Hoa Ban Không TànCh.24 / 38
Chapter 24

Qua dốc đến trường huyện

Tôi không nhớ rõ đề thi có những câu gì, chỉ nhớ sáng đi thi tôi đã gùi nước xong từ khi sương còn mắc trên ngọn cỏ, sợ nếu để lại một việc nào, sự cho phép mong manh ấy sẽ bị rút lại.

Những ngày trước kỳ thi tuyển, thời gian trong căn nhà gỗ lợp fibro xi măng của bác Lương không tính bằng giờ khắc trên mặt đồng hồ mà tính bằng từng gánh nước trĩu vai, từng vết bùn bám chặt trên ống quần cộc và độ vơi của chum ngô góc bếp. Bản thỏa thuận mà cô Hạnh giành giật được từ chiếc bút bi mực xanh trước hiên nhà hôm ấy không mang lại cho tôi bất kỳ sự ưu ái nào. Ngược lại, nó dựng lên một cái giá sòng phẳng đến tàn nhẫn: tôi muốn chạm vào con chữ thì phải trả lại bằng mồ hôi nguyên vẹn, không được thiếu một giọt.

Mỗi ngày của tôi bắt đầu từ bốn giờ sáng, khi đỉnh Pha Luông còn chìm trong màn sương buốt lạnh và tiếng gà gáy đầu tiên chưa kịp rách toạc khoảng trời tối thẫm. Tôi lần mò thức dậy trong gian chái phụ ẩm thấp tựa lưng vào vách đá rỉ nước. Khớp xương bánh chè kêu lạo xạo sau những đêm nằm co quắp trên chiếc chõng tre ọp ẹp gãy nan. Tôi quàng đôi thùng gỗ lên vai, lần theo con đường đất trơn nhẫy xuống mó sâu múc nước.

Con đường mòn dẫn xuống mó dốc đứng, lởm chởm những gốc cây mục và đá tai mèo trồi lên nhọn hoắt. Mùa đông vùng cao, đất bùn quánh lại như mỡ gà, bám chặt lấy kẽ ngón chân buốt cóng. Mỗi lần hạ chiếc gàu tôn xuống lòng mó đá, tiếng nước va vào thành kim loại nghe lạnh ngắt, khô khốc. Nước mó rỉ ra từ kẽ núi đá vôi, trong veo nhưng lạnh như lưỡi dao cạo cứa qua da thịt. Khi tôi nhấc đôi thùng đầy ắp đặt lên vai, sức nặng của mấy chục lít nước dồn ép lên hai bả vai gầy rộc, đè miết vào lớp vải áo chàm vá víu khiến xương đòn như muốn nứt toác. Tôi cắn chặt môi, mắt gườm gườm nhìn vào khoảng tối lờ mờ dưới chân, từng bước nhích ngược lên dốc. Chỉ cần một bước hụt chân, nước sánh ra ngoài là phải quay lại từ đầu; mà tệ hơn, tiếng thùng đập vào mỏm đá có thể đánh thức gian nhà trong sớm hơn thường lệ.

Hai chiếc chum sành đại nơi góc hiên phải được đổ đầy tràn trước khi bác dâu Sương trở mình dậy nhóm bếp. Tôi trút nước vào chum, tiếng nước ùng ục đổ xuống đáy sành lạnh lẽo vang lên từng chặp dồn dập. Đổ đầy nước xong, tôi không kịp xoa hai bàn tay đã tê dại, vội vã cầm chiếc liềm cùn ra góc vườn chuối sau nhà. Những tàu chuối rừng sũng nước sương đêm quẹt vào mặt buốt rát. Tôi chặt ngang những thân chuối to bằng bắp đùi, bưng vào góc bếp rồi ngồi thụp xuống băm thành từng lát mỏng tanh. Nhát liềm bập đều đặn xuống khúc gỗ kê, nhựa chuối chát xỉn dính đen kịt nơi đầu móng tay, quyện chặt với cám ngô đỏ quạch để làm bữa sáng cho đàn lợn đói đang ủn ỉn húc mõm vào thành chuồng.

Xong việc băm chuối, tôi xách chiếc xẻng sắt cùn lưỡi và chiếc sọt tre thủng đáy bước sang chuồng trâu. Chuồng trâu lợp gianh nát, gió lùa tứ phía, mặt đất ngập ngụa bùn nhão lẫn phân trâu ướt sũng sau một đêm dài. Tôi xúc từng xẻng phân nặng trịch, đổ vào sọt rồi còng lưng gùi ra mép bờ nương ngô ủ mục. Bác Lương thường thức dậy đúng vào lúc tàn thuốc lào đầu tiên đỏ lên trong bóng tối mờ đục của gian nhà ngoài. Tiếng rít điếu cày vang lên giòn tan, sau đó là tiếng khạc nhổ khô khốc quen thuộc. Bác bước ra ngưỡng cửa, đứng im lìm như một thân cây khô cằn cỗi, hai mắt kèm nhem liếc qua hai miệng chum sành ăm ắp nước ngoài hiên rồi mới đảo mắt nhìn sang góc chuồng trâu nơi tôi đang lúi húi cào dọn. Bác không nói một lời khen ngợi hay thúc giục, nhưng cái im lặng sắt đá ấy như một sợi dây thừng vô hình thít chặt lấy cổ họng tôi: chỉ cần tôi bỏ sót một xô nước, làm rớt một mẩu chuối hay để chuồng trâu hôi hám bốc mùi vào nhà, chiếc rựa rèn cắm ngoài cột sân sẽ lập tức chặt đứt con đường xuống huyện.

Những buổi trưa ở lại trường bản để cô Hạnh kèm thêm hay những lúc nấn ná ở kho nông cụ đọc tài liệu của thầy Dũng đều phải được đánh đổi bằng một cái giá khắc nghiệt. Tan buổi học ở trường, khi đám bạn cùng lứa tản mát về các chái nhà dưới chân thung lũng để ăn bát cơm ngô nguội, tôi cắm đầu chạy thục mạng sáu cây số đường rừng trở về trước khi mặt trời khuất núi. Đôi chân trần đạp lên sỏi nhọn, lồng ngực bỏng rát như có than hồng thiêu đốt. Nhưng về đến chân cầu thang gỗ, tôi tuyệt nhiên không được phép ngồi nghỉ hay ngả lưng dù chỉ một chốc. Tôi vác chiếc cuốc rèn nặng trịch leo thẳng lên khoảnh nương ngô Pha Luông chênh vênh trên triền đá.

Mảnh nương ấy cằn cỗi đến mức đá nhiều hơn đất. Mỗi nhát cuốc bổ xuống là một lần tia lửa tóe ra ken két kèm theo chấn động thấu tận khớp cổ tay. Tôi cắm cúi cuốc lật từng thớ đất đỏ quạch, nhặt từng hòn đá hộc ném vào bờ ranh, mồ hôi vã ra ướt đẫm manh áo rách dù gió mùa đông bắc đang thổi rát mặt. Tôi làm việc điên cuồng như thể đang chạy đua với bóng tối đang từ từ trườn xuống từ đỉnh núi, cố làm cho xong diện tích của buổi chiều để bù cho số giờ tôi vắng mặt buổi trưa.

Bàn tay tôi chai sần, những vết nứt nẻ rớm máu vì lạnh đóng vảy đen sì, mỗi lần nắm chặt cán cuốc lại nứt toác rỉ máu tươi. Đêm đến, khi cả nhà bác Lương đã chìm vào giấc ngủ ngáy pho pho sau bữa cơm độn sắn củ, tôi mới dám lần mò chui vào góc chái phụ. Dưới ánh đèn dầu hạt đỗ leo lét được che chắn cẩn thận bằng mấy mảnh ván nẹp để ánh sáng không lọt qua khe liếp làm kinh động gian nhà trong, tôi giở từng trang tài liệu bằng những ngón tay run rẩy, cứng đờ vì mỏi. Mùi dầu hỏa khét lẹt quyện với mùi bùn nương tanh nồng và mùi rơm mục bốc lên từ chõng tre tạo thành một thứ không khí đặc quánh, ngột ngạt. Mắt tôi hoa lên, đầu óc nặng trĩu sau một ngày lao động khổ sai, nhưng tôi chưa từng rời mắt khỏi những con số và những ký hiệu hình học. Tôi hiểu rất rõ rằng nếu mình gục ngã vì kiệt sức, cái nghèo đói truyền kiếp của bản Nà Ban sẽ chôn vùi tôi vĩnh viễn trong lòng nó.

***

“Nam, dừng lại ở bước biến đổi đó. Em nói cho cô nghe, tại sao từ dòng thứ hai em lại chuyển vế mà không đổi dấu của toàn bộ biểu thức trong ngoặc?”

Tiếng cô Hạnh gõ nhẹ đầu cán bút bi xuống mặt bàn gỗ tạp kéo tôi giật mình thoát khỏi cơn mụ mẫm.

Căn phòng học mượn tạm của lớp xóa mù chữ buổi trưa vắng ngắt, chỉ có tiếng gió mùa xao xác rít qua những khe vách nứa. Gió mùa đông lùa qua những chấn song gỗ không có cửa kính, thổi tung tà áo len mỏng màu hạt dẻ đã sờn rách ở cùi chỏ của cô. Trên chiếc bàn mộc mấp mô loang lổ vết mực tím, tập giấy bãi bằng vàng ố của tôi nằm cạnh xấp tài liệu đóng chỉ bao tải do chính tay cô chép cẩn thận từng đề thi qua các năm.

Tôi nhìn chằm chằm vào biểu thức toán học còn dang dở trên trang giấy, hai tai nóng bừng lên vì xấu hổ. Các con số như đang nhảy múa trêu ngươi trước mắt. Tôi ấp úng, giọng nghẹn lại:

“Em... em nhẩm thấy nếu đưa dấu trừ vào trong thì số dư sẽ triệt tiêu với vế bên phải, nên em bỏ ngoặc luôn để tính cho nhanh ạ.”

Cô Hạnh không quát tháo, nhưng ánh mắt cô nhìn tôi nghiêm khắc đến mức khiến sống lưng tôi lạnh toát. Cô kéo chiếc ghế gỗ thấp lại gần, đặt ngón tay khẳng khiu lên mép trang vở đang quăn góc:

“Cô biết em nhẩm nhanh. Trực giác của em rất sắc, em nhìn thấy đích đến trước khi người khác kịp đặt bút. Nhưng làm toán không phải là trò nhảy cóc qua bờ suối! Em bỏ qua quy tắc cơ bản chỉ vì muốn có đáp số nhanh, rồi đến khi gặp một bài toán phức tạp hơn, chỉ cần một dấu ngoặc lồng ngoặc vuông là toàn bộ bài giải của em sụp đổ tan tành.”

Cô cầm chiếc bút bi gạch một đường dứt khoát dưới dòng biến đổi sai của tôi. Nét mực đỏ rực lên như một vết cứa trên trang giấy bãi bằng thô ráp:

“Em bị hổng một mảng lớn đại số cơ bản từ học kỳ một năm ngoái. Tại sao? Vì những đợt bác em bắt nghỉ ở nhà thu hoạch sắn, những tuần em phải đi mót củi đổi gạo. Em tự học lỏm, học chắp vá từng mảnh, nghĩ rằng mình chỉ cần nhớ mẹo là bù đắp được phần thiếu. Nhưng cái móng nhà mà dựng trên đá sỏi lỏng lẻo thì chỉ cần một cơn gió bấc là đổ sập. Bây giờ, em cầm phấn lên bảng. Giải lại bài này từ đầu, nói to từng bước suy nghĩ cho cô nghe. Không được nhẩm thầm, không được nhảy cóc một phép tính nào.”

Tôi đứng dậy, đôi bàn chân trần lạnh cóng ngập ngừng bước lên bục giảng trét đất nện gồ ghề. Cầm mẩu phấn ngắn chỉ bằng đốt ngón tay, tôi hít một hơi thật sâu để nén lồng ngực đang đập dồn dập, rồi bắt đầu viết từng ký tự trắng xóa lên tấm bảng gỗ đen nứt nẻ. Tấm bảng này đã cũ mòn, nhiều chỗ tróc sơn để lộ thớ gỗ thông gồ ghề khiến phấn viết lên cứ trượt đi sột soạt.

“Đầu tiên... ta giữ nguyên vế trái, phá ngoặc đơn bằng cách đổi dấu tất cả các hạng tử bên trong...” Tôi vừa viết vừa run giọng nói, từng con chữ hiện ra kèm theo tiếng phấn rít kèn kẹt trên nền gỗ ráp.

“Vì sao phải đổi dấu?” Giọng cô Hạnh vang lên từ cuối lớp, lạnh lùng, dứt khoát và chuẩn xác như một chiếc thước kẻ thợ mộc.

“Dạ, vì phía trước ngoặc có dấu trừ, bản chất là nhân toàn bộ biểu thức với âm một.”

“Tốt. Tiếp tục. Đưa hạng tử tự do sang vế nào?”

“Dạ, chuyển sang vế phải đồng thời đổi dấu từ dương sang âm, giữ ẩn số ở vế trái để tìm mẫu số chung.”

Suốt hai tiếng đồng hồ sau đó, cô Hạnh không để tôi ngồi yên một phút nào. Cô bóc trần từng lỗ hổng trong kiến thức của tôi mà bấy lâu nay tôi vẫn dùng sự nhanh nhạy bản năng để khỏa lấp: những định lý hình học tôi chỉ nhớ máng máng kết quả mà quên mất điều kiện giả thiết, những phép phân tích đa thức thành nhân tử mà tôi chỉ làm theo linh tính chứ không nắm vững bản chất biến đổi đồng nhất. Mỗi lần tôi định viết lướt qua một bước trung gian, cô lại chặn lại ngay tức khắc, bắt tôi hạ tay xuống, quay mặt lại giải thích tường tận nguyên lý đứng sau từng dấu bằng.

Căn phòng học lạnh ngắt nhưng trán tôi lấm tấm mồ hôi. Đến khi mẩu phấn mòn vẹt chạm vào đầu ngón tay đau nhói, tôi mới thở phào nhận ra bài toán dài dằng dặc đã được giải quyết một cách gãy gọn, mạch lạc và không thể bắt bẻ ở bất cứ điểm nào. Trên tấm bảng đen xước xát, trật tự của những con số hiện ra sáng rõ như những bậc thang đá vững chãi được xếp ngay ngắn bên sườn dốc hiểm trở. Không còn sự may rủi, không còn sự chắp vá lừa mị.

Cô Hạnh nhìn lên bảng, nét mặt căng thẳng dần giãn ra, để lộ sự mệt mỏi trũng sâu nơi khóe mắt thâm quầng. Cô với tay lấy ấm trà vối nguội ngắt để trên bệ cửa sổ, rót ra chiếc cốc nhựa cáu bẩn màu xanh xỉn rồi đẩy về phía tôi:

“Uống ngụm nước đi rồi ngồi xuống.”

Tôi đón lấy cốc nước bằng cả hai tay, lòng bàn tay phủ đầy bụi phấn trắng xóa. Nước vối đắng chát đọng lại nơi cổ họng một vị ngọt thanh mỏng manh nhưng bền bỉ.

“Em có năng lực, Nam ạ,” cô Hạnh nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng cô trầm và ấm hơn, không còn cái gay gắt lúc nãy. “Cô nói điều này không phải để em tự phụ, mà để em hiểu rằng em không hề thua kém bất kỳ đứa trẻ nào dưới xuôi hay ngoài thị trấn. Nhưng hoàn cảnh đã tước đi của em sự liền mạch trong học tập. Người ta được đi từng bước thong dong, có người đưa rước, có cơm bưng nước rót; còn em thì phải vừa chạy thục mạng vừa vá víu chiếc áo rách của mình. Thi vào trường phổ thông chất lượng cao của huyện không giống như bài kiểm tra trên bản Nà Ban này. Đề thi ở đó do các thầy cô dưới tỉnh về ra, rất chặt chẽ và không có chỗ cho sự tùy tiện. Nếu em không chịu ép mình vào kỷ luật của từng dòng suy nghĩ, em sẽ tự đánh mất cơ hội duy nhất mà mình vừa giành được.”

Tôi cúi đầu, siết chặt chiếc cốc nhựa trong lòng bàn tay, cảm nhận từng lời của cô như ngấm sâu vào da thịt:

“Dạ, em nhớ rồi cô. Em sẽ không làm tắt nữa.”

“Nhớ lấy lời đó. Giờ thì thu dọn sách vở rồi chạy sang kho nông cụ xem thầy Dũng có việc gì dặn không. Rồi về bản cho kịp trời tối, đừng để bác em có cớ gây khó dễ.”

Tôi vội vã gom tập giấy bọc mép vở vào chiếc bao tải dứa đã giặt sạch, cúi đầu chào cô Hạnh rồi lao vụt ra ngoài hiên lớp. Gió chiều đã bắt đầu thổi mạnh qua những rặng tre già ven suối, mang theo hơi sương lạnh ngắt từ thung lũng dâng lên mịt mùng.

***

Ở gian kho nông cụ cũ phía sau trường bản—nơi thầy Lê Quang Dũng đặt năm cỗ máy tính thanh lý chắp vá gom từ phòng giáo dục huyện về—mùi dầu máy cũ, mùi nhựa cháy khét lẹt và mùi ẩm mốc của tường vôi rữa nát hòa quyện thành một thứ không khí quen thuộc đến kỳ lạ. Tiếng quạt nguồn của chiếc máy tính số hai kêu rè rè, ngắt quãng như tiếng ve sầu mắc kẹt trong hốc cây khô mục.

Thầy Dũng đang ngồi cúi gập người bên chiếc bàn gỗ ọp ẹp ghép từ những thanh gỗ xẻ thừa, lưng áo khoác gió màu xanh thẫm bám đầy bụi đất đỏ từ những chuyến xe Minsk chạy đường rừng xuyên đèo. Nghe tiếng bước chân tôi ngập ngừng trước ngạch cửa, thầy không quay lại, chỉ gõ lách cách mấy phím trên chiếc bàn phím ố vàng, các phím bấm đã mờ hết ký tự, rồi nói vọng ra:

“Nam đấy à? Vào đi, khép cái cánh cửa liếp lại kẻo gió thốc bụi vào ổ đĩa mềm.”

Tôi dạ một tiếng, khẽ khàng kéo cánh cửa gỗ đóng lại rồi rón rén bước tới đứng cạnh mép bàn. Trên màn hình Samsung CRT lồi lõm, những dòng chữ trắng trên nền xanh đậm của môi trường Turbo Pascal đang nhấp nháy một con trỏ đơn độc, kiên nhẫn và lạnh lùng.

Thầy Dũng vươn vai một cái thật dài, các khớp xương kêu răng rắc, rồi với tay tắt công tắc nguồn trên thùng máy sắt rỉ sét. Tiếng quạt gió lịm dần rồi tắt hẳn, để lại một khoảng lặng buốt giá trong căn kho chật hẹp. Thầy kéo chiếc hòm đạn gỗ cũ bọc sắt ra làm ghế, chỉ tay bảo tôi ngồi xuống, rồi từ dưới ngăn kéo bàn lôi ra một tập tài liệu dày cộp.

Đó là những trang giấy in bằng máy in kim cũ kỹ, mép giấy có những hàng lỗ răng cưa đều tăm tắp đã bị xé nham nhở, mực in chỗ đậm chỗ nhạt do ruy-băng đã cạn mực. Nhiều trang được bọc cẩn thận bằng bìa lịch năm cũ in hình tranh Tết và buộc lại bằng một sợi dây gai mỏng đã sờn mép.

“Cái này là tài liệu thuật toán và cấu trúc dữ liệu cơ bản từ những đợt tập huấn tin học của Sở Giáo dục mấy năm trước,” thầy Dũng đưa xấp giấy sang cho tôi, giọng điềm tĩnh nhưng dứt khoát. “Thầy đã lọc ra những phần liên quan đến tư duy logic và các bài toán mẫu bằng Pascal. Thầy cho em mượn mang về đọc trong mấy ngày ôn thi này.”

Tôi đón lấy tập tài liệu bằng cả hai tay, lòng bàn tay nóng ran lên vì xúc động. Những tờ giấy sột soạt dưới ngón tay tôi như chứa đựng một kho tàng bí mật mà một đứa trẻ chăn trâu ở bản Nà Ban chưa bao giờ dám mơ tới. Nhưng khi tôi vừa định mở miệng nói lời cảm ơn, thầy Dũng đã giơ một ngón tay gầy guộc lên chặn ngang lại.

Ánh mắt thầy nhìn tôi xuyên qua cặp kính gọng nhựa xước xát, nghiêm nghị và sâu hoắm như đáy vực:

“Cầm lấy tài liệu, nhưng trước khi mở trang đầu tiên ra, thầy muốn em nhắc lại cho thầy nghe bài học hôm em cài lại máy cho cô Hạnh.”

Lồng ngực tôi thắt lại, cảm giác tội lỗi và ký ức kinh hoàng của buổi chiều hôm ấy lập tức dội về như một cơn ác mộng: tiếng quạt máy gầm rú trong gian kho, màn hình xanh hiện lên dòng chữ định dạng ổ đĩa tàn nhẫn, toàn bộ danh sách học sinh nghèo xin miễn giảm học phí của cả xã bị xóa sạch trong chớp mắt chỉ vì sự tự mãn, hấp tấp và muốn chứng tỏ mình của chính tôi. Và sau đó là hình ảnh cô Hạnh phải chong ngọn đèn dầu thức trắng hai đêm liền, đôi mắt đỏ hoe cặm cụi chép lại từng cái tên trên những mảnh giấy nháp nát bươm, rách nát gom nhặt từ các thôn bản xa xôi.

“Dạ...” Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt, giọng nghẹn lại nơi cổ họng: “Thưa thầy... năm nguyên tắc của người làm thợ ạ: hỏi trước khi làm, kiểm tra hiện trạng dữ liệu, luôn tìm cách sao lưu trước khi can thiệp, ghi chép từng bước thao tác, và chỉ thay đổi hệ thống khi hiểu rõ hậu quả.”

Thầy Dũng gật đầu rất chậm, nhưng ánh mắt nghiêm khắc vẫn không rời khỏi khuôn mặt tôi:

“Tốt, em thuộc lòng từng chữ. Nhưng thuộc bài và làm được là hai việc cách nhau một trời một vực. Nam này, thầy nhìn thấy ở em cái tố chất mà không phải đứa trẻ nào cũng có: em thông minh, em nhạy với máy móc, em nhìn ra logic của vấn đề rất nhanh. Nhưng chính cái nhanh nhạy ấy là thứ nguy hiểm nhất nếu nó không đi kèm với sự cẩn trọng.”

Thầy vỗ tay thật mạnh lên nắp thùng sắt của chiếc máy tính cũ, kim loại phát ra một tiếng kêu đanh gọn, lạnh ngắt:

“Tài năng mà không có kỷ luật thì chỉ là thứ dao hai lưỡi tự cứa vào tay mình. Em bước chân vào phòng thi hay sau này bước chân vào bất kỳ con đường kỹ thuật nào cũng vậy. Một dòng lệnh sai, một thao tác cẩu thả không chỉ phá hỏng một cỗ máy, mà nó có thể cướp đi công sức của bao nhiêu con người, cướp đi cả sự tin cậy mà người khác dành cho em. Con đường đi từ bản Nà Ban này xuống huyện, rồi từ huyện đi xa hơn nữa, không phải là con đường bằng phẳng trải thảm đỏ để em vừa đi vừa huênh hoang. Nó là một con đường rất dài, rất hẹp và đầy vực sâu. Em chỉ có thể đi hết con đường ấy khi em biết sợ, biết ghi chép cẩn thận từng bước chân mình đặt xuống và dám chịu trách nhiệm đến cùng với những gì mình làm ra.”

Tôi ôm chặt tập tài liệu in kim vào lồng ngực. Những góc giấy bìa cứng cấn vào xương sườn nhức nhối nhưng khiến đầu óc tôi tỉnh táo lạ lùng. Tôi nhìn người thầy giáo vùng cao với chiếc áo gió sờn mép, người đã kiên nhẫn chỉ cho tôi từng phím bấm, người không giận dữ ném tôi ra ngoài sau sai lầm ngu ngốc mà bắt tôi học cách chịu trách nhiệm để trở thành một người làm thợ chân chính.

“Em xin ghi nhớ lời thầy dạy,” tôi nói, giọng trầm xuống và chắc nịch. “Em sẽ không bao giờ để sự vội vã làm mất đi lòng tin của thầy và cô nữa.”

Thầy Dũng khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi làm giãn những nếp nhăn nhọc nhằn quanh khóe miệng sạm đen vì gió núi:

“Được rồi. Mang tài liệu về giấu cho kỹ, đừng để bác Lương thấy lại sinh chuyện. Đọc kỹ phần thuật toán tìm kiếm và sắp xếp. Ngày mai thi xong môn Toán chung, buổi chiều có bài kiểm tra tư duy logic và tin học cơ bản, cứ bình tĩnh mà làm. Nhớ lời thầy: chắc chắn từng bước một.”

Tôi cúi đầu chào thầy rồi ôm bọc giấy bước vội ra khỏi căn kho. Ngoài trời, ráng chiều màu huyết dụ đã tắt hẳn sau rặng Pha Luông, nhường chỗ cho bóng tối đặc quánh của núi rừng ùa xuống lạnh ngắt.

***

Đêm trước ngày thi, cả bản Nà Ban chìm trong cái rét buốt xương của đợt gió mùa đông bắc tràn về dữ dội. Gió rít từng cơn điên dại qua khe vách nứa của gian chái phụ, làm ngọn đèn dầu hạt đỗ chao đảo liên hồi, chực tắt rồi lại bùng lên leo lét.

Tôi không tài nào chợp mắt nổi. Dưới đáy chiếc bao tải rác kê đầu giường làm gối, tờ quyết định dự tuyển có con dấu đỏ và chữ ký méo mó của bác Lương được bọc kỹ trong mảnh nilon cũ. Bên cạnh là tập tài liệu in kim của thầy Dũng và cuốn vở chép thơ cũ của mẹ Mai với những dòng chữ mực sim đã phai màu. Tôi nằm co quắp trên giát chõng tre trơ xương, hai bàn tay luồn sâu vào trong ngực áo để tìm chút hơi ấm mỏng manh của cơ thể, lồng ngực đập từng nhịp thình thịch vào xương sườn.

Một nỗi sợ hãi kỳ lạ, lạnh lẽo cứ len lỏi bóp nghẹt lấy tâm can tôi. Tôi khao khát được thi đỗ, khao khát cái khoảnh khắc được xách chiếc túi vải bước qua con dốc ra khỏi thung lũng này hơn bất cứ điều gì trên đời. Nhưng đi liền với niềm hy vọng cháy bỏng ấy là một nỗi sợ hãi tột cùng: Nếu tôi đỗ thì sao?

Nếu tôi đỗ, suất hỗ trợ của Phòng Giáo dục tuy bao cấp tiền ăn ở nội trú và sách vở, nhưng cuộc sống dưới trường huyện vẫn cần tiền mua quần áo, xà phòng, tiền mua từng thếp giấy trắng và cây bút bi. Bác Lương đã tuyên bố dứt khoát trước mặt cô Hạnh rằng gia đình sẽ không chu cấp dù chỉ một xu lẻ, và nếu tôi đi học, nợ nần của bố mẹ tôi để lại vẫn nằm nguyên ở đó, nương ngô Pha Luông vẫn thiếu một lao động chính. Bác dâu Sương sẽ lại phải còng lưng tính toán từng bát gạo giáp hạt, Tùng sẽ lại hằn học nhìn tôi như một kẻ ăn bám trốn tránh trách nhiệm mồ hôi nước mắt. Một kết quả tốt, một cánh cửa mở ra cho riêng tôi, trớ trêu thay, lại có thể trở thành một gánh nặng mới đè nghiến lên đôi vai của những con người đang phải vật lộn sinh tồn trong căn nhà gỗ này.

Tôi sợ hãi tương lai ấy, nhưng tôi càng sợ hơn cái viễn cảnh phải ở lại đây cả đời, chôn vùi tuổi trẻ bên cạnh những gùi phân trâu và chiếc cán cuốc mòn vẹt trên triền đá. Giữa hai nỗi sợ hãi giằng xé dữ dội, tôi chỉ biết cắn chặt môi cho đến khi nếm thấy vị tanh nồng của máu ứa ra nơi khóe miệng.

Khoảng bốn giờ sáng, tôi bật dậy. Toàn thân ê ẩm nhưng đầu óc tỉnh táo đến kỳ lạ. Tôi không chần chừ một giây nào, vơ lấy đôi thùng gỗ lao xuống mó nước trong bóng đêm mịt mùng. Tôi gùi liền sáu chuyến nước, đôi chân chạy thoăn thoắt trên con dốc trơn trượt. Nước được đổ đầy tràn hai chiếc chum sành lớn đến mức nước tràn qua miệng chum chảy lênh láng ra nền đất nện ngoài hiên. Tôi băm chuối đầy ắp chậu nhôm lớn, dùng xẻng quét sạch từng góc chuồng trâu và ôm ba bó củi dẻ gai khô khén xếp ngay ngắn dưới gầm sàn gian bếp. Tôi làm tất cả những việc đó trong sự câm lặng tuyệt đối, vắt kiệt từng chút sức lực cơ bắp cuối cùng, như thể nếu tôi hoàn thành trọn vẹn mọi điều kiện khắc nghiệt mà bác Lương đặt ra trước khi bước chân ra khỏi cổng, sự cho phép mong manh kia sẽ không có cách nào bị tước đoạt lại.

Khi tôi vừa gài lại then tre chuồng trâu và bước lên bậc thềm hiên nhà để rửa sạch lớp bùn đất bám trên bắp chân, một bóng người nhỏ thó lách ra từ mép liếp gian bếp tối om.

Là Lan. Con bé khoác chiếc áo bông cũ trần trám rộng thùng thình của mẹ, mái tóc khét mùi khói bếp bay lòa xòa trước trán. Trong hai bàn tay gầy gò nứt nẻ vì giá rét, con bé ôm khư khư một bọc lá chuối tiêu hơ lửa còn bốc lên làn khói ấm mỏng manh.

“Anh Nam...” Lan thì thào, giọng run lên vì lạnh nhưng đôi mắt đen láy sáng quắc trong bóng mờ. “Anh rửa chân tay nhanh lên rồi đi kẻo muộn. Từ đây ra trường huyện mười cây số đường dốc, đi bộ phải mất hơn hai tiếng đấy.”

Tôi đứng sững lại nhìn em họ mình, hơi thở phả ra thành làn khói trắng. Lan bước tới gần hơn, chìa bọc lá chuối ra nhét thẳng vào ngực áo khoác sờn rách của tôi:

“Cơm nắm mẹ cạo dưới đáy nồi từ đêm qua đấy, có cả muối vừng với mấy miếng tóp mỡ mẹ giấu bố rán lại cho anh. Mẹ bảo... mẹ bảo mang theo mà ăn trưa, đừng có nhịn đói rồi hoa mắt không làm được bài.”

Ngực tôi nhói lên một cái buốt rát, bàng hoàng. Tôi nhìn vào mắt Lan, rồi nhìn qua khe cửa liếp gian nhà trong vẫn còn tối om om. Bác dâu Sương không ra mặt, người phụ nữ sắc sảo, cay nghiệt và hay đay nghiến ấy vẫn nằm im thin thít trong buồng, nhưng bọc cơm nắm còn ấm nóng áp chặt vào ngực tôi là một sự thật không thể chối cãi. Đó là thứ tình thương méo mó, vụng về và đầy sợ hãi của những con người sống dưới đáy cùng của sự nghèo đói—thương nhưng không dám thừa nhận, giúp đỡ nhưng phải giấu giếm sau những lời đay nghiến và những toan tính sinh tồn khốc liệt.

“Bác dâu... có nói gì nữa không?” Tôi nghẹn ngào hỏi, hai tay giữ chặt bọc cơm trước ngực sổ lồng.

Lan lắc đầu nhè nhẹ, hai khóe mắt con bé hoe đỏ:

“Mẹ chỉ dặn ăn cho hết, đừng để thừa hạt nào mang về bố thấy lại mắng. Anh Nam này...” Con bé níu lấy tay áo chàm của tôi, bàn tay nhỏ bé siết chặt lấy lớp vải thô ráp. “Anh phải thi cho đỗ đấy nhé! Đừng sợ bố, cũng đừng lo chuyện việc nương ở nhà. Cuối tuần anh về làm bù cũng được, em với mẹ sẽ đỡ đần thêm cho. Anh phải ra khỏi cái bản này, anh mà ở lại... thì cả đời này nhà mình chẳng ai ngẩng đầu lên được đâu.”

Nước mắt tôi suýt nữa trào ra, sống mũi cay xè, nhưng tôi cố nuốt ngược vào trong lồng ngực. Tôi gật đầu thật mạnh, bàn tay chai sần siết chặt lấy những ngón tay gầy guộc của Lan:

“Anh biết rồi. Em vào nhà đi, trời lạnh lắm.”

Tôi quay người, thắt lại sợi dây gai buộc chiếc túi vải chéo qua ngực, rồi cắm đầu bước nhanh ra ngõ. Con đường đất dốc ngược rời bản Nà Ban chìm trong màn sương mù đặc quánh và cái rét căm căm của buổi sớm vùng cao. Dưới chân tôi, sỏi đá lạo xạo cọ vào lớp da nứt nẻ; trước ngực tôi, bọc cơm nắm của gia đình vẫn tỏa ra một hơi ấm mong manh nhưng dai dẳng vô cùng.

Tôi cất bước đi về phía trường huyện, nơi tương lai của tôi đang nằm chờ trên những tờ giấy thi trắng muốt, mang theo trọn vẹn cả nỗi hy vọng cháy bỏng lẫn gánh nặng nghiệt ngã của kiếp người nghèo khổ.

***

Hai tuần sau buổi thi hôm ấy, kết quả chính thức được niêm yết trên bảng tin bằng gỗ dán trước cổng trường phổ thông huyện.

Hôm có kết quả, tôi xin phép trường bản nghỉ buổi trưa, cuốc bộ mười cây số dưới trời mưa phùn gió bấc ra thị trấn. Đứng trước tấm bảng tin đóng bằng gỗ dán đã mốc meo vì sương muối, tim tôi đập thình thịch như muốn nhảy tung ra khỏi lồng ngực. Tên tôi nằm ở vị trí thứ tư trong danh sách trúng tuyển lớp chuyên toán, kèm theo dòng chữ đỏ viết bằng mực dạ ghi rõ diện chính sách đặc biệt được hưởng suất hỗ trợ của Phòng Giáo dục: miễn giảm học phí toàn phần, cấp sách giáo khoa theo kỳ và một phần gạo ăn sinh hoạt hàng tháng.

Cầm tờ thông báo trúng tuyển có đóng dấu mộc đỏ tươi trên tay, ngón tay tôi run lên bần bật. Cánh cửa bước vào một môi trường học tập rộng lớn hơn đã chính thức mở ra trước mắt tôi, hợp pháp và rõ ràng, không ai có thể tự tiện tước đoạt hay phủ nhận nữa. Thế nhưng, khi cơn xúc động ban đầu lắng xuống, sự thật trần trụi lại lập tức hiện hình: khoản hỗ trợ ấy chỉ giải quyết được một phần bề nổi của việc học. Nó không chi trả tiền dầu đèn, không mua được xà phòng giặt giũ, không bù đắp được chi phí những bữa ăn phụ và những thếp giấy trắng cần thiết khi bước vào những năm tháng học hành dài đằng đẵng phía trước.

Tôi gấp cẩn thận tờ thông báo, nhét sâu vào túi áo ngực rồi lầm lũi đi bộ mười cây số ngược dốc về bản Nà Ban khi trời đã sẩm tối.

Gió rét hun hút thổi qua thung lũng. Khi tôi bước chân vào cổng ngõ, căn nhà gỗ lợp fibro xi măng của bác Lương đã đỏ lửa. Bác Lương ngồi bên bậu cửa gian chính, lưng tựa vào cột gỗ, tay cầm chiếc đóm tre châm vào bát điếu cày. Nghe tiếng bước chân tôi bước lên bậc thềm hiên nhà, bác ngước đôi mắt đùng đục nhìn lên. Bác dâu Sương đang lúi húi đảo nồi cám lợn trong bếp cũng khựng tay lại, lắng tai nghe ngóng.

Tôi đứng im lặng bên bậu cửa, thò tay vào ngực áo rút tờ giấy báo phẳng phiu, hai tay chìa ra trước mặt bác Lương:

“Thưa bác... con có giấy báo trúng tuyển của huyện rồi ạ.”

Khói thuốc lào từ miệng bác Lương phả ra mịt mù, mùi thuốc lào Tiên Lãng nồng nặc, cay xè khóe mắt. Bác Lương giơ bàn tay thô ráp đầy những vết sẹo do dao rựa cứa đón lấy tờ giấy. Dưới ánh lửa bập bùng của bếp củi, bác nheo mắt nhìn con dấu tròn đỏ chót và những dòng chữ in sắc nét. Bác đọc rất chậm, từng chữ một, như thể đang tìm kiếm một kẽ hở nào đó trên mặt giấy.

Khuôn mặt sạm đen vì sương gió của bác không hề giãn ra lấy một nét. Tuyệt nhiên không có một câu chúc mừng, không một tiếng thở phào hay một ánh nhìn tự hào của người ruột thịt. Bác gấp tờ giấy lại theo nếp gấp cũ, đặt cộc cạch xuống mặt phản nứa bên cạnh chiếc điếu cày, rồi ngẩng đầu lên, gằn giọng từng tiếng khô khốc:

“Đỗ rồi thì liệu đường mà tính. Đừng có tưởng xách cái túi vải ra huyện là rũ sạch được nợ nần ở đất này. Thứ Bảy, Chủ nhật nào nương ngô cần người làm cỏ, bẻ bắp hay dọn đất, mày phải tự liệu chân mà cuốc bộ mười cây số về bản trước khi gà gáy. Mày để nương ngô thiếu công, nhà này thiếu ăn, tao chặt đứt chân mày ngay tại ngõ!”

Tôi cúi đầu, vươn tay cầm lại tờ giấy báo trúng tuyển. Mép giấy cứng ráp cấn vào lòng bàn tay tôi nhức nhối. Tôi không hề cảm thấy tủi nhục hay oán hận trước lời đe nẹt ấy. Trái lại, tôi vuốt phẳng từng nếp gấp rồi cất sâu vào túi áo ngực, giữ lấy nó như một người lính vừa đổ máu giành lại được một tấc đất thuộc về mình. Sự khắc nghiệt của bác Lương là một sự thật trần trụi mà tôi đã quen thuộc từ ngày cha mẹ qua đời; điều quan trọng nhất là bác không thể xé rách tờ giấy này nữa, không thể khóa tương lai của tôi vào đáy ngăn kéo gỗ thêm một lần nào nữa.

Sáng hôm sau, cô Hạnh gọi tôi ra phía sau hiên văn phòng trường bản để bàn về chuyện ăn ở dưới huyện. Trời mù mịt sương, những giọt nước đọng trên mái lá cọ nhỏ tong tòng xuống rãnh đất. Cô nhìn dáng vẻ gầy gộc, đôi gò má hóp lại và chiếc túi vải rách mép của tôi, thở dài một tiếng khe khẽ:

“Khoản hỗ trợ của huyện chỉ lo được phần gạo ăn và miễn học phí, còn ký túc xá trường đợt này đang sửa chữa lớn nên không đủ chỗ cho học sinh diện mới vào. Cô đã liên hệ được một chỗ ở nhờ cho em: gian nhà kho của một bà giáo về hưu cách trường huyện hơn một cây số. Mỗi đợt học bắt đầu, em có thể trải chiếu nằm nhờ ở góc kho đó, đổi lại em phải chịu khó gánh nước, quét dọn sân vườn và chẻ củi giúp bà cụ.”

Cô Hạnh đặt bàn tay ấm áp lên vai tôi, ánh mắt nhìn thẳng với vẻ nghiêm túc dặn dò:

“Em phải nhớ kỹ, đây chỉ là sự xoay xở tạm thời của cô để em có chỗ đặt lưng qua từng đợt học, chứ tuyệt đối không phải là một mái nhà ổn định hay một nơi che chở lâu dài cho em. Người ta cho ở nhờ là vì tình nghĩa, nhưng phận mình ăn nhờ ở đậu thì phải biết điều, đi nhẹ nói khẽ và không được ỷ lại. Cứ hết mỗi đợt học tập trung, em lại phải tự thu xếp việc đi lại giữa huyện và bản.”

“Dạ, em hiểu rồi cô. Chỉ cần có chỗ ngả lưng để đi học là tốt lắm rồi ạ, em không dám đòi hỏi gì hơn,” tôi đáp, giọng quả quyết để cô yên lòng.

Trước ngày tôi chính thức ra trường huyện nhập học, thầy Dũng hẹn tôi ở phòng máy tạm lần cuối. Gian kho nông cụ cũ hôm ấy vắng lặng đến nao lòng, chỉ có tiếng gió mùa xào xạc thổi qua những ngọn tre già ven suối. Thầy Dũng ngồi bên chiếc bàn gỗ ọp ẹp, dùng tua-vít kiểm tra lại giắc cắm của chiếc máy số hai rồi quay sang nhìn tôi. Thầy vỗ nhẹ lên vai tôi, giọng nói mang một vẻ trầm ngâm khác lạ:

“Dưới trường huyện có một phòng máy tương đối đầy đủ hơn ở đây, dù đa phần vẫn là máy đời cũ. Sau khi nhập học, em sẽ có điều kiện tiếp cận máy móc thường xuyên hơn. Thầy đã để ý trong kho thiết bị của phòng giáo dục có một số linh kiện máy tính cũ bị thanh lý sau đợt nâng cấp. Nếu có cơ hội, thầy sẽ tìm cách gom nhặt từng món còn dùng được — từ thanh ram, ổ cứng cho đến bộ nguồn — để sau này có thể giúp em tự ghép một chiếc máy tính riêng mà dùng.”

Nghe đến đó, tim tôi đập rộn lên từng nhịp háo hức. Một chiếc máy tính riêng — điều tưởng chừng như chỉ có trong những giấc mơ hoang đường nhất của một đứa trẻ mồ côi ở bản Nà Ban! Nhưng thầy Dũng lập tức chùng giọng xuống, nhắc nhở:

“Đó mới chỉ là dự định và lời hứa của thầy thôi. Đồ thanh lý của cơ quan nhà nước không phải muốn lấy là lấy được ngay, còn phụ thuộc vào thủ tục và sự cho phép của người ta. Hiện tại, lời hứa ấy vẫn chỉ là một khả năng chưa thành hiện thực. Đừng vội mừng, cũng đừng trông đợi vào nó mà xao nhãng việc học trước mắt. Việc của em bây giờ là học thật chắc kiến thức căn bản.”

Tôi gật đầu, khắc sâu từng lời dặn của thầy vào tâm can. Tôi hiểu rõ ở mảnh đất nghèo khó này, mọi cơ hội đều phải đợi thời gian và mồ hôi thử thách, không có chiếc bánh vẽ nào tự nhiên rơi xuống đầu.

***

Buổi sáng ngày rời Bản Nà Ban, trời mù mịt một màu sương xám ngắt. Tôi khoác chiếc túi vải thô chéo qua ngực, bên trong chỉ vỏn vẹn hai bộ quần áo chàm vá víu, tập tài liệu thuật toán thầy Dũng cho mượn và cuốn vở chép thơ cũ của mẹ Mai được bọc kín nhiều lớp nilon.

Bước lên con dốc đất đỏ dẫn ra khỏi thung lũng, tôi dừng chân ngoái đầu nhìn lại. Dưới chân dốc, sương mù bảng lảng trôi qua những mái nhà gianh lụp sụp, qua nếp nhà gỗ lợp fibro xi măng của bác Lương nơi góc hiên vẫn còn đôi thùng gánh nước tôi vừa múc đầy lúc tờ mờ sáng. Xa hơn nữa, trên triền núi Pha Luông hùng vĩ, những nương ngô cằn cỗi lẫn đá hộc xám xịt vẫn nằm đó, lặng câm và khắc nghiệt, chờ đợi đôi bàn chân tôi cuốc bộ mười cây số quay về lao dịch vào mỗi cuối tuần.

Gió bấc từ đỉnh đèo thổi thốc vào mặt, lạnh buốt thấu xương. Tôi siết chặt quai túi vải trên vai, lồng ngực thắt lại trong một nhận thức cay đắng nhưng sáng rõ hơn bao giờ hết. Trường huyện không nằm ở một thế giới hoa lệ phía bên kia nghèo khó; nó nằm ngay trong lòng của sự nghèo đói cùng cực này. Tấm giấy báo trúng tuyển hay con đường đi học xa xôi không hề giúp tôi trút bỏ được gánh nặng sinh kế trên vai, mà chỉ buộc tôi phải gánh thêm một tầng trách nhiệm nặng nề hơn nữa.

Trên con dốc rời bản, tôi nhận ra đi học không phải là rời khỏi nghèo khó mà là mang nó theo mình.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories