Hoa Ban Không TànCh.25 / 38
Chapter 25

Những năm đi bộ

Những năm đầu ở trường huyện, tôi đo thời gian không bằng lịch mà bằng số lần đôi dép mòn, số bữa cơm gói mang theo và quãng dốc phải đi trước khi trời sáng.

Thị trấn Mộc Châu đón tôi bằng những đợt gió hun hút luồn qua thung lũng đá vôi, ẩm ướt vào mùa mưa và buốt thấu xương khi mùa sương muối tràn về. Lớp chuyên Toán của trường phổ thông huyện nằm ở tầng hai dãy nhà xây quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn, trơ ra lớp gạch chỉ đỏ sẫm. Nhưng đối với tôi, trường học chưa bao giờ chỉ gói gọn trong bốn bức tường lớp học hay những dãy bàn gỗ bóng loáng mồ hôi của đám học trò thị trấn. Đời sống của tôi bị bẻ gãy thành từng mảnh vụn, kéo dài dọc theo mười cây số đường đèo nối giữa Bản Nà Ban và huyện lỵ.

Ký túc xá trường đang trong đợt sửa chữa lớn, ngổn ngang vôi vữa và giàn giáo tre. Chỗ ở của tôi vì thế mà trôi dạt theo từng đợt học tập trung. Mở đầu là gian nhà kho chứa đồ đạc cũ của bà giáo Ngô đã về hưu, nằm nép mình sau rặng mận cách trường hơn một cây số. Gian kho lợp fibro xi măng, mùa nắng thì hầm hập như lò nung, mùa đông gió luồn qua khe cửa liếp rít lên từng hồi buốt lạnh. Cứ sau mỗi đợt học kéo dài hai hoặc ba tuần, khi cô Hạnh chưa kịp liên hệ tiếp hoặc khi nhà bà giáo có việc gia đình, tôi lại phải thu dọn để dời sang một góc hiên có mái che của người quen khác mà cô giáo gửi gắm.

Nhưng dù ở đâu, quy luật bất di bất dịch của cuộc đời tôi vẫn là những chuyến đi bộ trở về bản. Lời đe dọa của bác Lương trước ngày tôi rời đi không phải một lời dọa suông: “Thứ Bảy, Chủ nhật nào nương ngô cần người làm cỏ, bẻ bắp hay dọn đất, mày phải tự liệu chân mà cuốc bộ mười cây số về bản trước khi gà gáy. Mày để nương ngô thiếu công, nhà này thiếu ăn, tao chặt đứt chân mày ngay tại ngõ!”

Chiều thứ Sáu, khi tiếng trống tan trường vừa điểm, trong khi chúng bạn cùng lớp ríu rít rủ nhau ra chợ huyện ăn bánh rán hay tụ tập ở bãi bóng, tôi vội vã nhét tập vở vào túi vải rồi cắm đầu bước. Mười cây số dốc ngược từ huyện về Nà Ban nuốt trọn hơn hai tiếng rưỡi đi bộ cật lực. Đường về bản mùa khô bụi đỏ bốc lên từng luồng theo vết bánh xe tải chở gỗ, bám chặt vào hốc mắt, kẽ móng tay và cổ họng đắng nghét. Nhưng đáng sợ nhất vẫn là những chiều mùa hạ, khi những dải mây đen từ rặng núi đá vôi Pha Luông bất thần sà xuống thấp, che kín đỉnh thung lũng, rồi sấm sét xé toang bầu trời và mưa rừng trút xuống xối xả.

Nước đỏ ngầu từ các khe núi cuồn cuộn đổ dồn, tràn qua mặt đường đất đỏ ngoằn ngoèo, nhiều khúc ngập sâu ngang gối. Đá dăm sắc lẹm dưới lòng suối chực cào rách đế dép. Những lúc ấy, tôi phải đứng nép dưới vách đá, vội vã cởi phăng chiếc áo chàm độc nhất trên người. Tôi cuộn tròn tập vở học trò, những trang bài tập đại số chi chít số liệu và trên hết là cuốn sổ chép thơ cũ của mẹ Mai kẹp cành hoa ban khô, nhét sâu vào một lớp bao tải dứa đã giũ sạch cám, lấy dây chuối rừng buộc thắt nút nhiều vòng. Tôi ghì chặt bọc bao tải ấy trước lồng ngực gầy guộc, hai cánh tay khoanh tròn giữ chặt như ôm một đứa trẻ, rồi bấm từng ngón chân trần xuống lớp bùn đất nhão nhoét để lội qua dòng nước xoáy. Mỗi bước chân là một lần giằng co với đất trơn; bùn ngập đến bắp chân, mút chặt lấy bàn chân như muốn níu người ta ngã quỵ xuống lòng rãnh nước. Khi về đến đầu dốc Nà Ban, toàn thân tôi đã ướt sũng, lạnh ngắt từ đỉnh đầu đến gót chân, môi thâm sì và run lên bần bật, nhưng cái bọc bao tải áp trước ngực vẫn khô ráo nguyên vẹn.

Đến chiều Chủ nhật, sau hai ngày quần quật từ bốn giờ sáng trên triền nương ngô dốc đứng — khi thì khiêng đá hộc chèn chân ta luy, khi thì gùi từng bó thân ngô già gai góc cứa rách toạc bắp tay — tôi lại khoác túi cuốc bộ mười cây số ngược ra huyện trong đêm mù sương. Bác Lương không bao giờ giữ tôi lại ăn bữa cơm tối ngày Chủ nhật. Hễ bóng tối vừa sập xuống thung lũng, bác đã đứng ở đầu hồi ném ra một câu cộc cằn: “Muốn đi thì xách xác mà đi ngay trong đêm, đừng có lượn lờ chờ sáng mai rồi trốn việc nương.” Thế là tôi lại đi. Sương đêm Mộc Châu dày đặc như chõ xôi bốc khói, trắng xóa và lạnh buốt, táp vào mặt rát rạt. Đường rừng không một ánh đèn, chỉ có tiếng côn trùng rền rĩ trong hốc đá và tiếng bước chân thậm thịch của chính mình nện trên sỏi đá dẫn đường.

Quần áo giặt vội ở mó nước chiều muộn chưa kịp khô, ẩm sì và bốc mùi ngái ngái của bùn đất lẫn tro bếp. Sáng thứ Hai bước vào lớp học, hơi lạnh từ chiếc áo ướt dính chặt vào da thịt khiến từng thớ cơ trên lưng tôi co rút lại. Những ngày nắng gắt, mồ hôi muối kết tinh thành từng vệt trắng xóa trên nền vải chàm bạc phếch, khô cứng ráp như mo cau. Ngồi giữa căn phòng thoang thoảng mùi xà phòng thơm và nước hoa rẻ tiền của con em cán bộ thị trấn, tôi luôn thu mình vào sát góc tường ngoài cùng bên cửa sổ, cố thu hẹp diện tích chiếm chỗ của cơ thể mình xuống mức nhỏ nhất có thể.

Ở gian kho nhà bà giáo hưu trí hay bất kỳ nơi trọ tạm nào sau đó, đồ đạc của tôi chưa bao giờ bày biện ra ngoài. Toàn bộ gia tài của tôi nằm gọn trong một chiếc túi vải dù rách góc: hai bộ quần áo vá chằng vá đụp, một manh chiếu cói đơn mỏng manh cuốn tròn dựng ở góc vách, chiếc đèn dầu hỏa loại nhỏ bằng quả ổi và hai cuốn sách quan trọng nhất đời mình. Cuốn thứ nhất là tập tài liệu thuật toán in kim cáu bẩn mép giấy mà thầy Dũng cho mượn; cuốn thứ hai là tập vở chép thơ cũ của mẹ Mai kẹp cành hoa ban khô, luôn được bọc trong ba lớp nilon bóng kính buộc dây chuối cẩn thận.

Tôi hiểu thân phận của một đứa ăn nhờ ở đậu. Mỗi sáng ở nhà bà giáo, tôi luôn thức dậy từ lúc trời còn tối om, trước khi tiếng kẻng báo thức của thị trấn vang lên. Gió sớm từ các vách đá rít qua khe liếp gian kho buốt như dao cứa, nhưng tôi không bao giờ cho phép mình nằm nướng thêm dù chỉ một khắc. Việc đầu tiên là xách đôi thùng tôn gỉ sét ra giếng khơi đầu ngõ múc nước. Dây gàu bằng sợi đay ngấm sương đêm lạnh buốt làm da tay nứt toác, từng đợt nước kéo lên nặng trịch, nhưng tôi kiên nhẫn múc từng gàu, xách về đổ đầy chiếc bể xi măng rêu phong sau bếp của bà. Sau đó, tôi cầm chiếc chổi tre quét sạch khoảng sân trước đầy lá mận rụng, rồi gom những khúc củi dẻ gai khô mà bà giáo nhặt về xếp lại ngay ngắn thành từng hàng dưới chái bếp. Xong xuôi mọi việc, tôi mới lặng lẽ trở về góc kho, gấp vuông vức manh chiếu của mình lại.

Bà giáo già thỉnh thoảng mở cửa nách, nhìn thấy khoảng sân sạch bong và bể nước đầy tràn thì khẽ thở dài:

“Cháu dậy sớm thế, trời còn lạnh lắm. Cứ để đấy lát bác làm cũng được.”

“Dạ không sao đâu bác, cháu quen dậy giờ này rồi ạ. Cháu phụ bác chút việc cho ấm người,” tôi cúi đầu đáp, giọng nhỏ nhẹ và giữ khoảng cách chừng mực.

Tôi tuyệt đối không dám để mình trở thành gánh nặng hay sự phiền toái cho chủ nhà. Nước sinh hoạt tôi dùng dè sẻn từng gáo, không bao giờ bước chân vào gian nhà chính nếu không có lời gọi, và đến giờ cơm, tôi luôn kiếm cớ ngồi lại phòng kho để gặm mẩu sắn luộc hay nắm cơm nguội mang từ bản ra. Trong thâm tâm, tôi luôn giữ chiếc túi vải ở trạng thái sẵn sàng thắt miệng. Bất cứ lúc nào bác Lương nhắn người nhà bảo về gấp vì nương ngô cần người, hay chủ nhà có dấu hiệu ái ngại vì sự xuất hiện của một kẻ xa lạ trong khuôn viên, tôi đều có thể nhấc túi lên vai và rời đi trong vòng ba phút mà không để lại bất kỳ vệt xáo trộn nào.

***

Lớp chuyên Toán trường huyện có nhịp học nhanh và dồn dập hơn rất nhiều so với những tiết học ê a ở kho thóc hợp tác xã Bản Nà Ban. Phòng học rộng, quét vôi ve màu vàng nhạt đã ố bẩn theo năm tháng, có bốn dãy bàn ghế gỗ dài bóng lộn. Phần lớn học sinh trong lớp đều xuất thân từ trường thị trấn hoặc các trường điểm vùng thấp, con em cán bộ huyện ủy, giáo viên trường cấp ba hay các gia đình buôn bán ngoài phố chợ. Họ mặc áo sơ mi trắng thẳng thớm, dùng compa sắt mạ kền sáng loáng, thước kẻ nhựa trong veo có in hình các danh nhân, và trên bàn lúc nào cũng có những cuốn sách giải bài tập in chữ rõ ràng, thơm mùi giấy mới.

Tôi bước vào lớp với tư cách người đỗ thứ tư diện chính sách hỗ trợ, một vị trí vừa đủ để nhận được sự chú ý nhưng cũng thừa đủ để tạo ra sự nghi ngại. Những ánh mắt dò xét lướt qua manh áo chàm đã sờn rách ở cùi chỏ, dừng lại ở đôi dép tổ ong ngả màu cháo lòng của tôi mỗi khi tôi bước lên bảng giải bài. Trong mắt họ, tôi là một kẻ ngoại lai từ bản sâu bò ra, một sự chen chân lạ lẫm vào thế giới học đường chỉn chu của phố huyện.

Cô Hạnh — người đã bảo lãnh và lặn lội đến tận sân nhà bác Lương để giành giật cho tôi cơ hội này — thường xuyên ghé qua lớp học bồi dưỡng vào các buổi chiều. Cô không dạy trực tiếp môn Toán của lớp chuyên, nhưng cô theo dõi sổ điểm và học bạ của tôi sát sao như một người giám hộ thực sự. Những buổi chiều tan tiết dạy ở trường cấp hai, cô thường đạp chiếc xe đạp Phượng Hoàng cọc cạch sang khu cấp ba, đứng lặng ngoài hành lang nhìn qua khung cửa sổ để xem tôi có theo kịp tiến độ của lớp hay không.

Kết quả của những tuần đầu tiên phản ánh rõ rệt sự phân hóa kỳ lạ trong tư duy của tôi. Ở những phần đòi hỏi tư duy logic thuần túy, tính quy luật, các bài toán số học, chứng minh bất đẳng thức hay tìm ẩn số phức tạp, tôi luôn tìm ra cách giải ngắn gọn đến mức làm thầy giáo bộ môn phải nhướng mày ngạc nhiên. Những bài toán mẹo hay hình học không gian — nơi các hình khối đa diện ba chiều cần được xoay chuyển, cắt gọt và tưởng tượng trong tâm trí — đối với tôi như một trò chơi quen thuộc. Thuở nhỏ, bên bếp lửa nhà sàn Bản Nà Ban, cha Hòa từng dùng những khúc gỗ nghiến vuông vức đẽo thành các khối nêm, khối mộng để dạy tôi cách ghép rui mè, kèo cột. Tôi không cần nhiều công thức rườm rà; tôi nhìn thấy mối liên kết giữa các con số như nhìn thấy dòng nước len lỏi qua từng khe đá suối Nà Ban, luôn tìm ra con đường dốc nhất, ngắn nhất để thoát ra ngoài.

Nhưng cái giá của những bài toán ấy là thể xác tôi bắt đầu lên tiếng biểu tình.

Sau những chuyến đi bộ rã rời chiều Chủ nhật và những bữa ăn chỉ có cơm độn ngô nguội ngắt với nhúm muối ớt mang từ bản, năng lượng trong cơ thể tôi cạn kiệt nhanh chóng khi bước vào các tiết học buổi chiều. Ngồi ở dãy bàn cuối, dưới ánh nắng xiên khoai gay gắt hắt qua khung cửa sổ không có rèm che, mắt tôi bắt đầu díp lại. Nắng chiều vùng cao chói chang, nung nóng mái ngói xi măng, phả hơi nóng hầm hập xuống căn phòng chật chội. Hai thái dương tôi giật thon thót từng cơn vì thiếu ngủ và đói lả. Cái đói ở tuổi dậy thì không chỉ là cảm giác cồn cào trong bụng; nó là một thứ chất độc âm ỉ làm tê liệt các đầu dây thần kinh, khiến tai tôi lùng bùng và mắt hoa lên.

Có những buổi học hình học giải tích, tiếng phấn gõ cồm cộp lên bảng đen của thầy giáo cứ xa dần, nhòe đi, hòa lẫn vào tiếng ve ran rát ngoài rặng bạch đàn. Đầu tôi gục xuống mặt bàn gỗ lúc nào không hay, trán đập vào mép tập vở có dòng chữ viết dở. Trong giấc ngủ mê mệt chập chờn, tôi thấy mình vẫn đang vần tảng đá hộc nặng trĩu trên nương Pha Luông, tảng đá trơn tuột khỏi tay lăn xuống vực sâu hun hút, kéo theo cả thân xác tôi chìm vào bóng tối.

Một buổi chiều thứ Năm, sau khi tiết học kết thúc và bạn bè đã túa ra sân, cô Hạnh bước vào lớp. Tiếng bước chân nhẹ nhàng của cô dừng lại ngay cạnh bàn tôi. Tôi giật mình tỉnh giấc, vội vàng lấy tay áo quệt ngang khóe miệng, ngượng ngùng đứng bật dậy khiến chiếc ghế gỗ dưới chân kêu ken két.

“Em... em xin lỗi cô. Em lỡ chợp mắt một lát ạ,” tôi ấp úng, hai tai nóng bừng, các ngón tay bối rối bấu chặt vào mép bàn gỗ xù xì.

Cô Hạnh không mắng. Cô kéo chiếc ghế đối diện ngồi xuống, đặt cuốn sổ điểm của lớp lên bàn rồi nhìn sâu vào mặt tôi. Đôi mắt cô đượm vẻ xót xa nhưng giọng nói vẫn giữ sự nghiêm nghị quen thuộc:

“Điểm kiểm tra một tiết môn Toán của em được 9,5, cao thứ hai trong lớp. Phần đại số em làm rất sáng nước, thầy Việt có khen với cô là tư duy logic của em rất chặt chẽ, không bị rập khuôn theo sách mẫu.”

Tôi thở phào một tiếng rất nhẹ, nhưng cô Hạnh đã lật sang trang sau, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên mặt giấy:

“Nhưng thầy cũng ghi vào sổ theo dõi: Nam thường xuyên ngủ gật từ tiết thứ tư trở đi, nhất là vào các ngày thứ Hai và thứ Sáu. Tuần này em đã ba lần gục xuống bàn trong giờ phụ đạo.”

Tôi cúi gằm mặt, nhìn chằm chằm vào đôi bàn chân trần đen nhẻm, gân guốc thò ra khỏi đôi dép tổ ong đã mòn vẹt gót. Mũi ngón chân cái của tôi bị bật móng từ chuyến lội bùn tuần trước, nay đóng một lớp vảy đen sì, xung quanh khóe móng tấy đỏ và rỉ nước vàng. Tôi không thể giải thích với cô rằng đêm qua tôi phải thức đến hai giờ sáng để chẻ xong nửa khối củi cho bà giáo vì sợ bà phiền lòng, cũng không thể nói rằng từ trưa hôm qua đến giờ, bụng tôi chỉ có đúng một củ khoai lang luộc bẻ đôi và nửa ca nước lã múc từ bể chứa.

“Em có ăn uống đầy đủ không?” Cô Hạnh hỏi thẳng, giọng trầm xuống.

“Dạ... em vẫn ăn bình thường ạ. Gạo hỗ trợ của huyện cấp cho đợt này em vẫn còn gửi bên bếp nhà bác Ngô,” tôi nói dối, cổ họng nghẹn đắng. Sự thật là số gạo hỗ trợ theo định mức chỉ vừa đủ cho hai bữa cơm trắng mỗi ngày nếu ăn rất dè sẻn, nhưng tôi đã phải bớt lại một phần ba để gửi về bản cho cái Lan khi nghe tin vụ ngô năm nay bị sâu cắn lá, chum gạo nhà bác Lương đang cạn dần.

Cô Hạnh nhìn xoáy vào tôi, ánh mắt như nhìn thấu qua lớp vỏ bọc tự ái vụng về mà tôi đang cố dựng lên:

“Em đừng tưởng giấu được cô. Người em gầy rộc đi, mắt trũng sâu hoắm thế kia thì học làm sao được lâu dài? Tư duy của em tốt, nhưng cái đầu không thể kéo mãi một cái xác không có sức lực. Em đi bộ mười cây số mỗi tuần, rồi lên nương làm việc như một người phu, vào lớp lại nhịn đói thì chữ nghĩa nào nhét cho nổi? Nếu em cứ tiếp tục dùng sức cùng lực kiệt kiểu này, chưa đợi đến lúc thi đại học thì cơ thể em đã sụp đổ trước rồi.”

Tôi im lặng cắn chặt môi đến mức bật máu. Tôi biết cô nói đúng, nhưng giữa sự sụp đổ của thể xác trong tương lai xa xôi và việc bị bác Lương đuổi học ngay ngày mai nếu thiếu một buổi làm nương, tôi không có quyền lựa chọn. Sự kiệt sức là thứ duy nhất tôi có thể đem ra thế chấp để đổi lấy quyền được ngồi trong căn phòng này.

***

Cứu cánh lớn nhất của tôi ở trường huyện, ngoài những bài toán của cô Hạnh, chính là phòng máy tính cũ nằm ở tầng một khu hiệu bộ cũ.

Từ sau ngày chính thức nhập học, dưới sự bảo lãnh của thầy Dũng — người phụ trách thiết bị tin học kiêm giáo viên kiêm nhiệm của trường — tôi được cấp một đặc quyền ngầm: được phép ra vào phòng máy ngoài giờ học chính khóa để lau chùi, quét dọn và hỗ trợ bảo trì máy móc.

Căn phòng máy này rộng hơn gian kho chứa đồ ở Bản Nà Ban rất nhiều, kê khoảng mười lăm bộ máy tính để bàn đời cũ. Đa phần là các thùng máy chạy chip Pentium II hoặc Pentium III đã ngả màu vàng ố của mỡ gà, màn hình CRT dày cộm phát ra tiếng rít the thé mệt mỏi mỗi khi bật công tắc nguồn. Không khí trong phòng luôn đặc quánh mùi nhựa thông cháy dở, mùi bụi bám trên các cánh quạt tản nhiệt và mùi ẩm mốc của những tấm đệm lót chuột rách tươm. Nhưng đối với tôi, đó là nơi chốn dễ chịu và công bằng nhất trên đời. Bước qua cánh cửa gỗ dán ọp ẹp ấy, tôi không còn là thằng bé mồ côi áo chàm vá vai đến từ Bản Nà Ban; tôi chỉ là một người đang học cách nói chuyện với những cỗ máy tuân theo các trật tự logic tuyệt đối.

Thầy Dũng thường xuất hiện vào các buổi chiều muộn trên chiếc xe Minsk cũ nhả khói mù mịt. Thầy ném cho tôi chiếc chìa khóa phòng máy rồi kéo chiếc ghế xoay gãy một bên tay vịn lại ngồi:

“Này Nam, hôm nay có ba chiếc máy bên dãy B bị kẹt phím và cổng chuột PS/2 chập chờn. Em kiểm tra chân cắm trước, xem có bị cong chân hay bụi bám không rồi mới tháo nắp thùng máy. Nhớ bài học lần trước chưa?”

“Dạ, em nhớ rồi ạ. Kiểm tra từ ngoài vào trong, từ nguồn điện đến kết nối vật lý, không được đụng vào phần mềm hay format ổ đĩa khi chưa sao lưu,” tôi đáp rành rọt. Bài học cay đắng về việc format nhầm ổ cứng chứa dữ liệu học sinh của cô Hạnh hồi ở trường bản đã khắc sâu vào xương tủy tôi, biến thành một phản xạ cẩn trọng đến mức cực đoan.

Dưới sự chỉ dẫn kiên nhẫn của thầy Dũng, tôi học cách dùng chổi sơn mềm quét sạch từng lớp bụi bám đặc quánh trên các phiến tản nhiệt của CPU, học cách tháo thanh RAM 64MB ra khỏi khe cắm rồi dùng cục tẩy bút chì chà nhẹ lên các chân tiếp xúc mạ đồng cho đến khi chúng sáng bóng trở lại. Thầy dạy tôi cách lắng nghe tiếng bíp phát ra từ bo mạch chủ khi khởi động: một tiếng bíp ngắn là hệ thống bình thường; ba tiếng bíp dài là lỗi bộ nhớ; còi rít liên tục là bộ nguồn hoặc quạt tản nhiệt có vấn đề. Những âm thanh khô khốc ấy dần trở thành một thứ ngôn ngữ quen thuộc, rõ ràng và mạch lạc hơn bất kỳ lời phân bua nào của con người.

Căn phòng máy này về đêm có một vẻ tĩnh mịch kỳ lạ. Khi thầy Dũng đã phóng chiếc Minsk về nhà ở khu tập thể bưu điện, chỉ còn lại một mình tôi giữa mười lăm cỗ máy phủ khăn vải xô trắng. Sau khi phụ giúp thầy hoàn thành việc bảo dưỡng máy móc cho các lớp học buổi sáng, tôi được phép ngồi lại trước một cỗ máy số sáu — chiếc máy chạy tương đối ổn định nhất trong góc phòng — để tự học.

Tôi mở tập tài liệu thuật toán in kim mà thầy Dũng cho mượn ra bên cạnh bàn phím. Mép giấy in kim có những lỗ tròn đục lỗ đều đặn đã ố vàng, mực in chỗ đậm chỗ nhạt, nhiều trang bị chuột cắn nham nhở ở góc mép. Đôi bàn tay vốn chỉ quen cầm cán cuốc, kéo rựa phát nương và vần đá hộc giờ đây lóng ngóng đặt lên các phím nhựa lỏng lẻo. Ban đầu, tôi gõ mổ cò từng ngón một, mắt đảo liên hồi giữa trang giấy cáu bẩn và bàn phím. Nhưng chỉ sau hai tuần, nhờ sự tập trung cao độ, các ngón tay tôi bắt đầu nhớ vị trí của từng ký tự. Tôi gõ lại từng đoạn mã Turbo Pascal mẫu: từ những thuật toán sắp xếp nổi bọt (Bubble Sort), tìm kiếm nhị phân (Binary Search), cho đến các bài toán đệ quy tính dãy Fibonacci.

“Em có năng khiếu gõ phím rất nhanh đấy,” thầy Dũng nhận xét một chiều khi đứng dựa lưng vào mép bàn phía sau tôi, miệng ngậm mẩu tăm tre. “Các ngón tay không bị cứng. Nhưng lập trình không phải là thi gõ chữ. Cái đầu phải chạy trước khi ngón tay chạm vào phím. Em viết mã mà chưa hình dung được cấu trúc dữ liệu trong bộ nhớ thì cũng giống như vác cuốc lên nương mà không biết ranh đất ở đâu.”

Thầy kéo chiếc bảng con treo trên tường xuống, dùng mẩu phấn cụt vẽ ra sơ đồ cây nhị phân và mảng một chiều:

“Nhìn vào đây. Máy tính là một công cụ ngu ngốc nhưng cực kỳ trung thành. Nó chỉ làm chính xác những gì em bảo nó làm, không hơn không kém một bước. Nếu chương trình chạy sai, chín mươi chín phần trăm là do logic của người viết bị thủng, đừng bao giờ đổ lỗi cho cái máy.”

Tôi gật đầu, chăm chú nhìn từng nét phấn của thầy. Những lời chỉ dẫn thực tế, không hoa mỹ ấy như những nhát búa đập vỡ lớp sương mù trong đầu tôi. Đêm đó, trong gian phòng máy im lìm chỉ còn tiếng quạt gió quay ro ro và ánh sáng xanh lơ từ màn hình CRT hắt lên gương mặt hốc hác, tôi ngồi gõ đi gõ lại một thuật toán tìm đường đi ngắn nhất. Mỗi lần con trỏ nhấp nháy trên nền màn hình đen tuyền hiện ra chữ `Compilation Successful`, một cảm giác thỏa mãn kỳ lạ lại dâng lên trong lồng ngực — thứ cảm giác tự do và quyền lực mà một đứa trẻ nghèo đói chưa từng được nếm trải trong đời thực. Ở đây, trước màn hình này, xuất thân khốn khó của tôi không thể ngăn cản một dòng lệnh chạy đúng. Không có định kiến, không có sự khinh khi, chỉ có đúng và sai, sự chặt chẽ của logic và sự chuẩn xác của toán học.

***

Cũng từ căn phòng máy cũ kỹ này, tôi bắt đầu tìm được cách kiếm ra những đồng tiền đầu tiên bằng chính kỹ năng của mình, dù chúng ít ỏi và nhọc nhằn đến cay đắng.

Trường phổ thông huyện thời điểm đó bắt đầu triển khai việc số hóa các văn bản hành chính, đề thi và giáo án của giáo viên, nhưng phần lớn các thầy cô lớn tuổi đều không thạo máy tính, tốc độ gõ văn bản rất chậm. Thầy Dũng kín đáo nhận một số tập tài liệu giáo án viết tay từ các tổ chuyên môn, rồi gọi tôi lại:

“Thầy Toán bên trường cấp hai thị trấn gửi tập đề cương ôn tập vào lớp 10, dài khoảng ba mươi trang viết tay. Thầy ấy cần đánh máy lại bằng Microsoft Word rồi căn chỉnh lề lối để in ấn. Công đánh máy và chỉnh sửa công thức Toán là một nghìn đồng một trang. Em có nhận làm không? Làm cẩn thận, không được để sai dấu hay sót ký hiệu đại số.”

“Dạ, em nhận! Em làm được ạ!” Tôi trả lời ngay lập tức, tim đập thình thịch vì xúc động.

Một nghìn đồng một trang. Ba mươi trang là ba mươi nghìn đồng — một số tiền đối với tôi lúc bấy giờ là một gia tài nhỏ, tương đương với tiền ăn cả chục bữa cơm đĩa bình dân ngoài chợ.

Từ hôm đó, ngoài giờ học và phụ bảo dưỡng máy, tôi dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi vào buổi tối để cặm cụi gõ văn bản. Chữ viết tay của thầy giáo nhiều đoạn nguệch ngoạc như gà bới, lại chằng chịt các công thức căn bậc hai, phân số và tích phân phức tạp trong phần mềm Equation Editor 3.0. Chuột bi của máy số sáu bị mòn bánh răng, con trỏ giật cục từng đoạn trên màn hình, khiến việc căn chỉnh từng dấu phân số hay ký hiệu tích phân mất rất nhiều công sức. Mắt tôi cay xè vì nhìn chằm chằm vào màn hình bóng hình lồi lấp lóa sóng quét; các đầu ngón tay tê dại vì gõ liên tục trên bàn phím cơ cũ nặng trịch. Nhưng tôi không dám lơ là một giây. Tôi kiểm tra từng dấu chấm phẩy, từng chỉ số dưới và số mũ trên từng dòng lệnh, đối chiếu cẩn thận từng trang giấy trước khi lưu vào chiếc đĩa mềm 1.44MB mà thầy Dũng đưa cho.

Ngoài việc chép tài liệu, tôi còn được thầy Dũng cho phép xử lý một số lỗi vặt của các máy tính trong trường và của một vài giáo viên mang máy cá nhân đến nhờ xem giúp: từ việc làm sạch bụi khe cắm chuột, cắm lại dây cáp ổ cứng IDE bị lỏng, cài đặt lại trình điều khiển âm thanh, cho đến việc dùng đĩa khởi động mềm quét sạch các loại virus lây qua cổng USB đời đầu như con sasser hay autorun. Có những trưa thứ Bảy, thay vì được nghỉ ngơi đôi chút trước khi cuốc bộ về bản, tôi ngồi còng lưng bên những thùng máy tháo tung, lau chùi từng chiếc cánh quạt bám mỡ đen sì, bàn tay cáu bẩn vì mạt sắt và dầu máy.

Mỗi lần hoàn thành một việc như thế, thầy Dũng lại kín đáo nhét vào túi áo ngực tôi một vài tờ tiền lẻ: khi thì năm nghìn, khi thì mười nghìn đồng, kèm theo cái vỗ vai ngắn gọn:

“Tiền công của em đây. Cầm lấy mà mua đồ dùng học tập, đừng có để ai nhìn thấy rồi lại rắc rối.”

Những đồng tiền cotton cũ kỹ, nhàu nát và ám mùi mồ hôi ấy không bao giờ đủ để tôi tự trang trải mọi chi phí sinh hoạt đắt đỏ ở thị trấn, càng không thể giúp tôi rũ bỏ được món nợ nần ma chay của cha mẹ vẫn đang treo lơ lửng trên đầu ở bản Nà Ban. Nhưng chúng mang lại cho tôi một sự cứu rỗi cụ thể và vô giá: tôi không còn phải nhặt từng mẩu bút chì cụt ngoài bãi rác lớp học, không phải nơm nớp lo sợ khi cuốn vở ghi bài sắp hết trang trắng cuối cùng.

Tôi dùng số tiền kiếm được để mua hai cuốn vở kẻ ngang loại giấy Bãi Bằng dày dặn, ba chiếc ngòi bút bi Bến Nghé màu xanh và một chiếc thước kẻ nhựa hai mươi phân. Cầm những món đồ dùng học tập mới tinh trên tay — những thứ do chính sức lao động và sự hiểu biết kỹ thuật của mình làm ra — tôi cẩn thận bọc chúng vào giấy báo cũ rồi cất sâu vào đáy chiếc túi vải dù. Giữa những tháng ngày dầm mưa dãi nắng và ăn nhờ ở đậu, đó là lần đầu tiên tôi cảm thấy mình không hoàn toàn là một kẻ ăn bám vô dụng sống dựa vào lòng thương hại của người khác.

Nhưng việc có được vài đồng bạc lẻ từ đôi tay mình không làm cái đói vơi bớt; trái lại, nó nhen lên trong tôi một nỗi sợ hãi mới: sợ một ngày nào đó máy móc không còn hỏng để sửa, sợ không có tiền mua lại tập giấy đã viết kín. Để giữ được số tiền còm cõi ấy cho sách vở và phòng thân, tôi bắt đầu cắt giảm thứ duy nhất mình có toàn quyền định đoạt: phần ăn của chính mình.

Mỗi bữa trưa ở gian kho nhà bà giáo hưu trí, khi mùi cơm gạo mới từ gian bếp chính bay qua khe liếp ngào ngạt, tôi chỉ bẻ nửa củ khoai luộc mang từ bản ra, hoặc nhai vụn nắm cơm nguội đã khô cứng quắt queo. Hạt gạo độn ngô để qua hai ngày khô khốc, ráp như sỏi trong miệng, nuốt nghẹn nơi cổ họng. Khi bà cụ ái ngại mang sang cho một bát canh rau tập tàng hay mẩu cá mắm kho mặn, tôi luôn lắc đầu, mỉm cười thật tươi: “Dạ, cháu vừa ăn no ở trường rồi bác ạ.” Lời nói dối trơn tru ấy che giấu một dạ dày đang quặn thắt vì dịch vị chua loét. Sự thiếu ăn kéo dài bắt đầu gặm nhấm cơ thể tôi một cách tàn nhẫn. Đầu óc tôi trở nên nặng trịch, phản xạ chậm chạp khác thường; đôi bàn tay cầm bút nhiều lúc run rẩy không sao kìm được, các khớp gối rã rời như sắp sụp xuống sau mỗi bậc cầu thang trường huyện. Đáng sợ nhất là những buổi chiều ngồi giải toán, những con số, những dấu ngoặc và cấu trúc vòng lặp lồng nhau trên trang giấy bỗng dưng nhòe nhoẹt, trôi dạt trước mắt tôi như những bóng ma lập lờ dưới lòng suối.

Trong những ngày tháng chông chênh ấy, Lan chính là sợi dây neo duy nhất nối tôi với mặt đất. Cứ mỗi độ phiên chợ huyện họp vào sáng thứ Năm, hoặc qua những người đi lấy muối ghé ngang bản, Lan luôn tìm cách gửi tin ra cho tôi. Khi thì là một mẩu giấy nhỏ xé từ bao xi măng được gấp tư, chữ viết nguệch ngoạc bằng bút chì: *“Anh Nam, thứ Bảy này bác Lương bảo lên đồi Pha Luông cuốc đất tra hạt, anh nhớ về sớm không bác lại mắng.”* Khi thì là một gói xôi nếp nương nhỏ xíu bọc trong lá dong rừng còn thơm mùi khói bếp, kèm theo lời dặn dò rành rọt từng ngày bác Lương yêu cầu tôi phải có mặt trên nương để tránh được những trận thịnh nộ của bác. Nhưng đằng sau những lời nhắn ngắn ngủi ấy, Lan luôn cố tình giấu bớt những tiếng thở dài nặng nhọc của mẹ, giấu những lời cằn nhằn gay gắt của bác Lương mỗi khi nhìn về mảnh nương thiếu vắng lao động chính. Em sợ tôi chỉ vì một thoáng thương xót gia đình hay sợ hãi nợ nần mà buông tay áo, bỏ dở con chữ để quay về vĩnh viễn với chiếc cán cuốc.

Nhờ chắt chiu từng mẩu thời gian vụn vặt — nhẩm lại công thức lúc bước từng bước dốc, ôn thuật toán Pascal dưới ánh đèn dầu hạt đỗ ở góc kho — tôi vẫn giữ được điểm số đứng đầu lớp ở môn Toán và Tin học. Nhưng thể xác con người không phải là một cỗ máy vô tận. Vào một chiều thứ Hai mùa đông buốt giá, sau khi cuốc bộ mười cây số đường rừng đầy bùn nhão từ bản ra trường huyện dưới cơn mưa phùn căm căm, bước chân tôi hẫng đi khi vừa chạm tới chân cầu thang dãy lớp học. Đất trời trước mắt tôi chao đảo, một màu xám đục ập đến, và tôi ngã khuỵu xuống nền gạch trơ mốc, trán va vào cạnh tường lạnh ngắt.

Khi tôi tỉnh lại trong phòng y tế của trường, cô Hạnh đang ngồi bên mép giường, bàn tay ấm áp của cô đặt lên trán tôi. Bát cháo hoa bốc khói nghi ngút trên chiếc bàn gỗ bên cạnh là thứ đầu tiên tôi ngửi thấy. Mùi gạo tẻ thơm dịu, quyện với chút hành hoa thái mỏng xộc thẳng vào khứu giác, khiến bụng tôi réo lên một tiếng đau đớn. Cô Hạnh nhìn sâu vào đôi hốc mắt sâu hoắm, gầy trơ xương của tôi, ánh mắt không còn là sự nghiêm khắc thường ngày mà đọng lại một nỗi xót xa tê tái.

“Em đang dùng chính xương thịt của mình để bù vào những khoản tiền em không có, phải không Nam?” Giọng cô nghẹn lại.

Tôi bặm môi, không dám nhìn thẳng vào mắt cô. Bàn tay chai sần của tôi bấu chặt vào mép ga giường trắng đã ngả vàng của phòng y tế.

Cô Hạnh thở dài, giọng nói trở lại vẻ trầm tĩnh của một người hiểu rõ giới hạn của thực tại:

“Cô không thể cho em tiền tùy ý. Đồng lương giáo viên miền núi của cô có hạn, và cô biết nếu cô đưa tiền, em cũng sẽ không chịu nhận vì lòng tự trọng của mình. Nhưng em phải hứa với cô một điều: từ nay, ngày nào không đủ ăn, em phải nói thật với cô. Tuyệt đối không được nhịn đói để mua giấy mực. Em chết gục ra đấy thì con chữ của mẹ em sống với ai?”

Tôi nuốt nước mắt, khẽ gật đầu. Cô Hạnh với tay lấy tập tài liệu để trên bàn, rút ra một tờ công văn dấu đỏ đưa cho tôi:

“Sắp tới có kỳ thi chọn học sinh giỏi Tin học cấp cao hơn dành cho khối phổ thông toàn tỉnh. Nhà trường đang lập danh sách bồi dưỡng. Thầy Dũng và cô đều muốn đưa em vào đội tuyển. Năng lực thuật toán của em hoàn toàn đủ sức cạnh tranh, nếu em chuẩn bị thật nghiêm túc từ bây giờ.”

Tôi run run cầm lấy tờ thông báo. Những dòng chữ in rõ ràng về cơ hội xét tuyển thẳng, về các suất học bổng lớn hơn mở ra trước mắt tôi như một cánh cửa sổ sáng lòa nhìn xuống vùng đồng bằng xa xôi. Nhưng ánh mắt tôi lập tức dừng lại ở góc dưới của trang giấy. Lệ phí dự thi tập trung tại thị xã, chi phí đi lại trên những chuyến xe khách chạy xuyên đèo, cùng tiền ăn ở trọ trong suốt một tuần lễ bồi dưỡng — tất cả cộng lại thành một con số khổng lồ, sừng sững chắn ngang tầm mắt tôi.

Một kỳ thi Tin học cấp cao hơn mở ra cơ hội, đồng thời đòi hỏi khoản chi Nam không có. Đứng trước tờ giấy ấy, tôi cay đắng hiểu rằng có những bài toán nghiệt ngã của số phận mà không một thuật toán tối ưu hay dòng lệnh hoàn hảo nào có thể giải nổi.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories