Hồ Sơ Phố CổCh.14 / 38
Chapter 14

Chữ Ký Trượt Trên Nếp Gấp

Mùi mực in hiện đại hăng nồng bốc lên từ tập văn bản ủy quyền công chứng khi Vi đưa thấu kính phóng đại lại gần chữ ký mực xanh của cụ Trịnh.

Căn phòng tầng hai của tiệm đồng hồ Tư Thời chìm trong một thứ ánh sáng tĩnh lặng kỳ lạ, đối lập hoàn toàn với tiếng xe máy rù rì vọng lên từ mặt đường Hàng Bạc ngoài phố. Tiếng tích tắc khô khốc, đều đặn của hàng chục cỗ máy cơ khí cổ treo dọc theo các bức tường ván ép tạo nên một nhịp nền đơn điệu, như thể thời gian ở chốn này bị băm nhỏ thành từng khoảnh khắc rời rạc. Trên chiếc bàn làm việc bọc nỉ xanh chuyên dụng của thợ sửa đồng hồ, nơi vương vãi những chiếc nhíp gắp nhọn hoắt, kính lúp đeo mắt và vài khay dầu máy trong vắt, ngọn đèn kỹ thuật chân ngỗng cổ mềm được uốn cong, hạ xuống sát mặt bàn chỉ chừng mười lăm phân.

Thay vì rọi thẳng góc chín mươi độ từ trên xuống như thói quen đọc tài liệu thông thường, Vi khẽ nghiêng chao đèn, chỉnh luồng quang học chiếu xiên một góc mười lăm độ song song với thớ giấy.

Dưới góc chiếu xiên gắt gao ấy, địa hình vi mô của tờ giấy A4 bộc lộ toàn bộ những lồi lõm, sợi cơ học và các rãnh biến dạng mà mắt thường khi nhìn trực diện chỉ thấy một mặt phẳng trắng trơn. Ánh sáng vàng dịu bị bẻ gãy trên từng gợn sóng xenlulo, đổ những cái bóng dài li ti sau từng đỉnh sợi, biến một trang văn bản hành chính phẳng lặng thành một vùng bình nguyên lởm chởm hẻm vực.

“Nhìn kỹ vào đây, bác Trịnh,” Vi hạ thấp giọng, ngón tay trỏ bọc trong lớp găng vải cotton trắng khẽ gõ nhẹ xuống lớp nỉ bàn, ra hiệu cho người đàn ông ngoài tám mươi tuổi đang ngồi bồn chồn bên mép ghế gỗ gụ. “Chỗ này sẽ cho chúng ta biết chữ ký của bác được hạ bút vào thời điểm nào, trước hay sau khi trang giấy bị gấp lại.”

Cụ Trịnh Khắc Thư khẽ run rẩy ghé cặp kính lão đồi mồi sát vào ống kính phóng đại cầm tay có độ khuếch đại mười hai lần mà Vi vừa đặt cố định trên giá ba chân bằng đồng. Hơi thở của cụ gấp gáp, phả một làn sương mỏng manh làm mờ đi một góc rìa thấu kính quang học. Cụ phải đưa vạt áo bà ba lụa mỡ gà lên lau nhẹ mắt kính của mình, rồi lại cúi xuống, hai bàn tay khẳng khiu bấu chặt vào gối quần tơ tằm đã sờn chỉ.

Vũ Đức Hải cũng nín thở nhoài người tới. Mái tóc cắt ngắn còn vương chút bụi vôi trắng xốp từ công trường bảo tồn khẽ xao động theo từng cử chỉ cẩn trọng của Vi. Chiếc áo sơ mi xám tro của anh sực mùi mồ hôi và vữa tam hợp khô, bờ vai rộng ghì xuống mép bàn nỉ xanh, tạo nên một sự tương phản rõ rệt với vẻ thanh mảnh, sắc lạnh của người con gái đang thao tác như một giám định viên hình sự lão luyện.

Dưới ánh sáng xiên sắc lạnh, nét mực bút bi màu xanh nhật quang hiện lên như một con kênh bùn đặc quánh chạy ngang qua bề mặt giấy. Đó là loại mực gel gốc dầu có độ nhớt cao, để lại những rãnh hằn cơ học lún sâu vào cấu trúc bột giấy do áp lực đè nặng của viên bi vonfram ở đầu ngòi. Nhưng điều kinh ngạc nằm ở điểm giao cắt giữa nét móc dưới của chữ “Thư” và một đường lằn gập đôi nằm ngang trang giấy.

Đó là nếp gấp giấy chữ thập đã ố vàng. Rãnh gập sâu hoắm ấy đã khiến những thớ xenlulo bên trong bị gãy vụn, các đầu sợi xơ tước ra và ngả sang màu xám xỉn vì thời gian, độ ẩm không khí cùng bụi bặm phố cổ tích tụ qua nhiều năm tháng nằm im trong đáy hòm xiểng.

Tại đúng điểm giao cắt ấy, nét mực bút bi không hề phủ đều một cách liên tục. Khi viên bi kim loại của ngòi bút lăn trên hành trình tạo nét móc, nó trượt êm ái trên phần bề mặt phẳng của tờ giấy, nhưng ngay khi chạm tới bờ vực của rãnh gấp sâu hoắm, viên bi đã bị hẫng. Thay vì lăn xuống đáy rãnh để ép mực vào kẽ nứt của sợi giấy, ngòi bút bị mất điểm tì cơ học, nét mực đột ngột đứt đoạn. Nó để lại một khoảng trống trắng tinh vi cỡ nửa milimét ngay đáy rãnh gấp—nơi các sợi giấy gãy vụn hoàn toàn sạch bóng, không dính một phân tử mực xanh nào. Sau đó, theo đà di chuyển của cổ tay người ký, ngòi bút va đập nhẹ sang sườn dốc bên kia của nếp gấp, để lại một vệt mực bị trượt văng nhẹ hình lưỡi liềm rồi mới tiếp tục hành trình bình thường trên bề mặt phẳng tiếp theo.

“Một hiện tượng trượt mực cơ học kinh điển,” Vi cất tiếng, thanh âm bình thản nhưng chứa đựng sức nặng đanh thép của những chứng cứ vật lý không thể đảo ngược. Ngón tay bọc găng cotton trắng dùng chiếc nhíp đầu dẹt bằng thép không gỉ chỉ nhẹ vào điểm gián đoạn. “Nếu một người ký tên lên một tờ giấy phẳng phiu bình thường rồi mới gấp lại cất vào ngăn kéo, mực bút bi dạng gel dầu khi còn ướt sẽ lún sâu vào các thớ giấy nguyên vẹn. Sau đó, khi tờ giấy bị gập lại theo thời gian, lớp màng mực đã khô cứng sẽ bị nứt vỡ cùng với các thớ xenlulo bên dưới, tạo ra các vết rạn nứt chạy dọc thân nét mực. Nhưng ở đây thì hoàn toàn ngược lại. Nét mực bị trượt, bị đứt gãy ngay trên miệng hố nứt của nếp gấp cũ. Điều này chứng minh không thể chối cãi: chữ ký của cụ Trịnh được đặt lên trên bề mặt này sau khi nếp gấp giấy đã tồn tại từ rất lâu trước đó.”

Cụ Trịnh sững sờ. Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt gân xanh của cụ buông thõng khỏi đầu gối rồi đập nhẹ một cái vào đùi. Mi mắt cụ giật giật, giọng nói lạc hẳn đi:

“Đúng... đúng rồi! Bác nhớ rồi! Thằng môi giới tên Cường đó... đầu năm ngoái nó mang đến cho bác một xấp giấy cũ kỹ ố vàng. Nó bảo là phôi tờ khai thuế nhà đất tồn kho từ thời cải tạo địa chính trước đây của phường, cần lấy chữ ký đối chiếu diện tích lưu trữ. Nó bảo bác ký trước vào góc dưới để nó mang lên ủy ban nộp làm thủ tục xác minh diện tích mặt tiền, tránh bị truy thu thuế đất phi nông nghiệp... Bác thấy giấy cũ mèm, lại có nếp gấp vuông vức như giấy tờ lưu kho cơ quan thời bao cấp, nên bác cứ đinh ninh là mẫu biểu hành chính cũ thật!”

“Nó đã chuẩn bị sẵn một tờ giấy trắng cũ đã có nếp gấp lưu kho cả chục năm, lừa bác ký vào vị trí chân trang, rồi mới đem về dùng máy in văn phòng để chèn nội dung hợp đồng ủy quyền toàn phần lên phía trên,” Hải nghiến răng, khớp ngón tay anh kêu răng rắc khi hai bàn tay siết chặt lại thành nắm đấm. “Thủ đoạn bẩn thỉu đến thế là cùng! Chúng tính toán từng chi tiết để nếu có tranh chấp, tờ giấy trông vẫn có vẻ mang màu sắc cũ kỹ của nhiều năm trước.”

“Chưa hết đâu,” Vi điềm tĩnh kéo dịch thấu kính phóng đại lên phần đầu của văn bản, nơi in tiêu ngữ hành chính và phần trích yếu nội dung hợp đồng ủy quyền. “Sự ngụy tạo vội vã bao giờ cũng để lại những hạt sạn về niên đại học hành chính mà kẻ làm giả dù ma mãnh đến đâu cũng không lường trước được.”

Vi đưa tay tắt ngọn đèn sợi đốt chân ngỗng, rồi với lấy chiếc đèn pin kỹ thuật chuyên dụng phát ra tia tử ngoại bước sóng 365 nanomet. Khi căn phòng chìm vào bóng tối mờ ảo của ánh tím huỳnh quang, toàn bộ bề mặt văn bản biến đổi sắc thái.

Dưới ánh sáng tia cực tím, lớp mực in đen của các dòng chữ văn bản lộ rõ bản chất vật lý thực sự. Từng chữ cái không hề thấm sâu vào thớ sợi như mực in ruy-băng của máy đánh chữ thời xưa, cũng không có những chấm phun sương tản mác của máy in phun sơ khai thập niên 2000. Thay vào đó, xung quanh rìa các nét chữ đen ngòm xuất hiện những hạt vi nhựa polymer hình cầu li ti phát ánh xỉn mờ—dấu vết không thể chối cãi của mực bột laser hiện đại bị nung chảy bởi trục sấy nhiệt độ cao.

“Văn bản này ghi ngày lập là ngày 18 tháng 4 năm 2012,” Vi chỉ chiếc nhíp vào dòng niên đại nằm ngay ngắn dưới quốc hiệu và tiêu ngữ. Ánh sáng tím hắt lên gương mặt thanh tú của cô những góc cạnh sắc sảo. “Và các anh hãy đọc kỹ phần trích yếu thông tin địa chính ở dòng thứ tư: *‘Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 08, thuộc địa giới hành chính phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm’*.”

Hải cau mày, mắt anh đảo qua từng ký tự in trên trang giấy rồi ngước lên nhìn Vi với vẻ khó hiểu:

“Nhà số 17 Hàng Gương từ trước tới nay vẫn thuộc phường Hàng Bạc mà Vi? Tổ dân phố bên đó vẫn sinh hoạt chung với phố Hàng Bạc. Điều đó có gì mâu thuẫn đâu?”

Vi lắc đầu, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lùng mang đậm phong cách của một cựu phóng viên điều tra từng lật tung hàng trăm tập hồ sơ lưu trữ địa bạ qua các thời kỳ:

“Nếu là hiện tại thì đúng. Nhưng hãy nhớ lại lịch sử hành chính của khu phố cổ. Trước đợt sắp xếp và điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào cuối năm 2020, đoạn phố Hàng Gương từ số lẻ 01 đến 25 và số chẵn từ 02 đến 32 vẫn thuộc quyền quản lý hành chính của phường Hàng Đào! Chỉ sau khi sáp nhập hai tổ dân phố giáp ranh vào tháng 3 năm 2020, đoạn phố này mới chính thức được chuyển giao toàn bộ về cho phường Hàng Bạc thụ lý.”

Căn phòng tầng hai rơi vào một khoảng im lặng ngưng trệ, chỉ còn tiếng tích tắc đanh gọn của những con lắc đồng hồ cổ điểm từng giây trôi qua.

Cụ Tư Thời, người nãy giờ vẫn ngồi lặng lẽ bên chiếc bàn xoay sửa đồng hồ ở góc phòng với chiếc kính lúp gắn chặt nơi hốc mắt, bỗng ngẩng đầu lên. Chiếc tuốc-nơ-vít siêu nhỏ trên tay cụ khẽ dừng lại giữa một bánh răng đồng tinh xảo. Cụ tháo chiếc kính lúp khỏi mắt, đặt cạch một tiếng thanh mảnh lên khay nhung đỏ, rồi chầm chậm vuốt chòm râu bạc như cước:

“Cô Vi nói chuẩn xác không sai một li. Năm 2012, thằng cháu đích tôn của tôi đi nghĩa vụ quân sự, tôi phải đích thân dắt nó lên trụ sở phường Hàng Đào ở mãi phố Hàng Cân để xin dấu xác nhận cư trú và trích lục hộ khẩu, vì cả dãy chẵn Hàng Gương này khi ấy ăn chung một hòm thư khu vực với Hàng Đào. Mãi đến đợt làm căn cước công dân gắn chíp mới đây người ta mới điều chỉnh hộ khẩu về Hàng Bạc. Năm 2012 mà trên một văn bản ủy quyền có công chứng nhà nước lại xuất hiện cái danh xưng ‘phường Hàng Bạc’ quản lý thửa đất số 42 thì đúng là chuyện người của tương lai điền hộ giấy tờ cho quá khứ!”

“Một văn bản ra đời năm 2012 không thể nào sử dụng một danh xưng đơn vị hành chính chỉ chính thức tồn tại từ sau năm 2020,” Vi kết luận đanh thép, ngón tay cô lật mặt sau tờ giấy để kiểm tra độ xuyên thấu của mực và đánh dấu các tọa độ quan sát vào cuốn sổ tay bìa cứng. “Kẻ soạn thảo bản hợp đồng giả này khi dùng máy tính để gõ nội dung vào thời điểm hiện tại đã tiện tay tra cứu địa chỉ thực tế trên bản đồ số hóa đương thời, hoặc căn cứ vào căn cước công dân mới của bác Trịnh, mà quên mất rằng mười một năm trước, ranh giới phường sở tại chưa hề được vẽ lại. Đây là sơ hở chí mạng mà không một cơ quan pháp luật nào có thể bỏ qua.”

Vũ Đức Hải thở phào một hơi dài, lồng ngực anh giãn ra sau những phút căng thẳng tột độ. Nhưng rồi, ánh mắt người kiến trúc sư trẻ lại trĩu nặng âu lo khi anh nhìn sang cụ Trịnh Khắc Thư, người đang nhìn chằm chằm vào bản hợp đồng giả mạo với vẻ bàng hoàng xen lẫn căm phẫn:

“Nhưng Vi này, giấy tờ chỉ là một nửa câu chuyện. Bọn Không Gian Đô Thị Mới của Tạ Quốc Huy và Tạ Minh Thành không chỉ nhắm vào quyền sở hữu đất trên giấy. Hành động của chúng sáng nay rất hung hãn. Chúng mang cả kìm cộng lực, xà beng và máy cắt đĩa tới đòi dỡ bỏ hệ khung dầm bên trong nhà số 17 là có mục đích vật lý rõ ràng. Chúng muốn phá dỡ, tạo ra sự đã rồi trước khi hồ sơ gốc bị lật lại.”

Cụ Trịnh run rẩy với lấy chén trà hoa cúc đã nguội ngắt trên bàn, nhấp một ngụm nhỏ để làm ẩm cổ họng khô khốc. Giọng cụ nghẹn lại, đùng đục như tiếng nước chảy dưới lòng cống ngầm:

“Căn nhà đó... bố tôi để lại từ thời tiếp quản thủ đô năm năm tư. Tôi sinh ra, lớn lên và sống ở đó cả đời người, từng viên ngói mũi hài, từng then cài cửa gỗ lim tôi đều thuộc như lòng bàn tay. Mấy tuần nay, chúng cho người đến dọa nạt, bảo nhà tôi thuộc diện xuống cấp nghiêm trọng, sắp sập, phải hạ giải toàn bộ để phục vụ dự án chỉnh trang đô thị thương mại của tập đoàn... Nhưng tôi biết tính thằng Huy và thằng Thành. Chúng nó đâu có thèm mấy mét vuông đất méo mó ấy chỉ để mở quán cà phê. Chúng nó muốn tìm cái gì đó... Bố tôi ngày xưa trước lúc nhắm mắt đã trăn trối những điều rất lạ về căn gác lửng.”

Hải lập tức với lấy chiếc cặp da cũ kỹ đặt dưới chân ghế, mở khóa kéo và rút ra một cuộn bản vẽ trắc đạc khổ A3 đã sờn mép, cùng một chiếc máy đo khoảng cách laser chuyên dụng bọc cao su chống sốc màu vàng cam và một thước cuộn thép năm mét:

“Bác Trịnh, cháu cần vào nhà đo đạc lại toàn bộ hệ kết cấu chịu lực ngay bây giờ. Lệnh đình chỉ thi công khẩn cấp mười lăm ngày của thanh tra Lục Khang vừa tống đạt sáng nay đã có hiệu lực pháp lý. Bọn người của công ty Minh Thành tạm thời không dám bén mảng tới cửa trước. Cháu cần bác cho phép vào bên trong để hoàn thiện hồ sơ trắc đạc kiến trúc phục vụ cho văn bản can thiệp của Hội Kiến trúc sư.”

Cụ Trịnh không ngần ngại, cụ gật đầu dứt khoát rồi luồn tay vào túi áo bà ba sâu hoắm, rút ra một chùm chìa khóa đồng nặng trịch, những chiếc chìa có răng cưa kiểu cổ đã mòn vẹt nhưng sáng bóng vì mồ hôi tay:

“Đi. Bác đi cùng các cháu. Căn nhà đó là mồ hôi nước mắt của tổ tiên, không thể để chúng nó muốn đập là đập được.”

***

Không khí bên trong căn nhà số 17 Hàng Gương khác hẳn với cái oi nồng ngột ngạt của buổi trưa ngoài mặt phố. Bước qua cánh cửa bức bàn bốn cánh bằng gỗ lim dày sáu phân đã mòn vẹt bậc bậu cửa, một mùi ẩm mốc đặc trưng của vôi vữa cổ, rêu phong phân hủy và gỗ ngấm nước mưa lâu năm lập tức xộc thẳng vào cánh mũi.

Ngôi nhà hình ống điển hình của khu 36 phố phường đầu thế kỷ hai mươi trải dài hun hút gần bốn mươi mét, với chiều ngang mặt tiền chỉ vỏn vẹn ba mét hai, chia làm ba lớp nhà ngăn cách bởi hai giếng trời sâu hoắm phủ đầy rêu xanh ẩm ướt.

Ánh sáng mặt trời chỉ lọt qua khoảng giếng trời giữa nhà thành một vệt mờ nhạt đầy những hạt bụi lơ lửng, soi rõ những mảng tường tróc lở để lộ lớp gạch vồ màu đỏ thẫm. Tầng trệt được bài trí đơn sơ với một bộ tràng kỷ cũ kỹ kê sát vách, phía sau là gian bếp ẩm thấp với nền lát gạch Bát Tràng tráng men màu đỏ sẫm đã mòn bóng gót chân người qua nhiều thế hệ. Không gian ngập tràn một thứ tĩnh mịch u uất, như thể cả khối kiến trúc đang oằn mình chống chọi với sức nặng của thời gian và những toan tính xâu xé từ thế giới bên ngoài.

Hải bước nhanh đến vách tường chịu lực ngăn cách gian ngoài và khoảng sân trong giếng trời. Anh bật máy đo laser, chấm đỏ rực rỡ bắn thẳng vào bề mặt vôi vữa loang lổ. Một tiếng *tít* sắc lẹm vang lên, con số điện tử hiện rõ trên màn hình tinh thể lỏng.

“Tường tầng trệt: ba mươi mốt xăng-ti-mét,” Hải đọc to thông số, tay thoăn thoắt dùng bút chì kỹ thuật ghi vào góc bản vẽ mặt bằng. “Đúng chuẩn kết cấu tường hai mươi hai phân gạch đặc nung củi thời Pháp thuộc, cộng thêm hai lớp vữa tam hợp vôi cát vỏ hàu dày bốn phân rưỡi mỗi bên. Kết cấu chịu lực này cực kỳ bền vững, các dầm gỗ lim chịu uốn gác ngang tường không hề có dấu hiệu võng quá giới hạn an toàn. Bọn chúng nói nhà này có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn là ngụy biện trơ trẽn để cưỡng chế phá dỡ.”

Anh cẩn thận luồn người qua khoảng giếng trời thứ nhất, tránh những chậu dương xỉ rũ rượi, hướng về phía chiếc cầu thang gỗ hẹp dẫn lên căn gác lửng phía sau gian thờ.

Cầu thang dốc đứng gần sáu mươi độ, hẹp đến mức người đi phải nghiêng vai. Từng bậc gỗ lim kêu *ken két* răng rắc dưới sức nặng của Hải và Vi. Cụ Trịnh được Vi đỡ từng bước từ phía sau, bàn tay run rẩy của cụ vịn chặt vào tay vịn bằng gỗ nghiến nhẵn thín bóng màu mỡ gà, hơi thở cụ dốc lên từng chặng ngắn.

Khi đặt chân lên sàn gác lửng, không gian đột ngột thu hẹp lại một cách kỳ lạ. Trần nhà hạ thấp xuống, chỉ cách mặt sàn gỗ chừng hai mét tư. Không khí ở đây đặc quánh mùi sáp ong, mùi trầm hương cặn lại qua hàng thập kỷ và một mùi ngai ngái khó tả của giấy cũ lưu cữu.

Ở gian trong cùng, nơi đặt một ban thờ tổ tiên bằng gỗ gụ chạm trổ hoa văn sen bong kênh đã bám một lớp bụi xám xịt dày cộp, bức tường đầu hồi phía sau ban thờ tạo cho người ta một cảm giác ngột ngạt bất thường. Bức tường phẳng lì, quét vôi vàng ố rạn nứt như mạng nhện, dường như lấn sâu vào không gian căn phòng một cách vô lý.

Hải đặt chiếc máy đo laser xuống sàn gỗ lim, hướng tia sáng đỏ đo khoảng cách phủ bì từ mép trước của ban thờ đến mặt phẳng tường ngoài tiếp giáp với con ngõ sau. Sau đó, anh luồn người qua khe hẹp bên hông tủ thờ, tiến ra phía chiếc cửa sổ chớp nhỏ nhìn xuống khoảng thông hơi của giếng trời sau cùng. Hải rút chiếc thước cuộn thép bọc cao su năm mét, cẩn thận thả đầu thước có móc kim loại ra ngoài cửa sổ để đo chiều dày thực tế của bức tường đầu hồi gác lửng.

Đầu móc kim loại chạm nhẹ vào mặt ngoài của bức tường hoa quả tiếp giáp ngõ sau, phát ra tiếng *cạch* khô khốc. Hải kéo căng sợi thép dẹp, nheo mắt đọc vạch chia số dưới ánh sáng của chiếc đèn pin đội đầu.

Đồng tử anh đột ngột giãn ra. Anh chớp mắt ba lần, tưởng như thị giác của mình bị đánh lừa bởi góc nghiêng của ánh sáng, rồi kéo căng thước thêm một lần nữa.

“Vi, lại đây nhìn này!” Giọng Hải nghẹn lại vì kinh ngạc, âm thanh biến đổi đến mức gần như lạc đi giữa căn gác tĩnh lặng. “Em đọc to con số này xem!”

Vi luồn người qua khoảng trống chật chội sau lưng Hải, ghé sát mắt vào vạch số khắc chìm trên lá thép kim loại:

“Năm mươi tám xăng-ti-mét rưỡi... gần sáu mươi phân!”

Hải đập mạnh cuộn thước vào lòng bàn tay nghe một tiếng *bốp*, anh quay phắt lại nhìn bức tường phẳng lì phủ lớp vôi vàng ố sau lưng tủ thờ với ánh mắt rực lửa của một người làm nghề kỹ thuật vừa phát hiện ra điều phi lý:

“Hoàn toàn phi lý về mặt cơ học công trình! Dưới tầng trệt, bức tường chịu lực đầu hồi gánh toàn bộ tải trọng của hai tầng nhà chỉ dày ba mươi phân. Không một kiến trúc sư hay thợ nề nào thời xưa lại đi xây một bức tường gác lửng dày gấp đôi bức tường tầng trệt bên dưới! Trọng lượng khổng lồ của một bức tường gạch đặc dày sáu mươi phân sẽ bẻ gãy toàn bộ hệ dầm đỡ tầng một nếu bên dưới không có móng độc lập hoặc cột đỡ chịu lực chạy thẳng từ lòng đất lên. Mà tầng trệt phía dưới hoàn toàn là không gian mở, không hề có bất kỳ mố trụ gia cố nào!”

“Trừ khi...” Vi khẽ lẩm bẩm, ánh mắt cô quét dọc theo các đường ghép ván gỗ ốp chân tường và những vệt nứt trên lớp vôi vữa. “Trừ khi bức tường này không phải là một khối gạch đặc từ trước ra sau.”

“Đúng thế!” Hải hào hứng reo lên, chỉ tay vào sự chênh lệch kích thước trên bản vẽ trắc đạc mà anh từng phải tô đen một phần để che giấu trong các cuộc tranh luận căng thẳng trước đó. “Nó là kết cấu tường đôi! Người xưa đã xây hai lớp tường gạch mười phân song song nhau, ở giữa để lại một khoảng rỗng rộng gần ba mươi lăm phân. Nhìn bên ngoài, ai cũng tưởng đây là tường đầu hồi chịu lực dày cộp xây để chống cháy lan từ ngõ sau theo tập quán kiến trúc thời Pháp, nhưng thực chất bên trong là một khoang rỗng khổng lồ được ngụy trang hoàn hảo!”

Cụ Trịnh đứng tựa lưng vào cây cột gỗ lim góc phòng, khuôn mặt già nua bỗng trở nên trầm ngâm khác lạ. Những nếp nhăn nơi khóe mắt cụ giật nhẹ, ánh mắt cụ nhìn chằm chằm vào khoảng tối thẫm phía sau tủ thờ, nơi lớp bóng đêm dường như dày đặc và bí ẩn hơn mọi góc khác trong ngôi nhà cổ.

***

Trong khi Vi và Hải đang lùng tìm cấu trúc vật lý của ngôi nhà số 17 Hàng Gương, thì tại Văn phòng Công chứng quận Ba Đình nằm trên mặt phố Giảng Võ ồn ào bụi bặm, bầu không khí lại căng thẳng theo một cách thức hành chính ngột ngạt khác.

Thanh tra Lục Khang bước vào phòng lưu trữ hồ sơ công chứng dưới sự tháp tùng trực tiếp của vị Trưởng phòng Tư pháp quận và một công chứng viên kỳ cựu—người đã đặt bút ký duyệt bản hợp đồng ủy quyền mang số hiệu 118/CC-2023 vào năm ngoái.

Gian phòng lưu trữ hồ sơ nằm sâu dưới tầng bán hầm của tòa nhà, sực nức mùi giấy mục, mùi hóa chất chống mối mọt và mùi cồn sát khuẩn hăng hắc. Tiếng máy hút ẩm công nghiệp và hệ thống điều hòa nhiệt độ chạy rì rầm liên tục ngày đêm để duy trì độ ẩm tiêu chuẩn bốn mươi lăm phần trăm cho hàng chục ngàn bộ hồ sơ đất đai lưu trữ qua nhiều thời kỳ.

“Đồng chí Khang, toàn bộ hồ sơ lưu gốc của giao dịch ủy quyền và chuyển dịch tài sản liên quan đến căn nhà số 17 Hàng Gương đều nằm ở giá sắt số 14, ngăn B,” vị Trưởng phòng tư pháp nghiêm giọng nói, vẻ mặt lộ rõ sự bất an khi tự tay tra chiếc chìa khóa số vào ổ khóa của tủ sắt hồ sơ lưu trữ đặc biệt.

Chiếc cánh tủ sắt nặng nề mở ra với một tiếng rít khô khốc. Khang rút từ túi áo ra một đôi găng tay cao su y tế mỏng màu xanh lam, cẩn thận xỏ vào từng ngón tay rồi đỡ lấy tập hồ sơ bìa cứng màu vàng ngà mang mã định danh CC-2023/04118.

Anh không vội vã lật giở nội dung, mà mang tập hồ sơ đến chiếc bàn soi quang học phẳng chuyên dụng đặt giữa phòng lưu trữ. Dưới ánh sáng đèn led công suất cao của bàn soi, từng nếp gấp, sợi giấy và các vết đóng dấu hiện lên rõ mồn một.

Tập hồ sơ gốc gồm mười hai trang, được bấm gim sắt ở góc trên bên trái, mép giấy được niêm phong bằng một dải dấu giáp lai màu đỏ son chạy dọc mép phải của tất cả các trang giấy theo quy định nghiệp vụ công chứng nghiêm ngặt.

“Hôm diễn ra giao dịch ký kết này, ai là người trực tiếp mang hồ sơ lưu đến nộp vào kho sau khi công chứng viên ký duyệt?” Khang cất giọng lạnh tanh, mắt không hề rời khỏi các nếp gấp của tập giấy.

Vị công chứng viên kỳ cựu lúng túng đẩy gọng kính cận dày cộp, trán lấm tấm mồ hôi:

“Thường thì... theo quy trình chuẩn, sau khi các bên đương sự ký kết trước mặt tôi tại phòng tiếp dân số 2, nhân viên văn thư nghiệp vụ sẽ nhận lại hồ sơ để đóng dấu tròn cơ quan và dấu giáp lai, sau đó một bản chính giao cho khách hàng, bản gốc lưu trữ này phải chuyển thẳng vào kho nội bộ ngay trước năm giờ chiều. Hôm đó... người phụ trách đóng dấu và hoàn thiện hồ sơ lưu trữ là cậu Nguyễn Văn Cường, nhân viên hợp đồng mới vào thử việc được ba tháng.”

“Và cậu Cường đó đã đột ngột nộp đơn xin nghỉ việc không lý do cách đây đúng ba ngày, điện thoại cắt liên lạc hoàn toàn, địa chỉ tạm trú tại quận Đống Đa hiện đã trả phòng trọ, phải không?” Khang lạnh lùng ngắt lời, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc bén như dao cạo xoáy thẳng vào vị công chứng viên.

Vị công chứng viên toát mồ hôi hột, chỉ biết cúi đầu gật nhẹ một cái đầy cay đắng.

Khang cúi thấp người, tay cầm chiếc kính lúp kỹ thuật có tích hợp thước đo vi mô vạch khắc điện tử rọi thẳng vào mép dấu giáp lai giữa trang số 2 và tờ phụ lục mang số thứ tự 2a. Tờ phụ lục 2a này chính là văn bản mấu chốt: nó quy định điều khoản ủy quyền định đoạt toàn bộ tài sản không thể hủy ngang, cho phép bên được ủy quyền toàn quyền thay mặt cụ Trịnh bán đứt, chuyển nhượng, thế chấp hoặc hạ giải ngôi nhà số 17 cho bất kỳ bên thứ ba nào.

Một điểm bất thường lập tức hiện ra dưới ánh sáng trắng cường độ cao của kính soi vi mô.

Dấu giáp lai của Văn phòng Công chứng quận Ba Đình là con dấu tròn đường kính chuẩn 38 milimét dập bằng mực dầu màu đỏ son. Trên mép tờ số 2, nửa hình tròn của con dấu nằm gọn gàng, sắc nét, các nét chữ *“Văn phòng Công chứng...”* uốn lượn mềm mại theo đường cong chuẩn mực. Nhưng khi đường viền con dấu ăn sang mép tờ phụ lục 2a, toàn bộ vòng cung tròn ngoài cùng đã bị xô lệch một cách cơ học: mép mực của tờ 2a bị tụt xuống phía dưới đúng nửa milimét so với vòng cung đối ứng bên tờ số 2.

Đường viền tròn không hề khép kín một cách đồng tâm, mà bị gãy khúc tại đúng rãnh giáp ranh giữa hai mép giấy.

Chưa dừng lại ở đó, Khang bật chiếc đèn chiếu kiểm tra tiền giả và tài liệu bảo an. Dưới luồng sáng cực tím, chất liệu giấy của tờ phụ lục 2a bộc lộ sự khác biệt hoàn toàn với toàn bộ phần còn lại của tập hồ sơ. Giấy lưu trữ chính quy của văn phòng công chứng phát ra ánh sáng huỳnh quang màu lam nhạt do trong bột giấy có trộn lẫn các sợi tơ bảo an chống làm giả. Trong khi đó, tờ phụ lục 2a lại tối sầm, trơ lì như một mẩu giấy photocopy văn phòng thông thường có thể dễ dàng mua được ở bất kỳ hiệu sách nào ven đường.

“Tờ phụ lục này đã bị đánh tráo một cách trắng trợn ngay sau khi công chứng viên ký nháy vào các trang chính,” Khang cất giọng đanh lại, từng từ thốt ra như nhát búa gõ lên mặt bàn lưu trữ. “Kẻ tráo trang đã xé bỏ tờ phụ lục gốc quy định việc ủy quyền nộp thuế đất và kinh doanh đồ thủ công mỹ nghệ, nhét tờ phụ lục bán đứt nhà đất này vào, rồi dùng một con dấu cao su giả mạo dập đè lên mép giấy. Vì thao tác bằng tay và căn chỉnh thủ công trong lúc vội vã lén lút, mép dấu đã bị lệch nửa milimét so với dấu thật.”

Khang rút chiếc điện thoại nghiệp vụ từ túi quần, mở tệp tin hình ảnh trích xuất dữ liệu tài chính mà trinh sát Đội Điều tra Kinh tế vừa gửi về cách đây nửa giờ:

“Và các anh nên biết thêm điều này: Tài khoản cá nhân của cậu nhân viên hợp đồng tên Cường vừa nhận được một khoản tiền đặt cọc năm trăm triệu đồng từ một công ty vận tải có trụ sở đóng tại Kho Ngoại thành Đông Phù—một chân rết hậu cần chuyên rửa tiền và tẩu tán tài sản thuộc hệ thống của Tạ Minh Thành.”

Vị Trưởng phòng tư pháp quận biến sắc, mặt cắt không còn hột máu. Hai tay ông run rẩy vịn chặt vào thành ghế bọc da:

“Trời đất ơi... Ngay trong cơ quan công chứng nhà nước mà chúng dám mua chuộc nhân viên để tráo tài liệu lưu trữ... Thật là tày đình!”

“Tôi lập biên bản niêm phong toàn bộ tập hồ sơ gốc này theo thủ tục tố tụng hình sự khẩn cấp,” Khang rút tập biên bản mẫu từ cặp công tác, dứt khoát đặt bút viết từng dòng chữ ngay ngắn, dứt khoát. “Vụ án này không còn là tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất đơn thuần nữa. Đây là hành vi làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức nhằm chiếm đoạt tài sản có tổ chức, có dấu hiệu tội phạm hình sự đặc biệt nghiêm trọng.”

***

Bóng chiều buông xuống rất nhanh trên những mái ngói rêu phong của phố Hàng Gương. Hoàng hôn mùa đông phủ lên những bức tường vôi cũ kỹ một màu vàng vọt ảm đạm. Khi Lục Khang quay lại ngôi nhà số 17 với tập biên bản niêm phong đỏ chót trong chiếc cặp da công tác, Vi, Hải và cụ Trịnh vẫn đang kiên trì đứng trên căn gác lửng mờ tối.

Cụ Tư Thời cũng đã chống chiếc gậy ba toong bằng gỗ mun chậm rãi bước lên thang gác từ lúc nào. Dù tuổi đã ngoài tám mươi, từng bước chân của cụ thợ đồng hồ già vẫn vững chãi lạ thường. Cụ đứng lặng trước ban thờ cổ, ngửa bàn tay gầy gò chạm khẽ vào một vết khắc hình bông hoa cúc nhỏ nằm chìm sâu ở mép cột gỗ lim góc phía Đông—một vết dấu nghề nghiệp xưa cũ mà chỉ những người sành sỏi mới nhận ra.

“Các cháu tìm thấy bức tường đôi rồi à?” Cụ Tư Thời cất tiếng, giọng ông trầm ấm và vang vọng trong không gian tĩnh mịch của căn gác.

“Cụ biết về kết cấu tường đôi này sao ạ?” Vi quay lại, đôi mắt mở to đầy vẻ ngạc nhiên và thảng thốt.

Cụ Tư Thời khẽ cười, một nụ cười hiền hậu nhưng phảng phất nỗi hoài niệm mênh mang của một người đã chứng kiến gần trọn một thế kỷ biến thiên của mảnh đất kinh kỳ:

“Căn nhà này, vào những năm bốn mươi của thế kỷ trước, là sản nghiệp của cụ Trịnh Khắc Thuần—thân sinh của bác Thư đây. Cụ Thuần ngày xưa ở phố Hàng Gương không chỉ đơn thuần buôn tơ lụa như người ta vẫn tưởng. Cụ là một trong những đầu mối lớn nhất đất Hà thành chuyên thu gom gỗ quý như trắc, mun, và đặc biệt là các giấy tờ thương mại, ngân phiếu chuyển ngân, tín phiếu của Ngân hàng Đông Dương phát hành thời Pháp thuộc cho các nhà buôn lớn từ Nam Định, Hải Phòng và mạn ngược chuyển về.”

Cụ Tư Thời đưa đầu gậy ba toong gõ nhẹ xuống một thanh giằng ngang bằng gỗ lim chìm dưới sàn:

“Thời loạn lạc, bom đạn chiến tranh và trộm cắp hoành hành khắp các phố, những nhà buôn lớn ở phố cổ không bao giờ dại dột để tài sản hay giấy tờ giao thương ở những nơi dễ tìm thấy. Ngôi nhà này khi xây dựng lại vào năm 1938 đã được các hiệp thợ mộc Chàng Sơn khét tiếng xứ Đoài bí mật thiết kế một lối thoát hiểm ngầm dẫn từ khoang gác lửng thông xuống ngõ Hàng Bút phía sau. Khoang tường đôi sáu mươi phân đó chính là nơi cất giữ các hòm văn tự thương mại, ngân phiếu và các bản khế ước đất đai quan trọng nhất của cả dòng họ.”

Cụ Trịnh Khắc Thư run giọng tiếp lời, đôi mắt mờ đục ngấn nước:

“Bố tôi trước khi mất vào năm 1972, giữa lúc bom Mỹ đang trút xuống Khâm Thiên, chỉ nắm chặt tay tôi dặn lại đúng một câu: ‘Cái gác lửng là rễ của ngôi nhà, chừng nào rễ còn thì nhà họ Trịnh còn’. Sau này thời bao cấp khó khăn, cơm không đủ ăn, gia đình tôi cơi nới lại gian thờ, ốp thêm lớp vách gỗ mít phía sau để chống ẩm mốc từ ngõ sau thổi vào, rồi dần dà cuộc sống mưu sinh vất vả khiến con cháu quên bẵng mất khoảng rỗng bí mật đó...”

Vi nín thở. Lồng ngực cô thắt lại khi ký ức về những trang sổ ghi chép dang dở của cố nhà báo Trần Minh Đạo bỗng ùa về dồn dập như những đợt sóng ngầm trong tâm trí:

*“17-G / 03:15 / H-B / HỒ SƠ NGUỒN CẤT GIỮ TẠI KHOANG XÀ ĐÔNG.”*

“03:15...” Vi lẩm bẩm một mình, mắt nhìn chằm chằm vào mặt kính chiếc la bàn địa chất bỏ túi mà Hải vừa đặt trên nóc tủ thờ gỗ gụ. “Kim la bàn chỉ góc 90 độ... Ba giờ mười lăm phút trên mặt đồng hồ chính là góc chín mươi độ! Đúng phương vị chính Đông! Khoang tường đôi này nằm ở góc Đông Bắc của ngôi nhà, chạy dọc theo phương vị của cây xà đông chịu lực!”

Mọi mảnh ghép rời rạc trong suốt những tháng ngày điều tra bỗng chốc khớp lại thành một bức tranh hoàn chỉnh đến rợn ngườic. Thầy Đạo đã từng đến đây. Hai năm trước, khi phát hiện ra đường dây buôn lậu cổ vật quy mô lớn và mạng lưới tẩy trắng tài liệu nhà đất của cha con Tạ Minh Thành, thầy Đạo đã lần ra tung tích lịch sử của ngôi nhà số 17 thông qua những người buôn đồ cũ trên phố Hàng Gương. Ông hiểu rằng nơi an toàn nhất để cất giữ một bộ hồ sơ điều tra gốc có thể làm rung chuyển cả giới ngầm đô thị chính là một khoang rỗng lịch sử đã bị lãng quên ngay giữa lòng phố cổ!

“Hải, đưa đèn pin cho em,” Vi nói, giọng cô run lên vì một sự xúc động mãnh liệt đang dâng trào trong lồng ngực.

Hải lập tức bật chiếc đèn pin kỹ thuật số có chùm sáng hội tụ cực mạnh, trao chuôi đèn cho Vi, đồng thời rút từ túi đồ nghề đeo bên hông ra một con dao kỹ thuật cán nhôm dài hai mươi phân, lưỡi thép hợp kim sáng loáng sắc ngọt.

Hai người trèo lên bậu gỗ sau chiếc tủ thờ nặng trịch. Không gian phía sau tủ thờ chật hẹp, ngột ngạt đến mức chỉ vừa đủ cho một người nghiêng mình lách qua. Bụi bặm tích tụ hàng chục năm bốc lên mù mịt theo từng cử động, bám vào tóc, vào cổ áo và vương trên những giọt mồ hôi đang lăn dài trên má họ.

Trước mặt họ lúc này không phải là một bức tường gạch trát vữa thông thường, mà là một bức vách gỗ ghép bằng những thanh ván gỗ mít dày dặn, được ghép mộng mang cá vô cùng khít khao, tinh xảo. Lớp sơn ta màu nâu sẫm trên bề mặt gỗ đã nứt nẻ thành những vệt rạn chân chim hình mai rùa theo năm tháng, chứng minh lớp vách ốp này đã được dựng lên từ ít nhất bốn mươi năm trước và chưa từng bị cạy mở.

“Có khe hở nào không?” Khang đứng bên dưới chân tủ thờ hỏi vọng lên, ánh mắt anh cảnh giác quan sát từng cử động xung quanh cầu thang, bàn tay luôn giữ chặt chiếc cặp da chứa tập hồ sơ vừa được niêm phong cẩn mật.

“Các mép mộng được gắn bằng sơn ta trộn mùn cưa mịn, cực kỳ kín, không có kẽ hở cơ học thông thường,” Hải đáp, bàn tay thô ráp của người kỹ sư lần theo từng đường ráp nối của các tấm ván mít. “Nhưng nhìn vào đây này Vi, có hai chiếc đinh tán bằng đồng ở góc dưới bên phải thanh ván thứ ba. Chúng không được đóng chết vào dầm chịu lực, mà đầu đinh có khía rãnh... chúng được tiện ren xoay!”

Hải dùng sống dao kỹ thuật bằng thép cứng, cẩn thận kê vào mép thanh ván gỗ mít thứ ba. Anh không dùng lực bẩy mạnh để tránh làm tổn hại kết cấu gỗ cổ quý giá, mà dùng sống dao gõ nhẹ từng nhịp, từng nhịp một cách điêu luyện như một người thợ phục chế đang thẩm âm chất liệu gỗ.

*Cốc... cốc... cốc...*

Tiếng gõ ở thanh ván đầu tiên trầm đục, đặc quánh của chất gỗ mít già áp sát vào mặt tường gạch chịu lực dày dặn. Âm thanh nặng nề dội lại ngay tức khắc, chứng tỏ phía sau là gạch đặc.

Hải dịch chuyển sống dao sang thanh ván thứ hai, nhích dần về phía khoảng trống trung tâm của bức tường đầu hồi gác lửng:

*Cốc... cốc...*

Âm thanh bắt đầu thay đổi, thanh thoát hơn một chút, vang nhẹ trong khoang hẹp.

Và rồi, khi mũi sống dao kỹ thuật chạm vào điểm tiếp giáp giữa thanh ván thứ ba và mép trụ xà đông, Hải khẽ gõ một nhịp dứt khoát:

*Bộp... koong...*

Một chuỗi âm thanh truyền ngược trở lại, khô khốc, vang vọng và rỗng tuếch, như tiếng gõ vào một chiếc thùng gỗ rỗng không bị nhốt kín trong lòng đất sâu.

Âm vang rỗng rải ấy dội lại giữa không gian chật chội của căn gác lửng tối tăm, rõ ràng đến mức cả Lục Khang đang đứng cảnh giới dưới sàn gỗ và cụ Trịnh tựa lưng vào mép cửa cũng có thể nghe thấy rành rọt từng dao động sóng âm.

Hải dừng tay lại, sống dao vẫn tì chặt lên mặt ván gỗ mít, anh quay đầu nhìn Vi, đôi mắt lấp lánh phản chiếu luồng sáng trắng của chiếc đèn pin kỹ thuật:

“Rỗng hoàn toàn. Phía sau lớp vách này là một khoảng không gian sâu ít nhất ba mươi phân. Chúng ta đã tìm thấy nó.”

Vi nín thở, ngón tay cô chạm vào đường rãnh mộng mang cá của phiến ván rỗng, nơi một làn gió nhẹ thoang thoảng mùi giấy cũ mục nát và sáp ong từ sâu trong vách tường khẽ luồn qua khe nứt, phả vào đầu ngón tay buốt lạnh.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories