Hoa Ban Không TànCh.11 / 38
Chapter 11

Quyển vở bị phát hiện

Từ lúc bác Lương nói mùa tới tôi phải làm như người lớn, mỗi dòng bài trong quyển vở đều giống một thứ tôi phải đánh cắp từ công việc của nhà bác.

Đó không phải là một ý nghĩ mơ hồ chợt đến rồi chợt đi trong những giấc ngủ chập chờn trên chiếc chõng tre ọp ẹp nơi chái bếp. Nó hiện hình trần trụi và bỏng rát thành từng nhát cuốc giáng cật lực xuống vạt đất dốc sỏi cằn bên sườn Ban Nà, thành từng gùi đá hộc nặng trĩu đè nghiến lên đôi vai gầy guộc của một đứa trẻ chưa đầy sáu tuổi, và thành nỗi thắt thỏm thường trực bóp nghẹt lồng ngực non nớt mỗi khi ánh mắt lạnh băng của bác Lương hay tiếng chửi đon đả, xoi mói của bác dâu Sương quét qua gian chái phụ gió lùa hun hút.

Ở cái bản vùng cao cheo leo tựa lưng vào chân vách Pha Luông này, hạt ngô không mọc ra từ đất hiền; hạt ngô nảy mầm từ mồ hôi đặc quánh, từ những vệt máu rỉ ra do đá sắc cứa rách bàn chân trần qua bao mùa nương rẫy. Kẻ nào ăn hạt ngô ấy mà không chịu cúi rạp lưng xuống vạt đồi, không nếm đủ vị mặn chát của bùn đất và sương muối, thì kẻ đó trong mắt người bản chỉ là một món nợ thừa thãi, một cái miệng ăn rửng mỡ đục khoét kho thóc vốn đã vơi cạn qua từng mùa giáp hạt. Huống hồ tôi lại là đứa con mồ côi gánh trên tấm lưng còi cọc hai cỗ áo quan của cha mẹ, cùng món nợ tiền thuốc thang chạy chữa những ngày mẹ liệt giường mà bác Lương bảo cả đời này tôi có vắt kiệt sức tàn cũng chưa chắc trả xong.

Nhưng tôi thèm con chữ đến điếng người. Cơn thèm ấy không giống như cái đói cồn cào làm thắt ruột thắt gan mỗi buổi chiều muộn khi nồi mèn mén cạn đáy chỉ còn trơ lại vài cọng rau rừng luộc đắng ngắt. Nó âm ỉ, day dứt, nhức nhối như một vết chém sâu vào da thịt, ngày nắng cũng như ngày mưa chỉ chực rỉ máu mỗi khi có ngọn gió lạnh thổi qua. Sau cái đêm mùa đông năm ngoái ngồi co ro dưới vệt trăng mỏng hắt qua khe nứa, miệt mài nắn nót viết từng nét chữ tên mình cho đến khi mẩu chì cụt ngủn trơ cả phần lõi gỗ xước xát, tôi biết linh hồn mình đã thuộc về những nét cong, nét thẳng ấy mất rồi. Tôi không thể buông được, dù chỉ trong ý nghĩ.

Lớp học xóa mù chữ dựng tạm ở gian kho thóc bỏ hoang của hợp tác xã dưới chân đồi vẫn đều đặn mở cửa mỗi sớm mai. Cứ mỗi khi sương tan bớt và gió thung lũng ngừng rít qua các hốc đá tai mèo, tiếng thầy giáo miền xuôi đọc bài trầm ấm lại dội ngược lên triền nương xa vắng. Những bài tính chia mà thầy kiên nhẫn giảng giải cho đám trẻ con trong bản, những mặt chữ u, ư, ch, tr mà con bé Lan cố nhặt nhạnh bằng trí nhớ non nớt, vụn vặt sau mỗi buổi học rồi thì thầm kể lại, cứ lởn vởn xoay tít trong tâm trí tôi. Chúng bám riết lấy tôi giữa từng nhát cuốc chim va chan chát tóe lửa vào đá cuội, giữa những buổi trưa bụng đói lả phải ngửa mặt hứng từng giọt nước rỉ ra từ kẽ nứt của vách đá để nuốt cho đỡ khô khát cổ họng.

Sáng hôm ấy, sương muối phủ một lớp bụi mờ xám xịt buốt giá lên khắp vạt ngô đông khô cháy. Gió từ đỉnh Pha Luông tràn xuống, mang theo cái rét ngọt như ngàn mũi kim châm thẳng vào từng thớ thịt. Bác Lương thức dậy từ lúc gà gáy le te, đứng sừng sững giữa khoảng sân đất nện lổn nhổn sỏi. Bác rít một hơi thuốc lào dài, tiếng điếu cày rít lên sòng sọc xé tan màn sương đặc quánh, rồi bác phả ra luồng khói nồng nặc mùi hôi khét. Chiếc gậy chăn trâu bằng gỗ nghiến trên tay bác gõ cộc cộc xuống bậc tam cấp bằng đá xanh, từng nhịp gõ khô khốc tựa như chiếc búa giáng thẳng vào sự yên tĩnh của buổi sớm mai.

— Thằng Nam!

Tiếng bác gằn xuống, đanh và lạnh như tiếng thanh củi dẻ nỏ bị bẻ gãy làm đôi giữa ngày giá rét. Tôi đang lúi húi quét đống vỏ trấu bên hiên chái phụ, nghe tiếng gọi liền giật bắn mình, vội buông chiếc chổi rơm cũ mèm, lật đật chạy ra đứng nép bên mép cột nứa.

— Hôm nay tao với bác gái mày phải lội xuống tận bản dưới để đổi ít giống sắn non về tra dặm vạt chân đồi, — bác Lương vừa nói vừa nheo đôi mắt kèm nhèm, đùng đục những tia máu đỏ nhìn xoáy vào tôi. — Mày đem chiếc cuốc chim lớn lên vạt ta luy nương trên. Cuốc cho lật sạch hết đám cỏ gianh già ăn sâu dưới rễ, rồi nhặt sạch đá hộc xếp chặn mép bờ cho khỏi sạt lở. Chiều muộn tao về mà thấy cỏ còn sót lại một gốc, hay bờ đá chưa xếp cho ngay ngắn thì nhịn bữa tối. Đừng có giở cái thói lười nhớt thây ra đấy. Nghe rõ chưa?

— Dạ, con nghe rõ rồi ạ, — tôi lí nhí đáp, đầu cúi gằm xuống mũi chân trần đang tím tái vì lạnh, hai bàn tay luồn sâu vào trong ống tay của chiếc áo bông chàm rộng thùng thình. Đó là chiếc áo cũ rách nát của thằng Tùng thải ra, được bác dâu Sương thức đêm dùng vải vụn chèn thêm vài túm ruột bông gạo xơ xác rồi vá chằng vá đụp lại cho tôi mặc đỡ rét qua mùa đông buốt giá.

Bác Lương chẳng thèm nhìn thêm lấy một giây. Bác quay lưng, bước những bước sải dài dứt khoát xuống con dốc đất đỏ quạch trơn trượt vì ngậm sương. Chiếc bóng to bè, lưng hơi còng xuống vì bao năm gánh gồng lam lũ của bác chìm dần vào lớp mù dày đặc của rừng già. Đi ngay sau bác là bác dâu Sương, vai quảy đôi bồ sọt đan bằng nứa rỗng không gõ vào nhau lách cách. Ngang qua chỗ tôi đang đứng co ro bên chân cột, bước chân bác Sương chợt chậm lại đôi chút. Bác liếc mắt nhìn bờ vai gầy nhom đang run bần bật của tôi dưới lớp áo mỏng manh, đôi môi nứt nẻ mấp máy như toan thốt ra một lời dặn dò gì đó. Nhưng rồi, ánh mắt bác chợt đổi hướng nhìn theo bóng lưng chồng phía trước, bác khẽ thở dài, chỉ hắng giọng một tiếng khô khốc để che giấu sự chần chừ:

— Liệu mà làm cho cẩn thận, thằng kia. Đừng có đứng ngây người ra đấy như mất hồn rồi tối mịt về lại cớ này cớ nọ than trời rét mà chưa xong việc. Chum gạo ở góc bếp chỉ còn chừng đáy bàn tay thôi, không ai rảnh đâu mà ngồi nấu cơm cho kẻ trốn việc!

Tiếng bước chân bác Sương lẹp kẹp xa dần trên con đường mòn ngập lá mục. Tôi đứng lặng im hồi lâu, dõi mắt nhìn cho đến khi hai bóng người hoàn toàn tan biến sau những cành ban khẳng khiu, xám ngắt mọc ven bờ suối.

Trong khoảng sân rộng chỉ còn trơ trọi lại ba đứa trẻ: tôi, cái Lan và thằng Tùng. Thằng Tùng lớn hơn tôi ba tuổi, vóc người đẫm đà, thô lậu, thừa hưởng trọn vẹn bờ vai vuông vức và khuôn mặt vuông chữ điền của bố nó. Đôi mắt ti hí của nó lúc nào cũng lườm nguýt tôi bằng một vẻ hằn học khinh miệt, như thể sự có mặt của tôi trong căn nhà này là một nỗi nhục nhã, là kẻ ăn bám chực chờ cướp đi từng miếng mỡ ngon hay củ sắn lùi trong niêu của nó.

Tùng bước thong thả vào chuồng trâu, tháo gióng nứa rồi dắt con trâu mộng to kềnh, đen trùi trũi ra sân. Con trâu thở phì phì, từ hai lỗ mũi phả ra từng luồng hơi trắng xóa hòa vào giá lạnh. Thằng Tùng đi ngang qua tôi, cố tình vung mạnh sợi thừng bện bằng vỏ cây dâu rừng sắc lẹm quất sượt qua bả vai tôi một nhát đau điếng rồi nhếch mép cười khẩy:

— Bố tao bảo mày dọn bờ ta luy đấy, liệu cái thần hồn! Tao dắt trâu xuống bãi cỏ dưới chân suối cấm tiệt mày bén mảng xuống đấy mà tìm chỗ trốn việc. Tao mà ngước mắt lên thấy mày ngồi nghỉ hay tha thẩn chơi bời thì tối nay tao bẻ roi dâu tao quất cho nát lưng!

Nó giật mạnh mũi trâu, nghênh ngang bước theo con đường dốc dẫn xuống thung lũng.

Đợi cho bóng dáng to lớn của thằng Tùng cùng con trâu mộng khuất hẳn sau rặng tre đực rậm rạp, con bé Lan mới rón rén thò đầu ra từ sau bồ thóc cũ đặt bên hông nhà. Nó dáo dác nhìn quanh quất, thấy không còn ai ngoài tôi, nó liền vội vã chạy lại gần. Gương mặt con bé gầy choắt, hai má nứt nẻ đỏ ửng vì sương muối, mũi còn dính một vệt nhọ nồi đen nhánh từ lúc nhóm bếp đun nước sôi ban sáng. Đôi mắt nó đen láy, tròn xoe, ánh lên nét âu yếm pha lẫn sự sợ hãi lo âu.

Nó thò bàn tay nhỏ xíu, tím ngắt vì cóng vào sâu trong cạp váy vải chàm, cẩn thận rút ra một mảnh giấy gói thuốc lào đã ố vàng, nhàu nhĩ. Con bé dùng lòng bàn tay xoa đi xoa lại trên đùi cho mảnh giấy phẳng phiu bớt nếp gấp rồi rụt rè chìa ra trước mặt tôi:

— Anh Nam... — Lan ghé sát tai tôi, thì thào như sợ những hòn đá quanh sân nghe thấy. Hơi thở của nó phả ra mỏng manh và run rẩy. — Tối qua ở lớp xóa mù, thầy giáo dặn cả lớp phải làm xong mấy phép tính trừ với tính chia này. Thầy bảo sáng nay ai không làm xong, không thuộc bài thì phải đứng góc lớp suốt cả buổi đấy. Em... em không có bút chì, em chỉ nhớ được ngần này thôi. Sáng sớm nay lúc quét bếp, em lén nhặt mẩu than củi vạch lại lên mảnh giấy này cho anh đây.

Tôi run rẩy đưa hai bàn tay thô ráp đón lấy mảnh giấy nhỏ. Mảnh giấy nhẹ tênh, mỏng manh như một chiếc lá khô mục mùa rụng lá, nhưng khi chạm vào lòng bàn tay tôi, nó bỗng nặng tựa ngàn cân. Trên nền giấy vàng khè ráp ráp sực mùi thuốc lào ngai ngái, những nét than đen ngoằn ngoèo, run rẩy hiện ra: “15 chia 3”, “18 trừ 9”, cùng hai dòng chữ cái ghép vần đơn sơ mà Lan đã cố gắng vẽ lại theo trí nhớ vụn vặt của một đứa trẻ mới bập bõm tập cầm que củi vạch chữ trên nền đất.

Nhìn những con số và nét chữ lem nhem ấy, ngực tôi nghẹn ứ lại, tim đập thình thịch từng nhịp dồn dập. Một luồng hơi ấm kỳ lạ bỗng từ đâu xông thẳng lên khóe mắt làm mắt tôi cay xè. Mảnh giấy vụn của con bé như mang cả thế giới ngoài kia đến trước mặt tôi—thế giới của bảng đen, của phấn trắng, của những bài học ngay ngắn mở ra những vùng đất xa xôi mà cha mẹ tôi ngày xưa từng kể.

— Anh... anh có đem quyển vở của mẹ lên nương không? — Lan hỏi nhỏ, mắt vẫn không ngừng liếc nhìn về phía cổng rào nứa như thể bác Lương có thể thình lình hiện ra bất cứ lúc nào.

— Anh có, — tôi gật đầu thật mạnh, đưa tay vỗ nhẹ vào khoảng ngực áo bông cộm lên của mình.

Quyển vở học trò cũ bìa xanh sờn gáy của mẹ Mai, cuốn vở mà trang đầu là những dòng thơ mực tím nắn nót mẹ viết từ thời còn là cô nữ sinh dưới xuôi, nay chỉ còn trơ lại đúng bốn trang giấy trắng tinh ở phần gáy sau cùng. Nó luôn được tôi bọc kín qua ba lớp túi ni lông rách rồi cuộn chặt trong một mảnh bao tải dứa sạch sẽ, nhét sát vào da thịt ngay trước ngực áo. Hơi ấm từ lồng ngực tôi truyền sang cuốn vở, và sự hiện diện của cuốn vở nơi xương ức lại truyền cho tôi một sức sống kỳ lạ qua từng nhịp thở yếu ớt giữa mùa đông lạnh giá.

Cùng với mẩu bút chì cụt chỉ còn dài chừng đốt ngón tay cái—thứ mà tôi đã nhặt được từ góc sân ủy ban xã và mài giũa tỉ mỉ từng chút một bằng lưỡi dao quắm cùn—cuốn vở ấy chính là toàn bộ gia tài, là bí mật thiêng liêng nhất và cũng là điều cấm kỵ nguy hiểm nhất của tôi trong căn nhà của bác Lương.

— Lát nữa em phải đi cắt cho xong một gùi đầy rau lợn ở tít triền đồi phía đông, — Lan nói, vẻ mặt bỗng chốc trở nên nghiêm trang khác thường, trông như một người lớn đang gánh vác việc hệ trọng của cả dòng họ. — Em sẽ đứng ở mỏm đá tai mèo ngó chừng xuống con đường mòn dẫn lên nương. Lúc nào thấy anh Tùng lùa trâu ngược về hay bố mẹ đi chợ về sớm, em sẽ hú ba tiếng chim sập sành thật to để anh biết đường mà cất giấu. Anh tranh thủ ngồi xem bài đi, nhưng... nhưng anh nhớ phải cuốc đất cho xong đấy nhé, kẻo chiều bố về bố lại đánh đòn nát mông thì em sợ lắm!

— Anh biết rồi. Anh biết cách làm mà. Cảm ơn em nhé, Lan, — tôi nghẹn ngào nói, cổ họng nghẹn ứ không thốt thêm được lời nào.

Con bé nhoẻn miệng cười. Nụ cười trong veo, rạng rỡ làm bừng sáng cả gương mặt gầy gò nhem nhuốc vì đói rét. Nó vội vã với lấy chiếc gùi tre nhỏ đeo lên vai, cầm con dao con rồi thoăn thoắt bước những bước thoăn thoắt chạy ngược lên triền đồi ngập tràn gió lạnh.

Còn lại một mình giữa khoảng sân hoang vắng, tôi hít một hơi thật sâu để lấy lại can đảm. Tôi với tay nhấc chiếc cuốc chim bằng sắt nặng trịch dựng ở góc hiên, tra cán gỗ sần sùi vào vai rồi lầm lũi bước lên nương.

Vạt nương của nhà bác Lương nằm chênh vênh trên một sống núi đất đỏ pha lẫn sỏi cuội xám xịt. Càng lên cao, gió mùa đông bắc từ đỉnh Pha Luông thốc xuống càng dữ dội, rít từng hồi u u qua các khe đá buốt như dao cứa vào da thịt. Đất nương sau nhiều ngày chìm trong sương muối đã đóng cứng lại như đá tảng. Đám cỏ gianh già lâu năm đâm rễ sâu hoắm, chằng chịt bện chặt lấy lớp sỏi củ đậu bên dưới, tạo thành một mạng lưới kiên cố thách thức sức lực của con người.

Tôi dồn toàn bộ sức nặng của thân hình gầy guộc chừng mười lăm cân vào cán cuốc, vung lên quá đầu rồi bổ mạnh xuống.

Chan chát!

Lưỡi cuốc sắt va phải một hòn đá hộc chìm dưới lòng đất, nảy ngược trở lại làm cán gỗ rung lên bần bật. Cơn chấn động truyền thẳng qua đôi bàn tay trần nứt nẻ, bật tung những vảy máu khô nơi lòng bàn tay, làm đau nhói thấu tận xương tủy. Cứ mỗi nhát cuốc giáng xuống là một lần tôi phải cắn chặt răng để không bật ra tiếng rên rỉ. Bùn đất lạnh ngắt bám chặt vào kẽ móng chân, mồ hôi bắt đầu rịn ra trên trán, chảy dài qua thái dương rồi thấm vào sống lưng, gặp ngọn gió buốt thấu xương khiến cả người tôi run rẩy từng cơn co giật.

Tôi cắn răng cuốc cật lực được một vạt đất chừng bằng manh chiếu rách. Nhìn lại thành quả sau gần một buổi sáng oằn mình, rồi ngước mắt nhìn lên vạt đất dốc dài dằng dặc, ngổn ngang cỏ rác và đá tảng phía trước, lòng tôi bỗng chùng xuống một nỗi tuyệt vọng ê chề. Còn nhiều quá. Nhiều đến mức vượt quá sức tưởng tượng của một đứa trẻ con. Với sức vóc của tôi, dù có dốc cạn kiệt từng giọt mồ hôi và sức lực từ giờ cho đến lúc trời tối mịt, tôi cũng không tài nào lật hết được từng ấy gốc cỏ gianh trâu bò giẫm nát, chứ đừng nói đến việc nhặt sạch đống đá hộc kia để xếp thành bờ ta luy vững chãi.

Mảnh giấy gói thuốc lào của cái Lan nằm im lìm trong túi áo bông bỗng cộm lên nơi ngực tôi như một hòn than đang âm ỉ cháy. Từng con số "15 chia 3", "18 trừ 9" như nhảy múa trước mắt tôi, thúc giục, réo rắt, kéo căng từng sợi dây thần kinh trong đầu.

"Chỉ một lát thôi..." — tôi tự nhủ thầm, lồng ngực thắt lại bởi một cảm giác vừa tội lỗi vừa khao khát đến điên dại. — "Mình chỉ ngồi giải xong mấy phép tính của thầy rồi sẽ làm bù ngay. Mình sẽ cuốc đất nhanh hơn, mình sẽ không dừng tay uống nước, mình sẽ làm qua cả buổi trưa, làm đến tận lúc trăng lên để bù lại từng ấy thời gian."

Tôi tự dối lòng mình bằng cái suy nghĩ ngây thơ và vụng dại của một đứa trẻ đang chết khát giữa sa mạc mà nhìn thấy một vũng nước nhỏ. Tôi tin rằng sức lực của mình có thể kéo dài ra vô tận, rằng nếu tôi đánh đổi bằng những cơn đau xé thịt của cơ bắp và sự kiệt quệ rã rời vào cuối ngày, tôi sẽ có thể chuộc lại được khoảng thời gian mà tôi dám "đánh cắp" từ phần việc mà nhà bác Lương giao phó.

Tôi dừng tay cuốc, đứng thẳng người dậy đảo mắt nhìn quanh quất một lượt. Khắp sườn đồi vắng tanh không bóng một bóng người. Chỉ có tiếng gió gầm rú qua những bụi sậy già khô héo và tiếng suối Nà Ban xa xa rì rầm chảy dưới đáy thung lũng sâu thẳm.

Tôi men theo mép bờ ta luy dốc đứng, luồn lách qua những bụi cây gai sắc nhọn rồi chui tọt vào một hốc đá khuất gió nằm lọt thỏm giữa những khóm lau sậy rậm rạp. Hốc đá này là bí mật riêng của tôi từ những mùa nương trước. Nó nhỏ hẹp, khô ráo, nền đất phủ một lớp lá ngô khô vàng rộm rụng từ vụ thu hoạch năm ngoái, hoàn toàn che khuất tầm nhìn từ phía con đường mòn.

Ngồi thụp xuống đống lá khô xào xạc, tôi run rẩy thò hai bàn tay lấm lem bùn đất đỏ quạch vào trong bụng áo bông chàm. Tôi cẩn thận chùi vội mười đầu ngón tay vào gấu quần cho thật khô ráo, sợ một giọt mồ hôi hay vết bùn bẩn vương vào trang giấy quý giá. Từng lớp bao tải dứa, từng lớp túi ni lông được gỡ ra chậm rãi, nâng niu như thể tôi đang mở ra một chiếc hòm báu vật linh thiêng.

Quyển vở của mẹ Mai hiện ra trước mắt tôi. Mùi giấy cũ ẩm mốc hòa lẫn với mùi thơm thoang thoảng của mực tím năm nào lập tức xua tan đi cái lạnh lẽo ngột ngạt của hốc đá. Mở những trang đầu, nét chữ nghiêng nghiêng, tròn trịa, mềm mại của mẹ như đang nhìn tôi mỉm cười dịu hiền. Tôi lật giở thật khẽ, nhẹ nhàng như sợ làm đau từng thớ giấy mỏng manh, cho đến khi chạm vào trang giấy trắng thứ hai trong số bốn trang cuối cùng còn sót lại.

Tôi đặt mẩu than củi và mẩu bút chì cụt mòn vẹt xuống cạnh mép đá. Tôi trải phẳng mảnh giấy gói thuốc lào của Lan ra trước mặt, nhìn trừng trừng vào dòng chữ nguệch ngoạc: "15 chia 3".

Tôi nhắm nghiền mắt lại. Trong bóng tối của tâm trí, tôi lập tức hình dung ra mười lăm hạt ngô răng ngựa màu vàng óng mà tôi từng nhặt nhạnh được dưới kẽ sàn chuồng lợn hôm nào. Mười lăm hạt ngô ấy được đôi bàn tay tưởng tượng của tôi chia đều làm ba phần bằng nhau trên mặt đất. Tôi đếm từng phần một: một hạt, hai hạt, ba hạt, bốn hạt, năm hạt. Mỗi phần đều có đúng năm hạt ngô. Mười lăm chia cho ba thì bằng năm!

Một niềm vui sướng nghẹn ngào, tinh khiết trào dâng trong lồng ngực làm tôi run lên bần bật. Tôi mở mắt ra, nín thở, cẩn thận tỳ đầu ngón tay trỏ giữ chặt lấy mẩu chì ngắn cũn cỡn. Đặt ngòi chì mòn vẹt xuống sát mép lề bên trái của trang giấy ô ly đã ố vàng, tôi nắn nót viết từng nét số li ti, nhỏ như một đàn kiến nối đuôi nhau bò qua trang giấy: "15 : 3 = 5".

Từng nét chì đen mờ hằn sâu vào mặt giấy ráp, nhỏ đến mức nếu không dí sát mắt vào thì khó lòng nhìn rõ. Tôi phải chắt chiu, phải tiết kiệm từng milimet giấy trắng, bởi vì tôi biết rõ hơn ai hết, một khi bốn trang giấy cuối cùng này bị phủ kín chữ, tôi sẽ vĩnh viễn không còn gì trên cõi đời này để viết nữa.

Tôi say sưa giải tiếp phép tính "18 trừ 9", rồi lần giở từng chữ cái ghép vần "ch", "tr". Tôi say sưa đến mức quên đi cái lạnh buốt đang ngấm dần qua lớp vải quần xơ xác ở hai đầu gối, quên đi cái bụng rỗng tuếch đang réo lên từng hồi cồn cào, quên cả tiếng gió mùa đông bắc đang rít gầm gào bên ngoài bụi sậy. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi và kỳ diệu ấy, hốc đá tối tăm này không còn là nơi ẩn nấp của một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu; nó biến thành một gian lớp học rực rỡ, nơi tôi được là chính mình, một đứa trẻ bình đẳng trước từng con chữ như bao đứa trẻ khác dưới xuôi.

Bất chợt, một tiếng thét thất thanh, the thé xé toang không gian tĩnh mịch của triền nương:

— Anh Nam! Chạy đi! Anh Tùng... anh Tùng lên đấy!

Tiếng của cái Lan. Tiếng hét vang lên quá đột ngột, lạc hẳn đi vì hụt hơi và hoảng loạn, vọng lại từ phía con dốc đất đỏ. Con bé đã không kịp hú ba tiếng chim sập sành như đã hẹn ước từ ban sớm.

Tim tôi như ngừng đập một nhịp giữa lồng ngực. Máu trong người tôi dồn ngược hết lên màng tang, giật giật từng cơn buốt nhói. Tôi giật bắn mình, hoảng hốt nhoài người nhìn qua kẽ hở của bụi sậy ra ngoài nương.

Trời đất ơi! Mặt trời đã ngả bóng qua ngọn Pha Luông tự lúc nào mà tôi không hề hay biết! Ánh nắng chiều vàng vọt, lạnh lẽo trải dài những vệt thê lương trên vạt nương hoang tàn. Vạt cỏ gianh chỉ mới bị xới lên một góc nham nhở, đống đá hộc vẫn nằm ngổn ngang giữa đất, bờ ta luy mới chỉ xếp được vài tảng đá con con. Tôi đã ngồi trong hốc đá này quá lâu! Sự mê mải của con chữ đã cướp mất của tôi cả một buổi chiều, và tôi đã hoàn toàn thất bại trong việc làm bù như tôi từng tự huyễn hoặc bản thân!

Tiếng bước chân huỳnh huỵch giẫm nát sỏi đá vang lên dồn dập ngay bên ngoài mép bờ, kèm theo tiếng thở phì phò hồng hộc của thằng Tùng và tiếng chửi bới the thé:

— Mày hét cái gì hả con ranh kia? Mày đứng trên mỏm đá canh chừng cho nó trốn việc đúng không? Tao thấy hết rồi nhé!

Tôi run bắn người, hai tay luống cuống gập vội quyển vở lại. Tôi nhét cuống cuồng cuốn vở vào trong bọc bao tải dứa, ấn sâu vào tận đáy bụng chiếc áo bông chàm. Mẩu bút chì cụt được tôi vội vã dúi tọt vào kẹp đai quần thắt bằng sợi dây chuối khô. Hai bàn tay lấm lem đất cát vơ vội lấy chiếc cuốc chim, tôi toan bước chân ra khỏi hốc đá để giả vờ như mình vừa mới cúi xuống nhặt đá xếp bờ.

Nhưng tất cả đã quá muộn màng.

Xoạt!

Bụi sậy già bị một bàn tay thô bạo gạt phắt sang hai bên. Thằng Tùng đứng sừng sững ngay ở miệng hốc đá, mặt đỏ gay gắt vì leo dốc mệt và vì cơn giận dữ đang bốc lên ngùn ngụt. Trên tay phải của nó lăm lăm chiếc roi đó ngọn trâu bện bằng gân bò đực xoắn chặt, đầu roi còn dính vài sợi lông trâu bẩn thỉu. Đôi mắt ti hí của nó đảo thật nhanh một lượt, quét từ vạt cỏ gianh còn nguyên vẹn rậm rạp, nhìn sang đống đá hộc chưa ai đụng tới, rồi cuối cùng dừng lại trừng trừng trên gương mặt tái mét, cắt không còn một giọt máu của tôi.

— Mày làm cái trò gì ở xó này? — Tùng gằn giọng qua kẽ răng, từng bước nặng nề tiến sát lại gần tôi. — Cả một buổi chiều từ sáng tới giờ mà mày chỉ bới được chừng ấy đất thôi à? Bố tao bảo mày lên đây làm nương hay lên đây để ngủ hả thằng ăn hại?

— Em... em mệt quá... Em vừa mới ngồi nghỉ một tí thôi... Em ra làm ngay bây giờ đây... — tôi lắp bắp thanh minh, hai bàn tay siết chặt lấy cán gỗ của chiếc cuốc chim đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, toàn thân run rẩy không sao kìm giữ nổi.

— Nghỉ một tí? — Tùng cười gằn một tiếng tàn nhẫn, bước dấn thêm hai bước nữa, ép sát vào người tôi. Bất thình lình, ánh mắt cú vọ của nó dán chặt vào khoảng ngực áo bông của tôi. Chiếc áo vốn đã lụng thụng, nay lại cộm lên một khối vuông vức, cứng ngắc bất thường ngay trước bụng dưới lớp vải chàm rách nát. — Mày giấu cái của nợ gì trong ngực áo kia?

— Không... không có gì cả! Em không giấu gì hết! — tôi hoảng loạn thốt lên, chân lùi lũi giật lùi về phía sau cho đến khi lưng đập mạnh vào vách đá tai mèo buốt nhói.

— Mày nói dối! — Mắt Tùng trợn trừng lên, lóe lên tia sáng đố kỵ và nghi hoặc tột cùng. — Mày ăn cắp bắp ngô giống của nhà tao hay mày giấu củ sắn sống đem lên đây ăn vụng? Móc ra mau, không tao quất nát mặt bây giờ!

Dứt lời, Tùng chồm tới như một con lang rừng đói mồi vồ mồi. Theo một phản xạ tự nhiên của kẻ bị dồn vào bước đường cùng, tôi vứt phắt chiếc cuốc chim xuống đất, vội vã đưa cả hai cánh tay gầy guộc ôm chặt lấy ngực áo, co tròn người lại để che chắn bọc vở.

Sự chống cự quyết liệt của tôi càng như châm thêm dầu vào ngọn lửa thịnh nộ và tính tò mò hiếu thắng vốn có của Tùng. Nó vứt chiếc roi đó xuống đống sậy khô, lao thẳng cả thân hình nặng nề vào người tôi, dùng hai bàn tay to khỏe bóp nghiến lấy cổ tay tôi nhằm giằng ra. Sức vóc của một đứa trẻ tám tuổi được nuôi nẫy bằng cơm trắng, mèn mén ngô hạt và mỡ lợn hoàn toàn đè bẹp một đứa trẻ chưa đầy sáu tuổi còi cọc, quanh năm chỉ sống lay lắt bằng sắn độn và nước canh măng chua luộc suông.

— Buông ra! Của tao! Cái này không phải của nhà mày! — tôi hét lên, tiếng hét xé toạc cổ họng. Đó là lần đầu tiên trong suốt những tháng ngày sống ở nhà bác Lương, tôi dám dùng từ "của tao" để chống lại con trai của bác.

— A, thằng chó con mồ côi này mày dám cãi tao à? Đồ ăn nhờ ở đậu mà dám giấu đồ riêng à?

Tùng nghiến răng ken két, một bàn tay hộ pháp của nó chẹn thẳng vào cuống họng tôi, ấn mạnh cả đầu tôi đập vào vách đá buốt lạnh làm mắt tôi nổ đom đóm. Bàn tay còn lại của nó thọc sâu vào cổ áo bông chàm của tôi, dùng hết sức bình sinh giật phắt ra phía ngoài.

Rắc! Xoẹt!

Những chiếc cúc áo bằng gỗ nứt toác, văng ra rơi lách cách xuống đám đá sỏi dưới chân. Vạt áo bông rách toạc ra làm đôi. Mảnh bao tải dứa tuột ra, và quyển vở học trò cũ kỹ bìa xanh sờn gáy của mẹ tôi rơi tuột vào tay thằng Tùng.

— Trả cho tôi! Trả lại cho tôi mau! — tôi gào khóc thảm thiết, hai mắt đỏ ngầu, bất chấp sự chênh lệch sức lực, tôi lao chồm tới định giằng lại cuốn vở.

Nhưng Tùng đã nhanh chân nhảy lùi lại một bước lớn ra khỏi miệng hốc đá, giơ cao cuốn vở lên quá đầu. Cái Lan lúc này vừa thở hồng hộc vừa chạy tới nơi, hai đầu gối con bé trầy xước rỉ máu vì vấp ngã trên dốc đá. Thấy anh trai cầm cuốn vở trên tay, Lan sợ hãi ôm chầm lấy cánh tay Tùng, vừa mếu máo vừa van lạy:

— Anh Tùng ơi, em lạy anh... Em xin anh đấy! Anh trả lại quyển vở cho anh Nam đi! Đó là quyển vở của mẹ anh Nam để lại thôi, không phải đồ ăn trộm ăn cắp đâu! Anh đừng mách bố mà tội nghiệp anh Nam anh ơi!

— Cút xéo ra con ranh này! Mày dám bênh người ngoài à? — Tùng vung mạnh cánh tay, hất văng con bé Lan sang một bên khiến nó ngã dúi dụi vào bụi sậy đầy gai nhọn.

Nó lùi ra khoảng đất trống ngập gió ngoài nương, giở phắt quyển vở ra xem. Dưới ánh chiều tà đang tắt dần sau rặng Pha Luông bảng lảng sương khói, những dòng thơ mực tím mềm mại, thanh thoát của mẹ tôi hiện lên ở những trang đầu. Và rồi, mắt Tùng dán chặt vào trang giấy trắng phía sau—nơi những con số, những phép tính chia, tính trừ và những chữ cái ghép vần nhỏ li ti như đàn kiến bò được nắn nót thẳng hàng ngay ngắn, sạch sẽ tinh tươm.

Tùng trừng trừng nhìn vào những con số ấy. Đôi mắt ti hí của nó mở to hết cỡ vì kinh ngạc, rồi rất nhanh sau đó, nét kinh ngạc ấy biến thành một sự ghen ghét, đố kỵ và căm tức tột độ. Chính nó—thằng con trai cưng của bác Lương—dù được bố sắm cho cặp sách mới, được đi học đàng hoàng ở lớp xóa mù chữ suốt mấy tháng trời, nhưng đến nay vẫn chưa thuộc nổi bảng chữ cái. Mỗi lần cầm bút chì viết là một lần nó bị bác Lương chửi mắng thậm tệ vì viết chữ như gà bới, làm ba phép cộng trừ đơn giản trên đầu ngón tay cũng sai be bét.

Thế mà giờ đây, trước mắt nó, những dòng chữ và con số của một đứa trẻ mồ côi ăn bám, chưa từng được bước chân vào ngưỡng cửa lớp học lấy một ngày, lại ngay ngắn, thẳng thớm và đẹp đẽ đến nhường này. Đó chẳng khác nào một cái tát trời giáng sỉ nhục thẳng vào lòng kiêu hãnh của nó.

— Chữ nghĩa à? Học làm ông nọ bà kia à? — Tùng cười khẩy, giọng the thé run lên vì cay cú. Nó giơ cao quyển vở lên trời như một chiến lợi phẩm đắc thắng, rồi chỉ ngón tay bẩn thỉu vào vạt nương cỏ gianh còn nham nhở chưa cuốc xong. — Mày trốn việc làm nương để ngồi đây bôi chữ! Bố tao nai lưng ra làm bạc cả mặt để nuôi cái ngữ mày, mẹ tao phải đong từng bát ngô hạt cho mày nhét vào mồm, thế mà mày đem chữ lên nương mày ngồi chơi phởn phơ! Mày coi thường bố tao! Mày coi thường cả cái nhà này!

— Tôi không trốn việc! — tôi gào lên trong cơn uất nghẹn cùng cực, nước mắt chảy tràn ra hai khóe mi nhưng bị tôi nghiến chặt răng nuốt ngược vào trong. — Tôi sẽ cuốc bù đất cho nhà anh! Tối nay tôi làm bù! Trả lại cho tôi! Đó là kỷ vật của mẹ tôi để lại!

— Của mẹ mày à? Mẹ mày chết rấp từ đời nào rồi! Bố mày cũng chết rục xương rồi! — Tùng độc địa hét lớn, hai bàn tay thô bạo của nó nắm chặt lấy hai mép của quyển vở, làm bộ như chuẩn bị dùng sức xé toạc cuốn vở làm đôi trước mặt tôi. — Mày sống nhờ cơm của nhà tao thì cái này cũng là của nhà tao hết! Để tao xé nát cái thứ chữ vô tích sự này đi, xé ra xem mày còn dám lười biếng nữa không!

Nhìn hai bàn tay của Tùng đang nắm chặt mép giấy mỏng manh của mẹ, tim tôi như vỡ vụn thành ngàn mảnh nhọn hoắt. Đó là cuốn vở mẹ tôi đã từng lật giở từng trang trong những đêm đông buốt giá ở căn nhà cũ bên suối; đó là nơi lưu giữ hơi ấm, nét chữ và linh hồn của mẹ trước khi mẹ thổ huyết qua đời trên manh chiếu rách. Trong bốn trang giấy trắng đơn sơ ấy, có ước nguyện cháy bỏng của cha tôi trước lúc trút hơi thở cuối cùng, có lời dặn dò thiêng liêng của mẹ rằng: "Dù nhà mình có nghèo đói đến đâu, con cũng không bao giờ được để nghèo cái chữ nghe con".

Nếu cuốn vở này bị xé nát tan tành trên mảnh đất đầy gai góc này, thì phần ký ức cuối cùng, sợi dây mỏng manh duy nhất nối tôi với mẹ trên cõi đời cay nghiệt này cũng sẽ biến mất vĩnh viễn như làn khói bếp chiều đông tan vào rừng thẳm.

Một luồng sức mạnh điên cuồng, mù quáng bùng nổ dữ dội từ tận đáy sâu của một đứa trẻ vốn luôn biết thân biết phận, luôn câm lặng cúi đầu chịu đựng mọi đòn roi và nhục hình suốt bao tháng ngày qua.

Tôi không còn biết sợ hãi là gì nữa. Tôi không còn nghĩ đến việc mình là ai hay hậu quả sau đó sẽ ra sao. Tôi hét lên một tiếng xé ruột xé gan, như tiếng gầm của một con thú nhỏ bị dồn vào chân tường quyết đem cả tính mạng ra để bảo vệ phần ruột thịt của mình.

Tôi lao cả thân hình gầy guộc về phía trước, đầu cúi thấp, dùng hết toàn bộ sức nặng và sự căm phẫn húc thẳng vào bụng thằng Tùng.

Huỵch!

Cú va chạm bất ngờ và mãnh liệt tựa như một mũi tên lao tới khiến thằng Tùng hoàn toàn mất đà. Nó loạng choạng ngã ngửa ra phía sau, đập mạnh lưng vào đống đá hộc lởm chởm. Cuốn vở trên tay nó tuột ra, rơi lơ lửng giữa không trung. Nhanh như một tia chớp, tôi nhào người theo, hai bàn tay chộp gọn lấy cuốn vở, ép chặt vào lồng ngực rồi lăn tròn sang một bên bờ đất dốc.

Cạnh đá tai mèo sắc nhọn cứa rách toạc lớp vải quần chàm, đâm sâu vào khuỷu tay và đầu gối tôi, máu tươi lập tức túa ra ướt đẫm da thịt buốt lạnh. Cơn đau nhức nhối truyền lên tận óc, nhưng hai cánh tay tôi vẫn khóa chặt lấy cuốn vở trước ngực như một gọng kìm bằng sắt, không nới lỏng dù chỉ nửa phân.

— Mày dám đánh tao à? Thằng chó con mồ côi này mày muốn chết à! — Tùng lồm cồm bò dậy từ đống đá, mặt mày xám ngoét vì đau đớn và nhục nhã.

Nó điên cuồng lao tới, túm lấy cổ áo rách của tôi, vung nắm đấm to bản giáng liên tiếp những cú đấm thấu thịt vào lưng, vào bả vai, vào xương sườn tôi. Thịch! Thịch! Từng cú đấm nện xuống nặng trịch như búa tạ.

Tôi cắn chặt môi dưới đến mức máu tươi bật ra, mặn chát trong miệng. Tôi nhắm nghiền hai mắt, cuộn tròn thân thể lại như một con nhím gai chịu trận. Từng khớp xương trên người tôi như muốn rạn nứt dưới cơn mưa đòn thù hằn học của nó, nhưng tuyệt nhiên tôi không thốt ra một tiếng rên rỉ, không hé răng van xin nửa lời. Hai cánh tay tôi ghì chặt cuốn vở áp sát vào xương ức, áp sát vào nơi trái tim non nớt đang đập loạn xạ những nhịp đau đớn. Quyển vở của mẹ. Con chữ của mẹ. Tôi thà chết nát thây trên vạt nương này chứ nhất quyết không để nó cướp mất!

— Anh Tùng ơi tha cho anh Nam đi! Em lạy anh mà! Bố về kìa! Bố mẹ về dưới dốc đồi kìa! — tiếng Lan hét lên the thé trong tuyệt vọng, hai tay con bé kéo giật mạnh vạt áo của Tùng ra sau.

Thằng Tùng khựng lại, nắm đấm giơ lơ lửng giữa không trung. Nó thở hồng hộc từng cơn dốc, ngực phập phồng như ống bễ lò rèn. Nó cúi xuống, nhổ toẹt một bãi nước bọt lẫn đờm nhớt vào thẳng mặt tôi, ngón tay run rẩy vì giận dữ chỉ thẳng vào sống mũi tôi:

— Mày nhớ mặt tao đấy! Mày cứ ôm lấy cái của nợ ấy mà ăn trừ bữa! Tao về tao mách bố! Mày trốn việc làm nương để ngồi vẽ bùa vẽ chữ, mày còn dám đánh cả tao nữa! Chiều nay bố tao không lột sống da mày ra thì tao không phải là con bố tao!

Nó hung hăng quay ngoắt người, nhặt chiếc roi đó ngọn trâu rồi chạy thục mạng xuống con dốc đất hướng về phía bản dưới.

Triền nương lại rơi vào một khoảng lặng tang tóc, lạnh lẽo của buổi chiều tà. Gió từ đỉnh Pha Luông thổi thốc từng cơn rát buốt qua da thịt trầy xước. Tôi vẫn nằm nguyên trên nền đất đỏ lạnh ngắt như băng, toàn thân run rẩy vì kiệt sức và những cơn đau nhức nhối khắp thân thể, nhưng hai cánh tay vẫn ôm chặt lấy cuốn vở trước ngực như một pho tượng đá không lay chuyển.

Cái Lan quỳ sụp xuống bên cạnh tôi, đôi bàn tay nhỏ bé lạnh cóng run rẩy lau những vệt máu tươi và đất cát dính trên trán, trên khóe môi tôi. Nước mắt con bé rơi lã chã, từng giọt mặn chát nhỏ xuống mặt giấy lót bao tải dứa:

— Anh Nam ơi... anh có đau lắm không? Anh ngồi dậy đi... Bố mẹ về đến đầu cầu treo rồi đấy... Anh Tùng chạy xuống mách bố rồi... Anh trốn đi anh Nam ơi! Anh trốn tạm vào rừng đi kẻo bố đánh chết mất!

Tôi từ từ mở mắt nhìn lên bầu trời chiều màu xám chì u uất. Những rặng núi đá vôi sừng sững, câm lặng bao bọc lấy thung lũng Ban Nà như một bức tường thành kiên cố không có lối thoát. Tôi trốn đi đâu bây giờ? Tôi biết rõ mình chẳng có chốn nào trên cõi đời mênh mông này để mà trốn chạy cả. Căn nhà tranh vách nứa cũ kỹ của cha mẹ tôi nay chỉ còn lại một nền đất hoang tàn phủ đầy cỏ dại và gốc cây ban trơ trụi bên nấm mồ mẹ. Hạt ngô tôi ăn là của nhà bác Lương, cái chõng tôi nằm là chái phụ của nhà bác Lương.

Nhưng khi những ngón tay run rẩy của tôi lần giở mép giấy bìa, thấy những dòng thơ mực tím của mẹ và những con số nhỏ li ti của mình vẫn còn nguyên vẹn, không một trang nào bị rách rời hay nhàu nát, một cảm giác kiêu hãnh kỳ lạ bỗng trỗi dậy mạnh mẽ từ nơi sâu thẳm trong lồng ngực tôi. Nó xua tan đi sự sợ hãi, nó lấn át cả nỗi kinh hoàng về trận đòn roi tàn khốc sắp sửa giáng xuống thân xác còm cõi này.

Tôi gượng chống tay ngồi dậy, kéo lại vạt áo bông rách toạc cúc, cẩn thận sờ lại mẩu bút chì cụt vẫn còn găm chặt nơi kẹp đai quần thắt lưng. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt ướt đẫm của Lan, giọng tôi khàn đặc nhưng rành rọt từng tiếng:

— Anh không trốn đâu. Anh không làm gì sai cả. Anh học chữ, anh giải bài của thầy, anh không ăn cắp của ai cái gì hết.

Tôi ôm chặt cuốn vở vào lòng, gượng đứng thẳng dậy giữa vạt nương lộng gió. Mặc cho cơn đau nhói từ mạn sườn và những vết thương rách toạc ở đầu gối cắn xé từng bước đi, tôi lầm lũi bước theo con đường mòn quen thuộc đi xuống bản—nơi cơn giông bão tàn khốc nhất của cuộc đời đang giăng sẵn ở khoảng sân trước nhà.

Tôi bước qua cổng rào nứa, chân trần dính bết bùn đất buốt lạnh. Trong sân, thằng Tùng đang đứng nép sau chiếc cột hiên bằng gỗ nghiến, vừa thở dốc vừa chỉ trỏ về phía con đường mòn. Mặt nó đắc thắng, khóe môi nhếch lên khi thấy tôi lầm lũi đi vào.

Bác Lương đứng sừng sững giữa sân, đôi bàn tay to bản thô ráp đang bẻ gập một nhánh củi dẻ gai khô thành từng khúc củi đòn sắc cạnh. Gánh sắn giống bác dâu Sương vừa quẩy về còn đặt nguyên bên hiên, đất đỏ từ củ sắn non rỏ từng giọt xuống bậc thềm ẩm ướt. Nhìn thấy tôi, đôi mắt bác Lương quắc lên, hằn đỏ những vệt tơ máu sau một ngày lội bùn mệt mỏi.

— Mày đứng lại đấy! — Bác Lương quát, tiếng gầm vang dội đập vào vách đá phía sau nhà. — Thằng Tùng bảo mày để cả vạt nương dở dang, ngồi xó đá vẽ bùa vẽ chữ? Bờ ta luy chưa xếp, cỏ gianh chưa bật rễ, mày định để sương muối ăn trắng rẫy à?

Tôi dừng chân giữa khoảnh sân nện đất cứng ngắc, hai tay ôm ghì lấy bọc bao tải trước ngực:

— Con... con cuốc được một nửa rồi ạ. Con ngồi làm bài một lát, con tính làm bù đến tối...

— Làm bù? — Bác Lương bước xăm xăm tới, hơi thở nồng nặc mùi thuốc lào khét lẹt. Bác nhìn chiếc áo bông rách toạc cúc ngực của tôi, nhìn vết trầy xước rớm máu nơi trán và khóe môi tôi, rồi đảo mắt nhìn vệt đồi phía sau bản nơi bóng tối đang đổ sập xuống. Cơn giận tích tụ từ cảnh nghèo túng, từ món nợ cha tôi để lại và những nhọc nhằn mưu sinh như tìm được một cái cớ hoàn hảo để bùng nổ.

Bác gằn từng tiếng cay độc:

— Cơm gạo trong chum không tự mọc ra! Hai cỗ áo quan của bố mẹ mày, tiền thuốc bắc ngày trước bố mày vay tao mua cho con Mai, tao đã cắn răng gánh hết! Tao đón mày về, chia cho mày bát mèn mén, nhường cho mày cái chõng nằm, không phải để nuôi một đứa ăn hại, rửng mỡ trốn việc bôi chữ bẩn lên giấy! Mày tính học để làm quan, học để trèo lên đầu lên cổ cả cái nhà này à? Đồ vong ân bội nghĩa!

Từ trong gian bếp tối, bác dâu Sương tất tả bước ra, hai tay còn dính đầy bột sắn ướt. Thấy vẻ mặt đằng đằng sát khí của chồng, bác Sương ngập ngừng bước xuống bậc hiên, liếc nhìn thân hình nhỏ thó, run lẩy bẩy vì rét của tôi:

— Thôi ông... Nó còn con nít, mới bằng ngần ấy tuổi đầu. Nương rẫy còn đó chứ mất đi đâu, sáng mai tôi bảo nó dậy sớm từ lúc gà gáy lên dốc làm nốt cho xong. Đánh nó làm gì cho làng xóm người ta dị nghị...

— Bà câm mồm! — Bác Lương quay ngoắt lại, quát thẳng vào mặt vợ. — Chính vì bà dung dưỡng nó, lén lút vá víu cho nó nên nó mới sinh tật! Ở cái đất này, không cắm mặt xuống đất thì chỉ có nước bốc đất mà ăn! Nuôi nó tốn cơm tốn vải, giờ nó còn dám chống đối, dám đánh cả con Tùng để giữ ba cái thứ rác rưởi ấy!

Cơn nóng giận làm mắt bác tối sầm lại. Bác bước tới túm lấy cổ áo tôi, giật mạnh. Cú giật thô bạo khiến bọc bao tải tuột khỏi tay tôi rơi cộp xuống nền đất đỏ. Cùng lúc đó, cuốn sách tập đọc lớp một cũ kỹ có ép cánh hoa ban khô mà tôi luôn nơm nớp mang theo bên mình cũng văng ra khỏi túi trong của vạt áo bông rách.

— Bố ơi đừng! Quyển sách của mẹ anh Nam mà! — Lan từ mép rào lao vào, vừa khóc vừa sợ hãi quỳ rạp xuống nhặt lấy cuốn vở bìa xanh và quyển sách cũ ôm chặt vào ngực, lùi lũi nép sang góc cột nương để những bước chân nặng trịch của cha không giẫm bẹp lên chúng.

Bác Lương không buồn để tâm đến con bé. Nhành củi dẻ gai trong tay bác vung lên, xé rách không khí bằng một tiếng rít khô khốc.

Chát!

Nhát đòn đầu tiên giáng mạnh xuống bả vai tôi. Cơn đau rát bỏng bùng lên như có thanh sắt nung áp vào da thịt. Cả người tôi chao đảo, ngã nhào xuống nền sân đất lởm chởm sỏi nhọn.

Chát! Chát!

Từng nhát củi nện liên tiếp xuống lưng, xuống đùi, xuống bắp tay tôi. Tôi không chống trả, cũng không kêu khóc van xin. Tôi cắn chặt môi đến bật máu, hai mắt trừng trừng nhìn về phía bậc hiên, nơi Lan đang ôm chặt quyển vở và cuốn sách của mẹ Mai vào lòng, nước mắt con bé chảy ròng ròng trên má. Tùng đứng bên cạnh khoanh tay nhìn, vẻ mặt hả hê nhưng thoáng chút sợ hãi trước cơn cuồng nộ tàn nhẫn của bố nó. Bác dâu Sương quay mặt đi vào trong bếp, bàn tay run rẩy bấu chặt vào mép vách nứa, không dám nói thêm một lời nào nữa.

Mỗi nhát đòn giáng xuống thân thể tôi không chỉ xé rách thịt da non nớt của một đứa trẻ mồ côi, mà nó đập nát từng ảo tưởng cuối cùng còn sót lại trong đầu tôi.

Nằm co quắp trên nền đất lạnh, hứng chịu những lằn roi buốt nhức, tôi cay đắng hiểu ra trật tự nghiệt ngã của ngôi nhà này. Dưới mái fibro xi măng ẩm mốc tựa vào vách đá rỉ nước, việc học chưa bao giờ chỉ bị coi là một trò viển vông, vô tích sự. Tàn nhẫn hơn thế, ở nơi này, học được xem là một sự phản bội, một thứ đặc quyền xa xỉ mà một kẻ ăn nhờ ở đậu như tôi vĩnh viễn không được phép mơ tưởng hay đòi hỏi. Miếng cơm tôi ăn phải đổi bằng từng nhát cuốc, và bất kỳ ý nghĩ nào muốn ngẩng đầu nhìn lên khỏi mặt đất đều là một tội lỗi không thể dung thứ.

Trận đòn trước sân khiến Nam không thể ở lại trong nhà đêm đó.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories