vỗ về, chẳng gợn một tia ấm áp nào của tình ruột rà. Nó cay nghiệt, chát chúa, như muốn băm nát bất kỳ ý định giãi bày hay chút lòng cảm kích nào vừa le lói chớm nở trong đầu tôi. Bà tước đoạt thẳng thừng cái quyền được nói lời cảm ơn của tôi. Bà biến sự cứu trợ sống còn này thành một mệnh lệnh nghiệt ngã, một mối hiểm họa chực chờ treo lơ lửng trên nóc nhà dột nát, nơi tôi vừa là kẻ thụ hưởng trong nhục nhã, vừa là tội đồ châm ngòi cho một cơn bão giông gia đình có thể ập xuống bất cứ lúc nào.

“Mày thề đi!” Bà vươn tay siết chặt lấy bắp tay khẳng khiu của tôi. Những móng tay quặp sâu qua lớp áo mỏng làm da thịt tôi đau điếng, buốt nhói đến tận xương. “Mày thề trước vong linh bố mẹ mày nằm dưới đất kia là mày không hé nửa lời với ông ấy! Cầm tiền, sáng sớm mai cút xéo ra trường huyện, thi cho xong rồi cuốn xéo về mà vác cuốc lên nương trả nợ cho tao. Mày mà làm xấu mặt cái họ này, thi trượt lẹt đẹt vác cái mặt mo về đây thì đừng có trách tao độc ác, đừng trách tao tống mày ra đường!”

“Cháu... cháu nhớ rồi. Cháu thề không nói nửa lời với bác Lương đâu ạ,” tôi thì thào đáp, cuống họng khô rát như vừa nuốt trọn một vốc tàn tro nóng.

Bác Sương buông tay tôi ra vội vã, như thể vừa lỡ chạm phải một thanh sắt nung đỏ trong lò rèn. Bà quay ngoắt đi, dứt khoát không nhìn tôi thêm một lần nào nữa. Cúi người vớ lấy chiếc gầu múc nước sứt cán bên chum, bà múc một gầu đầy đổ ào vào chảo gang cám lợn đang sôi réo sùng sục. Nước lạnh dội xuống làm bốc lên một luồng khói trắng đục ngầu, dập tắt những bọt khí lục bục bằng một động tác dứt khoát đến rợn người.

Tôi lùi lại từng bước chậm chạp, gót chân trần giẫm phải mép bậu cửa liếp lạnh ngắt như băng tuyết. Bọc tiền trong túi áo ngực nặng trĩu, tì sát vào từng dải xương sườn tôi như một phiến đá hộc lở từ vách núi Pha Luông. Một cảm giác nhẹ nhõm đột ngột ùa tới làm toàn thân tôi chùng xuống—khoản tiền lệ phí thi và vé xe đò mà suốt một tuần qua tôi tưởng chừng phải bán máu hay liều mình gục chết trong những đêm còng lưng làm thuê mới kiếm nổi, nay đã nằm yên, run rẩy trong túi áo. Tôi sẽ không phải bỏ cuộc giữa chừng. Tôi sẽ không phải lủi thủi cúi đầu bước vào phòng hội đồng giáo viên nộp lại lá đơn xin rút tên khỏi đội tuyển tỉnh mà mép giấy đã bị mồ hôi tay vò nát bấy.

Nhưng niềm nhẹ nhõm ấy chỉ thoáng lóe lên như một lằn chớp xé rách màn đêm mù mịt, rồi lập tức lịm tắt, để lại phía sau một nỗi xấu hổ ê chề, nhức nhối cào cấu từng thớ ruột.

Tôi cúi gầm mặt, dán mắt nhìn xuống đôi bàn chân nứt nẻ, cáu bẩn bùn đất của chính mình. Rốt cuộc, dù có cố giãy giụa đến trầy da tróc vảy, tôi vẫn không sao thoát khỏi cái vòng kim cô nghiệt ngã của số phận mồ côi. Tôi vẫn chỉ là một đứa ăn nhờ ở đậu không hơn không kém, một cái miệng ăn thừa thãi chực chờ chực nuốt, một khoản nợ phát sinh làm hao mòn chút sinh lực còm cõi cuối cùng của cái gia đình cùng quẫn này. Bao nhiêu năm qua, kể từ ngày nấm mồ của cha mẹ tôi xanh cỏ ranh, tôi đã làm việc quần quật như một con trâu mộng không biết mỏi mệt: bốn giờ sáng đã lầm lũi đội rét đi gánh nước mó, băm chuối đến chai rộp lòng bàn tay, chẻ từng bó củi dẻ to bắp chân, leo lên triền đá Pha Luông cuốc lật từng gốc ngô khô đến bật cả móng chân rỉ máu. Tôi làm tất cả những điều ấy chỉ để đổi lấy quyền được ngẩng mặt lên húp trọn một bát cơm ngô chan nước suối mà không phải nhìn trộm nét mặt khó đằng đằng của người khác. Tôi muốn chứng minh bằng mọi giá rằng tôi có thể tự đứng trên đôi chân còm cõi của mình bằng con chữ, bằng những dòng thuật toán kỳ diệu, bằng thứ ánh sáng xanh huyền bí của màn hình máy tính nơi trường huyện.

Thế nhưng, ngay tại ngưỡng cửa của bước đi đầu tiên hướng ra ngoài bản làng heo hút, tôi lại một lần nữa phải ngửa tay nhận lấy những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi và nước mắt tủi cực của người khác. Từng đồng bạc nhàu nát bốc mùi bùn đất kia chính là từng bữa cơm độn sắn cắn sái quai hàm của anh Tùng, là manh áo bông mới mà con Lan chưa một lần dám mơ tới trong những đêm đông rét cắt da cắt thịt, là khoản nợ phân bón mà mỗi buổi chiều tà bác Lương lại ngồi rít thuốc lào vặt râu lo nghĩ.

Tôi muốn thò tay vào túi áo, lôi cái bọc vải vụn kia ra đặt lại lên mặt chõng tre bên bếp lò. Tôi muốn gào lên rằng tôi không cần, rằng tôi thà ôm cán cuốc gãy sống trọn kiếp người nơi hốc đá này còn hơn phải trở thành một cái vòi hút kiệt chút máu tàn của những người đang nuôi nấng mình. Nhưng ngón tay tôi vừa chạm vào lớp vải chàm thô ráp thì khựng lại, đông cứng như hóa đá. Lời dặn dò nghiêm khắc mà trầm tĩnh của cô Hạnh trong căn phòng y tế sực mùi cồn đỏ vào cái buổi chiều tôi ngất xỉu bên bàn phím lại dội về, sang sảng trong tâm trí: *“Nam, nghèo đói là hoàn cảnh bắt buộc em phải chịu, nhưng để cái nghèo tước đoạt nốt quyền được bước ra ngoài ánh sáng là lỗi của chính em. Cơ hội không bao giờ gõ cửa lần thứ hai cho những đứa trẻ như em đâu.”*

Nếu tôi vứt lại số tiền này, tôi giữ được cái vỏ bọc lòng tự trọng non nớt, hèn mọn của mình. Nhưng cánh cửa bước ra thị xã, bước ra thế giới rộng lớn ngoài dãy núi mờ sương kia sẽ vĩnh viễn đóng sập lại trước mũi tôi. Tôi sẽ mãi mãi chỉ là thằng Nam mồ côi cắm mặt nhặt đá hộc bên sườn đồi, bị định giá cả đời bằng một bát cơm sắn chan nước lã.

Tôi cắn chặt môi dưới đến mức nếm rõ vị tanh nồng của máu tươi ứa ra, siết chặt bọc tiền trước ngực, khẽ cúi đầu thật thấp trước cái bóng lưng còng queo của người đàn bà bên bếp lửa, rồi lầm lũi bước giật lùi ra khỏi gian nhà bếp đặc quánh khói cay.

Vừa bước chân qua khỏi cánh liếp nứa phía sau chái nhà, một bàn tay nhỏ thó, lạnh buốt bất ngờ thò ra từ khoảng tối dưới bụi chuối rừng rậm rạp, túm chặt lấy gấu tay áo tôi kéo giật ngược lại.

“Anh Nam! Lại đây em bảo cái này!”

Tiếng con Lan thì thào lọt qua kẽ răng, mỏng manh như tiếng gió luồn qua khe liếp. Tôi giật thót mình, vội vàng nương theo sức kéo của nó bước vòng qua đống củi dẻ xếp cao lút đầu người, nép mình vào khoảng không gian chật hẹp, ẩm ướt sát vách đá rỉ nước rêu phong sau gian chái phụ. Gió bấc từ trên đỉnh núi đá vôi thốc xuống từng cơn rít liên hồi qua rặng tre ngà, cuốn theo những hạt mưa phùn li ti buốt giá bám đầy lên tóc và bờ vai áo của hai anh em.

Lan đứng trước mặt tôi. Nó mặc độc một chiếc áo chàm phong phanh cộc cỡn, hàng cúc nhôm đơm bằng chỉ màu cẩu thả để hở ra cái cổ gầy giơ xương. Gương mặt nó tái nhợt đi dưới ánh trăng mờ đục bị mây mù che khuất, nhưng đôi mắt đen láy lại mở to, ánh lên vẻ bồn chồn, thảng thốt lạ thường.

“Mẹ... mẹ dấm dúi đưa tiền cho anh rồi phải không?” Lan ngước nhìn tôi, từng đợt hơi thở phả ra làn khói trắng mỏng manh giữa trời đông.

Tôi im lặng gật đầu, ngón tay run rẩy bất giác áp chặt vào khối cộm của bọc tiền nơi ngực áo.

Lan thở hắt ra một hơi dài sườn sượt, như thể vừa trút bỏ được một khối đá nặng trĩu đè nghiến trong lồng ngực non nớt suốt mấy ngày trời. Nó đưa mắt dáo dác nhìn quanh quất về phía hiên nhà trước—nơi ngọn đèn dầu hỏa leo lét của bố nó và anh Tùng vẫn hắt ra từng vệt sáng vàng vọt qua khe nứa—rồi ghé sát tai tôi, hạ giọng thấp hơn nữa:

“Anh Nam, anh đừng có giận mẹ em nhé. Em... lúc nãy em đứng nép ngoài nách bếp, em nghe thấy mẹ mắng anh hết cả rồi. Mẹ cứ quen mồm nói độc địa thế thôi, chứ trong bụng mẹ không phải ghét bỏ hay muốn tống khứ anh đi cho rảnh nợ đâu.”

“Anh biết thân phận anh mà Lan,” tôi cay đắng đáp, giọng nghẹn lại chìm nghỉm vào tiếng gió hú qua khe đá. “Nhà mình đang túng bấn trăm bề thế này, anh lại đè thêm gánh nặng lên vai bác Sương...”

“Không phải thế đâu anh!” Lan vội vã ngắt lời tôi, giọng nó run lên bần bật rồi nghẹn ứ nơi cổ họng. Đôi mắt nó hoe đỏ, ngấn nước trong bóng tối lờ nhờ. Bàn tay khẳng khiu của nó níu chặt lấy vạt áo tôi, giật giật từng cơn: “Anh có biết số tiền ấy ở đâu ra không? Không phải tiền bán rau dớn với măng đắng đâu anh Nam ơi...”

Tim tôi thót lại một cái, một luồng khí lạnh chạy dọc từ thắt lưng xông thẳng lên đỉnh đầu. “Mày nói cái gì thế Lan? Bác dâu vừa bảo tiền bác tự xoay xở được kia mà...”

“Mẹ nói dối anh đấy!” Một giọt nước mắt nóng hổi của Lan rơi trúng mu bàn tay tôi, rát bỏng giữa cái rét căm căm của đêm rừng. “Hôm qua phiên chợ huyện, mẹ bảo em ở nhà trông chuồng lợn rồi mẹ đi bộ một mình ra thị trấn từ lúc gà còn chưa gáy canh một. Đến chiều muộn mẹ mới về, người ướt sũng nước mưa, em thấy mẹ ngồi thụp sau bồ thóc trong buồng khóc một mình không dám ra tiếng. Lúc mẹ ra giếng rửa chân, em lén mở cái hộp sắt tây đựng chỉ ngũ sắc của mẹ giấu dưới gầm giường ra... nửa chiếc khuyên tai bạc còn lại... không còn nữa rồi anh Nam ơi!”

Tôi đứng chết trân tại chỗ. Cả người tôi cứng đờ như bị sét đánh ngang tai giữa trời quang. Hai bên tai tôi ù đi đặc quánh, tiếng gió bấc gào thét man dại qua rặng tre dường như lùi xa tít tắp về phía chân trời, chỉ còn lại lời thì thầm đẫm nước mắt của con Lan dội từng hồi nhức buốt vào tận sâu trong màng nhĩ.

Nửa chiếc khuyên tai bạc.

Ký ức của những ngày đen tối và kinh hoàng nhất sau cái chết đột ngột của cha tôi bỗng cuộn trào trở về, hung bạo và trần trụi đến rợn ngực. Năm ấy, cha tôi vừa nằm xuống dưới lớp đất lạnh của sườn đồi chưa đầy hai tháng sau ngày mẹ Mai qua đời, tôi bị một trận sốt rét ác tính quật ngã. Tôi nằm mê man co giật trên chiếc chõng tre gãy nan góc nhà, toàn thân nóng hầm hập như một hòn than đỏ rực, hai hàm răng va vào nhau lập cập đến tóe máu. Trạm xá xã những năm tháng ấy nghèo xơ xác, không có lấy một viên thuốc đặc trị sốt rét rừng. Người trong họ kéo đến nhìn tôi, thở dài lắc đầu bảo chuẩn bị đóng cái ván con con cho thằng bé theo chân cha mẹ nó đi thôi. Chính trong đêm mưa rừng tầm tã, nước suối dâng ngập ngang bắp chân ấy, bác Sương đã nghiến răng tháo đôi khuyên tai bằng bạc trắng—món của hồi môn ít ỏi duy nhất mà bà ngoại dưới xuôi trao cho bà vào ngày bước chân về làm dâu xứ núi—bà lấy chiếc kìm gỉ bẻ đôi một chiếc ra, lặn lội đội mưa gió chạy bộ năm cây số đường rừng ra trạm xá đổi lấy ba viên thuốc hạ sốt và một liều kháng sinh cực mạnh để kéo mạng sống tôi từ tay thần chết trở về.

Nửa chiếc khuyên tai bạc bị bẻ gãy nham nhở ấy đã mua lại mạng sống của tôi mười năm về trước. Còn nửa chiếc nguyên vẹn còn lại, bà gói trong ba lớp vải điều, cất kỹ dưới đáy chiếc hộp sắt tây đựng chỉ khâu hoen gỉ, nâng niu như báu vật thiêng liêng và tôn nghiêm nhất của một người đàn bà cả đời chưa từng biết đến một manh áo mới hay một bữa cơm no trọn vẹn. Đó là kỷ vật cuối cùng nhắc nhớ cho bà biết rằng bà từng là một người con gái có quê hương dưới xuôi, có gia đình chở che, chứ không phải sinh ra đã là một cỗ máy làm việc câm lặng, mòn mỏi trên nương ngô đá sỏi nhà họ Nguyễn này.

Vậy mà ngày hôm qua, bà đã mang nốt nửa chiếc khuyên tai báu vật ấy ra chợ huyện để bán.

Bà bán nó cho người ta để đổi lấy từng tờ bạc lẻ nhàu nát, gom góp cho đủ từng hào bạc nát để đóng tiền lệ phí thi và mua vé xe đò cho một đứa cháu côi cút. Một đứa cháu mà ngày nào bà cũng trút lên đầu những lời cay độc, coi như của nợ, như một thứ sao chổi đem lại tai ương cho cái gia đình khốn đốn này.

“Lan... sao... sao mẹ mày lại làm thế...” Cổ họng tôi co thắt lại, hai đầu gối run rẩy khuỵu xuống, tôi phải tì trọn tấm lưng gầy vào vách đá rỉ nước lạnh buốt sau lưng mới không ngã sụp xuống nền bùn lầy.

“Em nói cho anh biết không phải để anh thấy mang nợ nần gì đâu,” Lan đưa mu bàn tay áo chàm quẹt vội dòng nước mắt lem luốc trên má, giọng nó bỗng trở nên rắn rỏi và kiên định một cách kỳ lạ. “Em chỉ sợ... em sợ anh nghe mẹ mắng mỏ gay gắt quá rồi anh đâm ra giận mẹ, nghĩ mẹ ghét bỏ muốn xua đuổi anh đi cho rảnh nợ rảnh miệng ăn. Mẹ sợ bố Lương mắng mỏ cả ngày, sợ anh Tùng tị nạnh phân bì nên lúc nào mẹ cũng phải làm cái mặt ác, cái giọng dữ dằn như thế. Anh cầm tiền ấy, anh phải đi thi cho đàng hoàng, anh phải học cho thật giỏi để sau này thoát khỏi cái nương đá Pha Luông này nghe anh Nam! Đừng để nửa chiếc khuyên tai bạc của mẹ mất trắng vô ích...”

Lan nói dứt câu, dường như sợ người trong nhà trên phát giác, nó vội vã buông vạt áo tôi ra. Dáng người nhỏ thó của nó thoăn thoắt lách qua khe hẹp của đống củi dẻ, chạy vụt về phía gian bếp còn le lói ánh than hồng.

Tôi đứng trơ trọi lại một mình giữa bóng tối mịt mùng và gió lạnh buốt xương của góc chái nhà. Gió bấc quất rát rạt vào da mặt, nhưng cái buốt giá của trời đất không thấm tháp gì so với sự giằng xé dữ dội đang xé toạc tâm can tôi lúc này.

Bọc tiền trước ngực như đang bốc cháy ngùn ngụt, thiêu đốt từng tấc da thịt tôi. Ký ức mười năm qua đồng loạt ùa về như một dòng thác lũ đục ngầu phù sa: từng bữa cơm độn sắn tôi bị bà gạt phắt bát cơm khi thò đũa gắp thêm ngọn rau rừng, từng cái tát như trời giáng vào lưng khi tôi lỡ làm rơi bó củi, từng câu chửi rủa cay độc như xát muối vào tim gan: *“Mày ăn cho lắm vào rồi cũng chỉ biết cắm mặt vào trang sách!”*, *“Nuôi cái ngữ mày chỉ tổ tốn cơm tốn gạo, chả tích sự gì!”*, *“Đồ sao chổi mang nợ về cái nhà này!”*.

Những lời đay nghiến ấy tàn nhẫn biết bao, độc địa biết bao. Chúng đã cắm sâu vào tâm hồn một đứa trẻ mồ côi từ thuở lên năm, biến thành những vết sẹo lồi lõm vĩnh viễn không bao giờ có thể liền da, dựng lên một bức tường thành kiên cố bằng sự nghi ngờ, sợ hãi và tự vệ giữa tôi và người bác dâu khắc nghiệt này. Đã có những đêm nằm ôm bụng đói cồn cào nghe mưa rơi trên mái rạ, tôi từng thầm căm hận bà, từng nghĩ bà là hiện thân của sự tàn nhẫn, bần tiện và cay nghiệt nhất mà kiếp nghèo đói sinh ra.

Thế nhưng, sự thật trần trụi phơi bày trong đêm nay lại tát thẳng vào mặt tôi một thực tế phức tạp và đau đớn hơn gấp bội phần. Bà đã bán đi kỷ vật duy nhất của cả một đời con gái vì tôi. Lòng thương của bà là có thật, sự hy sinh thầm lặng đến tàn nhẫn của bà là có thật. Nhưng nó lại bị giấu kín, bị bọc kín dưới một lớp vỏ xù xì, gai góc, sặc mùi độc tố của một kiếp người bị cái nghèo đói và sự bế tắc bóp nghẹt đến mức biến dạng nhân tính.

Nhưng liệu lòng thương đau đớn ấy có thể xóa nhòa đi tất cả những tổn thương bà đã từng gây ra cho tôi không?

Không. Vĩnh viễn không thể. Những lời lăng mạ làm rách nát lòng tự trọng của tôi suốt một thời thơ ấu vẫn còn nằm nguyên vẹn đó, nhức nhối và buốt rát mỗi khi chạm tới. Sự hy sinh muộn màng này không thể làm mất đi nỗi đau đớn, không thể bôi xóa đi những đêm tôi phải co quắp khóc thầm vì tủi nhục dưới sàn chái phụ.

Đứng giữa trời đêm mù mịt sương muối của bản Nà Ban, tôi thấu suốt một điều cay đắng: tôi không thể dễ dàng gọi bác Sương là một người tốt, một người mẹ hiền từ để mà tôn sùng hay biết ơn một cách trọn vẹn, ngây thơ như trong những câu chuyện cổ tích. Nhưng tôi cũng vĩnh viễn không thể tiếp tục nhìn bà như một kẻ ác độc, một kẻ thù địch chỉ muốn vùi dập cuộc đời tôi. Con người bà, cũng giống như mảnh đất đá tai mèo khắc nghiệt của vùng cao này, chằng chịt những rãnh nứt sâu hoắm giữa bản năng sinh tồn tàn khốc và tình máu mủ ruột rà, giữa sự hẹp hòi bần tiện và lòng trắc ẩn âm thầm đến xé lòng.

Món nợ này giờ đây không còn là món nợ tiền bạc có thể đong đếm sòng phẳng bằng từng con số. Nó đã biến thành một món nợ ân tình méo mó, trĩu nặng và cay đắng tột cùng—một gánh nặng tâm can mà dù sau này tôi có thi đỗ giải cao, có làm nên danh phận hay kiếm được bao nhiêu tiền bạc nơi phố thị phồn hoa, tôi cũng không bao giờ có thể trả hết cho người đàn bà ấy.

Tôi lặng lẽ trở vào gian chái phụ khi những hạt sương muối đầu tiên đã bắt đầu kết thành một lớp mỏng trắng đục như tro lạnh trên mái rạ dột nát. Gian phòng tối om, ẩm thấp và bốc lên mùi ẩm mốc của những bó rơm cũ xếp dưới gầm phản. Tôi quẹt một que diêm, châm ngọn đèn dầu hỏa vặn bấc nhỏ chỉ bằng hạt đỗ xanh. Ánh sáng vàng đục, tù mù chỉ đủ hắt một quầng sáng tròn nhỏ xíu lên mặt chiếc phản gỗ tạp đã nứt toác một đường dài.

Tôi ngồi thụp xuống mép bậu cửa, thò tay vào túi áo rút ra một mẩu giấy xi măng nhặt được từ vỏ bao phân bón cũ đã được tôi dùng dao cạo sạch lớp bụi xám, cùng một mẩu bút chì cùn gọt nham nhở bằng dao quắm.

Bàn tay tôi còn vương mùi bùn đất và cái lạnh buốt thấu xương của đêm đông, run rẩy đặt mẩu giấy lên mặt gỗ. Tôi bắt đầu tì ngòi chì xuống, nắn nót vạch từng con số, liệt kê một cách chi tiết và lạnh lùng từng khoản bắt buộc phải chi dùng cho chuyến đi thị xã sắp tới:

Lệ phí nộp cho hội đồng thi cấp tỉnh: bốn mươi lăm nghìn đồng.

Tiền vé xe đò khứ hồi từ bến xe huyện ra thị xã Sơn La và ngược lại: sáu mươi nghìn đồng.

Tiền thuê chỗ trọ ngủ ghép cùng học sinh các huyện khác ở ký túc xá trường trung cấp sư phạm: mười lăm nghìn một đêm, ba đêm vị chi là bốn mươi lăm nghìn đồng.

Tiền ăn cơm bụi ba bữa mỗi ngày, tính dè sẻn ở mức tối thiểu năm nghìn một bữa (chỉ dám gọi một đĩa cơm trắng chan nước canh rau cải với vài lát đậu phụ luộc) cho bốn ngày ba đêm: sáu mươi nghìn đồng.

Tôi cộng dồn tất cả các con số lại dưới ánh đèn dầu leo lét. Con số tổng cộng hiện ra tròn trặn: hai trăm mười nghìn đồng.

Khoản tiền gom góp từ mớ tiền lẻ nhàu nát của bác Sương cộng với số tiền công lau dọn phòng máy và gõ văn bản thuê tôi ky cóp được suốt mấy tháng trời vừa khít con số ấy. Nó chỉ dư ra đúng ba nghìn đồng tiền lẻ—vừa đủ để mua một chai nước lọc hoặc phòng khi chiếc săm xe đạp bị thủng dọc đường ra bến.

Việc ngồi tính toán chi ly đến từng đồng bạc lẻ không hề làm sức nặng của mớ giấy bạc nhàu nhĩ kia vơi đi chút nào trong lồng ngực tôi. Ngược lại, mỗi con số hiện lên đen thui dưới nét chì cùn lại như một nhát búa nện thẳng vào tâm can tôi.

Đằng sau bốn mươi lăm nghìn tiền lệ phí thi kia là nửa chiếc khuyên tai bạc đã vĩnh viễn biến mất khỏi chiếc hộp sắt tây. Đằng sau sáu mươi nghìn tiền vé xe đò là những buổi trưa nắng gắt bác dâu tôi lặn lội bấm từng ngón chân trần trên triền đá sắc nhọn để hái từng ngọn rau dớn, từng búp măng đắng mang ra chợ đổi lấy từng tờ năm trăm đồng dán hồ gạo. Đằng sau từng bữa cơm bụi đạm bạc nơi thị xã là những bát cơm độn sắn khô chan nước lã mà người ở nhà phải cắn răng nuốt nghẹn để nhường phần cho tôi bước chân ra khỏi bản.

Mảnh giấy bao xi măng này không đơn thuần là một bản kê khai chi phí đi đường. Trong sự tĩnh lặng đặc quánh và buốt giá của đêm vùng cao, nó đã biến thành một bản cam kết âm thầm, lạnh lùng và nghiệt ngã đến tột cùng. Nó trói chặt đời tôi vào một con đường duy nhất, không có lối rẽ, không có đường lùi: tôi bắt buộc phải đi, phải bước vào phòng thi ấy, và phải dốc cạn từng giọt trí lực cho đến hơi thở cuối cùng. Tôi không có quyền được phép mệt mỏi, không có quyền được phép run sợ hay phạm phải bất kỳ sai lầm nào. Bởi vì bất kỳ sự lùi bước hay thất bại nào lúc này cũng đồng nghĩa với việc tôi đã nhẫn tâm chà đạp lên chút danh dự cuối cùng và sự hy sinh đau đớn, tủi nhục của người đàn bà đang nằm co quắp bên gian bếp kia.

***

Đầu tuần sau, tại văn phòng ban giám hiệu trường cấp ba huyện, cô Hạnh gọi tôi lên để rà soát lại toàn bộ hồ sơ đăng ký dự thi học sinh giỏi cấp tỉnh lần cuối trước khi gửi xe bưu điện chuyển vùng ra Sở.

Căn phòng làm việc của ban giám hiệu nằm ở tầng một của dãy nhà xây cấp bốn cũ kỹ, nồng nặc mùi phấn bảng, mùi giấy bãi bằng ẩm mục và mùi dầu hỏa từ chiếc bếp lò mini đặt góc phòng. Tập hồ sơ của tôi đặt ngay ngắn trên chiếc bàn làm việc bằng gỗ dán đã bong tróc mép, được cô Hạnh cẩn thận lồng trong một chiếc bìa bóng kính chống ướt màu xanh nhạt.

Trên tờ khai lý lịch học sinh giỏi cấp tỉnh, con dấu mộc đỏ chót của Phòng Giáo dục in rõ nét từng góc cạnh, nằm chễm chệ ngay cạnh chữ ký xiêu vẹo, run rẩy của bác Lương—chữ ký mà tối hôm qua bác dâu đã phải dùng uy lực đè nén, bắt ông ký bằng được mà không cho phép hỏi han nửa lời.

Cô Hạnh lật giở từng trang tài liệu, ngón tay thon thả miết nhẹ qua từng mép giấy: đối chiếu lại từng tấm ảnh thẻ ba-bốn chụp tôi trong bộ áo sơ mi trắng mượn của bạn, bản sao giấy khai sinh đã ố vàng mép, và cuốn học bạ cấp ba với những con điểm môn Toán và Tin học đỏ rực, thẳng tắp. Đôi mắt sắc sảo nhưng đượm buồn của cô thoáng dừng lại thật lâu ở đôi gò má hốc hác, xám xịt vì thiếu ăn của tôi, rồi lướt xuống cổ tay áo chàm sờn rách, để lộ những vết sẹo do cào xước bởi cành mạy sâng trên nương.

“Hồ sơ của em đã hoàn tất toàn bộ rồi, không thiếu một giấy tờ nào nữa,” cô Hạnh ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt tôi. Giọng cô trầm tĩnh, nhỏ nhẹ nhưng lại chứa đựng một sự nghiêm cẩn và từng trải lạ kỳ. “Kỳ thi này là một cơ hội rất lớn đối với một học sinh trường huyện vùng sâu như em, Nam ạ. Nhưng cô muốn nhắc nhở em một điều tối quan trọng này.”

Cô dừng lại, đẩy chén trà mạn bốc khói nghi ngút sang một bên, ánh mắt nhìn xoáy sâu vào tâm can tôi:

“Những ngày này, việc quan trọng nhất của em là phải chú ý ăn uống và ngủ cho lại sức. Cô biết em sốt ruột, nhưng đừng thức quá khuya bên dàn máy tính nữa. Hãy chuẩn bị cho mình một cái đầu thật tỉnh táo và một thể lực đủ vững vàng để bước vào phòng thi, thay vì cứ mang nặng trong lòng cái tâm lý xem kết quả của một kỳ thi là phương tiện duy nhất để em trả nợ, hay để đền đáp một ân tình nào đó.”

Từng lời nói của cô rơi xuống gian phòng vắng như những hạt sỏi thả vào lòng giếng sâu, chạm đúng vào vết thương đang mưng mủ, tấy rát trong lồng ngực tôi. Tôi giật bắn mình, hai bàn tay giấu dưới gấu áo chàm bất giác bấu chặt vào nhau đến mức móng tay găm sâu vào da thịt. Có lẽ qua ánh mắt thâm quầng và vẻ căng thẳng tột cùng toát ra từ từng cử chỉ co rúm của tôi, cô giáo đã nhìn thấu tất cả. Hoặc có lẽ, bằng sự nhạy cảm của một người đã từng chứng kiến bao thế hệ học trò nghèo miền núi bước qua ngưỡng cửa này, cô hiểu rằng cái nghèo đói luôn gieo rắc vào tâm trí những đứa trẻ côi cút như tôi một nỗi ám ảnh bệnh hoạn: nỗi ám ảnh phải dùng thành tích, phải dùng những tấm giấy khen đỏ chót để đổi lấy sự tha thứ, sự chấp nhận hay sự công nhận rẻ rúng từ người đời.

“Dạ... thưa cô, em hiểu rồi ạ,” tôi cúi gầm đầu xuống, lí nhí đáp qua kẽ môi khô nẻ. “Em... em sẽ cố gắng làm bài thi thật tốt.”

Tôi chỉ có thể thốt ra được ngần ấy lời sáo rỗng. Tôi không tài nào mở miệng nói cho cô biết rằng, điều đang ngày đêm gặm nhấm buồng phổi và tâm trí tôi lúc này hoàn toàn không phải là sự tự tin hay khát khao danh vọng, mà chính là nỗi kinh hoàng tột độ trước bóng ma của sự thất bại.

Tôi sợ cái viễn cảnh nghiệt ngã nếu như tôi bước ra khỏi phòng thi ấy với hai bàn tay trắng. Nếu tôi trượt, nếu tôi quay trở về bản Nà Ban mà không có lấy một giải thưởng nào mang theo, tôi sẽ phải đối diện ra sao với ánh mắt khinh miệt, cay độc của bác Lương? Tôi sẽ phải nhìn vào khuôn mặt lầm lụi, im lặng đến ghê người của bác Sương như thế nào? Và quan trọng hơn cả, tôi sẽ sống tiếp ra sao khi nghĩ đến khoảng trống hoác lạnh lẽo dưới đáy chiếc hộp sắt tây đựng chỉ ngũ sắc?

Nếu thất bại, sự hy sinh của nửa chiếc khuyên tai bạc mười năm về trước và nửa chiếc khuyên tai bạc của ngày hôm qua sẽ vĩnh viễn biến thành một trò hề cay đắng, một vết nhục nhã không bao giờ rửa sạch. Tôi sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn dưới đáy của sự coi khinh, mang theo cái danh xưng một kẻ ăn bám vô tích sự đã rút cạn những đồng bạc cuối cùng của một người đàn bà khốn khổ. Nỗi sợ hãi ấy quá lớn, đen tối và nặng nề như một đám mây giông nghẽn lại nơi cổ họng, khiến tôi không dám chia sẻ cùng bất kỳ ai, kể cả người cô giáo đã bao lần dang tay che chở cho mình.

***

Giữa tuần, đúng hai ngày trước khi toàn đội tuyển năm người của trường tập trung ra bến xe huyện để bắt chuyến đò sớm đi thị xã, tôi xin phép thầy Dũng tranh thủ bắt chuyến xe buýt cọc cạch chạy tuyến sáng sớm về lại bản Nà Ban. Tôi muốn tranh thủ một buổi chiều để phụ con Lan dọn dẹp cho xong đống củi khô ngoài bìa rừng tích trữ cho mùa đông, và gom nốt hai bộ quần áo chàm đã giặt khô mang theo người.

Buổi trưa vùng cao lạnh ngắt, sương mù vẫn chưa tan hết khỏi những ngọn đào rừng khẳng khiu. Trong gian bếp nhà dưới hun hút gió lùa qua từng kẽ nứa thưa, tôi ngồi thụp bên bậu cửa gỗ, lén lút mở cái bọc vải vụn ra, trải từng tờ tiền lẻ lên mặt gỗ để kiểm đếm lại một lần nữa cho chắc chắn.

Nhìn con số chi tiêu cho tiền cơm bốn ngày ba đêm—sáu mươi nghìn đồng—một ý nghĩ bỗng lóe lên trong đầu tôi, thôi thúc và đầy cám dỗ. Tôi nghĩ mình hoàn toàn có thể cắt giảm khẩu phần ăn mỗi bữa xuống mức thấp nhất: thay vì ăn cơm đĩa năm nghìn đồng, tôi chỉ cần mua một nắm xôi trắng ba nghìn đồng rắc chút muối vừng, hoặc mua hai chiếc bánh rán nguội ngắt bán dạo ngoài cổng bến xe là đủ lót dạ qua ngày. Một thằng con trai quen cày nương nhịn đói từ nhỏ như tôi thì việc bớt đi vài thìa cơm có xá gì.

Nếu thắt lưng buộc bụng như thế, sau bốn ngày tôi sẽ dôi ra được đúng hai mươi nghìn đồng.

Hai mươi nghìn đồng ấy, tôi dự tính sẽ dùng để mua lại tập tài liệu photo dày cộp về các dạng toán thuật toán quy hoạch động nâng cao mà thầy Dũng mang từ Hà Nội về đợt tập huấn hè vừa rồi. Cuốn tài liệu quý giá ấy được bày bán ở hiệu sách nhân dân ngoài thị trấn huyện suốt cả tháng nay, tôi đã đứng chôn chân nhìn nó qua tấm kính tủ mờ đục biết bao nhiêu buổi chiều tan học, nuốt nước bọt thèm thuồng mà không bao giờ dám mở miệng hỏi mượn, bởi vì cả trường huyện chỉ có một bản photo duy nhất ấy mà thôi.

Nghĩ là làm, tôi cẩn thận dùng ngón tay tách riêng mấy tờ hai nghìn đồng nát tươm ra một góc mép bậu cửa, lòng rộn lên một niềm hy vọng non nớt.

Đúng lúc ấy, một bóng đen to lớn bỗng đổ ập xuống trước mặt tôi, che khuất hoàn toàn chút ánh sáng leo lét của buổi ban trưa.

Tôi giật nảy mình ngước lên. Bác dâu Sương không biết đã từ ngoài chuồng lợn bước vào tự lúc nào. Trên tay bà vẫn đang xách chiếc rổ sảo tre dính đầy bùn đất và cám chuối lên men bốc mùi chua nồng. Ánh mắt sắc như dao cau của bà lập tức dán chặt vào những tờ tiền lẻ đang nằm rải rác trên bậu cửa gỗ, rồi quét ngược lên khuôn mặt đang tái mét vì lúng túng của tôi.

“Mày đang giở cái trò ma giáo gì đấy hả?” Tiếng bà rít lên the the, sắc nhọn như mảnh nứa cứa vào da thịt.

Tôi hoảng hốt cuống cuồng, hai bàn tay vơ vội mớ tiền bạc lẻ nhét bừa vào lòng bàn tay: “Cháu... cháu không làm gì cả... Cháu chỉ tính bớt tiền ăn mỗi bữa đi một ít, để dành tiền ra thị xã mua thêm cuốn sách photo thuật toán quy hoạch động của thầy Dũng...”

Chưa kịp dứt câu, chiếc rổ sảo tre trên tay bác Sương đã nện một tiếng “chát” long trời lở đất xuống mặt phản gỗ ngay sát cạnh chỗ tôi ngồi. Đòn đánh bất ngờ làm bụi cám và mùn củi bắn tung tóe lên mặt tôi. Bà lao tới như một cơn lốc đen, giật phắt lấy mấy tờ bạc lẻ nhàu nhĩ trong tay tôi, những ngón tay gầy guộc run rẩy bần bật vì một cơn thịnh nộ dữ dội bùng phát.

“Mày bị ma rừng nó bắt mất hồn rồi hay sao mà điên dại thế này hả Nam?” Bà chỉ thẳng ngón tay trỏ đen đúa, cáu bẩn bùn đất vào sát sống mũi tôi mà mắng té tát, từng bọt nước bọt bắn cả vào trán tôi: “Mày tưởng người ta đi thi bằng cái đầu rỗng với cái bụng đói meo đấy chắc? Mày định vác cái xác ve ấy ra thị xã nhịn ăn nhịn uống, rồi lại lăn đùng ngã ngửa ra giữa bàn thi như cái đợt ở trường huyện, để thiên hạ người ta xúm vào vác cái thây mày về đây làm nhục nhã cái tông tộc này thêm một lần nữa à? Cuốn sách cuốn vở nào đút vào mồm nuôi sống được mày lúc mày kiệt sức nằm lăn lóc ra đấy hả con kia?”

Bà thô bạo vò nát mớ tiền lẻ trong lòng bàn tay chai sạn thành một nùi tròn vo, rồi không một chút nhân nhượng, bà ấn thẳng cái bọc giấy bạc ấy ngược trở lại vào sâu trong túi ngực áo tôi. Bàn tay bà dằn mạnh từng ngón tay xuống xương sườn tôi, đau điếng, như muốn ấn sâu từng đồng tiền ấy vào tận xương tủy, tận buồng tim tôi:

“Tao bảo cho mày biết: tao dằn túi cho mày đúng ngần ấy tiền ăn là để mày tọng vào họng cho có sức mà ngồi làm bài, nghe cho rõ chưa! Tao cấm tiệt mày không được bớt xén dù chỉ là một cắc lẻ, một hào rách! Mày mà để tao đánh hơi thấy mày nhịn đói nhịn khát để mua mấy cái thứ giấy lộn ấy, thì tao sang tận trường huyện tao đốt sạch sành sanh cả sách lẫn vở của mày ra tro! Giữ cho đủ số tiền ấy, bước chân ra đất thị xã thì ăn uống cho đàng hoàng như con người ta, đừng có giở cái thói bần tiện, bủn xỉn ấy ra làm xấu mặt tao!”

Dứt lời mắng mỏ, bà quay ngoắt người đi một cách dứt khoát. Chiếc xô tôn đựng cám lợn bị bà giật mạnh quai xách va vào vách đá kêu xoang xoảng, bước chân bà giậm thình thịch trên nền đất nện ẩm ướt làm rung rinh cả những nan liếp nứa đã mủn mục quanh nhà.

Tôi ngồi sững sờ giữa gian bếp vắng lặng như một pho tượng đá không hồn.

Từng lời chửi bới the thé, từng tiếng lăng mạ cay độc và chát chúa của bà vẫn còn ong ong, lùng bùng bên màng nhĩ tôi. Những từ ngữ thô lỗ, cộc cằn ấy chẳng có lấy nửa phần dịu dàng. Nhưng lần này, nơi đáy ngực tôi không còn trào dâng cái cảm giác tủi nhục, căm hận hay xót xa như thuở lên năm, lên mười nữa.

Tôi từ từ đưa bàn tay lên, áp chặt vào khối tiền cộm cộm nơi ngực áo. Đằng sau những lời nguyền rủa tàn nhẫn, đằng sau cơn giận dữ bốc hỏa đến run rẩy của người đàn bà vùng cao này, là một nỗi sợ hãi nguyên thủy và vụng về đến thắt ruột. Bà sợ tôi đói. Bà sợ cái cơ thể gầy còm, xanh xao vì thiếu chất của tôi sẽ không chịu nổi áp lực của một chuyến đi xa, sẽ lại gục ngã trên bàn thi như lần trước.

Một người đàn bà cả đời chỉ biết cúi mặt xuống rãnh cày, chưa từng được ai dạy cho một lời ăn tiếng nói dịu dàng, làm sao biết cách nói lời yêu thương hay quan tâm một cách mềm mại? Sự âu yếm trong căn nhà khốn khổ này là một thứ xa xỉ phẩm cấm kỵ; nó không có đất để tồn tại dưới dạng nguyên bản. Ở đây, tình thương buộc phải mượn tấm áo giáp xù xì, gớm ghiếc của những cơn thịnh nộ lôi đình, buộc phải khoác lên mình thứ ngôn ngữ của sự đay nghiến để che giấu đi nỗi xấu hổ và sự bất lực của cái nghèo đang bóp nghẹt từng số phận.

Bà không bao giờ gọi tên sự lo lắng ấy, và chính bản thân tôi cũng không có quyền, không bao giờ dám mở miệng gọi tên nó ra thành lời. Có những thứ tình cảm trên cõi đời này sinh ra đã mang hình thù méo mó và mang đầy thương tích như thế.

Tôi lặng lẽ gom những tờ bạc bị vò nát, miết phẳng lại từng mép gấp rồi cất sâu vào tận đáy túi ngực áo chàm, cài chặt chiếc cúc nhựa cuối cùng. Trong lòng tôi lúc này trĩu nặng một cảm xúc hỗn độn, vừa đắng cay, vừa xót xa đến nghẹt thở.

***

Đêm trước ngày toàn đội tuyển lên đường ra thị xã, thị trấn huyện chìm sâu vào một màn sương mù đặc quánh như cháo loãng. Đợt gió mùa đông bắc mạnh nhất từ đầu mùa tràn về mang theo cái rét ngọt thấu buốt da thịt, luồn lách qua từng khe nứt của những dãy nhà phố huyện nghèo nàn.

Trong căn kho chứa đồ chật chội, ẩm thấp lợp bằng những tấm fibro xi măng nứt nẻ sau vườn nhà bà giáo Ngô—nơi tôi được bà cho tá túc nhờ suốt hai năm học cấp ba—tôi thắp một mẩu nến nhỏ cắm trên nắp chiếc hộp cá hộp hoen gỉ để thu dọn hành lý lần cuối.

Ngọn lửa nến leo lét, chao đảo dữ dội mỗi khi một cơn gió bấc lọt qua khe vách nứa hắt vào. Bóng tôi in lên mảng tường vôi lở loét những vệt loang lổ, chập chờn như một chiếc bóng ma trơi.

Hành trang của một thằng học sinh nghèo đi thi tỉnh chẳng có gì nhiều nhặn, gói gọn trong chiếc ba lô vải dù con cóc cũ kỹ do người ta vứt đi mà tôi nhặt về khâu lại từng đường chỉ. Tôi cẩn thận xếp hai bộ quần áo chàm đã sờn vai nhưng được giặt giũ sạch sẽ và gấp phẳng phiu xuống đáy ba lô; đặt tập hồ sơ thi gói kín trong hai lớp túi nilon chống nước lên trên; rồi đến một chiếc hộp bút bằng sắt tây đựng ba cây bút bi Thiên Long màu xanh tôi đã mua thêm ngòi dự phòng từ tuần trước; một tập giấy nháp dày cộp được tôi tự tay đóng bằng kim chỉ từ những trang giấy một mặt của các cuốn sổ điểm cũ xin lại từ phòng hành chính của trường; và cuối cùng, được đặt ở vị trí trang trọng nhất bên ngăn phụ của ba lô, là cuốn vở chép thơ học trò của mẹ Mai năm xưa, bên trong vẫn ép chặt một nhành hoa ban rừng khô quắt đã ngả sang màu hổ phách.

Xong xuôi mọi thứ, tôi khẽ thở phào một hơi dài. Tôi quỳ gối xuống nền gạch tàu lạnh buốt, thò tay vào góc khuất sâu nhất dưới đáy chiếc hòm gỗ đựng tài liệu cũ kỹ kê sát chân tường—nơi tôi vẫn cẩn thận cất giấu chiếc máy tính cầm tay, bọc kín bên trong một mảnh vải nỉ màu xám tro cắt ra từ chiếc áo khoác cũ của cha tôi.

Chiếc máy tính bỏ túi hiệu Casio fx-500MS vỏ xước xát, phím bấm đã mòn vẹt hết cả những chữ số in màu trắng này là thứ vũ khí sống còn đối với tôi trong kỳ thi sắp tới. Nó không phải của tôi. Đó là tài sản cá nhân quý giá mà thầy Dũng đã tin tưởng rút từ trong cặp sách ra giao tận tay cho tôi từ đầu tuần trước, dặn tôi dùng để luyện giải các bài toán quy hoạch động, tính toán đổi hệ cơ số nhị phân sang thập lục phân, và đặc biệt là kiểm tra nhanh các chuỗi số nguyên lớn trong các bài toán số học phức tạp của đề thi lập trình Pascal.

Không có chiếc máy tính ấy để hỗ trợ tính nhanh các phép toán đồng dư modulo hay nhẩm trước kết quả thuật toán trên giấy nháp trước khi gõ mã nguồn, tốc độ làm bài của tôi chắc chắn sẽ bị chậm đi ít nhất một nửa so với học sinh các trường chuyên ngoài thị xã—những đứa trẻ vốn đã có sẵn máy tính cá nhân xịn xò cầm trên tay từ những năm cấp hai.

Những ngón tay gầy guộc của tôi lần mò vào khoảng tối quen thuộc dưới đáy hòm.

Đầu ngón tay tôi chạm phải lớp bụi gỗ mỏng dính và ram ráp. Nhưng mảnh vải nỉ xám tro mềm mại không có ở đó.

Khoảng trống dưới đáy hòm trơn tuột và lạnh ngắt.

Tim tôi đột ngột đập thót một cái như rơi tõm xuống đáy vực sâu. Một luồng khí lạnh buốt xông thẳng từ sống lưng lên đỉnh đầu, làm dựng đứng từng chân lông gà trên cánh tay.

Tôi vội vàng kéo hẳn chiếc hòm gỗ nặng trịch ra giữa ánh nến leo lét, cúi rạp người xuống, đưa ngọn nến lại gần sát đáy hòm để soi rọi từng ngóc ngách.

Trống trơn. Tuyệt nhiên không có gì ngoài vài mẩu rác rưởi mục nát và mấy con mọt gỗ bò lổm ngổm trên mặt ván thông ẩm ướt.

Một cơn hoảng loạn tột cùng ập đến bóp nghẹt lấy lồng ngực tôi. Tôi lật tung toàn bộ chiếc chăn chiên mỏng manh trên giường, lục tung từng ngăn của chiếc ba lô con cóc, sục sạo khắp các ngóc ngách trên giá sách kê bằng những viên gạch xỉ gãy đôi. Tôi lật từng góc chiếu, mò mẫm dưới gầm giường, bới tung đống giấy nháp cũ ngổn ngang góc phòng.

Không có. Hoàn toàn không có một dấu vết nào của chiếc máy tính.

Chiếc máy tính vỏ nhựa màu xám tro—thứ tài sản mà tôi đã nâng niu, lau chùi từng hạt bụi trên mặt kính suốt mấy ngày qua, thứ công cụ quyết định cả vận mệnh của chuyến đi ngày mai—đã hoàn toàn bốc hơi như một làn sương khói giữa căn phòng khóa kín.

Đầu óc tôi quay cuồng dữ dội. Trong cơn bàng hoàng đến tê dại, một chuỗi hình ảnh của buổi chiều ngày hôm qua bỗng vụt hiện lên trong tâm trí tôi, sắc nét và lạnh buốt như một lưỡi dao cạo.

Chiều hôm qua, khi tôi vừa từ bản Nà Ban đi bộ ra đến đầu con ngõ dẫn vào nhà bà giáo Ngô, trời đã chập choạng tối. Ngay khúc quanh có bụi râm bụt rậm rạp che khuất tầm nhìn, tôi đã thoáng thấy một bóng người cao lêu nghêu, gầy nhẳng bước vội vã từ phía trong cổng nhà bà Ngô đi ra. Đó là Nguyễn Văn Tùng. Anh ta mặc chiếc áo khoác gió màu xanh rêu lấm lem bùn đất nương rẫy, hai tay thọc sâu vào túi áo khoác, vai so lại, bước đi lấm lét và vội vã như một kẻ vừa làm xong một điều gì mờ ám, khuất tất. Khi thoáng thấy bóng tôi từ xa bước tới, anh ta thậm chí không hề dừng lại chào hỏi hay cất tiếng đay nghiến như mọi bận, mà chỉ cắm mặt bước thoăn thoắt sang con đường đất dẫn ra bến xe khách huyện.

Lúc đó, tôi chỉ ngây thơ nghĩ rằng anh ta theo bạn bè ra thị trấn chơi bời hay tìm quán bi-a xóm ngoài như thói quen thường ngày. Tôi không hề mảy may nghi ngờ.

Cơn giận dữ và nỗi nghi ngờ lập tức bùng lên dữ dội, thiêu đốt toàn bộ tâm trí tôi. Lồng ngực tôi nghẹn ứ lại vì uất hận. Gương mặt xương xẩu, đen nhẻm của Tùng hiện lên rõ mồn một trong tâm trí tôi với ánh mắt ghen ghét, hằn học đầy độc địa mỗi lần anh ta bắt gặp tôi cắm cúi bên những trang sách toán dưới ánh đèn dầu. Ký ức về những buổi chiều trên nương ngô Pha Luông năm nào lại dội về cuồn cuộn: cái ngày Tùng xông vào giằng lấy cuốn vở chép thơ cũ rách của mẹ Mai trên tay tôi, gào thét đòi xé nát nó ra từng mảnh chỉ vì ấm ức khi thấy tôi được người làng khen ngợi; những lời đay nghiến, mỉa mai cay độc của anh ta mỗi bận nghe họ hàng xì xào bàn tán về việc một thằng mồ côi ăn nhờ ở đậu lại được chọn vào đội tuyển trường huyện; và cả nỗi ấm ức âm ỉ của một đứa con đẻ luôn cảm thấy bị tước đoạt mất sự chú ý bởi một kẻ tha hương côi cút.

Sự đố kỵ tích tụ qua năm dài tháng rộng, những va chạm, xung đột âm ỉ chưa một lần được hòa giải giữa hai đứa con trai dưới một mái nhà dột nát đã khiến cái tên Nguyễn Văn Tùng nhảy bổ vào đầu tôi nhanh hơn, dứt khoát hơn bất kỳ một lời giải thích hợp lý nào khác.

Chính anh ta. Không thể là ai khác ngoài anh ta. Anh ta đã lẻn vào căn kho này trong lúc tôi vắng nhà, lục lọi góc hòm gỗ và lấy đi chiếc máy tính ấy. Anh ta lấy nó để làm gì? Để mang ra quán cầm đồ thị trấn đổi lấy vài chục nghìn uống rượu, hay tàn nhẫn hơn, là để triệt hạ con đường đi thi của tôi, để dìm tôi chết chìm trong nỗi nhục nhã và thất bại trước ngày lên đường?

Máu trong người tôi như sôi sùng sục, hai nắm tay siết chặt lại đến mức khớp xương kêu răng rắc.

Bên ngoài trời, gió bấc vẫn gầm rú từng cơn điên dại, rít qua những khe hở của mái fibro xi măng nứt toác nghe chói gắt và cay nghiệt như một tiếng cười gằn chế nhạo số phận tôi. Ngọn nến leo lét trên nắp hộp cá hoen gỉ bỗng phụt tắt sau một cơn gió lùa dữ dội, ném toàn bộ gian phòng nhỏ vào một màu đen đặc quánh, lạnh buốt thấu xương.

Trong khi đó, chỉ còn chưa đầy bốn tiếng đồng hồ nữa, khi tiếng gà gáy canh năm cất lên giữa màn sương muối mù mịt, chuyến xe đò đầu tiên đưa đội tuyển đi thị xã sẽ chính thức lăn bánh rời bến.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories