Hồ Sơ Phố CổCh.6 / 38
Chapter 6

Vết Hằn Trên Giấy Lót

Ánh đèn bàn tỏa vầng sáng vàng đục lên mặt gỗ lim dày dặn giữa gian phòng khách ngõ Hàng Chỉ, soi rõ từng hạt bụi li ti bám quanh mép chiếc hộp sắt của bà cụ Nhược.

Gian nhà ba gian hai chái cổ kính nằm nép mình sâu trong lòng phố cũ dường như vừa trút bớt một phần hơi lạnh của tuần đầu tang lễ, nhưng lại bị nén chặt bởi một thứ không khí khác: ngột ngạt và căng thẳng như mặt nước trước cơn giông. Ngoài khoang sân hẹp lát gạch Bát Tràng rêu phong, bóng cây khế già rủ những chùm lá sẫm màu che bớt chút ánh hoàng hôn muộn đang chuyển dần sang sắc tím xám của bầu trời Hà Nội đầu thu. Gió không lọt nổi qua những bức tường gạch vồ dày bốn mươi phân đã ngả màu muối tiêu. Bên trong phòng khách, tiếng quạt trần ba cánh bằng sắt đảo chầm chậm trên xà gồ lim, phát ra tiếng cọt kẹt khô khốc, đều đặn từng hồi như một cỗ máy đếm nhịp đã rệu rã.

Ninh Tường Vi ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ mun tiện tròn, hai bàn chân đặt song song trên nền gạch bông cổ điển hoa văn chữ vạn đã mòn vẹt ở những chỗ người hay qua lại. Đôi bàn tay đeo găng vải cotton trắng tinh của cô đặt nhẹ trên mặt bàn, bất động, giữ khoảng cách cẩn trọng với các tài liệu đang trải ra. Đối diện cô, cụ Phạm Tư Thời ngồi xếp bằng ung dung trên sập gụ, thong thả nâng chén trà mạn mộc mạc đưa lên ngang mũi thưởng hương. Làn khói mỏng thơm mùi sen ngậm sương thoảng qua chòm râu bạc như cước, làm dịu đi phần nào nét khắc khổ trên gương mặt người thợ chữa đồng hồ già nhất phố Hàng Đào.

Ngồi chếch về phía góc tủ chè khảm ốc xà cừ, anh Tuấn – người cháu ruột của cụ Nhược – liên tục nhịp gót giày da xuống nền nhà. Tiếng đế giày nện vào gạch gõ lóc cóc ngắt quãng, bồn chồn. Mùi thuốc lá thơm thoang thoảng từ vạt áo khoác sợi tổng hợp của anh ta quyện lẫn với mùi ẩm mốc đặc trưng của giấy lưu kho lâu năm, mùi gỗ ngấm nước mưa mùa ngâu và hương trầm tàn chưa tan hết sau chuỗi ngày cúng thất đầu tiên. Cạnh cửa sổ nhìn ra khoang giếng trời nhỏ bé – nơi chỉ vừa đủ đặt một ang nước mưa thả vài ngọn rong đuôi chó – Vũ Đức Hải, chàng kiến trúc sư trẻ của Nhóm bảo tồn nhà cổ Hà Nội, ôm khư khư chiếc ống đựng bản vẽ bằng nhựa đen trước ngực. Đôi mắt thâm quầng và lo âu của Hải liên tục đảo qua xấp giấy tờ đang được sắp ngay ngắn trên mặt bàn, bàn tay siết chặt lấy quai đeo bằng vải dù đến mức các khớp ngón trắng bệch.

Vi không vội vã. Bản tính của một cựu phóng viên điều tra từng trải qua cú ngã nghề nghiệp nhớ đời rèn cho cô một nguyên tắc bất di bất dịch: không bao giờ để sự sốt ruột của người khác can thiệp vào nhịp điệu quan sát của chính mình. Đối với tài liệu cổ, vội vàng đồng nghĩa với phá hoại. Giấy mục nát không thể chịu được những cử chỉ hấp tấp, cũng như sự thật không thể chịu nổi những phán đoán hồ đồ dựa trên cảm tính.

Trước mắt cô, từng tờ tài liệu lấy ra từ lòng chiếc hộp sắt sơn xanh đã được lồng cẩn thận vào từng túi màng mylar bảo quản chuyên dụng. Đó là loại màng polyester trơ về mặt hóa học, không chứa axit, không tiết ra chất hóa dẻo theo thời gian, giúp ngăn chặn sự xâm nhập của mồ hôi tay và độ ẩm từ không khí ẩm ướt của Hà Nội. Tờ danh mục kiểm kê viết tay bằng mực tím mà cô vừa bóc tách thành công khỏi mặt sau của văn tự cầm cố năm 1942 được đặt phẳng phiu ở góc trên cùng bên phải. Từng con chữ nắn nót, thanh mảnh theo lối chữ thời Pháp thuộc hiện lên rõ nét: nét sổ thẳng tắp, nét móc thanh thoát, mực tím hoa cà đã ngả sang ánh nâu sẫm ở các nét đậm do phản ứng oxy hóa của ion sắt qua hơn nửa thế kỷ.

Bản danh mục ấy gồm các dòng ghi chú cẩn trọng bằng chữ quốc ngữ cổ: *1. Văn tự thế trạch tại phố Hàng Chỉ – Lập năm Bảo Đại thứ mười bảy (1942).* *2. Tờ biên nợ bạc trắng hiệu Cự Xương – Năm Mậu Tý (1948).* *3. Biên lai nộp thuế môn bài và điền thổ – Ủy ban Quân quản (1954).* *4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng và đăng ký nhà đất – Năm Canh Tý (1960).* *5. Tờ di nguyện và phân định phần hương hỏa, lập ngày mùng năm tháng Chín.* *6. Biên nhận mượn ngô hạt và vải phên hợp tác xã – Năm Mậu Ngọ (1978).*

Vi cẩn trọng đối chiếu danh mục tài liệu viết tay bằng mực tím với từng tờ văn tự thế chấp và giấy nợ đang nằm trên mặt bàn lim. Dưới ánh sáng vàng nhạt của bóng đèn dây tóc, đôi mắt tinh tường của cô lập tức phát hiện số thứ tự trang bị đứt đoạn rõ rệt khi nhảy cóc từ tờ số 4 sang tờ số 6.

Cô dùng chiếc nhíp thép không gỉ đầu bọc silicon khẽ nhấc tờ số 4 lên ngang tầm mắt. Đó là bản chứng nhận bằng giấy rơm màu vàng sậm thời kỳ cải tạo nhà đất năm 1960. Loại giấy sản xuất trong thời kỳ gian khó này chứa hàm lượng lignin rất cao, sợi gỗ ngắn, mép giấy xơ tước và có một vết ố nước hình bán nguyệt kéo dài từ góc dưới bên phải lên đến giữa thân trang. Nước ngấm lâu ngày đã hòa tan một phần chất keo tự nhiên trong bột giấy, để lại một quầng ố màu nâu cánh gián viền quanh một khoảng giấy mỏng manh, giòn rụm. Khi lật sang mặt sau, ở góc trên bên trái hiện ra một con số "4" nhỏ xíu được đánh bằng bút chì than ngả màu xám chì, nét chì ăn sâu vào thớ giấy thô ráp. Vết ố nước hình bán nguyệt ở tờ số 4 này dừng lại đột ngột ở rìa mép phải, như thể bị cắt đứt ngang xương bởi một nhát kéo vô hình.

Vi đặt tờ số 4 xuống, nhẹ nhàng gắp tờ tiếp theo trong xấp giấy nợ – tờ giấy kẻ ngang học sinh khổ nhỏ ghi nhận việc vay mượn mười lăm cân ngô hạt và hai mét vải phên năm 1978. Ở góc sau của tờ giấy này, con số đánh dấu bằng bút chì than lại là số "6". Chữ số được viết cùng một loại chì 2B đậm nét, cùng một góc nghiêng khoảng bảy mươi độ, cùng một thói quen khẽ móc nhẹ ở đuôi nét chữ của người phụ nữ cả đời cẩn trọng với từng con số. Điều quan trọng hơn cả, tờ số 6 hoàn toàn khô ráo. Bề mặt giấy tuy ngả vàng theo thời gian nhưng tuyệt nhiên không hề có vệt ố nước bán nguyệt tương thích với vết loang trên tờ số 4. Nếu hai tờ giấy này từng nằm áp sát vào nhau trong suốt những năm tháng ẩm ướt của căn nhà cũ, vết nước ngấm sâu kia nhất định phải thẩm thấu xuyên qua cả hai bề mặt. Giữa hai tờ giấy ấy tồn tại một khoảng trống cơ học không thể chối cãi.

"Tập hồ sơ này bị khuyết," Vi lên tiếng, thanh âm bình thản nhưng dứt khoát vang lên giữa gian phòng tĩnh lặng, lấn át cả tiếng cót két của chiếc quạt trần. "Cụ Nhược là người có thói quen sắp xếp hồ sơ theo trình tự thời gian và đánh số thứ tự mặt sau bằng bút chì than loại 2B. Từ tờ số 4 lập năm 1960, hồ sơ nhảy cóc thẳng sang tờ số 6 lập năm 1978. Tờ số 5 – chính là tờ được ghi trong bản danh mục mực tím với tiêu đề 'Tờ di nguyện và phân định phần hương hỏa, lập ngày mùng năm tháng Chín' – đã bị rút ra khỏi tập tài liệu này."

Anh Tuấn khựng lại một nhịp giũ tàn thuốc, đầu mẩu thuốc lá đang cháy dở suýt chạm vào ngón tay trỏ. Khuôn mặt vuông vức mang vẻ từng trải nhưng hằn rõ nét mệt mỏi vì cờ bạc và nợ nần của anh ta co giật nhẹ quanh khóe miệng: "Cô nói cái gì cơ? Rút là rút thế nào? Cái hộp sắt đó bà tôi khóa kín bao nhiêu năm nay, chìa khóa bà luôn đeo trên dải yếm cổ áo đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay mới giao lại cho chị Dung giữ! Chị Dung, chị giải thích xem nào? Chẳng phải chị bảo bà để lại di chúc muốn cho cả xóm này mượn nhà làm chỗ đọc sách sao? Giờ mở ra không có, lại bảo bị rút mất? Hay là chị dựng chuyện, câu kết với người ngoài để ngăn tôi bán nhà?"

Chị Dung – người phụ nữ trung niên gầy gò với đôi mắt trũng sâu vì nhiều đêm thức trắng lo hậu sự cho cụ Nhược – giật bắn mình. Chị run rẩy nép sát vào mép cánh cửa ngách thông ra gian bếp, hai bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì giặt giũ và cọ rửa nắm chặt vạt áo bà ba đen đã sờn chỉ: "Tôi thề có vong linh cụ chứng giám! Tôi mà nói sai nửa lời thì trời tru đất diệt! Chính mắt tôi thấy cụ ngồi trước ngọn đèn dầu này nắn nót viết từng chữ vào một buổi tối mùa thu năm năm trước. Viết xong, cụ còn gọi cả cụ Tư Thời sang làm chứng, ký tên đàng hoàng rồi mới đích thân bỏ vào đáy hộp sắt khóa lại. Tôi làm công cho cụ hai mươi năm, từ lúc ông cụ mất đến giờ, chưa từng dám tơ hào một cọng rác trong nhà này, làm sao dám động vào hộp gia bảo của dòng họ!"

Cụ Tư Thời đặt nhẹ chén trà xuống đĩa sứ, tiếng gốm va vào nhau khô khốc nhưng đanh gọn: "Anh Tuấn không cần phải lớn tiếng đổ riệt cho người khác để át đi cái lý. Chuyện năm năm trước bà cụ nhờ tôi sang làm chứng việc lập di nguyện là có thật. Lúc bấy giờ bà cụ còn rất minh mẫn, tay cầm bút tuy có run nhưng mắt còn sáng, đọc vanh vách từng dòng. Chính tay tôi ký tên vào góc dưới bên trái của tờ giấy dó bản lề, bên cạnh vết điểm chỉ ngón tay trỏ phải của cụ. Văn bản đó có tồn tại, và nó từng nằm trong chiếc hộp này."

"Nhưng giờ nó không có ở đây!" Tuấn đập bàn đánh rầm một cái, khiến chén nước chè của cụ Tư chao đảo, nước trà sánh ra mặt khay. Anh ta đứng phắt dậy, chỉ thẳng ngón tay trùm nhẫn bạc vào chiếc hộp sắt rỗng tuếch đang nằm chỏng chơ giữa bàn. "Nói mồm với nhau ai chẳng nói được! Các người có giỏi thì lôi nó ra đây xem nào? Trước pháp luật, không có giấy trắng mực đen thì tôi là người thừa kế duy nhất theo hàng thừa kế thứ nhất của dòng họ này! Tôi là cháu đích tôn, bố tôi mất rồi thì quyền sở hữu thuộc về tôi. Tôi có quyền định đoạt căn nhà này, bán cho ai, phá dỡ hay giữ lại là việc của tôi!"

Vi không tham gia vào cuộc tranh cãi nảy lửa ấy. Tai cô lắng nghe từng âm thanh, từng biến thiên trong giọng nói của những người xung quanh, nhưng đôi mắt và sự tập trung cao độ của cô đã dồn toàn bộ vào chiếc hộp sắt sơn xanh đang để trơ trọi.

Chiếc hộp sắt Tây này là một hiện vật điển hình của thời kỳ tạm chiếm hoặc đầu thập niên 1950. Nó vốn là một hộp đựng bánh bích quy của hãng Lu hoặc hộp đạn của quân đội viễn chinh được người dân tận dụng lại, phủ lên một lớp sơn dầu màu xanh lục đậm nay đã tróc lở từng mảng lớn, để lộ lớp kim loại màu xám chì bên dưới. Như cô đã nhận định sơ bộ từ lúc chiều khi vừa tiếp cận hiện trường, kích thước lòng hộp và mặt ngoài có độ chênh lệch cơ học rất rõ rệt: chiều sâu bên trong hụt gần hai xăng-ti-mét so với chiều cao đo từ đáy hộp lên miệng nắp. Lớp đáy bên trong phẳng phiu bất thường, không hề có những vết gỉ sét loang lổ hay những vết cấn móp như bốn thành hộp xung quanh. Và quan trọng hơn cả, nằm ngay ngắn dưới đáy lớp tôn mỏng ấy là một tấm giấy bồi bọc vải nhung đỏ đã ngả màu mận chín, mép vải sờn rách, vốn được dùng để lót êm cho những món đồ gia bảo quý giá như vòng ngọc hay khánh vàng thời phong kiến.

Vi rút từ chiếc túi đồ nghề lưu trữ bằng vải bạt ra chiếc đèn pin kỹ thuật ánh sáng trắng lạnh công suất cao. Đây là loại đèn chuyên dụng dùng trong giám định tài liệu cổ, có khả năng điều chỉnh tiêu cự chùm sáng từ dạng tỏa rộng sang một luồng sáng hẹp, gom tụ và sắc lẹm. Cô hạ thấp người xuống ngang mép bàn, nghiêng đầu sang một bên, áp sát má vào thành hộp sắt.

Dùng đèn pin kỹ thuật rọi xiên góc 15 độ lên lớp giấy lót nhung đỏ dưới đáy hộp sắt rỗng, Vi nhìn thấy những vệt hằn nét bút bi đè lún sâu thành từng dòng chữ đan xen, lưu lại vết tích của một văn bản từng được kê lên đây để viết.

Phương pháp chiếu sáng xiên (raking light) lập tức phát huy tác dụng kỳ diệu của nó trên bề mặt vật liệu mềm. Ánh sáng chiếu tạt ở góc cực hẹp khiến cho những rãnh lún siêu nhỏ đổ bóng dài sang bên cạnh, biến những vết hằn hoàn toàn vô hình dưới ánh sáng tán xạ thông thường thành các đường nét có độ tương phản đen trắng cực kỳ rõ rệt. Lớp nhung đỏ tuy đã bị ép xẹp sợi lông qua nhiều năm tháng, nhưng lớp giấy bồi ép bằng bột gỗ bên dưới nó lại hoạt động như một tấm bảng đất sét nhạy cảm. Bột gỗ bị nén dưới áp lực cơ học không thể tự phục hồi trạng thái ban đầu; nó lưu giữ hoàn hảo lực tì của đầu bi kim loại tròn xoay, bảo toàn nguyên vẹn từng khúc gãy, từng điểm dừng bút của người viết.

Vi nheo mắt lại, hơi thở cô chậm dần, nông dần để giữ cho cơ thể hoàn toàn tĩnh tại, không làm chùm sáng bị rung rinh dù chỉ một phần mười milimet.

Từng vệt hằn đè lún bắt đầu hiện rõ mồn một qua các bóng đổ li ti. Lớp văn bản này đè lên lớp văn bản khác, nhưng khối chữ chính nổi bật nhất là những dòng chữ viết bằng bút bi ngòi to – loại bút Thiên Long ngòi 0.7mm phổ biến. Lực đè của người viết rất mạnh, tạo thành các rãnh sâu hoắm làm rách cả lớp vải nhung mặt trên. Hàng chữ đầu tiên hiện ra: *"Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam..."*, theo sau là dòng tiêu đề viết hoa nắn nót: *"DI CHÚC VÀ DI NGUYỆN HƯƠNG HỎA..."*

Nét chữ trên vệt hằn hơi run rẩy ở các nét gạch ngang, đặc biệt là ở dấu ngã và dấu hỏi. Lực tì ở các chữ có dấu mũ như "ô", "ê" hay các nét sổ của chữ "đ" rất đậm – dấu hiệu cơ học điển hình của thói quen cầm bút dựng đứng và lực cơ tay suy giảm của một người cao tuổi trên tám mươi tuổi, hoàn toàn trùng khớp với thể trạng của cụ Nhược năm năm về trước. Đoạn văn bản kê lên đây viết gồm khoảng hai mươi dòng, bố cục chia làm hai phần rõ rệt. Phần trên nói về việc giữ gìn nếp nhà tổ tiên làm nơi thờ cúng chung, dành một gian làm không gian sinh hoạt sách vở cho con trẻ trong ngõ Hàng Chỉ, và giao toàn quyền cho chị Dung trông nom hương khói suốt đời mà không ai được phép xua đuổi.

Nhưng điều khiến đồng tử của Vi khẽ co lại, nhịp tim đột ngột lỗi một nhịp, không phải là những dòng chữ thừa kế chan chứa ân tình ấy.

Ở góc dưới cùng bên phải của lớp giấy lót nhung, cách biệt hoàn toàn với khối văn bản di nguyện chính bằng một khoảng trống rộng rãi, có một vết hằn nét bút bi rất mảnh. Vết hằn này được tạo ra bởi một lực tì nhanh, dứt khoát, sắc sảo và lạnh lùng hơn rất nhiều. Đó tuyệt đối không thể là nét chữ của một bà cụ ngoài tám mươi tay run mắt mờ. Vết hằn này được viết bởi một đầu bút bi dạng kim 0.5mm, ấn sâu vào lớp giấy bồi thành một cụm ký tự ngắn gọn, gọn gàng và chuẩn xác đến từng góc cạnh:

**17-G / 03:15 / H-B**

Trái tim Vi khẽ nảy lên một nhịp mạnh mẽ trong lồng ngực. Cụm ký tự này... mốc thời gian "03:15" cùng cấu trúc mã hóa viết tắt địa danh bằng chữ in hoa gạch ngang. Ký ức thị giác của cô lập tức kéo về đêm hôm trước, khi cô ngồi dưới ánh đèn dây tóc tại xưởng phục chế đồng hồ của cụ Tư Thời ở phố Hàng Đào. Dưới chân ren của nắp bạc chiếc đồng hồ quả quýt Longines sản xuất năm 1935 mà cụ Thời đang tháo dỡ linh kiện, Vi đã nhìn thấy một vết khắc cơ học siêu nhỏ bằng mũi đột thép: một dãy ký hiệu mang mã 'HG' và '03:15'. Còn ở đây, ngay dưới đáy chiếc hộp sắt này, là '17-G' và '03:15'.

Một người nào đó – chắc chắn không phải cụ Nhược – đã từng dùng chiếc hộp sắt này làm bệ tì tay để ghi vội một dòng mã số trước khi cất giấu hoặc lấy đi một tài liệu quan trọng ra khỏi đây.

"Cô Vi, cô làm cái trò gì mà cứ cúi rạp người xuống thế? Cô nhìn thấy cái gì trong đó?" Giọng anh Tuấn đột ngột cắt ngang dòng suy nghĩ của Vi. Âm thanh gắt gỏng, khàn đục xen lẫn vẻ nghi kỵ và bồn chồn lộ rõ trên từng thớ thịt mặt.

Vi từ từ tắt đèn pin kỹ thuật, đứng thẳng dậy. Động tác của cô thong thả, không để lộ bất kỳ sự kích động nào. Cô không vội tiết lộ chuỗi ký hiệu bí ẩn ở góc đáy hộp, chỉ điềm tĩnh đưa ngón tay trỏ bọc vải cotton chỉ vào lớp lót nhung mận chín: "Lớp lót đáy hộp lưu lại vết hằn chữ viết của bản di nguyện từng được kê lên đây để viết. Lực tì cơ học của bút bi đã in hằn toàn bộ nội dung văn bản xuống lớp giấy bồi bên dưới lớp nhung. Chỉ cần dùng kỹ thuật đổ khuôn thạch cao quang học hoặc quét laser ba chiều bề mặt, chúng ta hoàn toàn có thể phục dựng lại nguyên văn từng câu chữ của bản di chúc đã biến mất."

Sắc mặt anh Tuấn thoáng chốc trắng bệch ra như người vừa mất máu. Đôi con ngươi của anh ta co giật liên hồi, đôi chân lùi vô thức lại nửa bước, va cả vào cạnh chiếc bàn trà bằng gỗ mun. Nhưng rồi rất nhanh, sự hoảng loạn ấy bị một ngọn lửa giận dữ hung hăng bốc lên át đi. Bản năng tự vệ của một kẻ đang bị dồn vào chân tường trỗi dậy dữ dội.

"Vớ vẩn! Bằng chứng vớ vẩn gì thế này!" Tuấn gắt lên, giọng the thé chói tai. Bàn tay thô ráp của anh ta thọc mạnh vào chiếc cặp da công tác giả da cá sấu màu nâu sẫm đặt trên bàn trà, kéo toạc khóa kéo bằng kim loại phát ra một tiếng *xoẹt* khô khốc. "Vết hằn với chả vết lún! Ai biết được đứa nào kê giấy vào đấy mà vẽ bậy, viết bừa từ đời tám hoánh nào! Tôi nói cho các người biết, đừng có mà giở mấy cái trò ma thuật lưu trữ rẻ tiền ra đây để bịp bợm tôi! Bà tôi trước khi lẫn đã giao tận tay cho tôi một bản di chúc hợp pháp, có công chứng đàng hoàng của nhà nước đây này!"

Nói rồi, anh Tuấn vội vã rút trong cặp ra một tờ giấy A4 gấp làm tư, mép giấy đã hơi nhàu nhĩ vì bị nhét vội vã. Anh ta đập mạnh tờ giấy xuống mặt bàn lim đánh *chát* một cái, ngay sát cạnh chồng tài liệu bọc mylar của Vi: "Đấy! Giấy trắng mực đen, dấu đỏ chót của văn phòng công chứng quận! Lập ngày mùng năm tháng Chín, đúng năm năm trước, trùng khớp với cái ngày trên danh mục của các người chưa? Trong này ghi rõ ràng: 'Toàn bộ quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất tại số 22 ngõ Hàng Chỉ giao toàn quyền thừa kế và định đoạt cho cháu đích tôn Nguyễn Minh Tuấn'. Các người đọc đi! Đọc cho sáng mắt ra rồi biến hết đi cho tôi nhờ!"

Kiến trúc sư Hải vội rướn người tới phía trước, chiếc ống bản vẽ tuột khỏi tay rơi cộp xuống nền gạch. Gương mặt Hải tái mét khi lướt mắt qua những dòng chữ chia thừa kế rõ ràng trên trang giấy. Đôi môi anh ta mấp máy không ra tiếng. Chị Dung thì sụp hẳn xuống chiếc ghế gỗ ở góc ngách, hai tay bưng lấy mặt, những giọt nước mắt tủi hờn và bất lực trào ra qua kẽ tay, làm ướt đẫm vạt áo nâu.

Vi vẫn không hề nao núng. Trước những phản ứng dữ dội của người khác, sự điềm tĩnh của cô giống như một mỏ neo sắt thả sâu xuống lòng biển phẳng. Cô với tay kéo chiếc đèn bàn xoay cần kim loại lại gần hơn, điều chỉnh chao đèn rọi luồng sáng vàng trực diện vào tờ giấy A4. Dùng chiếc nhíp silicon cẩn thận kẹp mép giấy, cô nhấc bản photo lên bằng hai đầu ngón tay đeo găng, đưa sát vào nguồn sáng.

Trang giấy photo thể hiện tiêu ngữ quốc gia ở phần đầu: *"CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"*. Bên dưới là dòng chữ tiêu đề viết hoa in đậm: *"BẢN SAO DI CHÚC"*. Cuối văn bản ghi ngày lập: *Ngày 05 tháng 09 năm 2019*. Con dấu giáp lai và con dấu tròn màu đỏ của một văn phòng công chứng tư nhân nằm ở góc dưới bên phải trang giấy, mực đỏ của dấu công chứng trông có vẻ rất tươi, tương phản gắt gao với nền giấy trắng đục.

Trí nhớ thị giác siêu việt của Vi bắt đầu vận hành như một chiếc máy quét quang học phân giải cao. Đối với một người bình thường, đây là một bản photo công chứng hoàn hảo không tì vết, có đầy đủ căn cứ pháp lý. Nhưng đối với một người hàng ngày làm việc với hàng ngàn trang tài liệu lưu trữ từ thời thuộc Pháp, qua thời kỳ bao cấp cho đến giai đoạn bùng nổ công nghệ số như cô, có một sự phi lý chết người đang hiển hiện sờ sờ ngay ở hàng chữ tiêu đề hành chính đầu tiên.

Vi không vội kết luận. Cô mở hộp đồ nghề, lấy ra một chiếc kính lúp đo đạc chuyên dụng có vạch chia milimet quang học (reticle loupe). Đặt tròng kính lên bề mặt chữ, Vi quan sát cấu trúc hình học của từng ký tự dưới độ phóng đại mười lần.

Sau gần hai phút im lặng đến nghẹt thở, Vi đặt chiếc kính lúp xuống mặt bàn. Cô ngước mắt lên, nhìn thẳng vào đôi mắt đang bắt đầu đảo loạn xạ của Tuấn, giọng nói vang lên rành rẽ từng từ, lạnh lùng và sắc bén như một lưỡi dao giải phẫu rạch vào không gian đặc quánh của căn phòng:

"Anh Tuấn, anh khẳng định văn bản này được lập và công chứng sao y bản chính vào ngày mùng năm tháng Chín năm 2019, tức là cách đây đúng năm năm?"

"Chứ còn gì nữa! Ngày tháng ghi rành rành bằng số, bằng chữ ra đấy, cô bị mù chữ à?" Tuấn khoanh hai tay trước ngực, nghếch cằm lên cố tạo ra vẻ thách thức ngạo mạn, nhưng bắp chân anh ta đang khẽ run lên trong ống quần âu.

"Vậy thì văn bản này là một tài liệu ngụy tạo về mặt niên đại," Vi nói, giọng điệu không có chút dao động. "Hãy nhìn kỹ phông chữ của dòng tiêu ngữ hành chính này. Đây là phông chữ số hóa có tên mã VN-GovSan Serif, một bộ phông chữ tiêu chuẩn được Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước phối hợp với các chuyên gia đồ họa phát triển nhằm chuẩn hóa hệ thống văn bản điện tử và chứng thực tư pháp công quyền. Bộ phông chữ này có những đặc điểm nhận dạng độc bản không thể trộn lẫn: chân của chữ cái 'Đ' viết hoa có một góc vát nghiêng đúng 45 độ về phía bên trái thay vì vuông góc như phông Times New Roman truyền thống, và dấu hỏi trên các nguyên âm được thiết kế theo dạng một giọt nước cách điệu nằm chếch một góc 30 độ."

Vi chỉ đầu nhíp vào từng ký tự trên mặt giấy: "Bộ phông chữ số hóa VN-GovSan Serif này chỉ mới được nghiệm thu kỹ thuật và chính thức ban hành trên hệ thống phần mềm quản lý văn bản công chứng quốc gia từ ba năm trước, chính xác là vào tháng Tư năm 2021. Năm năm trước – tức năm 2019 như niên đại được in trên tờ giấy anh đang cầm – phông chữ này hoàn toàn chưa từng tồn tại trên bất kỳ hệ thống máy tính, máy in hay phôi mẫu hành chính nào tại Việt Nam. Không một công chứng viên hay văn phòng công chứng nào vào năm 2019 có thể du hành thời gian tới năm 2021 để lấy phông chữ này về in ra một văn bản pháp lý cả. Trừ phi... bản photo này là một sản phẩm ngụy tạo được can thiệp số hóa gần đây, rồi dùng thủ thuật chỉnh sửa đồ họa chèn ngày lùi về quá khứ!"

"Cô... cô nói láo! Cô ngậm máu phun người!" Tuấn lắp bắp, giọng anh ta lạc hẳn đi. Từng giọt mồ hôi hột bắt đầu rịn ra trên trán, chảy dọc xuống thái dương bóng nhẫy dưới ánh đèn bàn. "Cô chỉ là một con bé lưu trữ quèn ở cái bảo tàng tư nhân rách nát, cô lấy tư cách gì mà phán xét phông chữ với niên đại văn bản nhà nước? Ai cho phép cô vu khống, bôi nhọ tôi trước mặt mọi người?"

"Cô ấy nói hoàn toàn chính xác về mặt kỹ thuật nghiệp vụ đấy, anh Tuấn."

Một giọng nói trầm thấp, đanh thép và đầy uy lực bất ngờ vang lên từ phía ngạch cửa chính bằng gỗ lim.

Mọi ánh mắt trong phòng khách lập tức đổ dồn ra phía ngưỡng cửa.

Thanh tra Lục Khang xuất hiện theo tin báo của tổ dân phố về nguy cơ gian lận tài sản thừa kế; anh kiểm tra bản photo của Tuấn, xác nhận dấu hiệu ngụy tạo dấu giáp lai và lập tức đình chỉ việc nhận tiền đặt cọc từ nhóm đầu tư.

Khang mặc thường phục gọn gàng với áo sơ mi sẫm màu cài kín cổ, bên ngoài khoác chiếc áo khoác gió mỏng chuyên dụng của ngành cảnh sát hình sự. Vóc người anh cao ráo, bờ vai rộng và dáng đi thẳng tắp, dứt khoát mang đậm tác phong kỷ luật của một điều tra viên kinh tế dày dạn trận mạc. Đi ngay sau lưng anh là ông Bùi Văn Lập – tổ trưởng tổ dân phố số 4 – và một cán bộ công an khu vực trẻ tuổi đeo quân hàm trung úy, tay cầm tập biên bản hành chính bọc bìa da.

Khang bước qua bậu cửa gỗ cao, không khí trong gian phòng khách lập tức chùng xuống thêm một nấc. Uy lực vô hình toát ra từ ánh mắt sắc bén của người điều tra viên khiến Tuấn vô thức rụt cổ lại. Khang quét mắt một vòng qua toàn bộ hiện trường: từ xấp tài liệu lồng mylar phẳng phiu của Vi, vẻ bối rối tột độ của kiến trúc sư Hải, nét mặt hoảng loạn của Tuấn, cho đến chén trà sen vẫn đang nghi ngút khói của cụ Tư Thời. Anh khẽ gật đầu chào cụ Tư và Vi – một cử chỉ ngầm công nhận sự hiện diện chuyên môn của cô – rồi tiến thẳng tới trước bàn trà.

"Tôi là Lục Khang, cán bộ Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế và Chức vụ Công an quận," Khang rút thẻ ngành trong túi áo ngực, đưa ra trước mặt Tuấn bằng một động tác gọn gàng, giọng nói không hề có chút gợn cảm xúc thừa thãi. "Chiều nay, Công an phường Hàng Gai và Đội Điều tra Kinh tế đã tiếp nhận tin báo tố giác khẩn cấp từ đại diện tổ dân phố về việc có dấu hiệu làm giả hồ sơ thừa kế nhằm tẩu tán, chuyển nhượng trái phép tài sản đang có tranh chấp tại số 22 ngõ Hàng Chỉ. Anh Tuấn, anh vừa lớn tiếng khẳng định bản sao di chúc này là tài liệu hợp pháp do cơ quan nhà nước chứng thực?"

Tuấn nuốt nước bọt cái *ực*, yết hầu giật lên giật xuống. Bàn tay run rẩy của anh ta thối lui định chộp lấy tờ giấy A4 trên bàn để thu hồi lại, nhưng bàn tay to bè, ngón dài và rắn chắc như thép nguội của Khang đã nhanh hơn một bước. Khang đặt hai ngón tay đè chặt lên mép giấy, ghim chặt văn bản xuống mặt gỗ lim.

Không cần nhìn lâu, Khang rút từ túi áo khoác ra chiếc kính lúp kỹ thuật hình chữ nhật có đèn LED cực tím phụ trợ và một chiếc thước đo góc trong suốt. Anh cúi người xuống, soi kỹ vào con dấu tròn màu đỏ và đường viền dấu giáp lai chạy dọc mép phải tờ giấy.

"Dấu giáp lai này có vấn đề gian lận rất thô thiển," Khang cất tiếng, mắt vẫn chăm chú quan sát qua tròng kính phóng đại. "Các đường cong đồng tâm của con dấu giáp lai ở mép giấy này bị lệch góc bốn độ so với quy chuẩn dấu quay tròn của văn phòng công chứng quận Hoàn Kiếm. Quan trọng hơn, dưới ánh sáng phóng đại, mật độ hạt mực đỏ phân bố theo dạng phun vi điểm kỹ thuật số (inkjet printing) với ma trận điểm ảnh rõ rệt, chứ không phải mực dấu cao su dập nổi bằng tay truyền thống ngấm vào thớ giấy. Đây là một bản scan màu độ phân giải cao của một con dấu công chứng thật từ một hồ sơ hoàn toàn khác, sau đó dùng phần mềm chỉnh sửa đồ họa để cắt dán vào văn bản soạn thảo mới, rồi đem in màu kỹ thuật số trên nền giấy A4 nhằm giả lập một bản sao có chứng thực."

Khang tắt đèn kính lúp, ngẩng đầu lên. Ánh mắt lạnh buốt như băng của anh găm thẳng vào gương mặt đang xám xịt lại như tro tàn của người cháu trai: "Ngoài cửa ngõ hiện đang có hai người đàn ông mang theo một chiếc va li màu đen. Họ là đại diện của Công ty Cổ phần Bất động sản và Đầu tư Tân Hưng, đang chờ tín hiệu của anh để bước vào đây ký hợp đồng đặt cọc mua lại căn nhà này với giá mười lăm tỷ đồng theo thỏa thuận ngầm từ ba hôm trước. Có đúng như vậy không, anh Nguyễn Minh Tuấn?"

Tuấn run rẩy toàn thân, hai đầu gối bắt đầu va lập cập vào nhau. Anh ta đổ sụp xuống mép ghế đẩu, hai bàn tay ôm lấy đầu: "Tôi... tôi nợ nần nhiều quá... Bọn chủ nợ nó đòi siết nhà của mẹ con tôi ở mạn Bạch Mai... Tôi chỉ nghĩ căn nhà này bà để lại, trước sau gì cũng là của tôi... Tôi chỉ muốn bán phần tài sản của tôi để trả nợ..."

"Căn nhà số 22 ngõ Hàng Chỉ là bất động sản gắn liền với di sản đô thị, hiện chưa có văn bản phân định thừa kế hợp pháp được pháp luật công nhận. Bản di chúc anh đưa ra có dấu hiệu ngụy tạo rõ ràng về cả nội dung văn bản, niên đại phông chữ lẫn con dấu của cơ quan chức năng," Khang dõng dạc tuyên bố, giọng nói vang rền khắp gian nhà cổ ba gian. "Căn cứ quy định của pháp luật về quản lý tài sản tranh chấp và phòng ngừa tội phạm, tôi yêu cầu đình chỉ ngay lập tức mọi giao dịch chuyển nhượng, cấm nhận bất kỳ khoản tiền đặt cọc nào liên quan đến căn nhà này dưới mọi hình thức. Nếu anh cố tình nhận tiền trong tình trạng giấy tờ ngụy tạo, hành vi đó sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự."

Lời tuyên bố của Khang vừa dứt, ngoài hàng rào dâm bụt bên ngoài sân bỗng vang lên tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi. Hai gã đàn ông lạ mặt mặc âu phục đen đứng thập thò nãy giờ nghe thấy toàn bộ sự việc, lập tức lấm lét nhìn nhau. Không ai bảo ai, một tên vội vã xách chiếc cặp số bằng da quay đầu rảo bước thật nhanh, tên còn lại bám sát nút, cả hai biến mất hút vào con ngõ ngoằn ngoèo hướng ra phố Hàng Nón giữa dòng người tan tầm đang hối hả.

Lúc này, Vũ Đức Hải – người nãy giờ đứng nép mình im lìm bên góc cửa sổ giếng trời – bỗng thở phào một tiếng rất mạnh, như thể vừa trút bỏ được một khối đá nặng ngàn cân đè nặng trên lồng ngực. Anh ta bước nhanh tới bàn, mở bung nắp ống nhựa rút ra một tập bản vẽ kiến trúc khổ A3 được in màu cẩn thận, trải rộng lên mặt bàn, đè lên cả góc chiếc hộp sắt của bà cụ Nhược.

Vũ Đức Hải đưa ra bản phác thảo kiến trúc căn nhà và tỏ ra lo lắng thái quá về các điều khoản bảo tồn, nhưng né tránh ánh mắt của Khang khi được hỏi về mối quan hệ thân tộc xa với Tuấn.

"May quá các anh công an đến kịp thời!" Hải nói liến thoắng, giọng nói run rẩy vì kích động tột độ, mồ hôi túa ra ướt đẫm hai bên thái dương. "Căn nhà này là một kiệt tác kiến trúc dân gian đô thị đầu thế kỷ hai mươi! Các anh nhìn xem, toàn bộ hệ khung cột, vì kèo 'chồng rường giá chiêng' này đều được làm từ gỗ lim nguyên khối thời Nguyễn, các đầu dư chạm trổ hoa cúc mãn khai cách điệu hoàn toàn trùng khớp với phong cách kiến trúc phố cổ Hà Nội giai đoạn trước năm 1930. Nhóm bảo tồn chúng tôi đã mất ròng rã ba tháng trời lập xong hồ sơ đo đạc hiện trạng tỉ mỉ từng chi tiết cột quân, cột cái, ngói liệt âm dương và các họa tiết gờ chỉ cửa võng. Chúng tôi đã nộp đơn xin xếp hạng bảo tồn cấp hai lên Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội! Tuyệt đối không thể để bọn đầu cơ bất động sản phá dỡ căn nhà này để xây khách sạn mini hay quán cà phê được! Bằng mọi giá phải giữ nguyên hiện trạng!"

Hải chỉ trỏ liên tục vào các bản vẽ mặt cắt, mặt đứng và phối cảnh ba chiều của căn nhà. Đầu ngón tay anh ta run rẩy một cách bất thường, gõ liên hồi lên mặt giấy can A3. Sự lo lắng, bồn chồn của anh ta vượt xa mức độ quan tâm thông thường của một kiến trúc sư trẻ làm công tác bảo tồn di sản vì lý tưởng cộng đồng.

Vi lặng lẽ quan sát từng cử chỉ nhỏ nhất của Hải. Đôi mắt anh ta trũng sâu, khóe môi khô khốc nứt nẻ, và mỗi lần nhắc đến hai chữ "bảo tồn" hay "giữ nguyên hiện trạng", ánh mắt Hải lại vô thức liếc xéo về phía anh Tuấn đang ngồi cúi gục đầu bên cạnh, mang theo một vẻ thăm dò đầy căng thẳng.

Khang không nhìn vào những bản vẽ kiến trúc hoa mỹ đang trải rộng trên bàn. Anh khoanh tay trước ngực, đôi mắt đen sâu thẳm dừng lại trên khuôn mặt đang dần tái nhợt của người kiến trúc sư.

"Anh Hải," Khang cất giọng đều đều, thanh âm trầm tĩnh nhưng mỗi từ thốt ra đều có sức nặng ngàn cân như một đòn cân não. "Anh rất tâm huyết với việc bảo tồn căn nhà này. Tinh thần bảo vệ di sản của người trẻ như anh là điều rất đáng ghi nhận. Nhưng tôi có một câu hỏi ngoài lề chuyên môn kiến trúc: Mẹ anh – bà Vũ Thị Loan – có phải là em họ con chú con bác ruột với mẹ đẻ của anh Tuấn đây không?"

Câu hỏi của Khang rơi xuống gian phòng khách như một tảng đá ném thẳng vào mặt hồ đang phẳng lặng.

Bàn tay Hải đang chỉ trỏ trên bản vẽ bỗng khựng lại giữa không trung. Gương mặt anh ta thoáng chốc cứng đờ như hóa đá, sắc máu rút sạch khỏi môi. Ánh mắt Hải đảo vội sang một bên, né tránh hoàn toàn cái nhìn trực diện, xuyên thấu của người điều tra viên: "Tôi... chuyện họ hàng xa xôi từ đời các cụ ấy... thì có liên quan gì đến giá trị kiến trúc lịch sử của căn nhà này đâu cán bộ? Mẹ tôi đúng là có quan hệ họ hàng xa với dòng họ này, nhưng gia đình tôi đã chuyển vào Thanh Hóa sinh sống và ly tán từ thời chiến tranh chống Mỹ..."

"Có liên quan rất lớn đấy, anh Hải," Khang lạnh lùng ngắt lời, giọng nói rành rẽ từng điều luật. "Bởi vì theo quy định của Bộ luật Dân sự về thừa kế, nếu căn nhà này không có di chúc hợp pháp và không xác định được hàng thừa kế thứ nhất trực hệ hợp lệ của cụ Nhược – hoặc người thừa kế bị tước quyền do có hành vi gian lận, làm giả di chúc – thì quyền thừa kế theo pháp luật sẽ mở rộng ra các hàng thừa kế tiếp theo và các nhánh thân tộc kế cận. Và quan trọng hơn cả: một người vừa đại diện cho nhóm vận động bảo tồn di sản để ngăn cản việc mua bán thương mại, lại vừa có tư cách của một người có quyền lợi thừa kế tiềm tàng nếu hủy bỏ được tư cách thừa kế của anh Tuấn... thì vị thế pháp lý và động cơ bảo tồn của người đó sẽ không còn hoàn toàn khách quan, vô tư như những gì anh đang trình bày."

Hải cắn chặt môi dưới đến rớm máu, hai vành tai đỏ ửng lên vì xấu hổ và bối rối. Anh ta cuống cuồng cuộn tròn tập bản vẽ lại, nhét vội vào ống nhựa màu đen, bàn tay lóng ngóng làm rơi cả nắp đậy xuống đất. Anh ta lùi lũi bước giật lùi về phía góc phòng, không dám thốt thêm một lời phản bác nào nữa.

Cụ Tư Thời khẽ thở dài một tiếng nặng trĩu. Cụ nhấp thêm một ngụm trà nguội ngắt, ánh mắt nhìn ra khoảng sân mờ mịt bóng tối: "Cái đất phố cổ này, ngõ sâu nhà hẹp, nhà nào cũng đan bện vào nhau bằng những mối dây thân tộc chằng chịt như rễ si bám tường gạch. Người thì vì đồng tiền trước mắt, kẻ lại vì những toan tính sâu xa vô hình giấu kín phía sau danh nghĩa cao đẹp. Khổ nhất vẫn là vong linh người nằm xuống, nắp quan tài vừa đậy lại mà hương linh chưa kịp thanh thản quy hồi tiên tổ."

Vi thở nhẹ ra một hơi dài. Nhờ sự can thiệp kịp thời và sắc bén của Khang, bức tranh phức tạp xung quanh vụ tranh chấp tại số 22 ngõ Hàng Chỉ đã dần hiện rõ từng mảng màu chân thực: một bên là người cháu ruột nợ nần cùng quẫn tìm cách ngụy tạo di chúc giả để bán gấp căn nhà cho giới đầu cơ lấy tiền trả nợ; một bên là người họ hàng trí thức dùng danh nghĩa cao cả của việc bảo tồn di sản nhưng ẩn sâu bên trong là toan tính pháp lý nhằm giành quyền kiểm soát tài sản nếu người thừa kế trực hệ bị loại bỏ; và ở giữa là một người giúp việc tận tụy nắm giữ sự thật nhưng hoàn toàn yếu thế trước quyền lực của những tờ giấy có đóng dấu đỏ.

Vi quay trở lại với xấp tài liệu đang lồng trong màng mylar trên mặt bàn. Bản năng và trực giác nghề nghiệp của một người làm công tác lưu trữ mách bảo cô rằng những trang giấy mỏng manh, ố vàng này – đặc biệt là tờ danh mục kiểm kê viết bằng mực tím và những vệt hằn bí ẩn dưới đáy hộp sắt – chứa đựng chìa khóa mở ra toàn bộ chân tướng của sự việc. Cô khẽ đưa tay thu dọn từng tập giấy, cẩn thận đặt chúng vào chiếc cặp chuyên dụng chống ẩm có đệm mút của mình. Vi định bụng sẽ mang toàn bộ tập hồ sơ này về căn gác nhỏ phía trên hiệu sách cũ của dì Thu Hà ở phố Bát Đàn, nơi cô có đầy đủ tủ vi khí hậu, đèn cực tím và kính hiển vi phóng đại để soi kỹ từng lớp thớ sợi xenlulozo cũng như phản ứng hóa học của các nét mực.

Nhưng ngay khi những ngón tay bọc vải cotton của cô vừa chạm vào quai cặp da, một bàn tay khác đã đặt nhẹ nhưng vô cùng dứt khoát lên mép bàn, chặn ngang hướng di chuyển của cô.

Khang nghiêm túc nhắc nhở Vi về nguyên tắc chuỗi lưu giữ: tài liệu đang kiểm kê thuộc diện tài sản tranh chấp, cô chỉ có quyền lập danh mục đối chiếu tại chỗ chứ tuyệt đối không được mang bất kỳ bản gốc nào về căn gác riêng.

"Tường Vi," giọng Khang trầm xuống, mang theo một vẻ nghiêm nghị tuyệt đối không thể lay chuyển của một cán bộ điều tra hình sự đang thi hành công vụ. "Dừng tay lại."

Vi ngước mắt lên nhìn anh. Hàng lông mày thanh tú của cô khẽ nhíu lại, trong ánh mắt thoáng qua một tia bướng bỉnh quen thuộc của một cựu phóng viên từng lăn lộn qua bao hiểm nguy: "Tôi chỉ muốn bảo quản chúng đúng tiêu chuẩn kỹ thuật lưu trữ. Không gian ở căn nhà cổ này quá ẩm thấp, độ ẩm tương đối lúc này đã vượt quá tám mươi phần trăm. Giấy dó và giấy bao xi măng thời chiến rất háo nước, chúng sẽ bị nấm mốc tấn công và mục rữa nhanh chóng nếu để qua đêm trong điều kiện này. Trên gác xép của tôi có tủ vi khí hậu kiểm soát độ ẩm ở mức bốn mươi lăm phần trăm và có kính hiển vi phóng đại..."

"Tôi hoàn toàn hiểu năng lực chuyên môn và thiện chí bảo tồn của cô," Khang cắt lời cô một cách kiên quyết, đôi mắt đen sâu thẳm nhìn thẳng vào mắt Vi không hề né tránh. "Nhưng cô phải nhớ nguyên tắc cốt tử của luật tố tụng hình sự: chuỗi lưu giữ chứng cứ (chain of custody). Toàn bộ giấy tờ trong chiếc hộp sắt này hiện nay là tài liệu gắn liền với một vụ việc có dấu hiệu tội phạm gian lận tài sản thừa kế. Chúng là vật chứng của một vụ án đang trong giai đoạn tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm."

Khang nhấn mạnh từng từ một, giọng nói đanh lại như thép nguội: "Cô chỉ có tư cách chuyên môn độc lập được tổ dân phố và các bên tranh chấp đồng thuận mời đến để hỗ trợ lập biên bản kiểm kê hiện trạng tại chỗ. Sau khi lập xong danh mục đối chiếu, toàn bộ tài liệu gốc và chiếc hộp sắt này phải được niêm phong vào túi lưu trữ vật chứng theo đúng thủ tục hành chính, có chữ ký xác nhận của đại diện công an phường, cảnh sát điều tra, tổ dân phố và tất cả các bên liên quan. Cô tuyệt đối không được mang bất kỳ một tờ bản gốc nào rời khỏi hiện trường này về căn gác riêng của cô. Bất kỳ sự gián đoạn nào trong chuỗi lưu giữ vật chứng cũng sẽ khiến toàn bộ chứng cứ này bị tòa án tuyên vô hiệu trong quá trình tố tụng sau này."

Vi cắn nhẹ môi dưới. Một thoáng hụt hẫng và cả chút tự ái nghề nghiệp dâng lên trong lồng ngực. Cô từng là một nhà báo điều tra độc lập xuất sắc, từng quen với việc tự mình nắm giữ chứng cứ trong tay để theo đuổi sự thật đến cùng mà không cần nhìn sắc mặt ai. Nhưng ánh mắt kiên định, nghiêm khắc của Khang lập tức kéo cô trở về với thực tại nghiệt ngã của hai năm về trước. Ký ức đau đớn như một vết sẹo chưa lành nhói lên trong tâm trí: chính sự nóng vội, sự tự tin thái quá và thiếu sót trong việc bảo toàn tính nguyên vẹn của chuỗi chứng cứ pháp lý đã khiến bài phóng sự điều tra kinh tế chấn động của cô bị cài cắm tài liệu giả mạo, dẫn đến việc tờ báo bị đình bản và thầy Đạo – người thầy đáng kính cả đời liêm chính – phải chịu kỷ luật nặng nề rồi suy sụp danh dự.

Khang không hề có ý gây khó dễ hay xem thường cô. Ngược lại, người điều tra viên này đang dùng chính sự cứng nhắc, khô khốc và kỷ luật thép của quy trình pháp lý để bảo vệ cô khỏi những cạm bẫy tố tụng có thể ập đến bất cứ lúc nào.

"Tôi hiểu rồi," Vi hạ giọng, các ngón tay từ từ buông khỏi quai chiếc cặp chống ẩm. "Tôi sẽ tuân thủ quy trình. Tôi sẽ hỗ trợ các anh lập biên bản bàn giao niêm phong tại chỗ theo đúng quy định."

Một tia ấm áp rất khẽ, gần như vô hình, thoáng qua trong ánh mắt sắc lạnh của Khang trước khi anh quay trở lại với vẻ mặt công vụ thường ngày. Anh khẽ gật đầu với cô, rồi quay sang ra hiệu cho người trung úy công an khu vực mở chiếc cặp công tác, lấy ra túi đựng vật chứng bằng nhựa trong suốt có dải niêm phong một chiều và các tờ giấy niêm phong màu xanh nhạt có đóng dấu đỏ của Công an phường Hàng Gai.

Trước khi bàn giao chiếc hộp sắt sơn xanh để tiến hành đóng gói niêm phong, Vi quay sang nhìn Khang, khẽ đề nghị: "Trước khi đóng dấu niêm phong, tôi xin phép được chụp lại ảnh hiện trạng bề mặt đáy hộp một lần cuối dưới sự giám sát trực tiếp của anh và ông tổ trưởng. Việc này nhằm lưu lại dấu vết cơ học của các vết hằn trước khi lớp vải nhung có thể bị xô lệch trong quá trình vận chuyển."

Khang nhìn cô một thoáng, rồi khẽ gật đầu đồng ý: "Được. Nhưng cô phải thao tác ngay tại mặt bàn này, trước sự chứng kiến của tất cả mọi người."

Vi rút chiếc điện thoại chuyên dụng có gắn ống kính macro quang học ra khỏi túi áo. Cô cầm lại chiếc đèn pin kỹ thuật ánh sáng trắng lạnh, điều chỉnh tiêu cự chùm sáng thành một vệt hẹp và hạ thấp góc chiếu một lần nữa xuống đúng góc 15 độ quen thuộc. Ánh sáng xiên sắc lẹm lại quét qua lớp nhung đỏ mận chín dưới đáy hộp sắt.

Dưới góc chiếu hoàn hảo này, những vệt hằn đè sâu ở góc dưới cùng bên phải – nơi mang cụm ký tự mảnh khảnh mà cô phát hiện lúc nãy – lại một lần nữa hiện lên rõ mồn một. Không còn bị che khuất bởi bóng của các nếp nhung gồ ghề xung quanh, toàn bộ dòng chữ hằn sâu dưới lực bút bi kim loại sắc cạnh phơi bày toàn bộ cấu trúc bí mật của nó dưới ống kính phóng đại.

Đó không phải là những lời trăn trối đạo mạo hay những câu từ chia chác đất đai thông thường của một bản di chúc gia đình.

Đè sâu trên nền vải nhung và lớp giấy bồi xơ xác là một dòng chữ viết tắt kèm theo một chuỗi tọa độ thời gian được khắc vội:

*17-G / 03:15 / H-B / HỒ SƠ NGUỒN CẤT GIỮ TẠI KHOANG XÀ ĐÔNG.*

Vết hằn đè sâu trên lớp giấy lót hiện lên dưới ánh đèn soi nghiêng: không phải lời trăn trối chia chác đất đai, mà là một dãy mã số kèm địa chỉ viết tắt.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories