Hoa Ban Không TànCh.12 / 38
Chapter 12

Lời thề dưới cây ban

Tôi chạy đi khi sân nhà bác vẫn còn vệt đất nương bám đặc trên đầu gối, còn quyển vở thì ép chặt vào ngực như thể buông nó ra là buông luôn hơi thở cuối cùng của mẹ.

Phía sau lưng tôi, tiếng then cửa nứa cài sập vào khung gỗ nghiến vang lên một tiếng cộc nặng trịch, dứt khoát như một nhát búa đóng đinh vào màn đêm. Tiếng then gỗ ấy dội vào vách núi, nảy qua những mái nhà sàn lợp gianh xám xịt của Bản Nà Ban, rồi tan ra trong tiếng gió gầm rít. Tiếng bác Lương vẫn còn vẳng xuyên qua khe liếp, khàn đặc vì khói thuốc lào lâu năm và cơn thịnh nộ chưa kịp nguội:

— Cho nó đi! Mày mở mắt to ra mà nhìn, để xem bước chân ra khỏi cái xó nhà này, không có miếng sắn củ khoai nhét vào họng thì mấy cái con chữ ngoằn ngoèo ấy có mọc ra thành cơm được không!

Tôi không ngoái đầu lại. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau đến mức tứa vị tanh nồng của máu môi. Đôi bàn chân trần mười ngón toét toạc giẫm đạp lên lớp sỏi dăm sắc lẹm của lòng đường mòn chạy men bờ rào. Cúc tần ken dày cùng những bụi gai bồ kết bờ gai quẹt ngang bắp chân, cào rách da thịt, rát buốt từng chặp. Nhưng nỗi đau rách da dưới gan bàn chân chẳng thấm vào đâu so với những lằn roi dẻ gai đang rực cháy dọc sống lưng và bả vai tôi.

Mỗi nhịp thở dốc làm lồng ngực tôi thắt lại như bị một vòng dây thừng siết chặt. Chiếc áo bông cũ trần trám—chiếc áo bác dâu Sương từng lén nhồi thêm mấy nắm bông gạo nhặt nhạnh ngoài bãi—đã bị giật đứt tung những chiếc cúc gỗ tròn từ lúc giằng co sống chết với thằng Tùng trên nương đá lúc xế chiều. Giờ đây vạt áo toạc ra hai bên, bay phần phật, để mặc ngọn gió núi lạnh buốt thốc thẳng vào da thịt trần trụi của một đứa trẻ chưa đầy sáu tuổi.

Gió từ đỉnh Pha Luông tràn xuống thung lũng Bản Nà Ban vào cữ đêm khuya mang theo cái rét ngọt ngào của sương muối. Thứ rét này không giống cái lạnh của mưa phùn dưới xuôi; nó khô khốc, buốt nhức như lưỡi dao cạo từng lớp mỡ mỏng manh dưới da, làm đông cứng cả mồ hôi vừa túa ra trên trán. Tôi không có đèn dầu, không có đóm nứa, không mang theo lấy một mẩu sắn lùi dắt lưng hay một tấm chăn chiên rách. Cả gia tài tôi ôm theo trong cuộc trốn chạy trong đêm chỉ là cuốn vở học trò bìa xanh đã sờn rách mép gáy và cuốn sách tập đọc lớp một giấu chặt trong lòng vạt áo rách. Tôi dùng cả hai cánh tay gầy guộc khoanh lại, ghì chặt lấy chúng, đè nghiến vào xương sườn đang run lên bần bật theo từng cơn ho giật cục.

Tôi sợ. Nỗi sợ lớn nhất lúc này không phải là bước hụt chân xuống vực sâu hay bị rắn cắn, mà là sợ nếu mình chỉ cần lơi tay ra một phân thôi, cơn gió hung dữ của đại ngàn sẽ giật phăng đi mấy trang giấy mỏng manh cuối cùng. Nơi ấy, dưới hốc đá bên bờ nương ban chiều, tôi đã nắn nót vạch từng con chữ vụng về bằng mẩu than củi nhặt được bên bếp tro.

Con đường đất đỏ chạy men theo sườn đồi dẫn về mảnh đất cũ của cha mẹ tôi lầy lội những vũng bùn chưa kịp ráo sau đợt mưa dầm tháng trước. Đất sét vùng cao dẻo quánh, lạnh ngắt, bết chặt vào từng kẽ ngón chân, trơn trượt như bôi mỡ trâu. Đã đôi lần tôi trượt ngã dúi dụi, hai đầu gối đập chan chát vào những tảng đá mồ côi nhô ra bên mép vực sâu. Cùi chỏ toạc miệng, máu tươi rỉ ra hòa lẫn với bùn đất ram ráp, nhức buốt thấu tận tủy xương. Nhưng mỗi lần ngã xuống, như một phản xạ tự nhiên của một con thú nhỏ bị săn đuổi, tôi co tròn người lại để bọc sách vở không chạm đất, rồi lồm cồm bò dậy ngay tức khắc, hai mắt trừng trừng nhìn vào bóng tối mịt mùng phía trước mà tiếp tục lao đi.

Tôi không biết sợ ma rừng, cũng chẳng sợ tiếng chim ăn xác kêu rúc từng hồi từ cánh rừng ma phía chân dốc. Những câu chuyện rùng rợn mà đám người lớn hay kể bên bếp lửa mùa đông để dọa lũ trẻ con không làm tôi chùn bước. Điều duy nhất khiến tôi khiếp đảm lúc này là ánh đèn dầu tù mù hắt ra từ khe liếp nhà bác Lương, là cái bóng to lớn sặc mùi thuốc lào của bác đứng sừng sững bên hiên, và tiếng cành củi dẻ gai xé gió rít lên chát chúa trước khi giáng xuống thân thể mình. Cơn kinh hoàng ấy đuổi sát gót chân, tàn nhẫn hơn cả bóng tối, đẩy tôi lao điên cuồng về phía thung lũng sâu thẳm, nơi có một gờ đất thoai thoải nhìn xuống bờ suối Nà Ban—nơi mẹ tôi đang nằm yên dưới gốc cây ban già.

***

Đến được chân dốc Ban Nà, hai lá phổi tôi rát bỏng như phải hít toàn tàn tro than củi. Tôi ngã quỵ xuống bên một tảng đá hộc xám xịt chắn ngang lối mòn, hai tay vẫn ôm ghì lấy bọc sách vở trước ngực như ôm lấy mạng sống của chính mình. Đêm vùng cao im lìm đến rợn ngợp. Cái im lặng của núi rừng không đem lại sự bình yên, mà nó đè nặng như một khối đá ngàn cân, chỉ chốc chốc lại bị xé toạc bởi tiếng gió lùa qua những triền ngô khô xác trơ gốc, nghe xào xạc, thê lương như tiếng áo quan gỗ nghiến cọ vào lòng huyệt sâu.

Cái rét bắt đầu ngấm sâu vào từng thớ thịt. Lớp mồ hôi túa ra khi chạy thốc tháo gặp gió lạnh liền đông cứng lại thành một lớp màng buốt nhức áp chặt vào da. Cơn đau từ những lằn roi dẻ gai lúc này mới thực sự bùng nổ dữ dội. Những vết lằn nổi phồng lên như những con sâu đo bò ngoằn ngoèo trên lưng, trên vai, mỗi lần cọ vào thớ vải thô ráp của manh áo rách là một lần da thịt tôi giật thót, xót xa như bị xát muối ớt.

Và cùng với cái rét buốt thấu xương, cơn đói ập đến, cào cấu ruột gan tôi như một đàn kiến lửa hung hãn.

Dạ dày tôi rỗng không từ sáng sớm tinh mơ. Bát mèn mén độn sắn khô chan nước lã mà con bé Lan lén bớt lại cho tôi từ lúc trời còn chưa rõ mặt người đã tan biến từ lâu sau một ngày oằn lưng cuốc vạt cỏ gianh già và bốc đá hộc xếp bờ ta luy chống sạt lở. Bụng tôi thắt lại từng cơn quặn thắt, miệng khô khốc, đắng ngắt mùi dịch vị chua loét ứa ngược lên tận cổ họng.

Nằm co quắp trên nền đất lạnh, tựa lưng vào tảng đá buốt như băng, tôi chợt nhớ đến những lần bị cắt cơm ở nhà bác Lương.

Ký ức của chuỗi ngày ăn nhờ ở đậu sau khi cha mẹ qua đời không đọng lại thành những mốc thời gian rõ rệt, không có ngày vui tháng trọn, mà nó hằn sâu bằng từng bữa đói triền miên. Tôi nhớ như in buổi chiều hôm ấy, gùi bó củi dẻ quá nặng vướng vào góc cột hiên, làm lật úp thúng ngô giống răng ngựa quý hơn vàng của bác Lương xuống vũng bùn trước sân. Tôi nhớ ánh mắt giận dữ tóe lửa của bác dâu Sương khi quăng chiếc đũa cả xuống phản nứa đánh "cạch" một tiếng khô khốc, và tiếng bác Lương gầm lên giữa nhà, bảo rằng một hạt ngô giống răng ngựa kia còn giá trị hơn gấp mười lần cái thân xác ăn hại của tôi.

Tối hôm đó, nồi cơm dỡ ra giữa nhà lớn, hơi khói nghi ngút thơm lừng mùi gạo mới quyện lẫn sắn ngọt bốc lên ngùn ngụt, lan tỏa khắp gian nhà ngoài, nhưng phần của tôi là một khoảng trống trơ trọi bên góc phản nứa. Tôi nhớ cảm giác mình thu mình trong bóng tối ẩm thấp của gian chái phụ tựa vách đá, nghe tiếng bát đũa khua lanh canh ngoài nhà lớn, nghe tiếng nhai nhồm nhoàm vô tư của thằng Tùng, và thấy dạ dày mình co bóp đau đớn đến trào nước mắt. Đói đến run rẩy chân tay, đói đến mức hoa cả mắt, nhìn bóng tối mịt mùng mà ngỡ như có muôn ngàn đốm lửa lập lòe nhảy múa.

Rồi tôi nhớ cả cái lần bác dâu Sương đổi ý sau khi xong bữa. Bác múc cho tôi nửa bát nước canh lõng bõng mấy cọng rau tàu bay luộc úa vàng cùng mẩu sắn cháy đen sì dưới đáy nồi, đặt cộp xuống bậc cửa buồng phụ như bố thí cho một con chó hoang tha thẩn lạc vào sân. Lúc ấy, thằng Tùng đứng tựa lưng vào cột nhà, hai tay khoanh trước ngực, nhếch mép cười khẩy:

— Ăn đi mày! Bố tao bảo mày ăn hạt nào là nợ nhà tao hạt nấy đấy! Không ăn thì mai nhịn đói mà vác cuốc leo dốc Ban Nà!

Lúc đó, một ngọn lửa uất nghẹn từ đâu bùng lên nơi lồng ngực non nớt của đứa trẻ mới lên năm tuổi. Tôi đã nhìn trân trân vào mẩu sắn cháy đen đúa ngập trong thứ nước canh lờ nhờ ấy, hai bàn tay nắm chặt lại đến mức móng tay bấm sâu vào lòng bàn tay rớm máu tươi. Tôi đã không bước tới nhặt lấy cái bát. Tôi quay lưng lại, bước thẳng về chiếc chõng tre ọp ẹp gãy nan kê bằng mấy hòn đá hộc, vùi mặt vào đống bao tải dứa hôi xì mùi ẩm mốc để nuốt nghẹn từng tiếng nấc vào tận ruột gan.

Ngay từ những ngày đầu tiên bước chân qua bậc cửa ngôi nhà lợp fibro xi măng ấy, tôi đã mơ hồ nhận ra một sự thật tàn nhẫn: Trong mắt bác Lương, và có lẽ trong mắt cả cái bản làng nghèo xơ xác này, tôi không phải là một đứa cháu ruột thịt mồ côi cần được cưu mang, chở che. Tôi là một gánh nợ. Tôi là một cái tàu há mồm ăn bám vào cái chum gạo vốn quanh năm đã cạn đáy. Mọi thứ tôi nhận được—từ chỗ ngả lưng trên chiếc chõng ọp ẹp nơi chái phụ ẩm thấp tựa vách đá rỉ nước, manh áo bông cũ chắp vá chỉ thừa, cho đến từng bát mèn mén độn sắn sượng ngắt—đều có một cái giá rành rọt được tính bằng số gùi củi tôi mang về từ rừng sâu, số gánh nước tôi kéo từ mó đá dưới vực, hay số mét bờ ta luy đá tôi phải xếp phẳng phiu trước khi mặt trời khuất bóng sau rặng núi Pha Luông.

Ở cái đất Bản Nà Ban này, người ta đo lòng người bằng hạt thóc, hạt ngô. Điều đó nghiệt ngã, nhưng tàn nhẫn nhất là họ đem phẩm giá của một con người ra để định giá bằng một bát cơm.

Nếu tôi cuốc đất nhanh thoăn thoắt, gánh nước đầy tràn hai thùng không sánh ra ngoài giọt nào, biết cúi đầu câm lặng trước những cái thúc cùi chỏ hay những cú đá lén của thằng Tùng, tôi sẽ được ban phát một bát cơm đầy có dính chút tóp mỡ cháy đáy nồi. Nếu tôi dám ngẩng đầu lên, dám giữ lấy một cuốn vở cũ, dám ngồi trong hốc đá ghép từng con chữ thay vì cắm mặt cuốc cho xong vạt nương cỏ gianh, thì bát cơm ấy sẽ lập tức bị tước đoạt, thay vào đó là cành củi dẻ gai quất nát da thịt cùng cái án "đồ vong ân bội nghĩa, đồ trèo trẹo muốn làm thầy thiên hạ".

Một nỗi sợ hãi khủng khiếp dâng lên trong lòng tôi giữa đêm đông hoang vắng, nhưng đó tuyệt nhiên không phải là nỗi sợ bị bỏ đói đến chết rũ xương trên triền đồi cằn cỗi này.

Tôi sợ nhất là cả đời mình sẽ bị nhốt chặt vĩnh viễn trong cái thước đo cay nghiệt ấy. Tôi sợ một ngày nào đó, chính tôi cũng sẽ tin rằng giá trị duy nhất của đời mình chỉ đáng bằng một bát cơm độn sắn khô, rằng tôi sinh ra chỉ để cày xới nương rẫy, bốc đá gánh phân để trả món nợ thuốc men, ma chay của cha mẹ cho đến khi kiệt sức mà chết rũ như cha tôi trên manh chiếu rách. Nỗi sợ hãi ấy lạnh buốt hơn cả gió Pha Luông, nhức nhối hơn cả những vết thương rách toạc sau lưng đang rỉ máu. Nó bóp nghẹt cổ họng tôi, khiến tôi nghẹt thở giữa thung lũng bao la.

***

Tôi loạng choạng gượng dậy, hai tay vẫn ôm chặt bọc sách trước ngực, bước tiếp những bước xiêu vẹo qua vạt nương hoang tàn dẫn lên gò đồi thoai thoải bên mép suối.

Bóng cây ban già hiện ra sừng sững giữa nền trời đêm xám đục. Thân cây xù xì, vặn xoắn những đường gân guốc như một cánh tay khô gầy của người mẹ đang vươn lên từ lòng đất đá cằn cỗi để níu lấy chút ánh sáng le lói từ những vì sao thưa thớt cuối trời. Ngay dưới tán cây rợp bóng, một mô đất nhỏ phủ đầy cỏ dại lúp súp nằm lặng lẽ trong sương đêm buốt giá. Đó là mộ mẹ tôi.

Không có tấm bia đá nào, không có bát hương sành tử tế. Cha tôi ngày trước, khi cơn ho chưa quật ngã ông xuống giường, chỉ kịp vần mấy hòn đá cuội to bản quanh mép mộ để đất không bị những trận lũ quét mùa hạ xói mòn, rồi cắm một nhánh cành ban tươi lên đầu ngọn mộ trước khi căn bệnh lao phổi rút kiệt chút sức tàn cuối cùng của ông chưa đầy hai tháng sau đó.

Tôi quỳ sụp xuống bên gờ đá cuội lạnh ngắt. Hai đầu gối tôi chìm sâu vào lớp cỏ đẫm sương đêm ướt sũng. Tôi buông tay, để cuốn vở bìa xanh và cuốn sách tập đọc lớp một rơi êm trên mặt đất phủ cỏ, rồi gục đầu xuống lớp đất nâu ẩm ướt, hai cánh tay gầy guộc ôm choàng lấy thân cây ban già xù xì thô ráp.

— Mẹ ơi...

Tiếng gọi bật ra khỏi lồng ngực tôi, nghẹn đắng, vỡ vụn thành những tiếng nấc khô khốc xé toạc đêm đen.

Kể từ cái sáng sương mù dày đặc năm tôi năm tuổi—cái buổi sáng mùa đông định mệnh khi mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng sau những cơn ho rút ruột ộc ra từng búng máu tươi đỏ thẫm trên manh chiếu rách—tôi chưa từng một lần dám khóc to thành tiếng. Ở nhà bác Lương, nước mắt bị coi là sự yếu đuối, là sự vòi vĩnh trơ trẽn, là dấu hiệu của sự lười biếng. Mỗi lần thằng Tùng ức hiếp giật mất củ sắn luộc hay bác Lương vung lời cay độc ví tôi như con chó hoang ăn bám, tôi chỉ biết cắn chặt môi, cúi gầm mặt xuống đất cho đến khi môi rỉ máu, nuốt trọn vị mặn chát vào trong. Nhưng lúc này đây, bên nấm mồ cô quạnh của mẹ, trong khoảng không gian chỉ có tiếng gió ngàn hú rít và tiếng cành lá xào xạc, bức tường câm lặng mà tôi cố công dựng lên quanh mình suốt bao tháng ngày bỗng sụp đổ tan tành.

Tôi áp gò má rát bỏng vào lớp vỏ cây ban thô ráp, cảm nhận mùi hương ngai ngái của nhựa cây quyện lẫn mùi đất mùn quen thuộc. Ký ức về mẹ ùa về dữ dội, rõ nét đến từng chi tiết vụn vặt như thể mới diễn ra ngày hôm qua.

Tôi nhớ chiều cuối đông năm ấy, khi mẹ còn gượng dậy được, vịn vào vai tôi dắt tôi ra bờ ta luy bên mép sân nhà cũ. Bàn tay mẹ gầy rộc, những khớp ngón tay khô khốc như cành củi khô cong queo, khẽ xoa nhẹ lên mái tóc bờm xơm của tôi rồi chỉ tay vào những bọc nụ màu xám tro đang ẩn mình kín đáo trên cành ban trơ trụi:

— Nam này, con nhìn xem. Mùa đông cây nó trơ trụi khẳng khiu như đã chết, nhưng trong ruột nó vẫn đang âm thầm gom nhựa đấy. Chờ qua tháng Chạp, mưa xuân ấm áp về, hoa ban nó nở trắng thung lũng thì mẹ sẽ khỏe lại thôi...

Mẹ đã nói dối tôi. Mùa xuân năm ấy, hoa ban nở trắng xóa khắp các vách đá cheo leo quanh Bản Nà Ban, trắng muốt đến rợn ngợp cả một góc trời, nhưng mẹ không bao giờ khỏe lại nữa. Mẹ cứ thế lịm dần đi, trôi về cõi vĩnh hằng giữa một sáng mịt mùng sương trắng, bỏ lại tôi trơ trọi một mình giữa cõi đời đầy giông bão.

Nhưng điều tôi nhớ nhất, khắc sâu nhất trong tâm trí non nớt của mình, không phải là lời hứa dang dở ấy, mà là những buổi chiều chập choạng buông bên chiếc chõng tre trước hiên ngôi nhà tranh cũ. Khi cha tôi còn đang mải miết xẻ những súc gỗ nghiến nặng trịch ngoài rừng xa kiếm từng hào bạc vụn, mẹ kéo tôi vào lòng, lấy ra từ góc hòm gỗ một chiếc hộp sắt tây gỉ sét đựng những mẩu than củi sót lại bên bếp và những mảnh giấy xi măng cắt vuông vức ra từ vỏ bao rác nhặt được ngoài chợ huyện. Bằng bàn tay run rẩy vì những cơn sốt rét dai dẳng, mẹ cầm lấy bàn tay nhỏ thó của tôi, nắn nót vạch từng nét chữ O tròn trịa, từng chiếc dấu mũ xinh xắn của chữ Ô.

Giọng mẹ khi ấy yếu ớt, đứt quãng vì những cơn ho hen rút ruột, nhưng từng lời mẹ dặn thì khắc sâu vào tâm khảm tôi như khắc vào bia đá:

— Đời bố mẹ nghèo, không có ruộng tốt, chỉ có lưng còng với đất nương sỏi đá. Nhưng con thì phải khác, Nam ạ. Dù đói rách, khổ sở đến đâu, con cũng phải học lấy con chữ. Phải biết đọc, biết viết, phải biết giữ sách vở cho sạch sẽ, phẳng phiu. Người biết chữ thì cái đầu mới sáng, mới không bị người ta chèn ép, mới không phải sống một đời tăm tối như kiếp con trâu cày dưới đáy vực...

Ký ức dịu dàng ấy như một làn nước mát rượi dội vào những vết thương đang rát bỏng trên lưng tôi. Nhưng ký ức không làm mẹ tôi sống lại. Đất dưới hai đầu gối tôi vẫn lạnh căm căm. Cành ban già bên trên vẫn chỉ trơ trọi những mấu mắt cằn cỗi oằn mình dưới gió rét. Mẹ không thể bước ra khỏi lòng đất sâu thẳm để xoa dịu những vết lằn roi rớm máu, không thể nấu cho tôi một bát cháo nóng hổi lót dạ, cũng chẳng thể đứng ra che chở cho tôi trước những trận đòn roi tàn nhẫn của bác Lương.

Nhưng chính ở nơi hoang tàn lạnh lẽo này, bên nấm mồ không bia đá của mẹ, tôi tìm thấy một nơi chốn duy nhất trên cõi đời để trút ra tất cả những nỗi uất ức mà tôi chưa từng dám hé răng trước mặt bất kỳ ai.

Tôi quỳ thẳng dậy, hai bàn tay run rẩy bấu chặt vào mép cỏ phủ trên nấm mộ mẹ. Nước mắt lã chã tuôn rơi, thấm đẫm vào nền đất xốp:

— Mẹ ơi... Hôm nay con lại bị đòn. Bác Lương đánh con đau lắm, bác bảo con là đồ ăn hại, bảo con học chữ là trèo lên đầu lên cổ người ta... Thằng Tùng giật áo con, nó định xé nát cả cuốn vở của mẹ... Nhưng con không buông tay đâu mẹ ơi! Con giữ được vở rồi, con giữ được cả cuốn sách có cánh hoa ban khô mẹ ép cho con nữa...

Gió đêm rít qua kẽ lá ban xào xạc, nghe như tiếng thở dài não nuột của núi rừng đại ngàn. Tôi quệt nước mắt bằng mu bàn tay bê bết bùn đất ram ráp, giọng tôi từ nghẹn ngào dần chuyển sang một sự đanh thép kỳ lạ:

— Người ta bảo con sống nhờ hạt cơm của nhà bác thì phải làm kiếp con trâu, con ngựa. Bác bảo điểm mười của con không mài ra mà ăn được... Nhưng con không muốn làm con trâu! Con không muốn cả đời này chỉ biết cắm mặt xuống đất đá cằn cỗi để đổi lấy một bát cơm thừa!

Tiếng tôi vang lên trong đêm thanh vắng, rành rọt và dứt khoát. Đó không còn là tiếng than khóc van xin sự thương hại của một đứa trẻ mồ côi bị ruồng rẫy. Nó là sự bùng nổ, sự giải phóng của tất cả những đè nén, tủi nhục, đói khát và đau đớn mà tôi đã phải nén chặt trong lồng ngực suốt bao tháng ngày qua dưới mái nhà fibro xi măng lạnh lẽo.

***

Tôi cúi xuống, cẩn thận nhặt cuốn vở bìa xanh lên. Dưới ánh trăng mờ đục le lói qua tầng mây mù dày đặc, tôi lật từng trang giấy thân thương.

Nửa đầu cuốn vở là những bài thơ mẹ tôi chép bằng mực tím từ ngày còn ở miền xuôi, nét chữ mềm mại, nghiêng nghiêng như chính bóng dáng gầy guộc của mẹ ngày xưa. Bốn trang cuối cùng vốn trắng tinh, giờ đây đã lấm tấm vài vết mực tím li ti và những nét than chì viết sát vào tận mép lề giấy—nơi tôi cẩn thận giải từng phép toán chia hạt ngô, hạt thóc mà thầy giáo cắm bản dạy ở kho thóc cũ của hợp tác xã.

Tôi áp bàn tay nhỏ thó, chai sần của mình lên mặt giấy còn vương mùi ẩm mốc, rồi ngước nhìn lên tán cây ban già đang oằn mình chống chọi với cơn cuồng phong gầm rú từ đỉnh Pha Luông.

Một ý nghĩ dứt khoát, sắc bén như một lưỡi dao mác cắm phập vào tâm trí non nớt của tôi.

— Con hứa với mẹ, con thề dưới gốc cây này... — Tôi cất lời, từng tiếng rành rọt, đanh thép rơi vào màn đêm lạnh buốt. — Con sẽ học. Con sẽ học thật giỏi. Con sẽ học để biết hết tất cả những con chữ, những con số trên đời này!

Lúc bấy giờ, một đứa trẻ chưa đầy sáu tuổi lớn lên giữa thung lũng đá tai mèo Bản Nà Ban như tôi hoàn toàn chưa có một khái niệm nào về thế giới bao la ngoài kia. Tôi chưa từng biết ngoài huyện có những ngôi trường to lớn ra sao, chưa từng nghe đến cái tên Đại học Bách khoa Hà Nội, càng không thể hình dung nổi những dòng lệnh lập trình phức tạp hay những thuật toán phần mềm mà hàng chục năm sau sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc đời mình. Khái niệm "học" trong đầu tôi khi ấy đơn sơ và thuần khiết đến tận cùng: học là để đọc thông viết thạo mọi tờ giấy má, học để giải được những bài toán hóc búa nhất mà không ai có thể bắt bẻ hay coi thường, học để có thể ngẩng cao đầu bước đi giữa cõi đời mà không phải cúi gầm mặt trước bất kỳ ai.

Nhưng quan trọng hơn cả, việc học lúc này đã trở thành pháo đài kiên cố duy nhất để tôi bảo vệ lòng tự trọng của mình.

— Con sẽ không để một bát cơm quyết định giá trị đời con nữa! — Tôi ghì chặt cuốn vở vào ngực, lặp lại lời thề, nghe rõ tiếng trái tim mình đập thình thịch, rung lên sau khung xương sườn nhức buốt. — Bác có đánh con gãy đòn gánh, bác có bắt con nhịn đói qua ngày, con cũng không bao giờ bỏ chữ. Ban ngày con sẽ làm nương, con sẽ gánh nước, con sẽ trả đủ từng cọng sắn, từng hạt ngô mà con ăn của nhà bác... nhưng đêm về con sẽ học! Con sẽ giữ lấy con chữ của mẹ cho đến cùng!

Gió núi bỗng ngưng bặt trong chốc lát, như thể cả thung lũng Bản Nà Ban vừa nín thở lắng nghe lời thề ngây thơ mà bi tráng của đứa trẻ mồ côi quỳ dưới gốc cây ban già.

Tôi không biết con đường ấy sẽ đưa tôi đi về đâu, sẽ dẫn tôi vượt qua bao nhiêu ngọn núi cao, bao nhiêu vực sâu tăm tối. Tôi chỉ biết rằng, kể từ khoảnh khắc quỳ gối dưới gốc ban bên nấm mồ mẹ đêm ấy, tôi không còn là một đứa trẻ thụ động chấp nhận sự an bài tàn nhẫn của số phận. Tôi đã tìm thấy cái neo duy nhất của đời mình để bám chặt vào giữa giông bão cuộc đời. Dù ngày mai trời có đổ sương muối trắng xóa nương rẫy, dù đòn roi có tiếp tục xé rách da thịt, thì ý chí tự quyết bên trong tôi đã bắt đầu đâm chồi nảy lộc, kiên cường và dai dẳng như những bọc nụ hoa ban đang âm thầm ngậm nhựa sống giữa mùa đông buốt giá.

Sương đêm bắt đầu buông dày hơn, phủ lên manh áo rách của tôi một lớp ẩm ướt buốt giá. Giữa tiếng gió rít qua tán cây ban già, một âm thanh sột soạt rất khẽ từ phía lối mòn dốc vọng lại. Có tiếng chân giẫm ngập ngừng trên lớp lá khô, rồi vội vã dồn dập hơn.

— Anh Nam! Anh Nam ơi!

Tiếng gọi thì thào, run rẩy và chìm lấp trong tiếng gió hú đại ngàn. Tôi giật mình thót thỏm, vội vã giấu cuốn vở vào sát lồng ngực, căng mắt nhìn qua bóng tối lờ nhờ. Từ bờ nương dốc dựng đứng, một cái bóng nhỏ thó đang lầm lũi trèo lên. Chiếc khăn len cũ kỹ quấn kín đầu chỉ để lộ đôi mắt kèm nhèm vì ngái ngủ và nỗi sợ hãi lộ rõ. Là Lan.

Con bé thở không ra hơi, hai bàn tay lạnh ngắt bám chặt vào tảng đá cuội cạnh chân tôi để lấy đà trèo lên gờ đất. Nó run lên bần bật, môi tím tái vì lạnh, nhưng ánh mắt ánh lên vẻ nhẹ nhõm tột cùng khi nhìn thấy tôi vẫn còn ngồi nguyên đó bên nấm đất của mẹ.

— Em biết ngay anh chạy lên đây mà... — Lan ngồi thụp xuống bãi cỏ đẫm sương đêm, kéo từ trong bọc áo bông sờn rách ra một bọc lá chuối hơ lửa hãy còn vương chút hơi ấm mong manh. — Mau ăn đi anh. Cơm nguội từ tối qua đấy, em lén vét dưới đáy chõ lúc mẹ không để ý rồi giấu tít vào bồ trấu. Có cả mẩu cá khô bác Sương kho dở trưa qua nữa, em nhặt cất đi cho anh đấy.

Tôi trân trân nhìn bọc lá chuối mở ra, để lộ vắt cơm xám xịt độn sắn khô xơ xác. Mùi cá khô mằn mặn bốc lên thơm ngát giữa cái đói đang cào cấu dữ dội trong ruột gan, nhưng cổ họng tôi bỗng nghẹn ứ lại, cay xè nơi khóe mắt.

— Sao mày lại mò lên đây giữa đêm hôm thế này? — Tôi khẽ gắt, cố nén giọng khàn đặc. — Rừng rú tối om om, sẩy chân ngã xuống vực thì ai cứu? Bác Lương mà thức giấc thấy mày trốn đi, bác lại quất nát đòn cho mà xem.

— Em không sợ! — Lan lắc đầu quầy quậy, hai tay giúi mạnh bọc cơm vào đôi bàn tay trầy xước, đầy bùn đất của tôi. — Bố ngáy to rồi, say rượu từ lúc tối mịt bên nhà ông Trưởng bản. Mẹ cũng vừa chợp mắt xong. Em phải chạy đi tìm anh ngay trước khi trời sáng. Anh Nam ơi, anh ăn mau đi rồi theo em về nhà.

Tôi cúi mặt nhìn vắt cơm trong lòng bàn tay, ngón tay run rẩy chạm vào từng hạt gạo nguội ngắt, khô cứng:

— Tao không về nữa đâu. Về đấy để bác quất roi dẻ gai vào người à? Bác bảo tao là đồ ăn hại, đồ vong ân bội nghĩa. Tao ở lại đây với mẹ tao. Có chết đói tao cũng ở đây.

— Anh đừng có dại dột thế! — Lan nắm chặt lấy cổ tay áo tôi, giật mạnh một cái, giọng con bé rưng rưng nhưng đầy vẻ thảng thốt, già dặn trước tuổi. — Anh mà không về thì sáng mai bố thức dậy, bố sẽ càng có cớ chửi bới anh thậm tệ hơn! Bố sẽ bảo với cả bản là nuôi ong tay áo, bảo anh ăn hết cơm gạo nhà này rồi dở chứng bỏ trốn vì lười biếng. Lúc ấy bố cấm tiệt anh bén mảng đến lớp học xóa mù chữ của thầy giáo cắm bản, bố tìm thấy sách vở của mẹ anh là bố xé vụn rồi ném vào bếp lửa cho xem!

Lời con bé đập vào màng nhĩ tôi như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào cơn uất nghẹn đang sôi sục. Tôi sững sờ nhìn Lan. Trong ánh sáng nhờ nhờ của buổi tàn đêm, đôi mắt của đứa em họ nhỏ hơn tôi nửa tuổi ánh lên một nỗi lo lắng đến tội nghiệp. Nó nói đúng. Đúng một cách tàn nhẫn. Nếu tôi bỏ trốn lúc này, tôi chỉ chứng minh cho những lời thóa mạ cay nghiệt của bác Lương là sự thật. Tôi sẽ mãi mãi chỉ là một đứa trẻ hèn nhát, vô ơn, trốn chạy khỏi món nợ áo cơm và tự tay chôn vùi tất cả những ước mơ con chữ vừa mới nhen nhóm.

— Bố bảo ai ăn cơm nhà này thì phải làm cho ra việc, — Lan thì thào tiếp, giọng chùng xuống, mắt nhìn về phía bản xa. — Anh về đi. Về trước lúc trời rạng mặt người. Phần nương hôm qua anh chưa cuốc xong, bờ ta luy đá chưa xếp xong, anh gánh nước băm bèo bù vào từ sớm, rồi làm nốt trên nương thì bố không còn cớ gì để chửi anh được nữa. Nhịn một chút đi anh, rồi ban ngày mình lại lén tìm cách đi học...

Tôi cắn chặt môi, nuốt một miếng cơm nguội khô khốc vào bụng. Hạt cơm sượng ngắt cọ vào cổ họng đang bỏng rát vì khát, đau như nuốt phải sỏi, nhưng tôi vẫn nghiến răng nhai nghiến ngấu. Tôi ăn không phải vì thèm khát sự thương hại hay ban ơn, mà ăn để có sức đứng dậy. Từng mẩu cá khô mặn đắng thấm vào đầu lưỡi, như ngấm thẳng vào từng mạch máu, nhắc tôi nhớ về lời thề sắt đá vừa thốt ra dưới gốc cây ban già.

— Đi thôi, — tôi nuốt nghẹn ngụa ngụm cơm cuối cùng, gói vội manh áo rách quanh ngực để bọc kín hai cuốn sách quý giá. — Tao về.

***

Hai anh em tôi lần theo gờ bờ nương đi xuống khi bóng tối vẫn còn đặc quánh như mực tàu đổ trên thung lũng. Gió sớm quất từng luồng lạnh buốt qua các rãnh ngô khô xác, sương muối phủ một lớp mỏng trắng nhờ nhờ lên ngọn cỏ gai ven đường.

Căn nhà gỗ lợp mái fibro xi măng xám xịt của bác Lương hiện ra im lìm, tựa lưng vào vách đá tai mèo dựng đứng. Tiếng trâu mộng thở phì phò ấm ức trong bóng tối buồng rơm và tiếng ngáy kéo gỗ nặng nề, đứt quãng của bác Lương bên gian ngoài vẫn đều đặn vọng ra qua khe liếp nứa. Cánh cổng bằng những thanh nứa đan chéo chỉ khép hờ, cài bằng một sợi dây mây mỏng.

Chúng tôi rón rén bước qua khoảng sân nện đất cứng ngắc, lạnh buốt. Những vệt máu khô từ vết thương trên bắp chân tôi cọ vào gấu quần chàm ran rát, nhức nhối theo từng bước chân.

Lan ra hiệu cho tôi lách người về phía sau gian chái phụ. Tôi đứng lặng giữa gian buồng xập xệ, nghe tiếng giọt sương đêm đọng trên mép mái fibro xi măng nứt vỡ rỏ tong tòng xuống nền đá ẩm thấp dưới chân chõng. Tôi cúi người, dùng hết sức bình sinh vần tảng đá hộc to bản ở góc chân chiếc chõng tre ọp ẹp ra một bên. Lần này, tôi không chỉ lót lớp bao tải dứa đơn thuần như mọi bận. Tôi tìm một mảnh nilon rách dùng để che phân chuồng đã được giặt sạch phơi khô từ trước, cẩn thận bọc kín nhiều lớp quanh cuốn vở học trò bìa xanh của mẹ Mai và cuốn sách tập đọc lớp một có ép cành hoa ban khô.

Tôi nhét sâu gói bọc ấy vào một khe nứt sâu hoắm của vách đá tự nhiên phía sau chõng tre—nơi kín đáo, khô ráo hơn hẳn và nằm khuất lấp sau một hộc đá lồi ra như cái mai rùa. Xong xuôi, tôi vần lại hòn đá tảng vào vị trí cũ, lấy mấy thanh củi mục và cái cán cuốc gãy gác hờ hững lên trên để ngụy trang.

Thằng Tùng có lùng sục, bới tung cả ngày cũng đừng hòng tìm ra chỗ giấu này nữa.

Cất xong báu vật lớn nhất của đời mình, tôi không hề đặt lưng xuống chõng để nghỉ ngơi dù hai mắt đã díp lại vì mỏi mệt. Đêm sắp tàn, tiếng gà le te gáy sáng từ xóm Mo bên kia sườn đồi đã vọng lại từng chặp qua màn sương mù. Tôi xách đôi thùng gỗ cũ kỹ mòn vẹt mép, bước thật nhẹ ra bể nước mó sau vách đá.

Đôi bàn tay tôi sưng húp, các khớp ngón tay tím bầm sau trận đòn chiều qua, nhưng tôi vẫn nghiến răng bám vào dây kéo, múc từng gàu nước buốt giá như cắt da cắt thịt đổ đầy ăm ắp vào hai chiếc chum sành lớn cạnh hiên bếp. Sau đó, tôi ngồi xổm bên đống thân chuối rừng nhiều nhựa đã chặt từ hôm trước, cầm con dao quắm cùn băm từng nhát dứt khoát vào chiếc máng gỗ khoét rỗng cho lợn ăn.

Từng nhát dao giáng xuống, đều đặn, lạnh lùng và chuẩn xác. Tiếng dao bập vào thân chuối chát chúa vang lên giữa buổi tàn đêm như một cách tôi nén chặt từng cơn đau thể xác, từng nỗi uất nghẹn vào sâu tận đáy lòng.

***

Khi vệt sáng màu xám tro đầu tiên của ngày mới rạch ngang rặng Pha Luông xa thẳm, cánh cửa chính bằng gỗ tạp ken két mở ra.

Bác Lương bước ra hiên nhà, khoác chiếc áo bông cũ đã phai sang màu chàm bạc phếch, tay cầm chiếc điếu cày bằng tre bóng loáng nước thời gian. Bác dừng lại bên bậc cửa gỗ, đôi mắt thâm quầng và đục ngầu vì hơi rượu ngô tối qua nhìn chằm chằm vào tôi—đứa cháu mồ côi đang cặm cụi quét sạch đống xơ chuối rơi vãi quanh máng lợn, trong khi đôi chum sành phía sau lưng đã đầy ăm ắp nước mó tới tận miệng.

Hai mắt tôi chạm thẳng vào ánh nhìn gườm gườm của bác. Không gian giữa khoảnh sân đất lạnh căm căm bỗng chốc đông đặc lại như đóng băng.

Bác Lương không hề mở miệng nói một lời nào. Không có một câu hỏi han tôi đã đi đâu suốt đêm qua, không một lời nhắc lại trận đòn kinh hoàng dưới cành dẻ gai khô khốc, và càng tuyệt nhiên không có lấy một nửa lời xin lỗi hay ân hận muộn màng. Bác chỉ khẽ nhổ toẹt một bãi nước thuốc lào nâu sẫm xuống vũng bùn trước sân, châm đóm nứa rít một hơi thuốc lào thật dài. Tiếng điếu rít lên rền rĩ, khô khốc như tiếng bánh xe bò nghiến qua sỏi đá giữa trưa hè bỏng rát.

Tôi cũng không cúi đầu né tránh như mọi ngày. Tôi đứng thẳng người dậy, lưng áo rách để lộ những vệt đòn roi đã đóng vảy thâm tím dọc sống lưng, nhìn thẳng vào người bác ruột của mình. Trong lòng tôi lúc này không còn sự sợ hãi co rúm của một đứa trẻ đợi chờ sự dung thứ hay thèm khát một chút tình thương máu mủ tội nghiệp. Tôi không tha thứ cho những lời nhục mạ bác đã trút lên linh hồn non nớt của tôi, tôi không tha thứ cho nhát roi đã xé rách manh áo và toan tính giật mất kỷ vật của mẹ. Nhưng tôi cũng không còn căm hận đến mức muốn bốc đồng bỏ chạy để chịu đói rách ngoài bìa rừng hoang vu.

Tôi hiểu rõ vị trí của mình trong ngôi nhà này hơn bao giờ hết. Giữa tôi và bác Lương lúc này là một bản giao kèo câm lặng được viết bằng mồ hôi và chén cơm thừa: Tôi sẽ làm việc, làm đến kiệt cùng sức lực để trả sòng phẳng từng hạt ngô, từng cọng sắn, trả từng cỗ áo quan mà gia đình này đã đứng ra gánh vác thay người cha đã khuất. Nhưng đổi lại, linh hồn tôi, ước mơ của tôi và con chữ tôi theo đuổi là phần bất khả xâm phạm.

Tôi đã có một mục tiêu thiêng liêng của riêng mình để bám vào. Đó không còn là sự chấp thuận hay ánh mắt xót thương của người lớn trong bản; đó là lời thề dưới tán hoa ban bên nấm mồ cô quạnh.

Bác dâu Sương từ trong gian bếp tối mò bước ra, hai tay bưng chiếc chậu nhôm đựng sắn luộc bốc khói nghi ngút. Nhìn thấy tôi đứng trân trân giữa sân đất, bác dâu thoáng chững lại một nhịp chân, ánh mắt né tránh nhìn sang đống củi khô chất cạnh vách nứa:

— Băm xong chuối thì ra vại rửa tay mà ăn miếng sắn, — bác Sương lầu bàu qua kẽ răng, giọng the thé cố giữ vẻ nghiêm khắc thường nhật nhưng thiếu hẳn cái gắt gỏng cay độc của buổi chiều hôm trước. — Ăn nhanh cái mồm rồi vác cuốc lên dốc Ban Nà làm cho xong vạt nương cỏ gianh hôm qua bỏ dở. Đừng có để thằng Tùng nó phải lên réo gọi lần nữa.

Tôi không đáp một lời, chỉ lẳng lặng gật đầu dứt khoát. Tôi bước tới vại nước, rửa sạch đôi bàn tay dính đầy nhựa chuối đen ngòm rồi cầm lấy cái cuốc dựng ở góc cột hiên, cất bước đi thẳng một mạch ra phía cổng rào, bỏ lại sau lưng bữa sáng chưa từng thực sự dành cho một kẻ ăn nhờ ở đậu.

***

Rất nhiều năm sau cái đêm đông buốt giá ở Bản Nà Ban ấy, tôi ngồi một mình trong căn phòng làm việc tĩnh mịch của căn hộ chung cư giữa lòng Hà Nội.

Đồng hồ điện tử trên bàn làm việc đã điểm ba giờ sáng.

Phía sau cánh cửa phòng ngủ khép hờ, tiếng thở đều đặn, êm ái của con trai tôi—bé Minh An—vọng ra nhè nhẹ giữa đêm khuya. Cạnh giường con, Minh Thư có lẽ cũng vừa thiếp đi sau khi thức dậy ép tôi uống nửa cốc nước ấm và dặn dò cẩn thận từng cữ thuốc giảm đau liều cao. Vợ tôi luôn chu đáo và dịu dàng như thế, luôn lặng lẽ chịu đựng và che giấu nỗi hoang mang tột cùng trước bệnh án ung thư dạ dày giai đoạn muộn của chồng, cố gắng không bao giờ làm tôi nặng lòng bằng những giọt nước mắt thừa thãi trước mặt con.

Trước mặt tôi, màn hình máy tính vẫn sáng xanh le lói trong bóng tối gian phòng. Chiếc micro thu âm chuyên dụng đặt ngay ngắn bên cạnh tập tài liệu mã nguồn dày cộp của Ban Trắng và nền tảng Mộc Lan—những sản phẩm công nghệ mà tôi đã dồn trọn vẹn cả tuổi trẻ, trí tuệ và có lẽ là cả tính mạng của mình để gầy dựng nên từ con số không.

Tôi đưa bàn tay gầy guộc khẽ xoa nhẹ lên vùng thượng vị. Cơn đau âm ỉ, nhức nhối như hàng ngàn mũi kim châm vẫn đang gặm nhấm từng tế bào bên trong cơ thể tôi. Di căn hạch vùng, khối u đã xâm lấn qua thanh mạc—những thuật ngữ y khoa lạnh lùng của bác sĩ Đặng Hoài Phương ở Bệnh viện K chẳng khác nào một bản án tử hình đã đóng dấu đỏ chót. Tôi biết rõ mình không còn nhiều thời gian trên cõi đời này nữa, không còn đủ thời gian để nhìn thấy bé Minh An trưởng thành bước chân vào đại học, hay để cùng Thư già đi bên mái đầu bạc trắng.

Ánh mắt tôi lướt qua khung cửa kính sát đất trong suốt, dừng lại ở chậu hoa ban đặt ngay góc ban công lộng gió.

Đó là một cành ban tôi cẩn thận chiết từ chính cây ban già bên nấm mồ mẹ ở chân đỉnh Pha Luông mang xuống Hà Nội hai năm trước, vào đúng cái ngày hai vợ chồng tôi gom góp trả hết đợt tiền nợ cuối cùng cho căn nhà này. Giữa không gian phố thị đầy khói bụi, ngột ngạt và ánh đèn cao áp rực rỡ thâu đêm, những chiếc lá ban hình móng bò xanh biếc vẫn kiên cường xòe rộng, chắt chiu từng ngụm sương đêm nơi ban công tầng cao chót vót.

Nhìn chậu ban ấy, tôi như thấy lại chính mình của đêm đông năm sáu tuổi—thằng bé gầy gò rách rưới quỳ gối dưới bùn lầy buốt giá, nghẹn ngào thề dưới gốc cây già rằng sẽ không bao giờ để một bát cơm quyết định giá trị cuộc đời mình.

Lời thề ấy đã đưa tôi đi một chặng đường thật xa.

Nó đã vực tôi dậy sau những trận đòn roi tàn nhẫn, đẩy tôi vượt qua những buổi sáng nhịn đói cồn cào leo dốc làm nương, đưa tôi bước qua cánh cổng Đại học Bách khoa Hà Nội với số điểm thủ khoa danh giá, và trao cho tôi sức mạnh phi thường để thức trắng hàng trăm đêm ròng gõ từng dòng mã lập trình, dựng nên cả một công ty công nghệ vững mạnh từ hai bàn tay trắng không một đồng xu dính túi. Lời thề ấy từng là ngọn lửa thiêng liêng nhất cháy rực trong lồng ngực tôi, là tấm khiên vững chắc nhất bảo vệ lòng tự trọng kiêu hãnh của một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu.

Nhưng ngồi ở đây lúc này, đứng trước ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết cận kề, tôi phải cay đắng thừa nhận một sự thật: Lời thề năm ấy đưa tôi đi rất xa, nhưng nó vĩnh viễn không bao giờ xóa bỏ được những vết thương đã hằn sâu vào máu thịt.

Nó không xóa được cảm giác tự ti, mặc cảm tội lỗi đã ăn sâu vào tủy não mỗi khi tôi đối diện với gia đình nề nếp, khá giả của Thư. Nó không xóa được thói quen cay nghiệt là luôn tự cô lập mình trong cô độc, luôn giấu nhẹm mọi đau đớn, đói khát và kiệt sức vì sợ người khác nhìn mình bằng ánh mắt thương hại hay coi mình là một gánh nợ phiền toái. Và nó cũng chẳng thể nào bảo vệ thân thể tôi khỏi căn bệnh ung thư quái ác này—hậu quả khôn lường của những năm tháng dài đằng đẵng vắt kiệt thể xác bằng những bữa cơm độn đói khát tuổi thơ, những âu mì gói sống qua ngày thời sinh viên nghèo túng và những đêm thức trắng triền miên để chứng minh giá trị bản thân với cuộc đời.

Tôi đã giành được quyền tự quyết trọn vẹn cho cuộc đời mình, nhưng cái giá phải trả cho sự tự quyết ấy quá đắt, đắt đến mức nghiệt ngã vô cùng.

Tiếng gió đêm ngoài ban công khẽ lay động tán lá ban, phát ra âm thanh xào xạc quen thuộc như tiếng rừng xưa vọng về. Tôi hít một hơi thật sâu, nén lại cơn đau nhức buốt đang nhói lên từng chặp nơi dạ dày, ngón tay run rẩy nhấn nút lưu đoạn ghi âm vào thư mục mang tên mình trên màn hình máy tính.

Tôi biết, để đi tiếp từ khoảnh khắc quỳ dưới cây ban năm ấy cho đến ngày hôm nay, chỉ có quyết tâm thôi là không bao giờ đủ. Ngay cả khi tôi đã sẵn sàng cày nát da thịt trên nương đá để bảo vệ từng con chữ, thì cánh cửa bước ra thế giới rộng lớn ngoài kia vẫn sừng sững những rào cản nghiệt ngã mà sức lực của một đứa trẻ không thể nào tự mình vượt qua nổi. Cơ hội tiếp theo đòi hỏi không chỉ quyết tâm, mà cả tiền bạc và sự cho phép của người bác.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories