Hồ Sơ Phố CổCh.15 / 38
Chapter 15

Khoang Rỗng Sau Bức Vách

Bụi vôi vữa và mùi ẩm mốc tích tụ hàng chục năm xộc thẳng lên cánh mũi khi chiếc đục sắt mỏng của người thợ mộc cẩn trọng nạy từng đinh tán giữ lớp ván gỗ mít ốp tường gác lửng Nhà số 17 Hàng Gương.

Không gian trên căn gác chật hẹp chỉ chừng mười lăm mét vuông. Trần nhà thấp và dốc thoai thoải theo nếp mái ngói ta lợp từ thời tiền chiến, thấp đến mức một người có vóc dáng dong dỏng cao như Lục Khang buộc phải hơi nghiêng đầu để tránh va chạm vào những thanh rui gỗ lim đã ngả sang màu nâu đen vì khói hương trầm qua bao mùa giỗ tết. Ánh sáng vàng rực từ ngọn đèn LED kỹ thuật số công suất lớn của tổ công tác rọi xiên qua làn bụi li ti đang quay cuồng nhảy múa trong không khí tù đọng, làm nổi rõ từng thớ gỗ mít xù xì, từng đường rãnh nứt nẻ vì thời gian phía sau chiếc tủ thờ năm ngăn nặng trịch. Bầu không khí ngột ngạt của buổi xế chiều phố cổ như bị nén lại giữa bốn bức tường, oi nồng hơi nóng phả xuống từ mái ngói đất nung và mùi ẩm mốc của những lớp vôi vữa đã rữa nát qua bao mùa mưa phùn gió bấc.

Ở góc phòng sát lan can nhìn xuống giếng trời, cụ Trịnh Khắc Thư ngồi thu mình tựa vào chiếc ghế đẩu bọc da thuộc đã sờn rách mép, để lộ lớp mút cao su vàng ố bên trong. Hai bàn tay khẳng khiu, mu bàn tay chằng chịt những đường gân xanh và đồi mồi run rẩy bấu chặt lấy đầu chiếc gậy trúc bóng loáng. Cạnh đó, vị cán bộ tư pháp phường Hàng Bạc trong bộ đồng phục chỉnh tề đang kẹp tập biên bản trên tấm bìa mica cứng, ngòi bút bi kim loại lướt sột soạt, đều đặn ghi lại từng câu chữ được Khang đọc lên một cách rõ ràng, dứt khoát và chuẩn xác theo ngôn ngữ tố tụng.

— Đề nghị đồng chí tư pháp ghi nhận đầy đủ vào biên bản: Hồi mười lăm giờ bốn mươi phút cùng ngày, trước sự chứng kiến trực tiếp của chủ sở hữu nhà là cụ Trịnh Khắc Thư, đại diện Ủy ban nhân dân và Công an phường Hàng Bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành mở lớp ván ốp tường phía sau bàn thờ gian thượng để kiểm tra độ dày thực tế và kết cấu khoang rỗng theo nội dung giải trình trắc đạc hiện trường.

Lục Khang dừng lại một nhịp rất ngắn để người cán bộ tư pháp kịp ghi xong dòng cuối, rồi anh xoay người, hướng ánh mắt điềm tĩnh nhưng kiên định về phía cụ già tóc bạc phơ:

— Thưa cụ Thư, việc tháo dỡ này hoàn toàn phục vụ mục đích bảo toàn hiện trạng kết cấu kiến trúc gốc của ngôi nhà và ngăn chặn hành vi xâm phạm tài sản trái phép từ các đối tượng bên ngoài. Toàn bộ thao tác nghiệp vụ chiều nay chỉ tác động lên phần khung gỗ ốp cơi nới mà gia đình dựng thêm từ thập niên tám mươi, tuyệt đối không đụng chạm đến rui mè, xà ngang hay dầm chịu lực nguyên bản của ngôi nhà. Cụ đồng ý cho phép người của tổ công tác nhổ các chốt định vị chứ ạ?

Cụ Trịnh Khắc Thư thở dài một tiếng thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo cánh bằng vải phin nõn trắng đã ngả màu cháo lòng. Đôi mắt đùng đục ngấn nước của cụ chầm chậm ngước nhìn lên bức hoành phi sơn then thếp vàng phủ bụi mờ treo nơi xà ngang, nơi có bốn chữ Hán *Đức Lưu Quang* đã phai nhạt phần thếp bạc:

— Các anh công an đã giải thích cặn kẽ, ngọn ngành thế này, tôi đâu còn điều gì phải đắn đo hay nghi ngại nữa. Bao nhiêu năm nay, từ ngày tiếp quản ngôi nhà sau khi bố tôi khuất núi, tôi cứ nghĩ bức vách gỗ này dựng lên cốt chỉ để che gió bấc từ ngõ sau thốc vào và giữ cho ban thờ tổ tiên khỏi ẩm lạnh khi tiết trời sang xuân. Năm xưa, bố tôi trước lúc lâm chung có nắm tay tôi dặn lại câu chuyện về "cái rễ của ngôi nhà", tôi khi ấy còn trẻ dại, cứ ngỡ đó chỉ là lời răn dạy về đạo lý nguồn cội, về việc phải giữ lấy nền nếp gia phong của người Kẻ Chợ... Ai ngờ đâu, ngay dưới mái ngói cổ này lại có những thứ khiến người ngoài thèm khát, dòm ngó, bày mưu tính kế đến mức nhẫn tâm ấy. Anh Khang cứ cho thợ làm đi. Nhưng tôi chỉ xin các anh bảo ban nhau nhẹ tay cho một chút, đừng làm sứt mẻ mộng gỗ của các cụ ngày xưa truyền lại.

— Bác cứ yên tâm tuyệt đối, — người thợ mộc trung niên do công an phường mời đến cất tiếng đáp lời, giọng trầm ấm và thuần hậu của một người thợ lành nghề gắn bó cả đời với gỗ lạt phố cổ. — Chúng cháu dùng búa cao su gõ đệm và dùng đục mỏng nạy ngược chiều thớ, kê lót cẩn thận từng phân một, tuyệt đối không bao giờ để xé gỗ hay nứt mộng giằng đâu bác ạ.

Nói đoạn, người thợ cẩn thận chêm một miếng đệm cao su lưu hóa dày nửa phân vào khe nẹp gỗ, tay cầm chiếc búa cao su gõ nhẹ vào cán đục sắt. Một tiếng *cục* khô khốc vang lên giữa căn gác lửng vắng lặng.

Thế nhưng, chiếc đục sắt vừa trượt sâu vào mép thanh ván thứ hai chừng hai đốt ngón tay thì Khang bỗng giơ bàn tay mang găng cao su lên, dứt khoát ra hiệu dừng lại.

— Tạm dừng tay một chút, — Khang nói ngắn gọn.

Anh xoay hẳn người lại. Ánh mắt sắc bén, lạnh sâu như lưỡi dao cạo của người điều tra viên kinh tế từng trải qua hàng trăm cuộc thẩm vấn căng thẳng dừng lại, xoáy thẳng vào khuôn mặt đang tái nhợt của Vũ Đức Hải.

Chàng kiến trúc sư trẻ của Nhóm bảo tồn di sản đứng nép mình sát mép mảng tường đối diện, ngay cạnh ô cửa sổ con chấn song gỗ hình con tiện. Chiếc cặp tài liệu bằng da thuộc màu nâu sẫm được anh ta ôm ghì trước ngực như một tấm mộc che chắn thân mình trước cơn bão vô hình. Những ngón tay dài của Hải bấm sâu vào lớp da sần sùi của mép cặp, các khớp ngón căng cứng đến mức trắng bệch ra, từng đường gân mu bàn tay giật giật theo từng nhịp thở ngắt quãng.

— Đồng chí Hải, — Khang cất giọng lạnh tanh. Âm lượng của anh không hề lớn, không hề có một chút gắt gỏng hay biểu cảm đe nẹt, nhưng uy lực hành chính và sự chuẩn xác của người thực thi pháp luật lại đè nặng trong từng âm tiết rành rọt. — Trước khi người thợ gỡ hẳn thanh ván thứ ba ra khỏi khung mộng, tôi cần anh trả lời chính xác và trung thực một câu hỏi mà chúng tôi đã ghi nhận sơ bộ ở tiệm đồng hồ dưới tầng một ban nãy. Bản vẽ mặt cắt trắc đạc chi tiết có đánh dấu khoang rỗng sâu sáu mươi phân này... rốt cuộc anh lấy từ đâu ra?

Hải giật thót cả người, bờ vai hơi co rúm lại. Gương mặt thanh tú của người trí thức trẻ bỗng chốc trở nên hoang mang tột độ. Anh ta lúng túng đảo mắt sang bên cạnh, nhìn về phía Tường Vi như muốn tìm kiếm một ánh nhìn cảm thông hay một sự che chở từ người đồng nghiệp cùng chung lý tưởng bảo tồn. Nhưng Tường Vi chỉ đứng im lặng. Đôi mắt trong veo, sâu thẳm của cô gái làm công tác lưu trữ tài liệu nhìn thẳng vào anh, không phán xét, không trách cứ, nhưng nghiêm cẩn và kiên nhẫn chờ đợi một sự thật trọn vẹn, không tì vết.

— Tôi... tôi đã báo cáo rõ với anh rồi mà... — Hải ấp úng, giọng nói run rẩy lạc đi giữa tiếng gió chiều rít qua những khe hở của khuôn cửa sổ cũ. — Đó là... là tài liệu nghiên cứu của nhóm bảo tồn chúng tôi khi khảo sát hiện trạng kiến trúc nhà cổ phố Hàng Gương từ đợt mùa thu năm ngoái...

— Đừng tiếp tục vòng vo nữa, anh Hải, — Khang bước tới một bước. Tiếng đế giày bọc cao su của anh nện dứt khoát trên sàn gỗ lim phát ra âm thanh khô đanh. Khoảng cách giữa hai người thu hẹp lại chỉ còn chưa đầy nửa sải tay, đủ để Hải cảm nhận được áp lực vô hình toát ra từ vóc dáng vững chãi của người điều tra viên.

Khang thò tay vào túi áo ngực của bộ thường phục, rút ra một tờ phiếu ghi chép nhỏ bọc trong túi nilon bảo quản tài liệu chuyên dụng. Anh giơ tờ phiếu lên trước tầm mắt của Hải:

— Hồ sơ lưu trữ của Sở Địa chính Hà Nội lập năm 1999 sau đợt tổng điều tra đo đạc nhà đất toàn bộ bốn quận nội thành chỉ có bản vẽ sơ đồ mặt bằng hai chiều dạng sơ đồ phân lô, tuyệt đối không hề có bản vẽ mặt cắt đứng thể hiện độ chênh lệch giữa dầm xà đông và tường đầu hồi gác lửng. Chi tiết khoang rỗng giấu sau vách thờ này chỉ xuất hiện duy nhất trong một tập hồ sơ kỹ thuật riêng biệt do chính gia đình cụ Trịnh ủy quyền cho Công ty Đo đạc Bản đồ và Địa chính Đô thị lập vào năm 2004. Nhưng tập hồ sơ đó đã thất lạc một bản gốc trong vụ việc tranh chấp nội bộ họ tộc kéo dài nhiều năm trước. Trên mép góc trái bản vẽ trắc đạc mà anh đang giữ trong cặp da kia có một dấu mộc giáp lai bị cắt mất một phần tư, trùng khớp tuyệt đối với mã số lưu trữ hồ sơ gia tộc họ Trịnh chi nhánh phố Hàng Bút.

Khang dừng lại một nhịp thở, ánh mắt găm chặt vào đáy mắt đang dao động dữ dội của người thanh niên đối diện:

— Mẹ của anh là bà Vũ Thị Loan, nguyên quán tại làng Chu Quyến, huyện Ba Vì. Nhưng bà ngoại của anh lại là người họ Trịnh gốc gác phố Hàng Bút, là em họ con chú con bác ruột với thân mẫu của cụ Trịnh Khắc Thư đang ngồi ở đây. Nói một cách chính xác theo pháp luật về quan hệ nhân thân, anh chính là cháu họ xa của bên đang đứng tên đòi bán căn nhà này. Có đúng như vậy không?

Căn gác lửng bỗng chốc chìm vào một khoảng lặng nặng nề đến nghẹt thở.

Không gian tĩnh mịch đến mức người ta có thể nghe thấy tiếng một cành lá khô rụng xuống mái ngói phía trên đỉnh đầu, tiếng ve sầu muộn màng cuối hè rền rĩ ngoài vòm cây bồ đề cổ thụ ngõ Hàng Bút dội qua kẽ ngói nghe buồn bã, khô khốc và xa xăm.

Cụ Trịnh Khắc Thư ngẩng phắt đầu dậy. Cặp kính lão gọng đồi mồi tụt xuống tận chóp mũi, đôi mắt mờ đục mở to nhìn trân trân vào chàng kiến trúc sư trẻ tuổi mà bấy lâu nay cụ vẫn coi như một người khách quý mến mộ nếp nhà xưa:

— Cậu... cậu Hải là cháu ngoại bà Lan bên Hàng Bút thật ư? Thảo nào... thảo nào dạo trước sang đây xin phép đo đo vẽ vẽ, cậu cứ đứng tựa cột nhìn lên cái tủ thờ này mãi, ánh mắt cứ như đang tìm kiếm điều gì day dứt lắm...

Hải sụp mi mắt xuống, hai gò má đỏ bừng lên vì xấu hổ và tủi thẹn. Sự nhiệt huyết bộc trực, vẻ thanh tao đĩnh đạc của một trí thức trẻ dấn thân đấu tranh vì di sản đô thị bỗng chốc vỡ vụn, nhường chỗ cho vẻ bối rối, cùng quẫn đến tội nghiệp của một người vừa bị lột trần động cơ thầm kín nhất trước đám đông.

— Cháu... cháu xin lỗi cụ Trịnh, — giọng Hải nghẹn đặc lại, chìm nghỉm nơi đáy họng. Đôi vai anh ta run rẩy dữ dội. — Cháu xin lỗi anh Khang, xin lỗi chị Vi... Cháu thề, cháu thề trước vong linh tổ tiên, cháu không hề có dã tâm chiếm đoạt hay tranh giành dù chỉ một tấc đất, một viên gạch nào của dòng họ cả! Đúng... đúng là mẹ cháu có họ hàng xa với nhánh bên Pháp – những người đang sốt sắng ủy quyền đòi bán đứt ngôi nhà này. Cách đây ba tháng, khi nghe phong thanh nội bộ gia đình bàn tán rằng nhánh bên đó đã bí mật ký thỏa thuận nguyên tắc với đám đầu cơ của công ty Không Gian Đô Thị Mới để san phẳng toàn bộ số 17 Hàng Gương làm trung tâm thương mại và bãi đỗ xe ngầm, cháu đã thực sự hoảng loạn. Cháu không thể ngồi yên nhìn nếp nhà này biến mất. Cháu đã lén vào phòng lưu trữ giấy tờ cũ của gia đình ở quê, chụp lại tập bản vẽ kỹ thuật này mà không xin phép một ai...

Hải ngước đôi mắt đỏ hoe, ngấn nước nhìn Khang, giọng nói run rẩy nhưng tha thiết đến xé lòng:

— Cháu giấu thân phận họ hàng vì cháu sợ... Cháu sợ tổ công tác nghĩ cháu có tư lợi thừa kế, nghĩ cháu muốn chen chân vào để chia chác quyền lợi thì các anh sẽ gạt cháu ra khỏi vụ việc, không cho cháu tham gia can thiệp kỹ thuật nữa! Cháu chỉ nôn nóng muốn giữ lại ngôi nhà này bằng mọi giá. Anh Khang, chị Vi, hai người có biết không, cả con phố Hàng Gương này bây giờ chỉ còn sót lại đúng một nếp nhà có hệ vì kèo gỗ gụ chạm hoa văn lá lật và kết cấu tường đôi cách nhiệt độc nhất vô nhị từ thời Pháp thuộc như thế này thôi! Nếu để bọn chúng ủi phẳng đi, toàn bộ ký ức của con phố, của dòng họ sẽ vĩnh viễn tan thành tro bụi... Cháu biết hành vi lén lút của mình là sai quy tắc, sai thủ tục, nhưng cháu thề danh dự, cháu không nhận một xu, không mưu cầu một mét vuông đất nào của bất kỳ ai!

Lục Khang chăm chú quan sát từng nhịp thở nông sâu, từng sự co giật nhỏ nhất nơi khóe mắt và cơ hàm của Hải trong suốt năm giây đồng hồ. Với bề dày kinh nghiệm của một điều tra viên kinh tế từng trực tiếp đối mặt với hàng trăm kẻ lọc lõi, ngụy biện tinh vi trong các đại án đất đai, Khang hoàn toàn phân biệt được ranh giới mong manh giữa sự xảo quyệt của một kẻ tham lam và sự bồng bột, non nớt của một thanh niên lý tưởng hóa hành vi sai trái của mình chỉ vì quá nôn nóng bảo vệ điều mình trân quý.

— Tinh thần gìn giữ di sản của anh là điều rất đáng ghi nhận, — giọng Khang hạ bớt vẻ sắc lạnh ban đầu, nhưng tính nguyên tắc thép của người cán bộ điều tra vẫn được giữ nguyên vẹn trong từng câu chữ. — Song trong một vụ việc pháp lý đang có dấu hiệu tội phạm phức tạp như thế này, sự thiếu minh bạch của anh chính là kẽ hở chí mạng nhất để kẻ xấu lợi dụng phản đòn. Anh có nghĩ đến hậu quả chưa? Nếu phía công ty Minh Thành hay đám đầu cơ nắm được việc anh lén sao chép tài liệu nội bộ gia tộc mà không có văn bản ủy quyền hợp pháp, họ hoàn toàn có quyền gửi đơn tố cáo anh xâm phạm đời tư, thậm chí vu khống cho anh tội ngụy tạo chứng cứ hiện trường để phục vụ cho một nhóm lợi ích khác. Khi đó, không những anh không bảo vệ được ngôi nhà, mà toàn bộ tư cách giám định kỹ thuật của nhóm bảo tồn cũng sẽ bị đình chỉ ngay lập tức.

Khang quay sang người cán bộ tư pháp phường đang chăm chú lắng nghe:

— Đồng chí tư pháp, ghi nhận đầy đủ lời khai tự nguyện của anh Vũ Đức Hải về mối quan hệ nhân thân và nguồn gốc bản vẽ trắc đạc vào phụ lục số ba của biên bản. Anh Hải, sau buổi làm việc hôm nay, anh có trách nhiệm nộp lại toàn bộ file ảnh chụp và các bản vẽ liên quan cho cơ quan điều tra để đưa vào hồ sơ đối chứng theo đúng quy định tố tụng. Rõ chưa?

— Vâng... cháu hiểu rồi ạ. Cháu xin chấp hành nghiêm túc mọi yêu cầu của cơ quan điều tra, — Hải khẽ thở phào một hơi dài, hai bờ vai buông lỏng xuống như vừa trút bỏ được một khối đá tảng vô hình đè nặng lồng ngực suốt bao tuần lễ qua.

Tường Vi bước lại gần, rút từ túi áo ra một tờ khăn giấy khô đưa cho Hải, giọng cô nhẹ nhàng nhưng dứt khoát:

— Muốn bảo vệ di sản một cách bền vững thì trước hết bản thân chúng ta phải đứng vững trên nền tảng pháp lý minh bạch, Hải ạ. Đừng bao giờ biến sự nhiệt huyết của mình thành sơ hở cho đối phương khai thác.

Hải nhận lấy tờ khăn giấy, lí nhí nói lời cảm ơn Vi rồi lặng lẽ lùi lại nửa bước, đứng nép vào góc phòng, đôi mắt vẫn không rời khỏi mảng tường gỗ.

— Được rồi, đồng chí thợ mộc tiếp tục đi, — Khang quay lại phía bức vách, gật đầu ra hiệu.

Người thợ mộc lấy lại sự tập trung cao độ. Ông với tay lấy chiếc kìm mũi nhọn bằng thép trắng, nhẹ nhàng kẹp chặt vào đầu chiếc đinh tán bằng đồng có khắc rãnh ren xoay ở góc trên bên phải của thanh ván thứ ba. Đúng như những gì Hải đã phát hiện và phân tích từ bản vẽ kỹ thuật ban nãy, chiếc đinh này hoàn toàn không phải loại đinh sắt đóng chết vào thớ gỗ như thông thường, mà được tiện ren xoắn cực kỳ tinh xảo để ăn khớp với một đai ốc bằng đồng thau đặt âm chìm trong dầm gỗ chịu lực.

Sau ba vòng vặn ngược chiều kim đồng hồ đầy cẩn trọng, một tiếng *tách* khô giòn và thanh mảnh vang lên trong lòng thớ gỗ. Chiếc đinh đồng rời ra nguyên vẹn, để lộ một lỗ khoan tròn xoe, phẳng phiu và khô ráo, thoang thoảng mùi dầu máy bảo quản cũ kỹ.

— Nhấc hẳn tấm ván ra, — Khang trầm giọng ra lệnh, hai bàn tay anh trong đôi găng cao su y tế mỏng màu xanh nhạt đã sẵn sàng đón đỡ.

Người thợ mộc cùng một chiến sĩ công an phường luồn các đầu ngón tay vào rãnh mộng mang cá chạy dọc thân ván. Lớp keo dán bằng sơn ta trộn mùn cưa mịn và vôi sống qua gần bốn thập kỷ đã bị oxy hóa hoàn toàn, giòn vụn như những mảnh bánh đa khô, rào rào rơi lả tả xuống mặt sàn gỗ lửng.

*Rắc!*

Thanh ván gỗ mít dày gần bốn phân, nặng trịch từ từ tách rời khỏi khung chịu lực, ngả dần ra phía trước. Một luồng không khí khô khốc, mang theo thứ mùi nồng gắt đặc trưng của vôi sống, gạch nung lâu năm và hơi lạnh ẩm ngột ngạt của một khoảng không gian chưa từng thấy ánh mặt trời suốt hơn nửa thế kỷ cuộn trào ra, xộc thẳng vào khứu giác của những người có mặt.

Tất cả mọi người trên căn gác lửng đều nín thở, đồng loạt dán mắt vào khoảng trống đen ngòm vừa lộ ra phía sau khung gỗ.

Dưới luồng ánh sáng cực mạnh từ ngọn đèn kỹ thuật số, một cảnh tượng bất ngờ và kỳ lạ hiện ra rõ mồn một:

Hoàn toàn không có một bức tường gạch nham nhở hay vách đất trát rơm trộn bùn như người ta vẫn thường thấy ở các công trình cơi nới chắp vá trong khu phố cổ. Phía sau lớp ván gỗ mít dày dặn là một hộc tường được xây cất vô cùng kiên cố bằng loại gạch chỉ đỏ sẫm thời tiền kháng chiến – loại gạch đanh chắc, vuông vức được nung bằng lò thủ công truyền thống. Các mạch vữa liên kết được làm từ vôi tôi trộn mật mía và cát mịn, được người thợ nề năm xưa miết cực kỳ phẳng phiu, thẳng tắp như kẻ chỉ.

Khoang rỗng này có chiều sâu đúng ba mươi lăm phân, bề ngang chừng sáu mươi phân và chiều cao gần một mét, chiếm trọn khoảng không gian kỹ thuật nằm kẹp giữa hai lớp tường đầu hồi kiên cố của ngôi nhà.

Và điều đặc biệt nhất chính là: bên trong khoang rỗng không hề có những hòm gỗ khảm xà cừ lấp lánh vàng ròng, không có những thỏi bạc hoa xòe hay những cọc tiền Đông Dương xâu dây thép như những lời đồn thổi ma quái, ly kỳ mà đám cò đất, giới môi giới nhà đất của công ty Không Gian Đô Thị Mới từng rỉ tai nhau suốt mấy tháng qua để kích động lòng tham của các nhánh họ tộc.

Chiếm trọn bề mặt bậu gạch khô ráo, được kê cẩn thận trên hai thanh gỗ hương xẻ mỏng để cách ẩm tuyệt đối với sàn nhà, là hai chiếc thùng tôn hình chữ nhật.

Mỗi chiếc thùng có kích thước chừng bốn mươi nhân ba mươi phân, cao chừng hai mươi lăm phân. Thành tôn màu xám đục đã ngả sang một lớp gỉ mờ mịn màng như phấn trắng, các đường mép kim loại được gấp mí đôi và hàn thiếc kín kẽ theo đúng kỹ thuật đóng hòm đạn dã chiến hoặc hòm lưu trữ tài liệu cơ mật của quân đội thập niên sáu mươi, bảy mươi. Quai xách bằng sắt hai bên hông thùng đã hoen ố nhưng vẫn còn chắc nịch. Miệng hai chiếc thùng không dùng ổ khóa đồng hiện đại mà được chốt chặt bằng những vòng dây kẽm xoắn nhiều nếp, bên trên mỗi mối xoắn đều được quét một lớp xi niêm phong màu đỏ nâu sẫm, nay đã khô cứng và nứt nẻ thành muôn vàn mảnh vụn li ti như mai rùa.

— Không có vàng lá... — Người thợ mộc buột miệng lẩm bẩm, mắt mở to kinh ngạc nhìn vào hộc tường. — Đám cò vạc mấy hôm trước kéo đến gõ phèng phèng dưới ngõ, lu loa ầm ĩ lên là cụ Thuần ngày xưa buôn tơ lụa chôn mấy vại vàng mười dưới chân tường gác lửng... Hóa ra toàn là thùng sắt tây cũ kỹ thế này!

Cụ Trịnh Khắc Thư run rẩy chống gậy đứng thẳng người lên một chút. Cụ ghé sát đôi mắt kèm nhem nhìn vào hộc tường sâu thẳm, khóe môi móm mém giật giật từng cơn xúc động:

— Bố tôi ngày xưa buôn hàng tấm vải vóc, bạn hàng khắp từ Nam Định, Hà Đông ngược lên tận mạn ngược Yên Bái, Lào Cai. Văn tự, khế ước giao nhận hàng với khách bộ hành chất đầy mấy gian nhà. Năm sáu mươi tiến hành cải tạo công thương nghiệp, các cụ sợ giấy tờ làm ăn cũ thất lạc làm ảnh hưởng đến nguồn gốc căn nhà hương hỏa của tổ tiên nên mới bí mật nhờ thợ đóng hòm sắt tây cất giấu kỹ lưỡng như thế này... Đám người ngoài kia lòng dạ tham lam vô đáy, hễ cứ thấy nhà cổ tường dày, vách đôi là vẽ ra đủ thứ của cải phù phiếm để xâu xé lẫn nhau!

Trong khi mọi người đang dồn sự chú ý vào lời kể của cụ Thư, Tường Vi đã lặng lẽ bước sát lại bậu tường. Cô nheo mắt, chăm chú quan sát lớp xi niêm phong trên nắp chiếc thùng tôn nằm bên tay phải.

Với trí nhớ thị giác phi thường và sự nhạy bén của một chuyên gia lưu trữ văn bản cổ, Vi lập tức phát hiện ra một dấu vết bất thường:

Toàn bộ bề mặt nắp thùng tôn bị phủ một lớp bụi mỏng màu xám xịt của vôi vữa mục ruỗng. Thế nhưng, riêng ở góc trái của mép thùng bên phải, lớp bụi ấy có một vệt xước đứt đoạn rất sắc và mới, làm lộ ra ánh thép sáng mờ bên dưới. Hơn thế nữa, mối kẽm xoắn ở chiếc thùng bên phải dường như có độ bóng và độ dẻo cơ học mới hơn hẳn mối kẽm xỉn màu, mục gỉ của chiếc thùng nằm bên trái.

— Khang, anh nhìn vào góc thùng bên phải này, — Vi khẽ cất tiếng, ngón tay bọc găng trắng chỉ chuẩn xác vào vệt xước kim loại. — Lớp bụi này bị gạt đi không quá hai hoặc ba năm trở lại đây. Chắc chắn đã có người từng bí mật mở khoang rỗng này ra sau khi cụ Thuần qua đời rất lâu.

Lục Khang cúi xuống nhìn theo hướng tay Vi chỉ. Anh gật đầu tán đồng, ánh mắt lóe lên một tia nhìn sắc sảo. Anh không hề tỏ ra bất ngờ trước phát hiện này. Những mắt xích logic tưởng chừng rời rạc đang dần khớp nối lại một cách hoàn hảo trong tâm trí người điều tra viên: Ký hiệu mã hóa kỳ lạ mà cố nhà báo Trần Minh Đạo để lại trong cuốn sổ tay (*17-G / 03:15 / H-B*), sự biến mất đầy uẩn khúc của ông hai năm về trước, và sự sốt sắng bất thường đến phi lý của Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành khi nhắm trúng vào căn nhà số 17 này suốt thời gian qua.

— Chụp ảnh hiện trạng toàn cảnh và cận cảnh trước khi di dời vật thể, — Khang quay sang ra lệnh cho người trinh sát kỹ thuật hình sự đi cùng tổ công tác. — Ghi rõ vị trí tương đối của hai thùng tôn, đặc điểm lớp xi niêm phong và các dấu vết xáo trộn cơ học trên bề mặt. Lập biên bản thu giữ vật chứng theo đúng trình tự tố giác tội phạm làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Chiếc máy ảnh kỹ thuật số chuyên dụng của trinh sát chớp sáng liên tục, lưu lại từng góc cạnh của khoang tường đôi. Sau đó, hai chiếc thùng tôn nặng trịch lần lượt được hai chiến sĩ công an cẩn thận nâng ra khỏi hộc tường, nhẹ nhàng đặt lên chiếc chiếu cói sạch sẽ trải sẵn giữa sàn gác lửng. Chiếc thùng tôn thứ nhất khẽ rung lên khi tiếp sàn, phát ra tiếng sột soạt khô khốc và chắc nịch của những tập giấy dày cộp va đập vào thành kim loại.

Khang rút chiếc kìm cắt từ túi đồ nghề, nhẹ nhàng bấm đứt đoạn dây kẽm xoắn bọc xi niêm nứt nẻ của chiếc thùng bên phải.

*Két... rắc!*

Nắp tôn bật mở với một tiếng rít kim loại khô khốc.

Bên trong không hề có văn tự chữ Nho, không có khế ước mua bán lụa thời thuộc Pháp như cụ Thư phỏng đoán.

Đập vào mắt mọi người là những thếp giấy dày cộp khổ A4 và A5, được xếp đặt ngay ngắn, vuông chắp thành từng tập riêng biệt và buộc chặt bằng những sợi dây dù dù màu xanh bộ đội. Ở góc trên cùng của tờ phiếu nằm ngay trên mặt thếp đầu tiên, dòng chữ in kim màu mực xanh tím nhạt đã ngả sang màu vàng sáp ong hiện ra rõ mồn một dưới ánh đèn:

*Công ty TNHH Vận tải và Thương mại Tổng hợp Á Châu – Chi nhánh Hà Nội.* *Năm tài chính: 2010 – 2011.*

Tường Vi nín thở, đôi mắt mở to nhìn trân trân vào những dòng chữ in kim. Đây hoàn toàn không phải tài liệu kinh doanh của gia đình cụ Trịnh từ thập niên sáu mươi!

— Nhà số 17 Hàng Gương này... từng là một trạm trung chuyển chứng từ cũ của một mạng lưới buôn bán đường dài quy mô lớn, — Vi thì thầm, từng nơ-ron thần kinh trong não cô như căng ra khi kết nối những dữ liệu hành chính trong quá khứ mà cô từng tra cứu. — Cụ Thư ơi, có phải từ năm 2008 đến năm 2012, gia đình cụ từng cho một đơn vị thuê nửa gian ngoài tầng trệt để làm văn phòng đại diện giao dịch vận tải không ạ?

Cụ Trịnh Khắc Thư giật mình, vội gật đầu lia lịa:

— Đúng... đúng rồi cô Vi! Hồi ấy tôi vừa về hưu, lương hưu ít ỏi, con cái lại đi làm xa nên tôi đồng ý cho một anh tên là Thành thuê mặt bằng phía trước treo biển đại lý vận tải hàng hóa liên tỉnh. Họ thuê được chừng bốn năm, trả tiền rất sòng phẳng, nhưng ít khi thấy xe cộ đỗ lâu, chỉ thỉnh thoảng có vài người xách cặp da đến rồi đi ngay trong đêm. Đến cuối năm 2012 thì họ đột ngột thanh lý hợp đồng, dọn đi trong vòng hai ngày...

— Bọn chúng đã lợi dụng sự đãng trí và cả tin của cụ già, lợi dụng chính khoang tường đôi bí mật này để cất giấu toàn bộ hệ thống sổ sách kế toán kép ngoài sổ sách trước khi tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp nhằm xóa sạch dấu vết tẩu tán tài sản! — Vi phân tích, giọng nói đanh lại vì sự phẫn nộ trước thủ đoạn tinh vi của những kẻ phạm tội.

Đúng lúc đó, tiếng bước chân rầm rập, vội vã dưới chân cầu thang gỗ cắt ngang bầu không khí căng thẳng trên căn gác lửng. Một cán bộ trinh sát của Đội Điều tra Kinh tế bước nhanh lên gác, khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi nhưng ánh mắt lại lộ rõ vẻ phấn chấn nghiệp vụ:

— Báo cáo Thanh tra Khang, tổ công tác mũi một phối hợp với Công an phường Hàng Bạc vừa hoàn tất việc áp giải đối tượng Đỗ Mạnh Cường – kẻ cầm đầu nhóm đối tượng mang băng rôn, kìm cộng lực định cưỡng chế nhà sáng nay – về trụ sở công an phường. Qua đấu tranh nghiệp vụ nhanh và sử dụng chính các chứng cứ bất thường trên Hợp đồng ủy quyền số 118 mà đồng chí Vi đã giám định ban nãy để đấu tranh đối chất, đối tượng đã hoàn toàn suy sụp tinh thần và bắt đầu khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm!

Lục Khang đứng thẳng người dậy, ánh mắt sáng quắc:

— Hắn đã khai nhận những gì?

Người trinh sát lật giở cuốn sổ tay ghi chép nhanh biên bản hỏi cung ban đầu:

— Cường thừa nhận toàn bộ bộ hồ sơ ủy quyền mang tên nhánh họ Trịnh bên Pháp cùng chữ ký khống của cụ Trịnh Khắc Thư đều không phải do chính hắn tự tay làm ra. Hắn khai bản thân chỉ là một gã môi giới nhà đất tự do chuyên săn lùng các khu đất vàng, nhà cổ có tranh chấp thừa kế quanh khu vực quận Hoàn Kiếm. Cách đây đúng ba tuần, một người đàn ông lạ mặt tự xưng là trợ lý dự án của Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành đã chủ động hẹn gặp hắn tại một quán cà phê kín đáo trên phố Nhà Thờ. Người này đã trực tiếp giao cho Cường trọn bộ hồ sơ công chứng giả mạo đã có sẵn phôi dấu Nha Địa chính và con dấu công chứng Ba Đình, kèm theo một bản sao sơ đồ mặt bằng cắt ngang ngôi nhà số 17 Hàng Gương này.

— Hắn có nhận diện được nhân thân của người giao hồ sơ không? — Khang truy vấn dồn dập, từng câu hỏi đều đánh trúng vào mắt xích quan trọng nhất.

— Cường khai đối tượng đó trạc ba mươi tuổi, ăn mặc vest công sở rất lịch sự, nói giọng Hà Nội chuẩn, đi xe ô tô con nhãn hiệu Mazda màu trắng mang biển kiểm soát 30F-542.xx. Đối tượng này chỉ đạo Cường phải dùng mọi thủ đoạn, từ việc đe dọa, gây sức ép tâm lý đến việc kích động mâu thuẫn giữa cụ Thư và các con cháu ở xa, dùng hợp đồng ủy quyền giả mạo này để ép bằng được cụ Thư ký vào biên bản bàn giao toàn bộ mặt bằng trước ngày rằm tháng này. Người đàn ông đó nhấn mạnh: nếu tiếp quản thành công ngôi nhà và tiến hành tháo dỡ bức tường gác lửng để "thu hồi một số tài liệu lịch sử theo yêu cầu đặc biệt của đối tác nước ngoài", Cường sẽ được nhận ngay một khoản thù lao hoa hồng bằng tiền mặt lên tới tám trăm triệu đồng!

Lục Khang khẽ nhếch mép, một nụ cười lạnh lùng và sắc bén thoáng hiện trên gương mặt cương nghị:

— Xe ô tô Mazda màu trắng biển số đuôi 542... Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là chiếc xe đăng ký đứng tên Bùi Quang Duy, chuyên viên quản lý hồ sơ của Công ty Cổ phần Di sản Minh Thành. Con dấu Nha Địa chính năm 1956 bị khuyết một góc cánh hoa mà Vi phát hiện trên tờ bìa sáng nay cũng trùng khớp tuyệt đối với con dấu lưu trữ trong kho lưu trữ tư nhân Vạn Lịch mà Duy từng lén lút tiếp cận lúc đêm muộn. Bọn chúng không hề có mục đích mua lại căn nhà để ở, kinh doanh hay bảo tồn di sản như những lời hoa mỹ rêu rao trên mặt báo... Mục tiêu tối thượng của Tạ Minh Thành và Bùi Quang Duy là thâu tóm ngôi nhà này bằng con đường hành chính giả mạo để phá hủy hợp pháp khoang tường đôi, vĩnh viễn thủ tiêu toàn bộ những thùng chứng từ vận tải cũ mà cố nhà báo Trần Minh Đạo từng phát hiện và lần ra manh mối trước khi gặp nạn!

Cụ Trịnh Khắc Thư ngồi chết lặng trên chiếc ghế đẩu, bàng hoàng lắng nghe từng lời tường trình của người cán bộ điều tra. Bàn tay gầy guộc run rẩy của cụ với lấy cánh tay Tường Vi, giọng nói nghẹn ngào trong sự chua xót:

— Trời đất quỷ thần ơi... Suýt chút nữa thì cái thân già này đã biến ngôi nhà hương hỏa của tổ tiên thành công cụ che giấu tội lỗi cho phường bất lương! Tôi cứ ngỡ bọn họ có lòng thành thật sự, muốn bỏ tiền ra trùng tu, giữ lại từng viên ngói, từng thanh xà cho phố cổ... Ai ngờ trong bụng toàn là dao găm với thuốc độc!

— Cụ đừng tự trách mình nữa, — Vi ân cần ngồi xuống bên cạnh, hai bàn tay cô siết nhẹ lấy bàn tay khô ráp, lạnh ngắt của cụ già để truyền hơi ấm. — Thủ đoạn của bọn chúng quá mức tinh vi và xảo quyệt. Chúng nghiên cứu rất kỹ tâm lý của những người cao tuổi, đánh trúng vào nỗi cô đơn, sự lo lắng cho con cháu và tình yêu sâu nặng của cụ đối với nếp nhà di sản. Nhưng hiện tại mọi sự thật đen tối đang được đưa ra ánh sáng pháp luật rồi, cụ hãy yên tâm.

Khang nhìn quanh căn gác lửng chật chội, bụi bặm rồi quay sang nói với Vi:

— Chỗ này không gian quá hẹp, trần thấp và thiếu ánh sáng tiêu chuẩn để thực hiện thao tác kiểm đếm chuyên sâu. Chúng ta cần chuyển ngay hai thùng tài liệu này xuống bàn trà ở gian ngoài tầng trệt. Tôi cần cô phối hợp hỗ trợ lập danh mục kiểm kê, phân loại sơ bộ các nhóm chứng từ ngay tại chỗ trước khi niêm phong đưa về kho lưu trữ vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra. Cán bộ tư pháp phường sẽ cùng ký giáp lai vào từng niêm phong giấy theo đúng trình tự tố tụng.

— Tôi hiểu rồi, tôi sẵn sàng, — Vi gật đầu dứt khoát.

Năm phút sau, dưới gian phòng khách rộng rãi ở tầng trệt của ngôi nhà số 17 Hàng Gương, bầu không khí đã trở nên thoáng đãng và sáng sủa hơn rất nhiều. Ánh sáng tự nhiên từ khoảng giếng trời xanh ngắt giữa nhà rọi thẳng xuống chiếc bàn trà dài bằng gỗ lim đen bóng, phản chiếu mặt kính chiếc đồng hồ treo tường cổ kiểu Odo quả lắc đang thong thả gõ từng nhịp *tích tắc... tích tắc...* trầm đều, khoan thai như dòng chảy bất tận của thời gian phố cổ.

Cụ Phạm Tư Thời – người bạn vong niên của cụ Thư – đã ngồi ở đầu bàn tự bao giờ. Đôi bàn tay điềm tĩnh của người thợ già lặng lẽ châm một ấm trà mạn ướp sen ngát hương, làn khói trà mỏng manh uốn lượn bay lên trong không gian tĩnh lặng. Đôi mắt từng trải, thấu hiểu sự đời của cụ Thời dõi theo từng cử động dứt khoát, chuyên nghiệp của lớp trẻ.

Tường Vi đã tháo đôi găng tay cao su y tế ra, thay vào đó là đôi găng tay bằng vải cotton trắng chuyên dụng dành riêng cho công tác phục chế và giám định văn bản cổ. Cô nhẹ nhàng nhấc từng tập hồ sơ buộc dây dù từ chiếc thùng tôn thứ nhất đặt lên mặt bàn gỗ lim.

Mặt bàn rộng nhanh chóng được Vi phân chia thành ba khu vực riêng biệt theo đúng quy chuẩn khoa học của ngành lưu trữ học hiện đại: Khu vực thứ nhất dành cho các tập hóa đơn vận chuyển đường bộ và lệnh điều xe; khu vực thứ hai dành cho các biên bản kiểm nghiệm chất lượng hàng hóa và chứng thư kỹ thuật; khu vực thứ ba dành cho các chứng từ thanh toán ngân hàng, ủy nhiệm chi và sao kê tài khoản đối ứng.

Lục Khang ngồi đối diện với cô qua mặt bàn trà. Anh mở cuốn sổ công tác bọc da dày cộp, ngòi bút máy ngập mực đen sắc sảo sẵn sàng ghi nhận từng chỉ số định danh, từng mã số hồ sơ mà Vi chuẩn bị đọc lên.

— Tập thứ nhất: gồm ba mươi sáu tờ phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, — Tường Vi cất giọng trầm tĩnh, rành rọt. Đầu ngón tay bọc vải cotton của cô lướt nhẹ nhàng, nâng niu từng mép giấy pơ-luya mỏng manh đã ngả sang màu vàng sáp ong, mép giấy có những vết ố lấm tấm của nấm mốc thời gian. — Thời gian lập chứng từ rải rác từ tháng Ba năm 2010 đến tháng Mười một năm 2011. Đơn vị phát hành là Công ty TNHH Vận tải và Thương mại Tổng hợp Á Châu. Mặt hàng được ghi trên toàn bộ các phiếu này đều là: "Đồ gỗ thủ công mỹ nghệ trang trí nội thất", "Gốm phục chế giả cổ", "Khung tranh gỗ sơn son thếp vàng". Khối lượng vận chuyển ghi nhận trên mỗi chuyến hàng dao động từ tám trăm kilôgam đến hai tấn...

Bỗng nhiên, ngón tay của Vi dừng sững lại ở tờ phiếu xuất kho mang số hiệu 142/XK, đề ngày 18 tháng 8 năm 2010.

Trí nhớ hình ảnh siêu phàm của cô ngay lập tức phát ra một tín hiệu cảnh báo cực mạnh trong não bộ. Đôi đồng tử của Vi co thắt lại, hơi thở cô khẽ nghẹn lại nơi lồng ngực. Cả người cô bất giác đông cứng trong tư thế cúi nhìn tờ giấy.

— Có chuyện gì bất thường vậy Vi? — Khang ngẩng phắt đầu lên khỏi trang sổ công tác, nhạy bén bắt trọn sự biến đổi đột ngột trong ánh mắt và thần sắc của cô.

Vi không trả lời ngay lập tức. Đôi tay cô khẽ run lên khi mở túi xách cá nhân, rút ra chiếc kính lúp phóng đại quang học mười lăm lần có gắn đèn chiếu rãnh bên hông. Cô đặt mặt kính sát vào góc trên bên phải và góc dưới cùng của tờ phiếu xuất kho số 142/XK.

Dưới thấu kính trong suốt phóng đại cực đại, từng dòng chữ in sẵn bằng kỹ thuật in typo đời cũ – kỹ thuật in bằng khuôn chì truyền thống mà các xưởng in tư nhân đầu thập niên 2000 thường sử dụng – hiện lên sắc nét đến từng đường răng cưa và vết mực nhòe:

*Địa điểm giao nhận cuối cùng: Kho Ngoại thành Đông Phù (Bến bốc dỡ Cảng sông Hồng).* *Đơn vị thẩm định và giám định kỹ thuật xuất xưởng: Xưởng Phục chế Bách Mộc – Nghệ nhân Lê Bách kiểm duyệt.*

Trái tim Tường Vi đập thình thịch liên hồi, từng nhịp đập như muốn xé toạc lồng ngực. Máu trong người cô như dồn hết lên thái dương.

Kho Ngoại thành Đông Phù!

Cái tên địa danh ấy không hề xa lạ. Nó chính là cái tên từng xuất hiện chớp nhoáng, đầy ám ảnh trong những dòng ghi chép rời rạc, được viết bằng mực tím mã hóa trong cuốn nhật ký tác nghiệp của thầy Trần Minh Đạo mà cô đã từng có cơ duyên đọc được cách đây hai năm! Một kho hàng bí mật nằm nép mình heo hút sau rặng tre ven đê sông Hồng, nơi các chuyến xe tải phủ bạt kín mít chở đồ mỹ nghệ thường xuyên xuất phát vào những khung giờ chết lúc nửa đêm, tỏa đi khắp các cung đường biên giới phía Bắc dưới vỏ bọc hoàn hảo của những lô hàng triển lãm và quà lưu niệm thủ công mỹ nghệ.

Và điều kinh ngạc hơn cả, điều khiến Vi cảm thấy rùng mình ớn lạnh chính là con dấu mộc màu đỏ hình bầu dục đóng đè lên chữ ký giám định kỹ thuật ở góc dưới tờ phiếu...

Đó chính là con dấu mộc bằng gỗ trắc của Xưởng Phục chế Bách Mộc – nơi người thợ phục chế đồ gỗ tài hoa bậc nhất Hà thành, nghệ nhân Lê Bách, đang ngày đêm miệt mài gọt giũa từng chiếc ngàm gỗ, phục dựng từng khung tranh cổ cho khắp các phố nghề! Người đàn ông luôn miệng nói về cái tâm của người làm nghề gìn giữ hồn cốt cha ông, người từng xuất hiện trong các hội thảo di sản với tư cách một nhân chứng sống của kỹ thuật chạm khắc truyền thống... lại chính là người đặt bút ký duyệt và đóng dấu bảo chứng kỹ thuật cho các chuyến hàng xuất phát từ ngôi nhà số 17 Hàng Gương này!

— Khang... — Vi ngước nhìn người thanh tra trẻ, giọng cô run rẩy vì xúc động tột cùng nhưng ánh mắt lại rực sáng lên một ngọn lửa của sự thật chấn động vừa được khai mở. — Anh hãy nhìn thật kỹ vào dòng chữ này đi.

Lục Khang lập tức đứng dậy, bước vòng qua mép bàn, cúi thấp người xuống đón lấy chiếc kính lúp từ tay cô.

Ánh mắt nghiêm nghị, từng trải của người cảnh sát kinh tế bỗng chốc đanh lại thành hai chấm thép lạnh giá khi anh đọc từng con chữ in nổi trên mặt giấy đã phủ một lớp bụi mờ của thời gian:

*Hàng trang trí thủ công chuyển kho Đông Phù - Giám định bởi Bách Mộc.*

Một mạng lưới ngầm khổng lồ, được tổ chức tinh vi và che đậy hoàn hảo suốt hơn một thập kỷ qua, luồn lách xuyên qua những ngõ ngách chật hẹp của ba mươi sáu phố phường, vươn những chiếc vòi bạch tuộc đầy quyền lực ra tận những kho bãi ngoại thành hoang vắng ven sông... cuối cùng đã để lộ vết tích vật chất đầu tiên, rõ ràng và không thể chối cãi.

Đúng khoảnh khắc ấy, chiếc đồng hồ Odo cổ trên vách gỗ lim nhà số 17 Hàng Gương thong thả điểm một hồi chuông ngân vang. Từng tiếng chuông *bính... boong...* trầm ấm, vang vọng ngân dài qua giếng trời, tan vào ráng chiều đỏ ối đang buông xuống trên những mái ngói rêu phong của phố cổ Hà Nội, báo hiệu một bước ngoặt điều tra nghẹt thở và quyết liệt vừa chính thức mở ra.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories