Hồ Sơ Phố CổCh.7 / 38
Chapter 7

Ngăn Kép Của Người Quản Lý

Tiếng gõ lách cách của cụ Tư Thời vang lên đều đặn, khô khốc và nhịp nhàng như nhịp con lắc của một chiếc đồng hồ quả lắc cổ, khi cụ dùng đầu tuốc nơ vít nhỏ bằng thép tôi gõ nhẹ từng nhịp vào bốn góc mép sắt đã rỉ sét của chiếc hộp gia bảo. Không gian gian giữa căn nhà số 22 ngõ Hàng Chỉ chìm sâu trong sự ngột ngạt quánh đặc của một buổi chiều muộn mùa thu Hà Nội. Mùi gỗ mục từ những chân cột lim ngâm nước mưa qua nhiều thế kỷ, mùi ngải cứu, thục địa, cam thảo ám sâu vào từng thớ xà gồ sau hàng chục năm sao tẩm, hòa lẫn với thứ mùi ẩm mốc của những tập tài liệu giấy bản cũ bốc lên ngai ngái dưới ánh đèn tuýp vàng vọt chập chờn. Bên ngoài con ngõ nhỏ quanh co, tiếng còi xe máy giòn giã dội vào từ ngã tư Hàng Bông chỉ còn là những âm thanh xa xôi, mờ nhạt, dường như bị nuốt chửng hoàn toàn bởi những bức tường gạch vồ rêu phong dày cộp, ẩm ướt của ngôi nhà ống ba gian hai chái điển hình nơi phố cổ.

Tất cả những người có mặt trong căn phòng lúc này đều vô thức nín thở, mắt không rời từng cử động nhỏ nhất trên đôi bàn tay gầy guộc, chằng chịt những đốm đồi mồi và vết sẹo nghề nghiệp của người thợ đồng hồ già. Thanh tra Lục Khang đứng thẳng lưng bên mép bàn lim xẻ dày bốn phân, cuốn sổ tay công tác bìa da đen mở sẵn, cây bút bi kẹp chặt giữa hai ngón tay thon dài nhưng ngòi bút vẫn lơ lửng chưa hạ xuống một nét nào. Ngay sát cạnh anh, ông tổ trưởng dân phố chốc chốc lại đưa tay lên vuốt ngực, cùng đồng chí công an khu vực trố mắt nhìn chằm chằm vào chiếc hộp sắt màu xanh ve chai đã tróc sơn từng mảng lớn, để lộ ra những vệt gỉ sắt màu nâu đỏ sần sùi như vảy rồng.

Ở phía đối diện, Vũ Tuấn—người cháu ruột vừa bị cơ quan chức năng bóc trần trò làm giả di chúc bằng bản photo scan in phun lem nhem cách đây ít phút—đang đứng tựa lưng vào góc cột gỗ, toàn thân dán chặt vào lớp vôi tường bong tróc. Gương mặt gã xám ngoét không còn một giọt máu, mồ hôi lạnh rỉ ra thành từng hạt to tướng bết dính những sợi tóc lưa thưa vào trán, hai hàm răng va vào nhau lập cập từng chập không kiểm soát nổi. Cách đó vài bước chân, chị Dung, người quản lý tiệm thuốc nam đã gắn bó trọn vẹn hơn hai mươi năm thanh xuân với bà cụ Nhược, đứng nép mình sau tấm rèm vải thô đã bạc màu che cửa buồng trong. Hai bàn tay thô ráp của chị đan chặt vào nhau đến mức các khớp ngón trắng bệch ra, đôi mắt thâm quầng sau bao đêm thức trắng nhìn trừng trừng vào chiếc hộp kim loại đặt giữa bàn lim, ánh nhìn vừa hoảng loạn, vừa đau đáu như thể đang trông thấy một cỗ quan tài thu nhỏ chứa đựng toàn bộ số phận của mình.

Cụ Tư Thời dừng đầu tuốc nơ vít lại, hơi nghiêng đầu lắng nghe tiếng vang rỗng đục phát ra từ khối kim loại già cỗi. Cụ từ tốn đưa tay lên chỉnh lại gọng kính lão bằng đồi mồi đã trễ xuống tận sống mũi, nheo mắt nhìn qua tròng kính dày cộp. Cụ không vội vã dùng sức cạy mở hay dùng lưỡi bẩy nạy mép sắt như một người thợ sửa khóa thông thường, mà chậm rãi, bình thản thò bàn tay run rẩy vào chiếc túi áo gi-lê len sờn mép mặc bên trong tấm áo bông xám. Các ngón tay khô gầy của cụ rút ra một mảnh giấy gấp tư nhỏ gọn vừa vặn trong lòng bàn tay, mép giấy đã sờn rách, ngả sang màu vàng của lá úa qua năm tháng. Mùi dầu máy đồng hồ Thụy Sĩ ngai ngái, quen thuộc đặc trưng bốc lên từ thớ giấy, hòa vào không khí nồng đậm vị thuốc bắc của căn nhà cổ.

Cụ Tư cẩn thận dùng lòng bàn tay vuốt phẳng từng nếp gấp đã hằn sâu trên mặt giấy, rồi nhẹ nhàng đặt nó xuống mặt bàn lim láng bóng, ngay sát cạnh chân đế gỉ sét của chiếc hộp sắt.

"Các cô các chú ở đây đừng vội nghi ngờ tại sao một lão thợ sửa đồng hồ già nơi đầu ngõ như tôi lại nắm rõ cấu tạo bên trong cái hộp này hơn cả những người ruột thịt trong gia đình cụ Nhược," giọng cụ Tư trầm đục, khàn khàn nhưng từng lời nhả ra lại vô cùng khoan thai, rành rọt, mang trọn vẹn sức nặng của một nhân chứng sống đã chứng kiến bao thăng trầm dâu bể của khu phố cổ này. "Cách đây tròn sáu năm, đúng vào dịp rằm tháng Bảy năm Kỷ Hợi—năm 2018 đó—đích thân bà cụ Nhược chống gậy trúc sang tiệm đồng hồ của tôi ở ngõ đối diện. Cụ mang theo cái hộp gia bảo đựng văn tự nhà đất bằng giấy bản từ thời Bảo Đại này, cùng với một miếng thép mỏng được cắt ra từ vỏ thùng đạn đại liên cũ của Pháp. Cụ ngồi xuống ghế mây, uống hớp trà sen rồi bảo tôi: 'Ông Tư khéo tay cơ khí, ông giúp tôi gia cố lại cái đáy hộp này cho thật chắc chắn. Làm cho tôi một cái ngăn kép, chỉ cần sâu chừng một phân rưỡi thôi, nhưng tuyệt đối phải có then cài trượt ngầm ăn khớp vào mộng bản lề bên trái. Người ngoài nhìn vào, sờ vào chỉ thấy đáy phẳng liền một khối kim loại dày dặn. Đời người vô thường lắm ông Tư à, tôi đã già rồi, chuối chín cây không biết rụng lúc nào, có những thứ tâm nguyện cốt tử không thể để cho đứa dại dột, hư hỏng trong nhà trông thấy mà sinh lòng tham làm bậy, làm hỏng phúc đức tổ tiên'."

Vi bước lại gần mép bàn hơn nửa bước. Ánh mắt sắc sảo, tinh tường của một người làm công tác lưu trữ và phục chế tài liệu cổ lâu năm lướt nhanh qua mảnh giấy ố vàng mà cụ Tư Thời vừa trải ra. Đó là một tờ phiếu biên nhận dịch vụ sửa chữa thủ công in bằng kỹ thuật giấy than tím thời bao cấp của Tiệm Đồng Hồ Tư Thời. Trên góc trên bên trái, con dấu khắc bằng gỗ lồng mực đỏ đã mòn vẹt các góc cạnh nhưng vẫn đọc rõ dòng chữ: *"Tư Thời — Chuyên sửa chữa đồng hồ cơ khí và phục chế khóa kim khí gia dụng"*. Phía dưới, dòng chữ viết tay bằng bút mực máy nét thanh nét đậm, mực tím học trò đã ngả sang màu tím đen trầm mặc, ghi nhận rất rành mạch: *"Nhận gia cố đáy kép hộp sắt tây đựng gia bảo, lắp lẫy trượt lò xo lá bản lề ngầm. Khách hàng: Vũ Thị Nhược, nhà số 22 ngõ Hàng Chỉ. Ngày nhận phôi: 14 tháng 8 năm 2018. Tiền công và vật tư: Đã thanh toán đủ."*

Đặc biệt, ở phần lề dưới cùng của tờ biên nhận, còn hiện diện một chữ ký run rẩy nhưng nét gút đuôi rất dứt khoát của chính bà cụ Nhược. Nét mực tím ấy giống hệt như thứ mực tím có gốc sắt gallic mà Vi vừa phát hiện trên tờ danh mục dính kèm phía sau tờ văn tự đoạn mãi năm 1942 lúc nãy.

"Phiếu biên nhận này suốt sáu năm qua tôi vẫn cất kỹ trong tập hồ sơ khách hàng quen thuộc ở ngăn kéo bàn làm việc ngoài tiệm," cụ Tư Thời ngước mắt nhìn thẳng vào Lục Khang, ánh mắt trong veo sau tròng kính lão. "Đó là thói quen cả đời của những người thợ cơ khí phố cổ chúng tôi. Hễ làm bất cứ chi tiết nào có tính chất khoang ngầm bí mật, két ẩn hay lẫy khóa then cài giấu kín, bao giờ cũng phải giữ lại một bản vẽ sơ đồ cùng biên lai ký nhận của gia chủ. Làm thế là để phòng khi người già trăm tuổi nằm xuống, người đời sau tranh chấp, nghi kỵ lẫn nhau lại đổ vấy cho người thợ già này làm điều khuất tất, tiếp tay cho chuyện mờ ám."

Lục Khang cúi rạp người xuống mặt bàn, dùng ngón tay miết nhẹ theo đường viền mép giấy than tím, quan sát độ tương đồng của chất liệu giấy xơ rơm và độ oxy hóa tự nhiên của các vết gấp. Anh khẽ gật đầu, đưa ra nhận định dứt khoát: "Tài liệu đối chiếu này có đầy đủ giá trị xác minh nguồn gốc cơ học và cấu trúc cải tạo của vật thể. Đồng chí công an khu vực lập tức ghi nhận sự tồn tại của tờ phiếu sửa chữa này vào danh mục tài liệu kèm theo biên bản làm việc tại hiện trường."

Dứt lời, Khang quay sang cụ Tư Thời, thái độ hết sức trang trọng và đúng mực theo trình tự tố tụng pháp luật: "Đề nghị ông Phạm Tư Thời tiến hành thao tác mở ngăn đáy bí mật của chiếc hộp sắt ngay tại đây, dưới sự quan sát trực tiếp của cơ quan điều tra, đại diện tổ dân phố, người làm chứng chuyên môn Ninh Tường Vi và các thân nhân có quyền lợi liên quan trong gia đình."

Cụ Tư Thời khẽ gật đầu tỏ ý đã hiểu. Cụ đưa hai bàn tay xương xẩu nâng chiếc hộp sắt lên khỏi mặt bàn gỗ lim, xoay nó nghiêng một góc đúng bốn mươi lăm độ về phía ánh sáng đèn tuýp. Cụ áp đầu ngón tay cái bên phải vào một mấu thép gồ lên rất nhỏ, chỉ cỡ bằng hạt tấm, nằm ẩn khuất ngay sát cạnh mép bản lề bên trái—một vị trí mà nếu thoạt nhìn qua, bất kỳ ai cũng sẽ đinh ninh đó chỉ là một vết hàn xì thủ công lem nhem bị gỉ sét ăn rỗ theo thời gian. Bằng một lực ấn chuẩn xác, thuần thục của một người đã dành cả đời miệt mài với bánh răng đồng hồ, cụ miết ngón tay theo phương thẳng đứng dọc theo trục quay của chốt lẫy, đồng thời tay trái khéo léo lùa đầu chiếc tuốc nơ vít dẹt vào khe hở siêu mỏng của mép gấp kim loại phía đối diện.

*Tách.*

Một tiếng đanh gọn của kim loại bật nảy khô khốc vang lên giữa bốn bức tường gian nhà cổ, phá tan bầu không khí đặc quánh, nặng nề.

Trước con mắt kinh ngạc của tất cả những người có mặt, lớp tôn sắt mỏng sơn màu ve chai—thứ mà Vi đã dùng thước dây cơ học đo đạc và phát hiện nó nằm cạn hơn gần hai xăng-ti-mét so với chiều sâu thực tế của thành ngoài chiếc hộp—từ từ nhấc bổng lên theo một góc nghiêng khoảng mười lăm độ. Phía dưới tấm tôn ấy, một thanh giằng làm bằng lò xo lá đồng thau uốn cong nhẹ nhàng nâng đỡ lấy toàn bộ nắp đáy giả, để lộ ra một khoang rỗng phẳng lặng, tinh xảo nằm sâu dưới đáy hộp.

Tại đáy sâu nhất của khoang bí mật vừa mở ra, nằm ngay ngắn, vuông vức trên một lớp vải nỉ chống ẩm màu xanh công nhân đã ngả màu xỉn, là một tờ giấy kẻ ngang học trò được gấp làm ba ngay ngắn. Mép giấy đã ngả sang màu vàng nhạt của thời gian và độ ẩm, nhưng toàn bộ những dòng chữ viết tay bằng mực tím học trò bên trên vẫn còn vô cùng sắc nét, không hề có dấu hiệu bị bay màu, phai nhạt hay nhòe nhoẹt bởi thời tiết nhiệt đới. Nét chữ nghiêng tròn, mềm mại, uyển chuyển nhưng từng nét sổ thẳng lại vô cùng vững chãi, thể hiện rõ khí chất của một người phụ nữ Nho học từng mở lớp dạy chữ xóa mù nơi ngõ nhỏ từ những năm đầu của thế kỷ trước.

Cả căn nhà nín lặng như tờ. Tiếng quạt trần quay lờ đờ trên trần nhà như ngừng hẳn lại, không gian đông cứng đến mức nghe rõ cả tiếng thở dốc đầy căng thẳng của anh Tuấn ở góc nhà.

Vi không hề vội vã đưa tay ra cầm lấy tờ giấy. Với phản xạ và đạo đức nghề nghiệp nghiêm ngặt của một người phục chế tài liệu lưu trữ quốc gia, cô bình tĩnh mở túi đồ nghề mang theo bên mình, rút ra chiếc kẹp gắp tài liệu bằng thép không gỉ chuyên dụng. Cô cẩn thận luồn đầu kẹp phẳng vào mép dưới nếp gấp, nâng tờ giấy lên khỏi lớp vải nỉ mà không để mồ hôi tay chạm vào bề mặt văn bản, rồi chậm rãi trải phẳng nó lên một tờ giấy thấm dầu màu trắng tinh khôi đã đặt sẵn trên mặt bàn, ngay dưới quầng sáng chiếu thẳng đứng của ngọn đèn.

"Đây là bản thảo di nguyện viết tay nguyên bản của cụ Vũ Thị Nhược," Vi cất tiếng, giọng cô trong trẻo nhưng giữ trọn vẻ điềm đạm, khách quan cần thiết của một giám định viên. Đôi mắt cô lướt nhanh qua từng cấu trúc sợi giấy và nét mực để xác định tính chân thực của hiện vật. "Chất liệu là giấy kẻ ngang sản xuất từ bột gỗ pha rơm thời bao cấp, loại giấy có độ xốp nhẹ và khả năng bám mực tự nhiên rất cao. Mực viết là loại mực tím gốc sắt gallic cổ điển, độ thẩm thấu ngấm sâu vào từng sợi xơ cellulose của giấy bản. Phía trên cùng văn bản, người lập ghi rõ dòng tiêu đề: *'Di nguyện căn dặn các con cháu và người làm công'*, ngày lập mùng năm tháng Chín năm Kỷ Hợi, tức vào khoảng mùa thu năm 2019 dương lịch. Phía dưới cùng của văn bản có chữ ký tay cùng dấu điểm chỉ bằng ngón trỏ bàn tay phải của cụ Vũ Thị Nhược, bên cạnh là chữ ký xác nhận của người làm chứng độc lập Phạm Tư Thời."

Vi dừng lại một nhịp, hướng ánh mắt xuống đoạn văn bản then chốt ở phần giữa của tờ giấy, nơi ghi lại việc định đoạt toàn bộ khối tài sản thừa kế. Cô đọc từng chữ một cách rành rọt, để âm vang của từng từ chạm đến lương tri của từng con người đang đứng trong căn nhà này:

"Về phần phân chia nhà đất, văn bản nêu rõ: *'Căn nhà cổ ba gian hai chái tại số 22 ngõ Hàng Chỉ này là mồ hôi nước mắt, là nơi gìn giữ bàn thờ tổ tiên và nghề bốc thuốc cứu người của dòng họ Vũ qua ba đời. Sau khi tôi trăm tuổi qua đời, toàn bộ phần gian ngoài tiếp giáp mặt ngõ cùng toàn bộ hệ thống tủ thuốc nam, cối đá giã thuốc và bàn sao thuốc bằng gang giao trọn vẹn cho chị Nguyễn Thị Dung trông nom, sử dụng làm nơi bốc thuốc thiện nguyện và không gian đọc sách cho trẻ nhỏ nghèo trong khu phố cổ. Tuyệt đối không ai trong gia đình được quyền đem mua bán, chia chác hay đập phá gian nhà thuốc này dưới bất kỳ hình thức nào. Phần diện tích hai chái buồng phía sau và toàn bộ căn gác xép bằng gỗ lim để lại cho cháu đích tôn Vũ Tuấn làm nơi sinh sống, thờ phụng cha mẹ, nhưng Tuấn phải có trách nhiệm cùng chị Dung gìn giữ phần hương hỏa của tổ tiên, không được phụ lòng người đã khuất...'*"

Tờ giấy này chưa từng trải qua các thủ tục công chứng, chứng thực hành chính tại ủy ban nhân dân phường hay các văn phòng công chứng nhà nước. Thế nhưng, về mặt bản chất pháp lý lẫn đạo lý truyền thống, nó là một bản di chúc viết tay hoàn chỉnh, nguyên bản, được xác lập trong trạng thái tinh thần hoàn toàn minh mẫn, có người làm chứng độc lập ký nhận, và trên hết, nó chứa đựng trọn vẹn, không thể chối cãi ý chí thiêng liêng của một người mẹ, người bà trước khi nhắm mắt xuôi tay.

Khi giọng đọc trầm tĩnh của Vi vừa dứt điểm ở câu chữ cuối cùng, một tiếng nấc nghẹn ngào từ phía ngưỡng cửa buồng trong bỗng xé toạc bầu không khí tĩnh mịch, vỡ òa thành một chuỗi tiếng khóc nức nở, tức tưởi và đau đớn cùng cực.

Chị Dung ngã quỵ xuống bên bậu cửa gỗ lim bóng loáng. Toàn thân chị run lên bần bật như một nhánh cây khô trước cơn giông bão, khuôn mặt sạm đen, khắc khổ vì sương gió vùi chặt vào đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ—đôi bàn tay quanh năm suốt tháng chỉ biết nhặt từng nhánh cam thảo, thái từng củ thục địa và đứng bên bếp than hồng sao thuốc cứu người. Những giọt nước mắt giàn giụa tuôn rơi qua từng kẽ ngón tay gầy guộc, rơi lã chã xuống nền gạch hoa xi măng cổ lỗ sĩ màu nâu đỏ.

"Tôi có tội... Trời đất ơi, tôi có tội lớn với cụ Nhược rồi... Tôi có tội với vong linh tiên tổ nhà cụ..." Chị Dung vừa khóc vừa đấm thùm thụp vào lồng ngực mình, từng tiếng đấm nghẹn ứ, chua xót khiến những người chứng kiến xung quanh không khỏi rùng mình bàng hoàng.

Lục Khang bước lại gần người phụ nữ đang quỳ rạp dưới đất. Gương mặt anh nghiêm nghị nhưng ánh mắt đã dịu đi phần nào sự sắc lạnh nghiệp vụ, giọng anh trầm xuống, ôn tồn nhưng vẫn giữ đúng chuẩn mực của một cán bộ thực thi pháp luật: "Chị Dung, chị hãy bình tĩnh lại. Đứng dậy và nói rõ cho cơ quan công an cùng đại diện tổ dân phố ở đây được biết: Tại sao bản thảo di chúc gốc có chữ ký của cụ Nhược lại nằm trọn vẹn trong ngăn đáy bí mật của chiếc hộp sắt này? Ai là người đã đưa nó vào đó và cất giấu suốt thời gian qua?"

Chị Dung run rẩy lấy vạt áo bà ba thô lau vội những giọt nước mắt nhạt nhòa, ngước đôi mắt đỏ hoe, đục ngầu vì những đêm dài thức trắng lên nhìn về phía chiếc hộp sắt tây trên bàn lim. Giọng chị lạc đi, đứt quãng giữa những cơn nấc nghẹn ngào từ tận đáy lòng: "Là tôi... Thưa các cán bộ, chính tay tôi... chính tay con mụn này đã giấu nó xuống đáy hộp ngay trong cái đêm định mệnh cụ vừa trút hơi thở cuối cùng!"

Cả căn phòng khẽ xôn xao. Bác tổ trưởng dân phố thở dài một tiếng sườn sượt, trong khi anh Tuấn đang nép ở góc cột bỗng trừng mắt nhìn chị Dung, đôi môi thâm sì mấp máy như muốn gầm lên chửi rủa, nhưng cái liếc nhìn đanh thép, lạnh lùng như thép nguội của Lục Khang đã lập tức đóng băng mọi ý định hung hăng của gã.

"Đêm hôm mùng bốn tháng trước, khi cụ Nhược bắt đầu rơi vào cơn hôn mê sâu, hơi thở chỉ còn thoi thóp," chị Dung gục đầu xuống nền gạch, từng ký ức đau thương như ùa về bóp nghẹt lồng ngực chị, "cụ nắm thật chặt lấy bàn tay này của tôi. Cụ dặn đi dặn lại bằng chút tàn lực cuối cùng, rằng chiếc hộp sắt gia bảo đời cụ cố để lại đặt ở dưới chân giường thờ, trong đó có tờ di nguyện cụ viết từ năm năm trước. Cụ dặn tôi bằng mọi giá phải giữ lấy gian nhà thuốc ngoài ngõ, giữ lấy cái bàn sao thuốc và mấy cái cối giã, đừng bao giờ để cho cái tiệm thuốc trăm năm này bị người đời xóa sổ. Nhưng trớ trêu thay... vừa rạng sáng hôm sau, khi cụ vừa mới nhắm mắt xuôi tay, tôi còn chưa kịp nấu một nồi nước lá thơm để lau mặt, thay tấm áo khâm liệm cho cụ, thì anh Tuấn... anh Tuấn đã dẫn ngay một toán người lạ mặt, xăm trổ vằn vện từ ngoài đường xông thẳng vào tận đầu giường cụ!"

Chị Dung ôm chặt lấy hai bả vai đang run rẩy, toàn thân co rúm lại như muốn tìm nơi trốn chạy khỏi bóng ma của buổi sáng tang thương ấy: "Mấy người đàn ông đó vừa bước vào nhà đã chỉ trỏ vào từng cây cột lim, ngắm nghía từng cái tủ thuốc nhiều ngăn, rồi lớn tiếng bàn tán ngay trước thi thể cụ còn chưa kịp lạnh. Họ bảo nhau rằng phải đập thông toàn bộ bức tường gian ngoài tiếp giáp mặt ngõ để mở quán bar kiểu tây, hoặc nếu không thì bán đứt toàn bộ mảnh đất này cho một tập đoàn đầu cơ bất động sản với giá mười mấy tỷ đồng. Tôi nghe mà bủn rủn hết cả chân tay... Tôi sợ quá các cán bộ ơi! Tôi sợ nếu anh Tuấn tìm thấy tờ di chúc này, nhìn thấy cụ dặn để lại gian nhà thuốc cho tôi trông nom thiện nguyện, anh ấy sẽ nổi điên lên mà xé vụn nó ra rồi ném vào bếp lò phi tang ngay lập tức!"

Nước mắt lại trào ra, chị Dung nghẹn ngào tiếp tục: "Nếu anh ấy xé mất tờ giấy ấy, tôi chỉ là một đứa làm công tha hương cầu thực, ở nhờ nhà cụ suốt hai mươi năm ròng, không một giọt máu mủ ruột rà, tôi lấy cái gì để làm bằng chứng bảo vệ tâm nguyện của cụ? Tôi lấy tư cách gì để ngăn cản anh ấy đem bán tống bán tháo gian nhà hương hỏa của tổ tiên cho lũ buôn đất tàn nhẫn? Đúng lúc tôi vừa run rẩy mở nắp hộp sắt ra để tìm tờ giấy, nhìn thấy những tờ văn tự chữ Nho cũ nát, tôi chợt sực nhớ lại lời cụ Nhược từng thủ thỉ tâm sự nhiều năm trước, rằng cụ đã nhờ bác Tư Thời chế ra một cái đáy giả có lẫy trượt ngầm ăn sâu vào bản lề. Trong lúc cả nhà đang nháo nhào, bận rộn khiêng bàn kê rạp lo tang lễ ngoài sân, hai tay tôi run bắn lên, vội vàng gạt chiếc chốt bản lề, nhét tọt tờ di chúc của cụ xuống đáy sâu nhất rồi đóng sập nắp tôn lại. Lúc ấy, trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất... thà rằng để bản di chúc ấy nằm im dưới đáy sắt hoen rỉ tối tăm, chờ cho đến ngày có chính quyền can thiệp hoặc bác Tư Thời sang làm chứng để lôi nó ra ánh sáng, còn hơn là để anh Tuấn cướp lấy rồi tiêu hủy không còn dấu vết ngay trong chính đám tang của cụ mình!"

Nói đến đó, chị Dung xoay người lại, quỳ rạp xuống nền nhà, hướng thẳng khuôn mặt ướt đẫm nước mắt về phía bàn thờ nghi ngút khói hương của cụ Nhược mà vái lấy vái để: "Cụ ơi, trời đất chứng giám cho con, con mụn này không bao giờ dám tơ hào một tấc đất, một đồng tiền nào của dòng họ Vũ! Con chỉ sợ... con chỉ sợ cái tiệm thuốc nam cứu người từ đời các cụ để lại bị người ta biến thành nơi trụy lạc, ăn chơi trác táng... con sợ vong linh cụ nơi chín suối không còn chốn đi về mà thôi..."

Sự im lặng tuyệt đối một lần nữa lại trùm phủ lên toàn bộ gian nhà cổ. Từng lời trần tình mộc mạc, chan chứa nước mắt của người phụ nữ làm công suốt hai thập kỷ qua rành rọt đến nhói lòng. Đó không phải là lời ngụy biện của một kẻ toan tính chiếm đoạt tài sản; đó là tiếng lòng của một người tôi tớ trung thành, một hành vi giấu diếm tài liệu xuất phát từ nỗi sợ hãi tột cùng trước sự tàn độc của lòng tham lam vô độ, một nỗ lực tuyệt vọng để bảo bọc di sản của một ân nhân đã khuất.

Vi nhìn chị Dung, trong đáy lòng trào dâng một niềm trắc ẩn sâu xa xen lẫn sự xót xa cay đắng. Xét về mặt quy chuẩn lưu trữ và pháp lý thuần túy, hành động tự ý cất giấu tài liệu của chị Dung đã vô tình làm gián đoạn chuỗi lưu giữ vật chứng, khiến quy trình xác lập quyền thừa kế bị đình trệ nghiêm trọng, và suýt chút nữa đã gián tiếp tạo ra kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng lừa đảo. Thế nhưng, nếu đặt vào hoàn cảnh trơ trọi, cô độc của người phụ nữ ấy giữa một bầy lang sói đang chực chờ xâu xé mảnh đất vàng, thì sự trung trinh và tấm lòng thành kính của chị với người đã khuất là thứ ánh sáng nhân tính đẹp đẽ mà không một điều luật khô khan nào có thể phủ nhận.

Lục Khang không hề ngắt lời chị Dung. Anh lặng lẽ khép cuốn sổ tay công tác lại, xoay gót giày da sải từng bước dài, dứt khoát về phía góc cột lim nơi Tuấn đang đứng co rúm lại. Bóng dáng cao lớn, vững chãi và bộ trang phục thanh tra kinh tế màu ghi xám của Khang đổ một cái bóng dài, nghiêm nghị trùm kín lấy thân hình đang run lẩy bẩy vì tội lỗi của gã cháu ruột bất hiếu.

"Anh Vũ Tuấn," giọng nói của Khang vang lên, trầm thấp nhưng sắc lạnh như một tảng băng trôi giữa dòng nước mùa đông. "Chị Dung vì sợ anh tẩu tán, hủy hoại di sản của tổ tiên nên mới liều mình cất giấu bản thảo thật vào ngăn bí mật. Đó là hành vi sai lệch về quy trình nhưng xuất phát từ tấm lòng bảo vệ di nguyện. Còn anh thì sao? Bản photocopy có con dấu công chứng giả mạo phông chữ hành chính năm 2021 và phôi dấu scan in phun vi điểm tinh vi mà anh vừa mang ra để thị uy, ép buộc tổ dân phố bàn giao toàn bộ quyền sử dụng nhà đất lúc nãy... nó rốt cuộc từ đâu mà ra?"

Khang rút từ trong cặp tài liệu ra bản photo di chúc giả mạo mà Vi vừa bóc trần những sai phạm kỹ thuật không thể chối cãi, rồi bằng một động tác dứt khoát, anh đập mạnh nó xuống mặt bàn gỗ lim.

*Rầm!*

Tiếng đập bàn khô khốc vang dội khắp căn phòng, chẳng khác nào một tiếng búa thịnh nộ gõ xuống bục xét xử công lý.

Tuấn giật bắn mình như vừa bị điện giật, hai đầu gối gã hoàn toàn khuỵu xuống, toàn thân trượt dài theo thân cột gỗ lim rồi ngồi bệt xuống nền gạch hoa lạnh ngắt. Đôi mắt trũng sâu, thâm sì vì những đêm dài thức trắng bên những sới bạc đỏ đen của gã đảo liên hồi, đảo quanh quất trong vô vọng. Toàn bộ vẻ hung hăng, ngổ ngáo, hợm hĩnh của một kẻ thừa kế duy nhất tự phong lúc ban chiều hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại sự hèn hạ, thảm hại của một kẻ phạm tội đã bị dồn đến bước đường cùng.

"Tôi... tôi biết tội rồi... Cán bộ Khang ơi, các chú công an ơi, tôi biết tội của tôi rồi..." Tuấn đưa hai bàn tay run rẩy lên ôm chặt lấy đầu, giọng gã khàn đặc, vỡ vụn ra từng mảng thảm hại. "Tôi không có ý định lừa đảo chính quyền hay lừa dối pháp luật đâu! Là do tôi bị bọn chủ nợ cờ bạc ngoài bãi sông Hồng dồn ép quá! Chúng nó cho đàn em theo dõi tôi suốt ngày đêm, chúng nó dọa nếu hết tuần này tôi không xoay đủ ba tỷ tiền cọc để trả nợ lãi mẹ đẻ lãi con, chúng nó sẽ chặt cụt ngón tay tôi, rồi mang cả vòng hoa, quan tài đến đặt trước cửa nhà để khủng bố tinh thần..."

"Tôi hỏi lại một lần nữa: Ai là người đã trực tiếp làm giả bản photo này cho anh?" Khang gằn giọng, từng câu chữ đanh thép như mũi dùi xoáy thẳng vào tâm lý đang sụp đổ của đối tượng. "Và ai là kẻ đứng sau lưng giật dây, chỉ điểm cho anh cách dùng một bản photo scan ghép dấu tinh vi như thế này để tiếp cận, đàm phán nhận khoản tiền cọc khổng lồ mười lăm tỷ đồng?"

Tuấn run rẩy nuốt một ngụm nước bọt khan đắng ngắt, đôi vai gã sụp xuống hoàn toàn, giọng nghẹn lại trong nỗi sợ hãi tột độ: "Sau cái đêm cụ Nhược mất... tôi bới tung cả tủ tài liệu gỗ, lật tung cả chiếc hộp sắt này lên mà không tìm thấy bản di chúc đâu cả. Trong chiếc hộp lúc ấy chỉ còn lại mấy tờ văn tự chữ Nho rách nát và mấy tờ giấy nợ từ đời nảo đời nào. Tôi thừa hiểu nếu không có di chúc chứng minh tôi là người thừa kế duy nhất, tôi sẽ phải làm thủ tục khai nhận di sản theo pháp luật kéo dài hàng tháng trời, phải xác minh thân nhân phức tạp, mà bọn chủ nợ giang hồ ngoài bãi thì không thể chờ tôi dù chỉ một ngày. Đúng lúc tôi đang quẫn bách đến mức muốn nhảy cầu tự tử, thì một gã môi giới nhà đất tên là Cường—người tự xưng là tay trong của một văn phòng bất động sản lớn ở phố Hàng Bồ—đã chủ động tìm đến tận ngõ này để gặp tôi. Hắn bảo với tôi rằng, hiện tại đang có một tập đoàn tài chính rất lớn cần gom gấp toàn bộ dải nhà đất cổ trong con ngõ Hàng Chỉ này để triển khai một dự án phức hợp thương mại và khách sạn cổ điển. Hắn quả quyết rằng họ sẵn sàng trả mười"

lăm tỷ, đặt cọc ngay ba tỷ tiền mặt nếu tôi đưa ra được bản sao di chúc chứng minh tôi là người thừa kế duy nhất."

Tuấn cúi gục đầu sát xuống nền gạch hoa cổ lỗ đã rạn chân chim, hai bàn tay cáu bẩn nắm chặt lấy mép gấu quần bò sờn rách, run rẩy bấu chặt vào lớp vải thô như thể đó là chiếc cọc cứu sinh duy nhất còn sót lại giữa cơn xoáy lốc: "Hắn bảo tôi không cần phí công bới tìm bản gốc làm gì cho mất thì giờ. Hắn bảo thời buổi này giấy trắng mực đen chỉ là cái vỏ ngoài, quan trọng là có một văn bản trông cho thật xuôi mắt để bên thẩm định của tập đoàn họ hợp thức hóa hồ sơ giải ngân bước một. Ngay chiều hôm đó, hắn phóng xe máy đèo tôi đến một tiệm photocopy vi tính nằm khuất trong một con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo trên phố Bà Triệu. Ở đấy, sau mấy lớp rèm vải bạt ám mùi mực in nồng nặc và tàn thuốc lá, người ta có sẵn cả một kho lưu trữ các mẫu phông chữ văn bản hành chính nhà nước qua từng thời kỳ. Họ hỏi tôi tên tuổi, năm sinh của cụ Nhược, rồi mở máy tính gõ lại toàn bộ nội dung theo đúng ý tôi đọc. Họ bịa ra điều khoản cụ Nhược minh mẫn để lại toàn bộ ngôi nhà số 22 cùng gian thuốc nam cho tôi toàn quyền sở hữu, định đoạt và chuyển nhượng. Xong xuôi, gã thợ máy tính lấy trong ngăn kéo ra một phôi dấu tròn đỏ quét sẵn từ con dấu của một văn phòng công chứng tư nhân ở quận Ba Đình—cái văn phòng mà theo lời hắn nói là đã tuyên bố giải thể, ngừng hoạt động từ hồi cuối năm ngoái. Hắn scan con dấu đè lên chữ ký giả mạo tên cụ Nhược, rồi dùng máy in laser đời cũ chỉnh độ phân giải xuống mức thấp nhất, in ra một bản photo lem nhem, cố ý làm cho mực nhòe nhoẹt ở các nếp gấp để vờ như một bản sao y bản chính đã được lưu trữ, truyền tay nhau từ tận mùa thu năm 2019..."

Giọng gã nghẹn lại, khô khốc như có cát chêm vào cổ họng: "Tôi... tôi thề có trời phật chứng giám, ban đầu tôi chỉ định dùng bản photo lem nhem đó để lừa bên môi giới ký hợp đồng đặt cọc trước khoản tiền ba tỷ nhằm ném vào miệng lũ giang hồ ngoài bãi sông Hồng để giữ lại mấy ngón tay, rồi sau này chuyện nhà cửa tính tiếp... Tôi đinh ninh một bản photo đen trắng nham nhở thì chẳng ai rỗi hơi đi thẩm định con dấu hay soi xét câu chữ... Tôi không thể ngờ các cán bộ lại tinh tường đến mức kiểm tra kỹ từng chân nét chữ, từng độ co giãn của phông vi tính đời mới như thế này..."

Kiến trúc sư Vũ Đức Hải đứng tựa lưng vào bậu cửa sổ gỗ bức bàn, đôi mắt mệt mỏi nhìn ra khoảng sân nhỏ rêu phong. Từng lời thú tội đê hèn của Tuấn như những nhát búa nện thẳng vào bầu không khí u uất của gian nhà thuốc cổ. Mối quan hệ họ hàng xa của mẹ anh với gia đình cụ Nhược từng khiến Hải bị đẩy vào thế kẹt đầy cay đắng; suốt những ngày đầu can thiệp để giữ lại ngôi nhà, anh đã phải hứng chịu không ít ánh mắt nghi kỵ từ họ hàng nội ngoại, những lời xì xào độc địa cho rằng anh vin vào danh nghĩa chuyên gia bảo tồn để ngấm ngầm toan tính vụ lợi trong cuộc tranh chấp di sản béo bở này. Nhưng giờ đây, khi bức màn sự thật bị xé toạc trần trụi dưới ánh sáng của nghiệp vụ điều tra, trên gương mặt thư sinh của người kiến trúc sư chỉ còn lại nét chua xót tột cùng. Đó là nỗi ngậm ngùi trước một bi kịch gia tộc điển hình nơi phố cổ, nơi mà những giá trị rường cột ngỡ như thiêng liêng nhất cũng có thể bị lòng tham và ma lực của đồng tiền làm cho tha hóa, rữa mục từ bên trong.

Vi đứng lặng bên mép bàn gỗ gụ, chăm chú lắng nghe từng nhịp thở ngắt quãng và từng lời khai run rẩy của Tuấn. Dù bề ngoài vụ việc dường như đã ngã ngũ với một kịch bản quen thuộc—một gã nghiện cờ bạc bị dồn vào chân tường câu kết với dịch vụ in ấn lậu ven đường—nhưng trực giác nhạy bén của một phóng viên điều tra lâu năm mách bảo cô rằng sự việc không hề đơn giản như vậy. Việc gom mua đất đai tại một con ngõ hẹp, sâu hun hút như ngõ Hàng Chỉ không phải là thứ nghiệp vụ mà một văn phòng môi giới vô danh tiểu tốt có thể tự ý vung ra hàng chục tỷ đồng để thực hiện trong chớp mắt. Đằng sau một khoản tiền cọc ba tỷ sẵn sàng giải ngân tức thì bằng tiền mặt luôn luôn là bóng dáng của những cỗ máy tài chính khổng lồ, những kẻ săn mồi kiên nhẫn nắm rõ quy hoạch ngầm của thành phố từ trước hàng năm trời.

"Anh Tuấn," Vi bước lên nửa bước, thanh âm của cô trong trẻo nhưng chứa đựng sức nặng tra vấn sắc bén. Ánh mắt cô quét nhanh qua các đồ vật vương vãi trong phòng rồi dừng lại ở chiếc túi xách giả da sờn rách, méo mó đang nằm lăn lóc trên chiếc ghế mây gần cửa ra vào. "Mẩu giấy ghi chép thông tin chi tiết của bên mua đất và các điều khoản dự thảo đặt cọc mà lúc nãy anh rút vội từ túi áo ngực ra để đối chiếu hợp đồng với cán bộ địa chính đâu rồi?"

Tuấn giật thót mình, bờ vai gầy guộc rụt lại. Gã ngơ ngác ngẩng khuôn mặt nhợt nhạt lên, rồi như một phản xạ tự nhiên của kẻ đã hoàn toàn vỡ trận, gã run rẩy giơ ngón tay trỏ cáu bẩn chỉ thẳng về phía chiếc túi: "Ở... ở trong ngăn khóa kéo phía ngoài của cái túi đó. Đó là tờ giấy ghi nhớ mà chính tay Cường môi giới đã viết rồi đưa cho tôi tối hôm qua ở quán nước đầu ngõ. Hắn dặn đi dặn lại là tôi phải học thuộc lòng các thông số diện tích, nguồn gốc đất và tên pháp nhân của bên mua, để khi cán bộ địa chính phường hoặc thanh tra xuống kiểm tra hiện trạng thì tôi cứ thế mà nói cho trơn tru, khớp từng chữ..."

Lục Khang không đợi Tuấn nói hết câu, anh khẽ nghiêng đầu ra hiệu cho người công an khu vực đang đứng gác cạnh cửa nách. Viên trung úy trẻ tuổi lập tức hiểu ý. Anh bước lại gần chiếc ghế mây, rút từ túi áo sắc phục ra một đôi găng tay cao su y tế mỏng màu trắng, cẩn thận xỏ vào từng ngón tay. Với thao tác nghiệp vụ thuần thục nhằm bảo toàn tối đa dấu vết đường vân, viên sĩ quan dùng hai đầu ngón tay kéo nhẹ dây khóa kim loại đã rỉ sét của ngăn ngoài chiếc túi xách giả da, thò tay vào đáy túi và rút ra một mẩu giấy ghi chép khổ A5. Mẩu giấy có mép xé nham nhở, dường như được giật vội ra từ một cuốn sổ công tác bìa da có kẻ dòng.

Khang đón lấy mẩu giấy từ tay người đồng nghiệp, bước về phía bàn làm việc và trải phẳng nó lên mặt gỗ bóng loáng, ngay sát bên cạnh vầng sáng trắng gom tụ của chiếc đèn bàn kỹ thuật mà Vi mang theo. Vi khẽ nghiêng người, mái tóc chấm vai buông nhẹ khi cô cùng Khang ghé sát mắt soi xét từng dòng chữ viết tay ngoằn ngoèo bằng bút bi xanh trên mặt giấy.

Dòng chữ trên cùng được viết bằng chữ in hoa đậm nét, gạch chân hai lần nắn nót: *CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ MỚI*. Ngay phía dưới là mã số doanh nghiệp gồm mười chữ số, địa chỉ trụ sở đăng ký kinh doanh tại một tòa nhà văn phòng cho thuê trên phố Dã Tượng, số tài khoản thanh toán mở tại một chi nhánh ngân hàng thương mại lớn ở quận Hoàn Kiếm, và cuối cùng là họ tên của người đại diện theo pháp luật: *Tạ Quốc Huy*.

Khi cái tên đó đập vào đồng tử, hơi thở của Vi khẽ khựng lại trong lồng ngực. Đôi đồng tử nâu sẫm của cô co rút lại trong tích tắc. Cô ngước mắt lên nhìn thẳng vào Khang. Cùng lúc đó, Khang cũng đang chăm chú nhìn cô. Đôi mày rậm, cương nghị của người điều tra viên kinh tế nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp đầy vẻ cảnh giác và sắc lạnh. Giữa họ không cần một lời giải thích dài dòng; cái tên ấy là một mắt xích quá quen thuộc trong các tập hồ sơ nghiệp vụ mà họ từng âm thầm nghiên cứu suốt nhiều tháng qua.

"Tạ Quốc Huy," Vi hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu, âm thanh thì thầm chỉ vừa đủ để Khang nghe thấy giữa tiếng quạt trần quay cọt kẹt trên đỉnh đầu. "Em trai họ kiêm cánh tay mặt của Tạ Minh Thành. Tên này đứng tên giám đốc danh nghĩa của ít nhất ba công ty con chuyên làm nhiệm vụ gom mua, dọn dẹp mặt bằng và giải quyết tranh chấp đất đai tại các khu phố cổ có vị trí đắc địa, trước khi chuyển nhượng toàn bộ cổ phần sạch sẽ cho Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành."

Khang không đáp lời ngay. Bàn tay anh lật nhẹ mặt sau của mẩu giấy nháp A5 dưới ánh đèn rọi. Mặt sau của tờ giấy không có dòng kẻ, bề mặt hơi thô ráp. Ở góc dưới cùng bên tay phải, người viết mẩu giấy ghi nhớ này dường như trong lúc trao đổi với đối tác đã tiện tay dùng một cây bút dạ dầu màu xanh lam vẽ nhanh một sơ đồ chỉ đường đơn giản: một nét vẽ thẳng tượng trưng cho trục ngõ Hàng Chỉ đâm xuyên qua một ngách phụ, thông thẳng sang mặt tiền sầm uất của phố Hàng Gương. Và ngay sát bên cạnh mũi tên chỉ hướng rẽ sang Hàng Gương, có một ký hiệu ghi chú viết tắt bằng nét bút bi kim màu đen mảnh như sợi tóc:

*17-G / Lưu khoán cọc đợt 1.*

Lồng ngực Vi thắt lại một nhịp buốt lạnh. Ký tự *'17-G'* một lần nữa lại xuất hiện, chói gắt và đầy ám ảnh.

Nó không còn chỉ là một ký hiệu mờ nhạt, bí ẩn hằn sâu trên lớp vải nhung đỏ và thếp giấy bồi nơi ngăn đáy bí mật của chiếc hộp sắt cụ Nhược để lại. Giờ đây, chính những chữ cái và con số ấy lại nằm chình ình trên mẩu giấy ghi chép chỉ đạo giao dịch gom đất của mạng lưới tay chân dưới trướng Tạ Minh Thành.

Bức tranh ngầm bao phủ khu phố cổ Hà Nội bấy lâu nay bỗng chốc lộ diện những mắt xích liên hoàn rợn người. Tập đoàn của Tạ Minh Thành không đơn thuần là những tay buôn đồ cổ háo danh, thèm khát những cỗ máy thời gian vô giá hay những bộ sưu tập đồng hồ cơ khí tinh xảo như các hiện vật bị đánh cắp tại Bảo tàng Vạn Lịch. Chiếc vòi bạch tuộc của chúng thực chất đã vươn sâu, cắm rễ vào từng tấc đất, từng viên gạch của những ngôi nhà cổ có lịch sử hàng thế kỷ. Chúng biến tướng thành những tổ chức tài chính ngầm, giăng bẫy tín dụng đen, lợi dụng sự xuống cấp của các công trình di sản, khoét sâu vào những mâu thuẫn gia tộc âm ỉ và sự túng quẫn của những kẻ cờ bạc vô tri để thâu tóm đất vàng với giá rẻ mạt. Đơn vị hứa hẹn thu mua căn nhà số 22 ngõ Hàng Chỉ này với số tiền khổng lồ mười lăm tỷ thực chất chỉ là một con tốt thí, một cái bình phong tài chính được dựng lên để dọn đường cho một đại dự án phức hợp thương mại mang danh nghĩa "bảo tồn di sản" nhưng bản chất là xóa sổ hoàn toàn những dấu tích lịch sử chân thực nhất của Thăng Long.

Khang nhìn sâu vào mắt Vi, khẽ lắc đầu một nhịp rất nhẹ. Một tín hiệu ngầm dứt khoát nhưng đầy cẩn trọng. Với tư cách là một điều tra viên kinh tế dày dạn bản lĩnh, Khang thấu hiểu hơn ai hết ranh giới sinh tử giữa việc giải quyết ổn thỏa một vụ việc tranh chấp hành chính, dân sự trước mắt và việc bảo mật tuyệt đối các chứng cứ nhạy cảm cho một chuyên án hình sự quy mô lớn đang từng bước được xác lập. Bất kỳ một sự bộc lộ thông tin thiếu tính toán nào vào lúc này cũng có thể đánh động đến hang ổ của Tạ Minh Thành, khiến những kẻ giấu mặt lập tức cắt đứt mắt xích, tiêu hủy chứng cứ và tẩu tán tài sản sang các công ty ma khác.

Khang thu mẩu giấy lại, kẹp cẩn thận vào giữa cuốn sổ tay công tác của mình rồi quay người bước ra giữa gian phòng thuốc. Vẻ mặt anh trở lại trạng thái nghiêm nghị, điềm đạm và chuẩn mực của một cán bộ đại diện cho cơ quan thực thi pháp luật. Anh hướng ánh nhìn về phía bác tổ trưởng dân phố và viên trung úy công an phường:

"Báo cáo đồng chí tổ trưởng dân phố và đại diện công an phường Hàng Gai. Toàn bộ diễn biến hiện trường, tài liệu đồ vật thu giữ và bản chất pháp lý của vụ việc lộn xộn tại số 22 ngõ Hàng Chỉ chiều hôm nay đã được đoàn kiểm tra làm sáng tỏ một cách khách quan, toàn diện. Căn cứ vào các chứng cứ vật chất thu thập được tại chỗ, chúng ta có hai vấn đề pháp lý độc lập cần phải phân định rạch ròi:

Thứ nhất, xét về mặt hành vi, việc anh Vũ Tuấn cấu kết với đối tượng bên ngoài sử dụng công nghệ in ấn vi tính để làm giả văn bản, sao chép con dấu của cơ quan, tổ chức nhằm mục đích gian dối để tham gia giao dịch bất động sản đã có dấu hiệu cấu thành hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, căn cứ lời khai và hồ sơ hiện trường, giao dịch nhận tiền đặt cọc với bên thứ ba chưa được xác lập trên thực tế, chưa phát sinh việc chuyển giao tài sản và chưa gây ra hậu quả thiệt hại vật chất cụ thể cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào ngoài xã hội. Xét thấy đây là hành vi bộc phát, nông nổi của một cá nhân trong nội bộ gia đình do bị áp lực nợ nần ngoài xã hội dồn ép, nếu đưa ra xử lý hình sự ngay lập tức thì sẽ triệt tiêu cơ hội sửa chữa sai lầm của một công dân lầm lỡ.

Thứ hai, và đây là điểm mấu chốt: bản thảo di nguyện viết tay của cụ Vũ Thị Nhược lập vào ngày mùng năm tháng Chín năm 2019, vừa được phát hiện nguyên vẹn trong ngăn đáy bí mật của chiếc hộp sắt lưu trữ, là một tài liệu pháp lý hoàn toàn chân thực. Tài liệu này phản ánh ý chí tự nguyện, minh mẫn và sáng suốt cuối cùng của người để lại di sản trước khi qua đời. Bản di nguyện này có đầy đủ chữ ký xác nhận của người làm chứng độc lập là ông Phạm Tư Thời—một nhân chứng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và uy tín lâu năm tại địa phương. Căn cứ theo các quy định hiện hành của Bộ luật Dân sự, mặc dù văn bản viết tay này chưa kịp qua thủ tục công chứng nhà nước do điều kiện sức khỏe của cụ Nhược lúc sinh thời, nhưng việc có người làm chứng và nội dung rõ ràng, minh bạch hoàn toàn đủ điều kiện pháp lý để làm căn cứ nền tảng cho các đồng thừa kế tiến hành thủ tục thỏa thuận phân chia di sản theo đúng tâm nguyện của người đã khuất."

Khang dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc như dao găm chiếu thẳng vào Tuấn, người lúc này vẫn đang co rúm dưới đất: "Anh Tuấn, anh hãy nghe cho rõ đây. Nếu chiều nay cơ quan chức năng lập biên bản bắt giữ quả tang và chuyển hồ sơ sang cơ quan cảnh sát điều tra để khởi tố anh về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, anh không chỉ phải đối mặt với mức án tù giam nghiêm khắc của pháp luật, mà căn cứ theo luật thừa kế, anh sẽ vĩnh viễn bị tước bỏ tư cách của một người thừa kế hợp pháp đối với toàn bộ khối di sản này. Anh sẽ mất tất cả, từ danh dự, tự do cho đến mái nhà dung thân. Nhưng cụ Nhược, người bà mà anh đang tâm làm giả chữ ký để bán rẻ ngôi nhà hương hỏa, đã đối xử với anh như thế nào? Cụ biết rõ tính nết chơi bời, cờ bạc của anh, cụ biết anh nông nổi, nhưng trong những dòng chữ cuối cùng run rẩy của bản di chúc thật, cụ vẫn dành riêng hai chái buồng phía sau và toàn bộ căn gác xép kiên cố cho anh làm nơi nương tựa cả đời. Cụ chỉ tha thiết yêu cầu anh cùng chị Dung đồng lòng giữ lại gian nhà thuốc phía trước để nối tiếp nghiệp thiện của tổ tiên. Đứng trước bàn thờ tổ tiên và vong linh của bà nội anh, anh nghĩ sao về những việc mình đã làm?"

Những lời đanh thép của Khang như xé toạc lớp phòng ngự tâm lý cuối cùng của gã đàn ông lầm lạc. Tuấn sụp hẳn người xuống sàn, trán gã dập liên hồi xuống nền gạch hoa cũ kỹ trước hương án cụ Nhược, tạo nên những tiếng cộp cộp khô khốc, rợn người. Nước mắt, mồ hôi và bụi đất bết dính trên khuôn mặt xám ngoét, gã bật khóc nức nở như một đứa trẻ bị bỏ rơi giữa cơn bão: "Tôi có mắt như mù... Tôi là đứa cháu bất hiếu, tôi có tội với tổ tiên, có tội với vong linh của bà tôi dưới suối vàng! Tôi xin các cán bộ công an tha cho tôi một con đường sống... Tôi xin chấp thuận, xin tuân theo từng câu từng chữ trong di chúc của bà tôi! Tôi không dám tơ hào, không bao giờ dám nghĩ đến chuyện bán chác hay đòi hỏi gian nhà thuốc nữa... Tôi xin giao toàn bộ quyền trông nom, bốc thuốc hương hỏa cho chị Dung. Tôi chỉ xin các cán bộ và gia đình mở lượng khoan hồng, cho tôi được giữ lại căn gác xép nhỏ để có chỗ che mưa che nắng qua ngày..."

Chị Dung đứng nép bên cạnh tủ thuốc nam, đôi mắt đỏ hoe từ nãy đến giờ, nghe Tuấn van lạy thì không kìm được lòng. Chị quệt vội giọt nước mắt lăn dài trên gò má sạm đen vì sương gió, chậm rãi bước lại gần, cúi xuống đưa hai bàn tay gầy guộc nắm lấy bả vai run rẩy của người em họ. Giọng chị nghẹn ngào, một giọng nói chan chứa sự bao dung mộc mạc của người phụ nữ đã chứng kiến gã từ thuở còn để chỏm: "Cậu Tuấn ơi... Cụ mất rồi, ngôi nhà này chỉ còn lại hai chị em mình nương tựa vào nhau. Lúc còn sống, cụ thương cậu nhất, cụ hay thở dài bảo tôi là thằng Tuấn tính nết bốc đồng nhưng bản chất không phải đứa ác, chỉ sợ sau này không có chỗ chui ra chui vào rồi trôi dạt đầu đường xó chợ. Giờ mọi chuyện đã sáng tỏ rồi, cậu hãy biết sợ mà tu chí làm ăn, đoạn tuyệt hẳn với lũ bạn cờ bạc ngoài bãi đi. Gian nhà thuốc này tôi sẽ sớm hôm hương khói, quét tước sạch sẽ; tiền bán thảo dược thiện nguyện cho bà con, sau khi trừ chi phí nhập thuốc bắc thuốc nam, tôi vẫn sẽ lo cho cậu ngày hai bữa cơm cháo ấm êm... Cháu xin các cán bộ, xin bác tổ trưởng niệm tình gia đình, mở lượng khoan hồng cho cậu ấy một cơ hội làm lại cuộc đời..."

Bác tổ trưởng dân phố đứng bên cạnh thở phào một hơi dài thấu ngực, những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt và vầng trán hoa râm dường như giãn ra trong sự nhẹ nhõm. Bác bước lên một bước, bắt tay Khang rồi quay sang nói với viên trung úy công an: "Thưa đồng chí thanh tra và đồng chí công an khu vực. Thay mặt cho cấp ủy, tổ dân phố và toàn thể bà con lối xóm ngõ Hàng Chỉ, chúng tôi tha thiết đề xuất cơ quan chức năng cho phép gia đình cụ Nhược được giải quyết vụ việc theo hướng hòa giải nội bộ. Đây là việc gia đình đóng cửa bảo nhau trên nền tảng di nguyện hợp pháp vừa tìm thấy. Ngay sáng ngày mai, đại diện tổ dân phố chúng tôi sẽ cử người cùng chị Dung và anh Tuấn mang bản thảo di chúc gốc viết tay này ra Phòng Công chứng số Một của thành phố để nộp hồ sơ, tiến hành niêm yết công khai theo đúng trình tự luật định và lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Ngôi nhà thuốc nam cổ truyền này không chỉ là tài sản riêng của gia đình cụ Nhược, mà từ hàng chục năm qua, nó đã là cái hồn, là niềm tự hào chung của cả ngõ Hàng Chỉ này. Bà con chòm xóm ai cũng mong muốn giữ trọn vẹn gian nhà ngoài làm nơi lưu giữ văn hóa, bốc thuốc cứu người và làm chỗ sinh hoạt cộng đồng ấm áp tình làng nghĩa xóm."

Khang nhìn bác tổ trưởng dân phố, khẽ gật đầu đồng thuận. Anh liếc mắt nhìn Vi; trong ánh mắt của cô gái, anh đọc được sự đồng cảm và trút bỏ được gánh nặng căng thẳng. Khang rút cây bút máy cài trên nẹp áo, nhanh chóng hoàn thiện những điều khoản kết luận cuối cùng trong biên bản làm việc tại chỗ: "Cơ quan kiểm tra liên ngành chấp thuận đề xuất hòa giải nội bộ của cấp ủy, tổ dân phố và đại diện thân nhân gia đình cụ Vũ Thị Nhược. Toàn bộ các tài liệu photo sao chụp, con dấu nghi vấn giả mạo do anh Vũ Tuấn cung cấp ban đầu sẽ bị tịch thu niêm phong để tiêu hủy theo đúng quy định của pháp luật. Bản thảo di nguyện gốc viết tay lập ngày mùng năm tháng Chín năm 2019 của cụ Nhược được bàn giao nguyên trạng tại chỗ cho người làm chứng là ông Phạm Tư Thời cùng đại diện tổ dân phố và chị Nguyễn Thị Dung tiếp nhận, bảo quản dưới sự chứng kiến của các bên liên quan, làm căn cứ pháp lý để thực hiện thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày hôm nay."

Ngòi bút máy của Khang lướt đi trên mặt giấy biên bản, tạo nên những âm thanh sột soạt dứt khoát. Từng người một—từ Tuấn với những ngón tay run rẩy in dấu vân tay chỉ điểm, chị Dung ký tên với nét chữ mộc mạc, bác tổ trưởng dân phố, viên trung úy công an và kiến trúc sư Vũ Đức Hải—lần lượt ký tên vào các mục dành cho người tham gia tố tụng và người chứng kiến.

Khi chữ ký cuối cùng được hoàn tất và dấu giáp lai đỏ chót được đóng xuống góc biên bản, bầu không khí ngột ngạt, căng như dây đàn từng bao trùm khắp căn nhà cổ dường như tan biến không một dấu vết. Ánh hoàng hôn mùa thu đỏ ối xuyên qua những chấn song gỗ hình con tiện của cửa sổ mặt tiền, rải một lớp ánh sáng màu mật ong ấm áp lên dãy tủ thuốc nam bằng gỗ gụ bóng loáng và chiếc cối giã thuốc bằng đá xanh đã mòn vẹt mép qua hàng thế kỷ. Mùi thơm ngai ngái, nồng ấm của rễ cây bạch chỉ, vị đắng dịu của cam thảo và hương thơm thanh khiết của hoa cúc khô dường như lại trỗi dậy, lấp đầy không gian tĩnh mịch. Một vụ việc tranh chấp tài sản nghẹt thở, một âm mưu thao túng tinh vi suýt chút nữa đã đẩy một gia đình vào thảm cảnh lao lý tan nát và xóa sổ một di sản kiến trúc vô giá giữa lòng phố cổ, đã được hóa giải êm đẹp bằng sức mạnh của chứng cứ khoa học và sự thấu tình đạt lý của tình người.

Vũ Đức Hải thở phào một hơi nhẹ nhõm, khuôn mặt anh bừng sáng trở lại sau chuỗi ngày dài căng thẳng. Anh chủ động bước tới, nắm chặt lấy tay Khang rồi quay sang bắt tay Vi: "Cảm ơn hai bạn vô cùng. Nếu chiều nay không có chuyên môn giám định tài liệu lưu trữ vô cùng sắc sảo của Vi, và nếu không có bản lĩnh cùng sự dứt khoát, chuẩn xác về mặt nghiệp vụ pháp lý của Khang, nhóm kiến trúc sư bảo tồn chúng tôi có lẽ đã hoàn toàn bất lực nhìn ngôi nhà cổ trăm năm này bị bức tử dưới bàn tay của những kẻ đầu cơ."

Vi mỉm cười, nụ cười nhẹ nhõm hiếm hoi xua tan đi vẻ mệt mỏi trên gương mặt thanh tú sau nhiều giờ làm việc căng thẳng. Cô vừa cẩn thận xếp lại chiếc kính lúp kỹ thuật, đèn soi tia cực tím và bộ nhíp gắp tài liệu vào chiếc túi vải dù chuyên dụng, vừa khẽ đáp: "Công tác bảo tồn di sản chưa bao giờ chỉ đơn thuần là việc giữ lại những bức tường gạch cổ hay những bộ vì kèo chạm trổ, anh Hải ạ. Cốt lõi của bảo tồn trước hết phải là sự bảo vệ tính chân thực của lịch sử, tôn trọng sự thật và bảo vệ trọn vẹn ý chí, linh hồn của những con người đã dày công tạo dựng nên nó."

Nửa tiếng sau, khi những người hàng xóm hiếu kỳ vây quanh con ngõ nhỏ đã hoàn toàn giải tán, tiếng còi xe và nhịp sống sinh hoạt bình dị thường nhật lại len lỏi trở lại ngõ Hàng Chỉ, Vi và Khang cùng cụ Tư Thời chậm rãi rảo bước qua lòng ngõ lát gạch nghiêng để quay về tiệm đồng hồ.

Con ngõ nhỏ bảng lảng khói bếp chiều của những gia đình đang chuẩn bị bữa cơm tối. Mùi dầu mỡ phi hành tỏi quyện lẫn mùi nước hoa bưởi gội đầu của ai đó phảng phất trong làn gió heo may se lạnh đầu mùa. Khi ba người bước qua bậc cửa gỗ lim quen thuộc, Tiệm Đồng Hồ Tư Thời lúc này đã lên đèn tự bao giờ. Ánh sáng vàng dịu tỏa ra từ chiếc đèn chụp cổ kính treo lơ lửng ngay phía trên bàn làm việc của cụ Tư hắt những vệt sáng ấm áp lên hàng trăm mặt đồng hồ cơ khí đủ mọi kích cỡ, hình dáng treo kín bốn bức tường gỗ tếch.

Không gian tiệm ngập tràn trong một thứ âm thanh kỳ ảo, độc nhất vô nhị của phố cổ: tiếng tích tắc, tích tắc, bính boong không đồng nhịp của hàng trăm cỗ máy thời gian bằng kim khí đang cùng lúc vận hành. Chiếc chạy nhanh một nhịp gõ lanh lảnh, chiếc chạy chậm buông tiếng trầm đục như tiếng gõ mõ cầm canh, tạo thành một bản giao hưởng bất tận của thời gian, một dòng chảy ký ức trầm mặc tách biệt hoàn toàn với sự ồn ào, xô bồ của phố thị ngoài kia.

Cụ Tư Thời khẽ thở dài một tiếng khoan khoái, cởi chiếc áo gile len mỏng treo lên móc đồng sau cánh cửa. Cụ bước lại góc sập gụ, lấy chiếc ấm đồng cổ chuyên dùng để đun nước, châm lửa vào bếp cồn nhỏ rồi thuần thục pha một ấm trà ướp hoa sen Tây Hồ thượng hạng bốc khói nghi ngút. Cụ nâng chiếc ấm đất nung màu gan gà, rót dòng nước trà vàng óng ánh như hổ phách ra ba chiếc chén quả đào bằng gốm da chuồn men rạn.

Cụ đưa hai tay nâng một chén trà mời Vi, một chén cho Khang, rồi tự mình nhấp một ngụm nhỏ, mỉm cười đôn hậu nhìn hai người trẻ tuổi đang ngồi trước mặt: "Hôm nay hai cô cậu phối hợp với nhau ăn ý lắm. Thật lòng mà nói, lão già này ngồi xem từ đầu đến cuối mà trong bụng không khỏi tấm tắc khen thầm. Một người thì nắm giữ nguyên tắc thép, sự chặt chẽ và tính răn đe không thể lay chuyển của luật pháp; một người thì tỉ mỉ, kiên nhẫn đọc từng thớ giấy, hiểu từng nếp gấp và nhịp thở của thời gian. Hai thứ ấy gặp nhau, bổ trợ cho nhau thì không một sự gian dối nào có thể che giấu nổi. Cụ Nhược dưới suối vàng hôm nay chắc cũng đã có thể mỉm cười thanh thản mà yên giấc ngàn thu rồi."

Vi nâng chén trà nóng bằng cả hai bàn tay, áp nhẹ những ngón tay thon dài vào thành gốm ấm áp để xua tan đi cái lạnh buốt của kim loại và bụi bặm giấy tờ vừa trải qua. Hương sen thanh khiết quyện với vị chát ngọt sâu của búp chè mạn lan tỏa nơi đầu lưỡi, khiến thần kinh cô dịu lại. Khang ngồi ngay bên cạnh cô trên chiếc ghế mây dài, anh đã tháo chiếc áo khoác gió đồng phục ngành sẫm màu vắt gọn gàng lên lưng ghế, chỉ còn lại chiếc áo sơ mi xanh thẫm xắn ngang cẳng tay. Vẻ mặt cương nghị, nghiêm cẩn thường ngày của người điều tra viên lúc này thoáng lộ ra nét thư thái, cởi mở hiếm thấy.

"Quy trình xử lý hiện trường và bảo toàn chứng cứ chiều nay của cô rất chuẩn mực," Khang lên tiếng, giọng trầm ấm và mềm mại hơn hẳn vẻ đanh thép khi anh thẩm vấn đối tượng cách đây một giờ. "Nếu lúc ở trên căn gác, cô cứ khăng khăng đòi mang chiếc hộp sắt đó về phòng lưu trữ riêng để dùng kính hiển vi điện tử kiểm tra như dự định ban đầu, thì chỉ cần phía tay Cường môi giới hay anh Tuấn kia trở mặt, nộp đơn khiếu nại về việc xáo trộn vật chứng nằm ngoài sự giám sát của chính quyền sở tại, toàn bộ giá trị chứng minh pháp lý của tài liệu tìm thấy trong ngăn đáy bí mật sẽ bị vô hiệu hóa hoàn toàn trước tòa. Trong tố tụng và điều tra, sự chính xác tuyệt đối của trình tự thủ tục chính là tấm khiên duy nhất và vững chắc nhất để bảo vệ chân lý."

Vi khẽ nghiêng đầu nhìn anh, khóe môi thanh tú hơi cong lên thành một nụ cười kín đáo đầy vẻ thách thức thông minh: "Tôi thừa nhận chiều nay anh đã xử lý rất chuẩn xác về mặt nguyên tắc chuỗi lưu giữ vật chứng. Nhưng đại úy Lục Khang cũng phải công bằng thừa nhận một điều: nếu không có con mắt nghề nghiệp của người làm công tác văn khố nhận ra độ hụt hai xăng-ti-mét bất thường ở chiều sâu đáy hộp sắt, và nếu không nhận ra mảnh danh mục tài liệu dán ngầm sau tờ văn tự chữ Nho năm 1942, thì cái quy trình thủ tục nghiêm ngặt của anh chiều nay cũng sẽ chỉ phải đối diện với một chiếc hộp sắt rỗng tuếch không hơn không kém mà thôi."

Cụ Tư Thời nghe hai người đối đáp thì bật cười sảng khoái, chòm râu bạc như cước rung rinh theo từng nhịp cười: "Đấy, hai cô cậu cứ nhìn mà xem! Bù trừ cho nhau ăn khớp như bánh răng truyền động với trục hồi của một cỗ đồng hồ quả lắc Thụy Sĩ cổ điển thế kia cơ mà. Bánh răng mà không có trục hồi hãm lại thì dây cót bung hết sạch, mà trục hồi đứng trơ một mình không có bánh răng ăn khớp thì cỗ máy thời gian hóa thành một đống sắt vụn bất động. Cứ giữ được sự phối hợp nhịp nhàng như thế này thì việc lớn nào mà chẳng giải quyết xong xuôi."

Lời trêu đùa đầy ẩn ý và hóm hỉnh của người thợ già khiến bầu không khí trong căn tiệm bỗng chốc chùng xuống trong một sự ngượng ngùng ấm áp. Khang hơi khựng lại, vành tai anh hơi ửng đỏ; anh vội vàng hắng giọng một tiếng khô khốc rồi đưa tay đón lấy chén trà sen nhấp một ngụm lớn để che giấu sự bối rối hiếm có của mình.

Trong khi Khang và cụ Tư Thời tiếp tục câu chuyện xoay quanh các quy định phức tạp về quyền thừa kế nhà cổ và những lỗ hổng pháp lý trong việc quản lý bất động sản khu phố cũ, Vi lặng lẽ rút chiếc điện thoại thông minh từ túi áo khoác ra. Cô mở tệp ảnh tư liệu vừa chụp ban chiều, bấm chọn bức ảnh chụp macro phóng đại có độ phân giải cao—bức ảnh cô đã bí mật dùng ống kính chuyên dụng chụp lại bề mặt lớp lót đáy hộp sắt ngay trước thời điểm Khang dán giấy niêm phong bàn giao vật chứng.

Vi đặt màn hình điện thoại dưới ánh sáng trắng của chiếc đèn bàn làm việc, rồi rút chiếc kính lúp bỏ túi có độ phóng đại gấp mười lần ra, cẩn thận soi kỹ vào từng chi tiết ở góc dưới cùng bên phải của bức ảnh kỹ thuật số.

Dưới độ phóng đại quang học kết hợp với độ phân giải vi điểm, những vệt hằn lún sâu trên lớp vải nhung đỏ đã mủn mục và lớp giấy bồi cổ một lần nữa hiện lên với độ tương phản sắc nét đến kinh ngạc. Những đường rãnh ép chìm không phải do vô tình va đập, mà được tạo ra bởi một đầu kim loại cùn tì miết với một lực tay cực kỳ dứt khoát và chuẩn xác:

*17-G / 03:15 / H-B / HỒ SƠ NGUỒN CẤT GIỮ TẠI KHOANG XÀ ĐÔNG.*

Tâm trí Vi vận động với tốc độ chóng mặt. Cô đặt bức ảnh chụp macro bên cạnh mẩu giấy nháp A5 mà Khang vừa thu giữ được từ chiếc túi xách của Tuấn—mẩu giấy vẽ sơ đồ ngõ tắt đâm sang phố Hàng Gương với dòng chữ ghi chú bằng bút bi kim: *'17-G / Lưu khoán cọc đợt 1'*.

Một cảm giác rợn ngợp quen thuộc, tựa như một luồng điện vô hình chạy dọc sống sống lưng, khiến toàn thân Vi khẽ rùng mình. Tất cả những mảnh ghép rời rạc, những dữ kiện tưởng chừng như vô định và hỗn loạn mà cô đã thu thập, trăn trở suốt hơn hai năm ròng rã kể từ cái đêm người thầy kính yêu của cô—chuyên gia lưu trữ Trần Minh Đạo—đột ngột mất tích không để lại một dấu vết, bỗng nhiên xoay chuyển một góc chín mươi độ và khớp chặt vào nhau trong một trật tự không gian hoàn toàn sáng tỏ.

Ký hiệu '17-G' bấy lâu nay chưa từng là một mã số phân loại tài liệu lưu trữ của Cục Văn thư, càng không phải là số sê-ri của một bản hợp đồng bảo hiểm hay mã định danh của một món cổ vật nào đó nằm trong danh mục bảo tàng như cô và các đồng nghiệp từng suy đoán mòn mỏi suốt bao đêm trắng.

Chữ 'G' viết hoa, đứng độc lập sau dấu gạch ngang, chính là chữ cái đầu viết tắt của con phố cổ: Hàng Gương. Con số '17' đứng phía trước chính là biển số nhà. Và mốc thời gian bí ẩn '03:15'—vốn từng được khắc chìm tinh vi trên rãnh ren nắp đáy của chiếc đồng hồ quả quýt hiệu Longines vỏ bạc cúc đại đóa mà thầy Đạo để lại—hoàn toàn không phải là một thời điểm gặp gỡ trong quá khứ. Trong ngôn ngữ định vị không gian và quy ước kim chỉ của giới thợ đồng hồ cùng các kiến trúc sư cổ điển, góc ba giờ mười lăm phút tương ứng chính xác với góc chín mươi độ hướng về phía Đông—chính là tọa độ kim đồng hồ chỉ thẳng hướng đông bắc, phương vị chuẩn mực của khoang xà đông trong kết cấu vì kèo rường cột của những ngôi nhà cổ truyền thống Hà Nội.

Vi ngồi lặng trước mẩu giấy lót nhung có vết hằn: ký hiệu '17-G' cùng mốc giờ đồng hồ không phải mã tài sản, mà là 'Số 17 Hàng Gương'.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories